Ý NGHĨA CHÂN THẬT CỦA "BỔN NGUYỆN NIỆM PHẬT
Hòa Thượng Tịnh Không thuyết
giảng
Liễu Nhân sưu tập và ghi chép, Cư sĩ Truyền Tịnh giảo chánh
Dịch theo bản
in của Tịnh Tông Học Hội Los Angeles, tháng 3, 2001
1. Ý nghĩa chân thật của ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’
Các
bạn đồng học:
Chào các bạn, thầy
Ngộ Đạo gởi đến câu hỏi của một vị đồng tu ở trường
Đại học Lý Công, Nam Kinh như vầy:'Gần đây có người
rao truyền ‘Bổn Nguyện Niệm Phật' chẳng y
chiếu những lời dạy trong Tịnh Độ Tam Kinh, chẳng
cần tin, chẳng cần phát nguyện, và cũng chẳng cần
niệm Phật đều có thể vãng sanh”. Nhiều bạn đồng học
chưa hiểu sâu vào [giáo nghĩa] Tịnh Tông nghe xong
rất hoang mang’, xin pháp sư từ bi giảng giải.
Đây đích thật là một
vấn đề rất nghiêm túc và quan trọng, nếu giải thích
lệch lạc vấn đề này thì có thể dẫn dắt rất nhiều
đồng tu lầm đường, lạc lối, đánh mất cơ hội niệm
Phật vãng sanh ngay trong đời này của họ, những
người rao truyền lời nói này phải gánh chịu trách
nhiệm nhân quả. Trong kinh nói nhất định sẽ đọa địa
ngục A Tỳ! Bốn chữ ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’ chẳng sai,
nhưng họ giải thích ý nghĩa của nó sai hoàn toàn.
Trước khi nhập diệt đức Phật biết rất rõ tình huống
trong xã hội hiện tại của chúng ta, rõ ràng vô cùng.
Trong chương Thanh Tịnh Minh Hối của kinh Lăng
Nghiêm, đức Phật nói: 'Tà sư thuyết pháp như cát
sông Hằng'. Những lời trong kinh này là nói về
đời hiện tại của chúng ta -- đời pháp nhược ma
cường, chúng sanh nhận giả mà chẳng nhận thiệt, chịu
nghe lời gạt mà chẳng chịu nghe lời khuyên!
Các vị đồng học Tịnh
Tông chúng ta phải học theo đức Phật, đức Phật có
tâm nhẫn nại chờ đợi những người này. Tôi cảm thấy
nhiều người trong nhóm đồng học chúng ta có nhiệt
tâm hơn đức Phật, họ nôn nóng muốn độ hết thảy chúng
sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới. Nhưng quay đầu
lại và thiệt lòng phản tỉnh coi tự mình có thể vãng
sanh được hay chăng? Tự mình chẳng có khả năng được
độ mà muốn độ người khác! Trong kinh thường nói câu:
'không có chuyện này!’ (vô hữu thị xứ!), mọi người
thường nghe câu này, nghe đến thuộc lòng luôn.
'Phật không độ người vô duyên', chúng ta phải
hiểu những người này chẳng có duyên với Phật, chẳng
có duyên nghĩa là không tin. Không tin vào những lời
dạy trong Tịnh Độ Tam Kinh, không thể y giáo phụng
hành, mà lại nghe những lời rao truyền này, đây tức
là chẳng có duyên với Phật, trong đời này họ nhất
định chẳng thể thành tựu.
a. Bổn nguyện là gì?
Bổn nguyện rốt cuộc
là gì?
Bổn nguyện tức là bốn
mươi tám lời nguyện. Sau khi Tịnh Tông được thành
lập thì chúng ta niệm Phật y theo ‘Bổn Nguyện’. Bạn
hãy xem khóa tụng hằng ngày của Tịnh Tông chúng ta,
khóa sáng thì niệm bốn mươi tám lời nguyện, khóa tối
sám trừ nghiệp chướng. Nếu chẳng sám trừ nghiệp
chướng thì nhất định không thể vãng sanh. Tuy pháp
môn này nói ‘đới nghiệp vãng sanh’, các vị Tổ sư đại
đức xưa nay đã nói đến rất nhiều 'chỉ mang theo
nghiệp cũ, chứ không mang theo nghiệp mới’.
Những nghiệp mà bạn đang tạo hiện nay thì không thể
mang theo, chữ ‘đới’ nghĩa là ‘đem theo, mang qua
bên đó’; việc sai lầm trong quá khứ không sao, hôm
nay sửa cho đúng lại. Câu‘không kể quá khứ, chỉ
luận hành vi hiện nay' là nguyên lý và nguyên
tắc của đới nghiệp vãng sanh. Bây giờ vẫn tiếp tục
tạo nghiệp thì chẳng thể vãng sanh, nhất định phải
hiểu đạo lý này.
