Ý NGHĨA CHÂN THẬT CỦA "BỔN NGUYỆN NIỆM PHẬT
Hòa Thượng Tịnh Không thuyết giảng
Liễu Nhân sưu tập và ghi chép, Cư sĩ Truyền Tịnh giảo chánh
Dịch theo bản in của Tịnh Tông Học Hội Los Angeles, tháng 3, 2001
Chư
vị pháp sư, chư vị đại đức đồng tu:
Thời gian trôi đi quá
nhanh, hôm nay đã là ngày họp mặt cuối cùng trong
chuyến đi Úc Châu lần này, hai ngày trước thực sự
chúng tôi nói chưa hết lời và cũng nói chưa hết
những điều muốn căn dặn, nhắc nhở; trong khoảng thời
gian ngắn nội dung của buổi nói chuyện chẳng nhiều,
hy vọng các bạn lắng lòng thể hội, đi tìm cầu trong
kinh giáo. Mỗi chữ mỗi câu trong kinh Phật đều chứa
đựng vô lượng nghĩa, tùy theo tri kiến và kiến giải
của chúng sanh, lợi ích của mỗi người có sâu cạn,
rộng hẹp chẳng đồng. Nếu chúng ta thành tâm đi tìm
cầu, thể hội, phụng hành thì mọi người sẽ đạt được
lợi ích thù thắng, đây là sự gia trì của Tam Bảo cho
chúng ta, người thế tục thường nói là Phật, Bồ Tát
phò hộ cho chúng ta, là có ý nghĩa như vậy. Do đây
có thể biết trong Phật pháp chẳng có mê tín; lý luận,
phương pháp dạy chúng ta tu học như thế nào.
a. Tịnh nghiệp chánh nhân của ba đời chư Phật.
Sự tu học Tịnh Tông,
chúng tôi đặc biệt tuyển chọn những lời khai thị
trong kinh điển của Tịnh Tông và tóm tắt thành năm
khoa mục (Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập
Nguyện) để làm nguyên tắc cho sinh hoạt, việc làm,
xử sự, đãi người, tiếp vật trong suốt cuộc đời chúng
ta. Chúng ta phải tuân theo những nguyên tắc này thì
mới xứng đáng làm đệ tử của Thế Tôn, làm học trò của
đức Phật A Di Đà. Khoa mục thứ nhất là ‘Tịnh Nghiệp
Tam Phước’ dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, vì
thời gian không đủ nên tôi chẳng thể nói rõ, trong
hội trường có một bộ băng cassette ghi bài giảng lúc
trước [các bạn có thể nghe thêm]. Tam Phước hết sức
quan trọng, trong phần cuối của đoạn kinh này đức
Thế Tôn đặc biệt nhấn mạnh ba điều này là tịnh
nghiệp chánh nhân của ba đời chư Phật.
Tầm vóc của câu này
hết sức quan trọng, ba đời chư Phật là Phật quá khứ,
Phật hiện tại, Phật tương lai; những người tu hành
thành Phật trong quá khứ, hiện tại và tương lai
chẳng biết bao nhiêu mà tính! Dĩ nhiên họ tu hành
thành Phật chẳng phải chỉ dùng một phương pháp duy
nhất vì có vô lượng pháp môn. Trong kinh Đại thừa
thường nói: 'Pháp môn bình đẳng, chẳng có cao
thấp', pháp môn nào cũng có thể thành Phật,
nhưng dựa trên căn tánh của chúng sanh mà nói thì sẽ
khác nhau – có người lợi căn, có người độn căn. Có
pháp môn khế cơ, có pháp môn chẳng khế cơ; khế cơ
thì thích hợp cho chúng ta tu học, chẳng khế cơ
nghĩa là
đối
với đời sống hiện tại có nhiều chỗ chẳng thuận tiện.
Khế cơ thì chúng ta tu học rất thuận lợi, rất dễ
dàng, nếu chẳng khế cơ thì chúng ta cảm thấy rất khó
khăn, hễ cảm thấy khó khăn thì chúng ta nên bỏ và
lựa chọn pháp môn nào thích hợp với mình. Việc này
cũng giống như lựa chọn khoa hệ trong trường học,
khoa hệ nào mà chúng ta rất thích và cũng có năng
lực học theo thì dễ rồi. Nếu lựa chọn một khoa hệ
chẳng hợp với ý thích của mình thì học theo sẽ rất
khó khăn. Cho nên vô lượng pháp môn của Phật pháp
giống như khoa hệ trong trường học, đều để cho mình
tùy ý lựa chọn. Điều kiện của sự lựa chọn là phải
thích hợp với trình độ của mình, ý thích của mình,
đời sống của mình, chẳng gây trở ngại cho đời sống
và công ăn việc làm của mình, không những chẳng trở
ngại mà còn trợ giúp thêm thì tu học theo sẽ rất dễ
dàng. Đây là những điều kiện chúng ta cần biết rõ
khi lựa chọn pháp môn.
Đức Phật dạy ba điều
trong Tam phước là tịnh nghiệp chánh nhân của hết
thảy chư Phật, nói một cách khác bất luận bạn tu học
theo khoa hệ nào thì ba điều này là lớp chính mình
phải học; trong vô lượng pháp môn ba điều này là
khóa học mọi người nhất định phải tu học, hết sức
quan trọng. Giống như xây một căn nhà, chẳng kể bạn
xây theo kiểu nào thì đây là nền móng, nhất định
phải xây nền móng vững chắc, ổn định trước thì căn
nhà này mới được hoàn hảo, chúng ta phải đặc biệt
coi trọng việc này.
b. Phật pháp là hiếu đạo và sư đạo
Điều thứ nhất: ‘Hiếu
dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát
hại sanh vật, tu thập thiện nghiệp’. Chúng ta nhất
định phải làm cho được điều này, nếu chúng ta thực
sự làm được thì chúng ta học Phật, nền móng để thành
Phật đã được xây dựng. Giả sử bạn chẳng làm được thì
Phật pháp mà bạn nghiên cứu sẽ trở thành những gì
người thế gian nói: Phật học – học Phật như nghiên
cứu một môn học, việc này đối với đời sống, tu trì,
thậm chí liễu sanh tử, vượt thoát tam giới chẳng có
liên quan chi hết! Vì vậy phải hết lòng làm cho bằng
được. Phật pháp là hiếu đạo, trong Giới kinh của Đại
thừa giảng rất rõ, từ hiếu thuận cha mẹ mở rộng đến
hiếu thuận sư trưởng, hiếu thuận hết thảy chúng sanh,
phải có tâm lượng như vậy. Thế nên chữ hiếu này có
thể nói đã bao gồm hết thảy toàn bộ Phật pháp. Hiếu
dưõng cha mẹ, ‘hiếu’ là giác ngộ, tức là tự tánh
giác, giác ngộ xong rồi biểu hiện trong hành vi sanh
hoạt tức là ‘dưỡng’.
Mọi người đều biết
văn tự Trung Quốc là một hệ thống ký hiệu có trí huệ
cao độ, khi chúng ta nhìn phù hiệu này thì liền hiểu
rõ, việc này thiệt rất phi thường. Kết cấu của văn
tự Trung Quốc có sáu nguyên tắc (lục thư), chữ hiếu
là viết theo nguyên tắc ‘hội ý’ – nhìn phù hiệu này
liền có thể hiểu được ý nghĩa trong đó. Phía trên
chữ Hiếu là chữ Lão, phía dưới là chữ Tử (con), hai
chữ này ghép lại thành chữ Hiếu, ý nghĩa của nó rất
rõ ràng. Lão là
đời
trước, đời trước còn có đời trước nữa, quá khứ vô
thỉ; Tử (con) là
đời
sau, đời sau còn có thêm đời sau nữa, vị lai vô
chung, vô thỉ vô chung là một cái toàn thể, đây gọi
là hiếu. Người phương tây nói về ‘đại cấu’ (sự ngăn
cách giữa các thời đại), nếu có sự ngăn cách thì chữ
hiếu này chẳng còn nữa. Người Âu tây thường hỏi tôi:
‘Người Trung Quốc quý vị, tổ tông cả mấy ngàn năm
trước chưa hề gặp qua thế thì tại sao vào dịp tết,
dịp lễ phải đi cúng họ?’. Đó là hiếu đạo. Bạn nghĩ
thử coi: tổ tông từ ngàn năm về trước mình còn kỷ
niệm họ, vẫn chẳng quên họ, cha mẹ hiện giờ làm sao
có thể chẳng làm tròn đạo hiếu cho được? Thầy giáo
thời xưa mình còn tôn trọng thì đối với người thầy
dạy mình hiện giờ làm sao chẳng tôn kính cho được?
Sự giáo học của nhà Nho và nhà Phật đều có căn bản
từ điểm này, đây là nền tảng. Cho nên phải hiểu chữ
hiếu này tức là Phật pháp, đặc biệt là trong kinh
điển Đại thừa gọi là ‘chân như pháp tánh’, tận hư
không, khắp pháp giới, phù hiệu này được dùng để
tượng trưng cho cả cái chỉnh thể này. Nếu chúng ta
có sự nhận thức như vậy thì mới thực sự thể hội được
chữ hiếu.
Sau đó làm thế nào để
thực hiện chữ ‘hiếu’ trong đời sống sinh hoạt của
mình, trên phương diện làm người, xử sự, đó tức là ‘dưỡng’;
dưỡng là phụng dưỡng, từ nghĩa hẹp mà nói tức là
dưỡng thân của cha mẹ. Cha mẹ sanh chúng ta, ân đức
dưỡng dục này rất lớn; khi cha mẹ lớn tuổi và về hưu,
chúng ta có nghĩa vụ săn sóc cho họ cũng giống như
lúc mình còn nhỏ cha mẹ lo lắng, chăm sóc cho mình,
chúng ta phải báo đáp, báo đền, đây là một chuyện
hết sức tự nhiên. Đây là dưỡng thân thể của cha mẹ,
[làm được việc này] có kể là
đã
làm tròn đạo hiếu chưa? Chưa tròn. Quý vị phải biết
trong loài cầm thú con quạ cũng biết dưỡng thân của
cha mẹ; quạ con biết đút đồ ăn cho quạ già, nó cũng
biết nuôi dưỡng cha mẹ vậy! Nếu người chẳng biết
nuôi cha mẹ mình thì cả cầm thú cũng chẳng bằng! Thế
nên dưỡng thân của cha mẹ cũng chưa làm tròn đạo
hiếu. Cha mẹ hy vọng con cái như thế nào? Chúng ta
có làm thỏa mãn nguyện vọng của cha mẹ chăng, việc
này rất quan trọng!