Bổn nguyện, có người
nói bổn nguyện là nguyện thứ mười tám, nhưng phần
đông nhiều người không hiểu rõ nghĩa thú! Nguyện thứ
mười tám hàm nhiếp hết thảy bốn mươi bảy nguyện kia
một cách rốt ráo viên mãn, thiếu một nguyện trong
bốn mươi bảy nguyện kia thì nguyện thứ mười tám sẽ
không viên mãn. Vị ‘đại đức’ rao truyền ‘Bổn Nguyện
Niệm Phật’ có hiểu đạo lý này hay không?
Bất cứ một nguyện nào
trong bốn mươi tám nguyện đều hàm nhiếp bốn mươi bảy
nguyện kia một cách rốt ráo viên mãn, nguyện nào
cũng như vậy cả. Tuy chúng tôi chưa giảng xong kinh
Hoa Nghiêm nhưng mọi người cũng đã nghe kinh chẳng
ít. Trong câu‘một tức là nhiều, nhiều tức là một’
(nhất tức thị đa, đa tức thị nhất) của kinh Hoa
Nghiêm thì 'một và nhiều là không hai’ (nhất đa
bất nhị) mà! ‘Một tức là hết thảy, hết thảy tức là
một’ (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất),
người đó có hiểu không? Bổn nguyện niệm Phật là ‘một
tức là hết thảy’, cho nên công đức của bổn nguyện
rất thù thắng; tuyệt đối chẳng phải nói ‘chỉ dựa vào
nguyện thứ mười tám mà thôi, bốn mươi bảy nguyện kia
không cần nữa’; nếu bốn mươi bảy nguyện kia đều
không thực hiện được thì nguyện thứ mười tám cũng
không làm được luôn. Nguyện thứ mười tám là gì?
Nguyện thứ mười tám là tổng cương lãnh của bốn mươi
bảy nguyện kia. Vì vậy lời rao truyền này là của ma
thuyết pháp chứ chẳng phải của Phật.
Trước khi nhập diệt
đức Phật dạy chúng ta ‘Tứ y pháp’, thứ nhất là ‘Y
pháp bất y nhân’. Pháp là gì? [Pháp là kinh điển]
Kinh Vô Lượng Thọ là kinh đầu tiên của Tịnh Tông.
Đời Đông Tấn, Huệ Viễn đại sư xây dựng đạo tràng
niệm Phật đầu tiên ở Lô Sơn – Đông Lâm Niệm Phật
Đường, những đồng tu có cùng chung chí hướng và
đạo
tâm gồm có một trăm hai mươi ba người. Lúc đó kinh
điển Tịnh Tông chỉ có kinh Vô Lượng Thọ, các kinh
kia chưa được phiên dịch. Những người trong đạo
tràng Lô Sơn đều y theo kinh này, một trăm hai mươi
ba người này đều vãng sanh một cách vững vàng, thích
đáng. Đạo tràng này vô cùng thù thắng, trang nghiêm,
chúng ta phải đi theo đường của người xưa, kế thừa
[sự nghiệp của] người xưa.
Gần đây Ấn Quang lão
pháp sư là người cuối đời nhà Thanh đầu thời Dân
Quốc, rất nhiều đồng tu đều biết. Ngài là hóa thân
của Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại Thế Chí Bồ Tát
tái lai. Chúng ta chẳng có dịp được gặp lão pháp sư,
nhưng Văn Sao của Ngài vẫn còn lưu truyền trong thế
gian, [chúng ta] nên đọc tụng kỹ càng, y giáo phụng
hành. Ngày nay con đường chúng ta đi là kế thừa Ấn
Quang đại sư. Thầy tôi là lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam,
thầy là học trò của Ấn Quang đại sư, cả đời thầy làm
theo lời dạy của đại sư. Tôi thân cận học hỏi thầy
Lý được mười năm, thầy không dám đảm đương vai trò
của thầy giáo, thầy giới thiệu cho tôi một người
thầy. Người thầy này là ai? Tức là thầy của thầy Lý,
Ấn Quang đại sư. Do đây có thể biết thầy Lý có đức
hạnh, học vấn, và vô cùng khiêm tốn! Thầy dạy tôi
phải hết lòng phát tâm đọc tụng Văn Sao và y giáo
phụng hành, được vậy [mới xứng đáng] làm đệ tử của
Ấn Quang đại sư.
Tôi khuyên hết thảy
các vị đồng tu ở khắp nơi noi theo kinh Vô Lượng Thọ
và làm đệ tử của A Di Đà Phật một cách gọn tắt, ổn
đáng. Lão cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập kinh Vô Lượng
Thọ, nếu cụ Hạ không phải là A Di Đà Phật tái lai
thì phải là Quán Thế Âm Bồ Tát tái lai, nếu không
thì chẳng thể hội tập bộ kinh này được hoàn hảo như
vậy. Chúng ta biết ông Vương Long Thư hội tập lần
đầu tiên vào triều nhà Tống, ông Ngụy Mặc Thâm hội
tập lần thứ hai vào triều nhà Thanh, cả hai đều
không hoàn hảo! Thời mạt pháp đích thực có nhu cầu
phải hội tập kinh này nên cảm được Phật, Bồ Tát đến
thị hiện. Quý vị không tin, nhưng tôi tin; ai tin
thì được lợi ích. Chúng ta biết được những người y
chiếu lời dạy trong bản kinh này để tu hành và khi
vãng sanh có tướng lành trong những năm gần đây rất
nhiều, những người chúng ta được nghe nói đến càng
nhiều hơn. Nếu các bạn chẳng tin mà cứ nghe theo lời
[rao truyền] của người ta thì không còn cách nào để
nói nữa?