Thời xưa có sự dạy dỗ
của cổ thánh tiên hiền, cha mẹ không kỳ vọng con cái
thăng quan phát tài, chẳng giống với quan niệm của
người thời nay, đều hy vọng con cái có thể làm thánh
làm hiền, có đạo đức, có học vấn, có cống hiến đối
với xã hội đại chúng. Thế nên lập công, lập đức, lập
ngôn là làm rạng danh cha mẹ, làm cho cha mẹ hãnh
diện, mới được xã hội đại chúng tôn kính. Chúng ta
đã làm tròn được chưa? Có phụ lòng cha mẹ kỳ vọng
nơi mình hay không?
Sau khi học Phật thì
kỳ vọng của cha mẹ sẽ khác lúc trước, làm thánh làm
hiền vẫn chưa đủ, còn phải làm gì? Làm Bồ Tát, làm
Phật! Nếu bạn làm Bồ Tát thì họ là cha mẹ của Bồ
Tát; nếu bạn thành Phật thì họ làm cha mẹ của Phật;
làm cha mẹ của thánh hiền và làm cha mẹ của Phật, Bồ
Tát là hai chuyện khác nhau. Nếu chúng ta làm Phật,
Bồ Tát chẳng nổi thì chữ hiếu này chưa đạt đến viên
mãn, vẫn còn khiếm khuyết, phải biết chuyện này.
Người như thế nào mới làm tròn chữ hiếu? Thành Phật
thì chữ hiếu viên mãn nhất. Đẳng Giác Bồ Tát còn
thua một bậc, họ còn một phẩm Sanh Tướng vô minh
chưa phá thì đạo hiếu của họ cũng chưa viên mãn; từ
đây có thể biết Tam Phước là cơ sở chân thực.
Nếu bạn thực sự đã
học Phật, khi bạn khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo
tác liền lập tức phải nghĩ đến ‘hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng sự sư trưởng’. Thầy giáo và cha mẹ kỳ vọng
chúng ta những gì? Chúng ta đã làm được hay chưa?
Trong kinh thường nói: ‘Phật, Bồ Tát là tấm gương
tốt nhất cho hết thảy chúng sanh trong chín pháp
giới.’ Trong xã hội này chúng ta có thể làm gương
mẫu, làm người dẫn đầu cho xã hội đại chúng hay
không? Tư tưởng, lời nói, hành động của chúng ta có
ảnh hưởng gì đối với xã hội đại chúng? Nếu là ảnh
hưởng xấu thì tuyệt đối đừng làm. Nếu chẳng thâm
nhập kinh điển Đại thừa thì bạn không biết ‘hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng’ trong đời sống
phải bằt đầu từ đâu. Chúng ta nêu ra một thí dụ đơn
giản: trong nhà có nhiều anh chị em, làm con nếu anh
em chẳng hòa hợp thì cha mẹ phải lo lắng, buồn rầu,
như vậy tức là bất hiếu! Con cái trưởng thành ai
cũng thành gia lập nghiệp, cưới vợ sanh con, chị em
dâu bất hòa, cha mẹ phải bận tâm, đó cũng là bất
hiếu! Lúc còn nhỏ đi học chẳng siêng năng làm cha mẹ
phải bận tâm là bất hiếu! Trong trường không nghe
lời thầy, mỗi ngày đều đánh lộn, phá phách cũng là
bất hiếu!
Thế nên chư vị nghĩ
xem, chữ hiếu này bao trùm hết thảy Phật pháp, hết
thảy pháp của Thế Tôn nói suốt bốn mươi chín năm chỉ
là
để
giảng rõ chữ hiếu mà thôi. Khi chúng ta khởi tâm
động niệm, xử sự, đãi người, tiếp vật đều phải làm
theo những lời đức Phật dạy trong kinh điển. Phật
dạy chúng ta làm thế nào, chúng ta nhất định phải
làm cho bằng được; những gì Phật chẳng cho chúng ta
làm thì chúng ta tuyệt đối không làm, được vậy thì
bạn mới làm tròn đạo hiếu, mới kể là thực sự làm
được ‘phụng sự sư trưởng’. Sư trưởng chẳng dạy bạn
mỗi ngày phải cung kính họ, cúng dường họ; chẳng
phải vậy, bạn phải hết lòng làm theo lời dạy của sư
trưởng. Thế nên Phật pháp là hiếu đạo và sư đạo:
thầy dạy bạn phải làm sao để tròn đạo hiếu, cha mẹ
dạy bạn phụng trì thầy giáo như thế nào, sự giáo dục
của hai bên hỗ trợ lẫn nhau thì bạn mới thành tựu,
đây là cội gốc của căn bản. Học Phật phải bắt đầu từ
đâu? Bắt đầu từ Tịnh nghiệp Tam phước.
Kinh Địa Tạng Bồ Tát
Bổn Nguyện dạy rõ về hiếu đạo, trong nhà Phật kinh
này thường được xưng là ‘Hiếu Kinh’. Lúc mỗi đạo
tràng mới thành lập, bộ kinh đầu tiên tôi giảng nhất
định phải là kinh Địa Tạng. Khi chúng ta có một
miếng đất thì mới có thể phát triển, mới có thể làm
việc. Đất đai có rồi nhưng quan trọng hơn vẫn là tâm
địa, dùng lời nói hiện nay tức là xây dựng tâm lý,
kinh Địa Tạng giúp chúng ta xây dựng tâm lý. Từ mảnh
đất này liên tưởng đến tâm địa của mình, tâm địa
phải chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi. Cả bộ
kinh Địa Tạng thực ra là giảng bốn câu này: ‘Hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng sát
hại, tu thập thiện nghiệp’, các bạn hãy coi kỹ.
Phật giáo Đại thừa ở
Trung Quốc rất có đạo lý, là trí huệ cao độ, dùng
bốn đại Bồ Tát để tiêu biểu và tượng trưng cho sự tu
học Phật pháp. Vị thứ nhất là Địa Tạng Bồ Tát, thứ
hai là Quán Thế Âm Bồ Tát; Quán Thế Âm Bồ Tát tượng
trưng cho đạo hiếu mở rộng ra tức là
đại
từ đại bi, phát huy đạo hiếu đến có thể hiếu thuận
hết thảy chúng sanh. Nếu lúc chúng ta giao thiệp với
người khác vẫn còn tự tư tự lợi, vẫn làm một số việc
lợi mình, hại người, tức là chẳng hiếu, là chẳng
kính trọng thầy giáo! Như vậy thì chúng ta đâu có
học Phật? Người học Phật đối với ai cũng đều chân
thành, người nào gạt gẫm mình, mình đối với họ vẫn
phải chân thành, được vậy mới đáng gọi là người học
Phật.
Trong số những pháp
sư thế hệ trước, có một thời gian tôi có dịp tiếp
xúc và hợp tác với Đạo An lão pháp sư. Thầy mở lớp
Phật học Đại Chuyên và mời tôi làm tổng chủ giảng,
chúng tôi hợp tác với nhau hết ba, bốn năm. Thầy làm
cho tôi khâm phục, thầy chẳng có tâm riêng tư, chẳng
có đố kỵ, việc này rất hiếm và quý báu! Lúc tôi
giảng, có khoảng chừng hơn bốn trăm học sinh đến
nghe; lúc lão pháp sư giảng thì chỉ còn từ ba đến
bốn mươi học sinh. Tình trạng này rất khó coi, thầy
chẳng phiền lòng nhưng tôi cảm thấy rất khó chịu.
Lớp của tôi được xếp vào buổi sáng, lớp của thầy
buổi chiều; học sinh buổi sáng học xong, ăn xong thì
đều ra về, buổi chiều chẳng còn bao nhiêu người đến
lớp của thầy. Thế nên tôi đề nghị: ‘Chúng ta thay
đổi lớp học ngược lại xem sao, thầy dạy lớp buổi
sáng, tôi dạy lớp buổi chiều’. Sau khi thay đổi thì
lớp buổi sáng của thầy học trò chẳng chịu đến, lớp
buổi chiều thì học sinh lại đến đầy chỗ ngồi, thiệt
là chẳng có cách nào khác! Tuy vậy nhưng lão pháp sư
trước sau cũng chẳng phiền hà gì hết, có thể làm
được như vậy rất khó, chẳng dễ đâu!
Có một hôm tôi đi
thăm thầy, lúc đó có một người từ phòng của thầy đi
ra. Thầy hỏi tôi: ‘Người đó [vừa bước ra], thầy có
gặp chăng?’
Tôi nói: ‘Gặp rồi,
vừa đi khỏi’.
Thầy nói: ‘Hôm nay
ổng cũng đến gạt tôi’. Ông đó rất thường gạt tiền
của thầy, hôm nay cũng lại gạt tiền.
Tôi nói: ‘Thế thì
thầy có cho ổng hay không?’
‘Tôi đưa rồi’.
Thiệt là phi thường!
Người đến gạt lão pháp sư cứ nghĩ rằng lão pháp sư
chẳng biết mình bị gạt, đâu ngờ là lão pháp sư đã
biết rõ ràng. Biết rõ họ gạt mình mà vẫn để cho họ
gạt; thiệt là phi thường! Trong những lão pháp sư
đời trước tôi chỉ gặp được một người như thầy, tôi
rất khâm phục, thầy chẳng hồ đồ, chẳng mê hoặc điên
đảo chi cả, đây là việc chúng ta phải nên học tập.
Thầy đã làm một gương tốt cho chúng ta.
Điều thứ hai trong
Tam Phước:
‘Thọ trì Tam Quy, đầy
đủ các giới, chẳng phạm oai nghi’.
Từ đây có thể biết
điều kiện cơ bản của ‘Thọ trì Tam Quy’ tức là phước
thứ nhất làm xong thì mới có tư cách tiếp nhận sự
dạy dỗ của Phật. Tại sao ngày nay Phật pháp suy
thoái như vậy? Là vì mọi người thọ trì Tam Quy nhưng
điều thứ nhất [nói phía trước] chẳng làm được nên
thọ Tam Quy đều là giả, chẳng phải thật – trên hình
thức thọ Tam Quy, nhưng trên thực tế thì chẳng thọ.
Hỏi bạn thọ Tam Quy rồi, quy từ đâu? Chẳng biết. Hỏi
bạn y những gì? Cũng chẳng biết. Thọ trì một cách hồ
đồ như vậy là sai lầm! Tôi đã giảng ‘Tam Quy’ kỹ
càng ở Tân Gia Ba, hình như năm ngoái đã giảng thêm
một lần ở tại bờ biển Hoàng Kim, có lưu lại băng
thâu âm, băng thâu hình. Hai lần diễn giảng này đã
được chép lại thành một cuốn sách nhỏ, đã in ở Đài
Loan, chư vị muốn thọ Tam Quy nhất định phải nghe kỹ
hai lần giảng này; sau đó chúng ta ở trước mặt Phật,
Bồ Tát làm nghi thức đơn giản nhưng long trọng, mời
Tam Bảo chứng minh cho chúng ta; chúng ta thực sự
phát nguyện quy y Tam Bảo.
c. Tam Quy trong Tịnh Tông: A Di Đà Phật, kinh Vô
Lượng Thọ, Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí.
Quy y Tam Bảo nghĩa
là từ hôm nay trở đi tôi phát nguyện chánh thức làm
một học trò của đức Phật, tôn Phật làm thầy. Bạn
phát nguyện tôn Phật làm thầy, chúng sanh trong chín
pháp giới kể cả những thiên thần nhìn thấy bạn đều
tôn kính bạn. Bạn là học trò của Phật, chẳng phải là
người thường, đặc biệt nếu bạn là học trò của A Di
Đà Phật thì càng tôn quý hơn, hết thảy chư Phật Như
Lai đều đặc biệt tiếp đãi bạn, là nể Phật A Di Đà
đấy.
Nhưng bạn phải thiệt là học trò của A Di Đà Phật mới
được, nếu là giả mạo thì bạn chẳng đáng một xu. Tuy
Phật, Bồ Tát chẳng trách bạn nhưng thần hộ pháp sẽ
khiến bạn bị rắc rối. Thần hộ pháp là cảnh sát, là
người chấp hành pháp luật, họ đối với bạn chẳng
khách sáo gì cả, nếu bạn giả mạo làm đệ tử Phật thì
bạn đã phạm pháp rồi.
Tôi đặc biệt kết hợp
sự quy y của đồng tu chúng ta với giáo giới của Tịnh
Tông. Chúng ta quy y Phật thì tôn A Di Đà Phật làm
thầy, quy y Pháp thì lấy kinh Vô Lượng Thọ làm nền
tảng, đây là kinh số một của Tịnh Tông. Những lời
dạy của đức Phật trong kinh chúng ta phải hiểu rõ,
nhận thức, nhớ nằm lòng, và phải thực hiện những lời
này trong đời sống. Chúng ta hy vọng cách dụng tâm
của mình giống như đức Phật A Di Đà; chúng ta phát
nguyện cũng phải giống nguyện của đức Phật A Di Đà,
mỗi nguyện trong bốn mươi tám lời nguyện của đức
Phật A Di Đà
đều
nhằm đem lại lợi ích cho chúng sanh, đều chẳng vì
mình. Đức Phật A Di Đà dạy chúng ta phải sửa đổi hết
thảy tập khí phiền não từ vô lượng kiếp đến nay. Một
đoạn rất dài từ phẩm ba mươi hai đến phẩm ba mươi
bảy [trong kinh Vô Lượng Thọ] dạy về vấn đề này.
Trong đó là những lời giải thích hết sức cụ thể của
ngũ giới và thập thiện, chúng ta phải biết làm thế
nào y giáo phụng hành, làm theo lời dạy của Phật;
thực sự nương tựa thì sẽ được lợi ích! Tăng bảo thì
chúng ta học theo Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí
Bồ Tát -- Bồ Tát Tăng. Hai vị đại Bồ Tát này tượng
trưng cho những gì?
Quán Thế Âm Bồ Tát
đại từ đại bi, nói theo hiện nay thì từ bi nghĩa là
quan tâm, thương mến, và giúp đỡ, trong đó hoàn toàn
chẳng có điều kiện gì hết thì gọi là
đại.
Đối với hết thảy người, hết thảy chúng sanh, chúng
ta phải quan tâm, thương mến họ. Khi họ gặp khó khăn
thì phải giúp đỡ họ, đây tức là Quán Âm. Nếu bạn
thường giữ tâm niệm này để đối người, tiếp vật thì
bạn tức là Quán Thế Âm Bồ Tát.
Đại Thế Chí Bồ Tát
tượng trưng cho trí huệ cao độ; tuyệt đối chẳng dùng
tình cảm để xử sự, đãi người, tiếp vật, dùng lý trí
mà chẳng dùng cảm tình tức là Đại Thế Chí Bồ Tát.
Đại từ đại bi lấy trí huệ làm cơ sở, chẳng dùng cảm
tình. Dùng cảm tình thì có thể có nhiều rắc rối nên
phải dùng lý trí để phán đoán. Ý nghĩa của việc quy
y Tam Bảo là như vậy, đây mới thiệt là chỗ quay về,
nương tựa của chúng ta. Cho nên Tam Bảo trong Tịnh
Tông được thể hiện qua ‘A Di Đà Phật, kinh Vô Lượng
Thọ, Quán Âm và Thế Chí Bồ Tát’. Nếu phàm phu chúng
ta chẳng có nơi nương tựa thì sẽ cảm thấy trống
rỗng, thiếu thốn; khi bạn hiểu được những đạo lý và
phương pháp này thì bạn đã kiếm được chỗ nương tựa.
Từ mê hoặc, điên đảo, sai lầm quay lại nương tựa vào
Tam Bảo thì bạn mới thực sự quy y.
d. Giữ phép tắc, làm gương mẫu cho chúng sanh. Học
chịu thiệt thòi, không vì cá nhân mình.
‘Đầy đủ các giới,
chẳng phạm oai nghi’. Dùng cách nói hiện nay thì hai
câu này nghĩa là ‘giữ gìn phép tắc’; không những
phải giữ phép tắc mà còn phải làm gương mẫu cho xã
hội đại chúng. Chúng ta không được làm trái ngược
lời dạy của đức Phật, phải tuân theo. Hiến chương,
luật pháp của quốc gia, phong tục tập quán ở địa
phương chúng ta đều phải tuân giữ; được vậy mới có
thể hòa đồng với đại chúng, mới có thể cảm hóa hết
thảy chúng sanh. Cho nên lúc chúng ta khởi tâm động
niệm, hết thảy các hành động phải thường suy nghĩ
coi có thể làm gương mẫu cho xã hội đại chúng hay
không.
Hôm qua tôi nêu lên
một thí dụ: ngày nay tâm tham của người ta rất nặng,
bất luận làm ngành nghề nào cũng đều kiếm đủ mọi
cách để đóng thuế ít hơn. Đây có phải là việc chúng
ta nên làm hay không? Không phải. Chúng ta là
đệ
tử Phật, phải giữ phép tắc, chúng ta có nghĩa vụ
phải đóng thuế, nếu tìm đủ mọi cách, tìm lỗ hổng của
pháp luật để đóng thuế ít một chút thì chúng ta
chẳng còn là
đệ
tử Phật nữa, chúng ta không tuân giữ luật pháp.
Trong đời sống hằng ngày chúng ta có thể tùy tiện
khạc nhổ bừa bãi trên đường phố hay không? Có thể
tùy tiện xả rác hay chăng? Nếu chúng ta làm vậy thì
có thể làm gương mẫu cho xã hội đại chúng hay không?
Nếu bạn có những sự cảnh giác như vậy thì đó tức là
quy y, bạn đã quay lại, bạn đã giác ngộ -- những
hành động không tốt này sẽ ảnh hưởng đến xã hội,
chúng ta nhất quyết chẳng làm.
Chúng ta chân thành
với người, tuyệt đối chẳng lừa gạt bất cứ người nào,
khi chúng ta bị thiệt thòi, bị gạt gẫm cũng chẳng so
đo, giống như Đạo An lão hòa thượng biết rõ bị người
gạt nhưng vẫn để cho họ gạt, và chẳng nói một lời,
trong lòng mình tâm an lý đắc. Tại sao người đó gạt
mình mà chẳng gạt người khác? Bạn hãy suy nghĩ đạo
lý này. Nếu họ gạt mình và mình có năng lực cho
người đó thì mình hãy bố thí cho họ, làm một việc
thiện. Ngay trong cảnh giới, trong hoàn cảnh này mài
dũa hết tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu bạn chẳng có
những cảnh giới này thì bạn tu cái gì? Đây tức là tu
hành, đây tức là công phu! Rõ ràng minh bạch, là trí
huệ đấy! Tu hành phải tu ở đâu? Tu ngay tại chỗ này.
Một chút thiệt thòi cũng chẳng chịu làm thì bạn tu
hành cái gì? Một chút thua thiệt cũng chẳng chịu,
nói thực ra là bạn có phân biệt, chấp trước quá cứng
chắc. Nếu không thể phá trừ những thứ này thì bất
luận tu học pháp môn nào, tu được giỏi cách mấy, nói
với các bạn biết đó đều là tu thế gian pháp, đều vẫn
kẹt trong lục đạo luân hồi.
e. Giác là Phật pháp, mê không là Phật pháp.
Đại thừa Phật pháp
đặc biệt trong Tông Môn, thường thường dùng câu:
‘Pháp nào là Phật pháp?’ để thẩm vấn người sơ học.
Các bạn nghĩ thử coi, pháp nào là Phật pháp? Và hỏi
ngược lại: ‘Pháp nào chẳng là Phật pháp?’ Sự khác
biệt giữa Phật pháp và chẳng phải Phật pháp ở đâu,
bạn phải hiểu rõ. Giác ngộ rồi thì hết thảy pháp
đều là Phật pháp; chưa giác ngộ thì hết thảy pháp
đều chẳng là Phật pháp. Khi bạn chưa giác ngộ,
vẫn còn mê hoặc điên đảo, hỏi bạn thêm lần nữa:
‘pháp nào là Phật pháp?’ Chẳng pháp nào là Phật pháp
cả. Kinh Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm cũng chẳng phải
là Phật pháp. Một ngày bạn niệm mười vạn câu Phật
hiệu, thì như lời Liên Trì, Ngẫu Ích đại sư nói cho
dù công phu niệm Phật của bạn có giỏi hơn nữa, niệm
đến mức ‘gió thổi chẳng động, mưa rơi chẳng thấm’,
sau đó phê bình bạn: ‘hét bể cổ họng cũng uổng
công’. Tại sao vậy? Chẳng thể vãng sanh, vẫn kẹt
trong lục đạo luân hồi. Vì vậy nếu chẳng giác ngộ,
một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu cũng chẳng là
Phật pháp, quý vị phải hiểu đạo lý này.
Phật pháp thay đổi
quan niệm, cách suy nghĩ của chúng ta. Khi khởi tâm
động niệm đều nghĩ cho mình, như vậy là sai lầm, đó
chẳng là Phật pháp; khởi tâm động niệm đều nghĩ đến
hết thảy chúng sanh, nghĩ đến sự an toàn của cả xã
hội thì hết thảy pháp đều là Phật pháp. Tôi thường
nói những việc mà bạn làm hằng ngày như uống nước,
mặc áo, ăn cơm chẳng có thứ nào không là Phật pháp.
Bạn giác ngộ chưa? Người giác ngộ sẽ vì hết thảy
chúng sanh, người mê chỉ vì cá nhân mình, mê và ngộ
khác nhau tại chỗ này. Lúc khởi tâm động niệm còn vì
mình thì không được. Tại sao không được? Phật nói:
'Hết thảy chúng sanh vốn thành Phật'. Tại sao
bây giờ bạn biến thành chúng sanh? Tại sao bây giờ
bạn còn trong lục đạo luân hồi? Phật dạy chúng ta:
lục đạo là do chấp trước hiện thành; thập pháp giới
là do phân biệt hiện thành. Nói cách khác nếu bạn có
thể phá trừ chấp trước, lục đạo sẽ chẳng còn nữa,
bạn sẽ vượt ra khỏi tam giới; nếu bạn phá trừ phân
biệt, bạn sẽ vượt thoát thập pháp giới và
đến
Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới là Hoa Tạng
thế giới trong kinh Hoa Nghiêm, là cảnh giới của Tỳ
Lô Giá Na Phật. (Tây phương Cực Lạc thế giới cũng là
Nhất Chân pháp giới). Vì vậy khi khởi tâm động niệm
mà còn một cái ‘TA’ thì ngã chấp của bạn làm sao có
thể phá trừ được?
‘Cách phá ngã chấp’
trong Đại thừa cao minh hơn Tiểu thừa. Trong pháp
Đại thừa Phật dạy chúng ta khi khởi tâm động niệm
đều vì chúng sanh, đừng nghĩ cho cá nhân mình, lâu
dần biến thành thói quen, niệm niệm đều vì chúng
sanh, đem ích lợi cho chúng sanh, vì chúng sanh tạo
phước, quên mất mình. Phương pháp này đích thật là
rất tốt, chẳng nghĩ đến mình, chỉ nghĩ cho người
khác. Dần dần không hay không biết thì ngã chấp sẽ
biến mất hết. Nói một cách khác không hay không biết
bạn bèn vượt thoát tam giới, lục đạo. Phương pháp
này vô cùng kỳ diệu! Thêm phần bạn nhất tâm niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ thì làm sao chẳng nhanh chóng
được? Thành Phật rất nhanh chóng! Thành Phật tức là
thành tựu trí huệ, đức năng viên mãn, nhất định phải
hiểu đạo lý này, nhất định phải hiểu phương pháp.
Hiểu đạo lý rồi, biết phương pháp rồi, vấn đề sau đó
là mình phải nỗ lực thực hành. Đây đích thật là con
đường thành Phật nhanh chóng vậy!
Nếu bạn hỏi: ‘Trong
xã hội ngày nay làm theo cách này thì chỗ nào tôi
cũng chịu thiệt thòi, bị gạt rồi sao? Người ta ai
cũng vì mình, nhưng tôi lại vì họ, họ lại chẳng chịu
vì tôi, làm sao tôi phải làm việc khờ dại này!’ Nếu
bạn nghĩ như vậy thì bạn mới thiệt là ngu si, chẳng
phải người khác ngu; nếu bạn chịu làm thì bạn sẽ
được đại tự tại! Bạn thực sự có thể đạt được những
quả báo mà Phật nói trong kinh. Phải tin Phật, phải
mạnh dạn làm, tôi nói những lời này với mọi người
khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột, chẳng có một
tơ hào hoài nghi gì hết. Tại sao vậy? Vì tôi đã làm
được rồi. Những gì Phật nói trong kinh, những gì
thầy tôi dạy cho tôi, trong vòng mấy chục năm nay
những gì tôi làm bây giờ đã có kết quả, hiện nay tôi
đạt được những gì? Được đại tự tại. Tôi thường nói:
‘Trên thế giới này tôi sung sướng nhất’.
Nếu bạn hỏi: ‘Sung
sướng ở chỗ nào?’
‘Trong tâm tôi chẳng
có lo lắng, âu sầu, phiền não, thì làm sao chẳng
sung sướng, chẳng tự tại được? Trong tâm của các bạn
có lo âu, nhớ nhung, phiền não thì dù bạn có nhiều
tiền, có địa vị cao, bạn cũng chẳng tự tại. Bạn sinh
sống rất khổ sở, tôi sinh sống rất thong dong, rất
vui sướng, rất tự tại’. Cho nên những gì đức Phật
nói trong kinh câu nào cũng chân thật, chẳng có câu
nào giả dối, tại sao bạn chẳng chịu làm? Tại sao lại
hoài nghi? Chẳng chịu làm là vì chẳng giác. Dùng một
thuật ngữ trong Phật pháp [thì đây] là nghiệp chướng
sâu nặng! Nghiệp chướng nặng phải tự mình tiêu trừ,
người khác chẳng có cách chi tiêu trừ dùm bạn, Phật,
Bồ Tát cũng chẳng có cách gì hết. Phật, Bồ Tát chỉ
có thể nói rõ những lý luận và phương pháp này cho
bạn biết, bạn phải tự mình giải quyết vấn đề của
bạn.
f. Tin sâu nhân quả -- Niệm Phật là nhân, thành Phật
là quả.
Từ Tam Quy nâng cao
đến phước thứ ba tức là cơ sở tu học của Đại thừa Bồ
Tát: ‘Phát Bồ Đề tâm, đọc tụng Đại thừa, tin sâu
nhân quả, khuyến tấn hành giả’.
Bồ Tát Đại thừa chẳng
những tự độ mình mà còn giúp đỡ người khác, cho nên
‘khuyến tấn hành giả’ nghĩa là chủ động giúp đỡ
người khác. Tin sâu nhân quả nói ở đây chẳng phải là
nhân quả thông thường.
'Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả’ đặc biệt
nhấn mạnh trên nhân quả ‘niệm Phật thành Phật'.
Chúng ta có thể tìm được rất nhiều chứng minh trong
các kinh điển Đại thừa, kinh Hoa Nghiêm là thí dụ rõ
ràng nhất cho việc niệm Phật thành Phật. Pháp Hoa,
Lăng Nghiêm, Lăng Già cũng chẳng ngoại lệ, quý vị
hãy quán sát kỹ càng. Hết thảy kinh Đại thừa đều nói
niệm Phật thành Phật, đây là cơ sở học Phật của
chúng ta! Chúng ta phải dụng công từ đây, bắt đầu
học từ đây.
g. Năm khoa mục của Tịnh Tông – Tam Phước, Lục Hòa,
Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện.
Hiện nay chúng ta
chưa thành Phật, chưa thành Bồ Tát, chưa vãng sanh,
thân thể này vẫn còn trụ trên thế gian, mỗi ngày
phải tiếp xúc với đại chúng, chúng ta dùng thái độ
gì để đối phó với những chuyện hiện thực trong xã
hội, Phật dạy chúng ta sáu nguyên tắc gọi là ‘Lục
Hòa Kính’. Lần này cư sĩ Lâm đem vài bộ [liễn, ghi
chép] Lục Hòa Kính ở Đài Loan về đây, hy vọng đem
đóng khung [treo lên] để chúng ta thường nhìn thấy
và cảnh giác mình. ‘Kiến hòa đồng giải, Giới hòa
đồng tu’. Nói theo hiện nay ‘kiến hòa đồng giải’ tức
là ‘xây dựng kiến thức chung’, chúng ta có chung
nhận thức, chung lý tưởng, mục tiêu thì có thể sinh
hoạt chung với nhau, hòa đồng khi tiếp xúc lẫn nhau,
đối xử hòa mục với nhau; ‘Giới hòa đồng tu’ nghĩa là
tuân giữ luật pháp; nhà có quy tắc trong nhà, nước
có pháp luật quốc gia, đạo tràng có quy củ của đạo
tràng, mọi người đều phải tuân theo. ‘Thân hòa đồng
trụ, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa
đồng quân’ [thân hòa đồng trụ: cùng nhau làm
việc, sanh hoạt hòa đồng; khẩu hòa vô tránh: chẳng
tranh chấp, cãi cọ; ý hòa đồng duyệt: cùng chung chí
hướng; lợi hòa đồng quân: cùng chia xẻ tài vật đồng
đều với nhau]. Phật dạy chúng ta ‘Lục hòa kính’,
chúng ta phải tuân theo sáu nguyên tắc này khi tiếp
xúc, sinh hoạt với đại chúng trong xã hội.
Tam Phước là cơ sở tu
học của mỗi người. Lục Hòa Kính là nguyên tắc căn
bản khi chúng ta tiếp xúc với đại chúng. Nếu chúng
ta có thể làm được thì trên thế giới này bất luận
bạn ở quốc gia nào, địa phương nào, bất luận trong
xã hội nào, bạn sẽ chẳng thiệt thòi gì hết, đi đâu
cũng được mọi người tôn kính, hoan nghinh, lợi ích
này thiệt là chẳng thể nghĩ bàn! Phải dốc sức thực
hành, làm hết lòng; từ cơ sở này không ngừng tiến
lên, nâng cao cảnh giới của mình, bạn nhất định phải
tuân theo Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện. Tam Học tức
là Giới, Định, Huệ. Trong đề kinh ‘Thanh Tịnh Bình
Đẳng Giác’ của kinh Vô Lượng Thọ, Thanh tịnh là Giới
Học, Bình đẳng là Định Học, Giác là Huệ Học. Tam Học
đầy đủ trong đề kinh này; Chẳng những Tam Học đầy
đủ, Tam Bảo cũng đầy đủ, Thanh tịnh là Tăng Bảo,
Bình đẳng là Pháp Bảo, Giác là Phật Bảo. Từ đây có
thể biết kinh Vô Lượng Thọ thiệt là chẳng thể nghĩ
bàn, hy vọng các vị đồng tu hết lòng nỗ lực, đời này
chúng ta sẽ chẳng luống uổng, đây là nhân duyên khó
gặp từ vô lượng kiếp đến nay, đời này gặp được thì
chúng ta phải trân trọng, nắm chắc, nhất định sẽ
thành tựu. Lời tôi nói đến đây đã hết.
Buổi nói chuyện
tại Tịnh Tông Học Hội Úc Châu, 1997 (ngày thứ ba)