Ngày nay trong thời
đại dân chủ tự do, rộng mở, ai cũng không có quyền
can thiệp người khác, thế thì phải coi duyên phần
của chúng ta với đức Phật A Di Đà sâu hay cạn. Chúng
ta đọc bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư, không
cần hỏi lão cư sĩ là người như thế nào, không cần
như vậy. Hãy coi bản hội tập của ngài đúng như pháp
hay không? Chúng ta phải xây dựng lòng tin từ điểm
này, chẳng phải mê tín, chẳng phải mù quáng. Tôi đã
in năm bản dịch của kinh Vô Lượng Thọ và bốn bản hội
tập chung thành một cuốn và
đề
tên sách là ‘Tịnh Độ Ngũ Kinh Độc Bổn’; trước sau đã
in hết hai, ba vạn quyển. Chư vị đồng tu hãy tự xem
và so sánh, để quý vị xây dựng lòng tin vững chắc
bằng cách này. Sau đó quý vị hãy quán sát kỹ số
người noi theo [lời rao truyền] ‘Bổn Nguyện Niệm
Phật’ mà vãng sanh được bao nhiêu người? Họ có tướng
lành gì chăng?
b. Chẳng phát nguyện
thì niệm Phật không thể vãng sanh.
Kinh Vô Lượng Thọ dạy
rất rõ ràng, điều kiện căn bản của ba bậc vãng sanh
là: 'Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm',
làm sao có chuyện chẳng phát nguyện mà có thể vãng
sanh được? Không có đạo lý này! ‘Chẳng phát nguyện,
niệm Phật’ người xưa có nói: 'Cho dù mỗi ngày
niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, chẳng phát nguyện thì
hét bể cuống họng cũng uổng công mà thôi!'
Tại sao vậy? Bạn
chẳng chịu vãng sanh mà!
Tâm nguyện vãng sanh, buông xuống vạn duyên
tức là tâm Bồ Đề.
Trong Yếu Giải, đại
sư Ngẫu Ích đã dạy chúng ta: ‘Nếu muốn vãng sanh
tăng cao phẩm vị, nhất định phải có tâm giống như
tâm Phật, nguyện giống nguyện của Phật, hạnh giống
hạnh của Phật’. Tâm chẳng giống tâm của A Di Đà
Phật, nguyện cũng chẳng giống nguyện của A Di Đà
Phật, hành vi cũng chẳng giống A Di Đà Phật, cho dù
bạn vãng sanh thì phẩm vị cũng rất thấp; huống chi
là bạn không thể nào vãng sanh được! Chúng ta phải
nhớ kỹ nghe!
Trong kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật, phu nhân Vy Đề Hy cầu sanh Tịnh Độ,
thỉnh giáo đức Phật Thích Ca:
‘Con phải tu học như
thế nào mới có thể vãng sanh Cực Lạc thế giới?’
Trước khi đức Phật
Thích Ca Mâu Ni giảng giải phương pháp tu học cho
bà, Ngài đã giảng rõ ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’, giảng
rõ cho chúng ta đây là 'Chánh nhân Tịnh nghiệp
của ba đời chư Phật'. Nói một cách khác bất luận
Phật quá khứ, Phật hiện tại, hay Phật tương lai, hết
thảy những người tu hành thành Phật đều xây dựng
trên cơ sở, nền tảng này, nếu không có cơ sở này thì
chẳng kể họ ráng sức tu hành ra sao đều không thể
thành tựu. Cũng như việc xây nhà, đây là nền móng.
Hai câu đầu trong cơ sở này là: ‘Hiếu dưỡng phụ mẫu,
phụng sự sư trưởng’, người Trung Quốc thường dùng
danh từ: ‘hiếu thân tôn sư’. Mọi người ở Tây phương
Cực Lạc thế giới đều là người con có hiếu nhất, đều
là học sinh giỏi nhất. Trong kinh Vô Lượng Thọ xưng
họ là ‘đệ tử hạng nhất của Như Lai’! Làm sao có
chuyện ‘chẳng phát nguyện’ này? Việc này hoàn toàn
sai lầm! Những người có đầu óc sáng suốt một chút
đều có thể phân biệt và nhận ra. Nếu ngay cả việc
này cũng không thể nhận ra sự khác biệt, sự học Phật
của chúng ta đều là vô ích, nghe giảng kinh bao
nhiêu năm nay cũng luống uổng, vô ích! ‘Tịnh Nghiệp
Tam Phước’ tức là hạnh của Phật – Hành vi của chư
Phật Như Lai được thể hiện trong sanh hoạt thường
ngày. Tam Phước, Lục Hòa, Tam Học, Lục Độ, Thập
Nguyện đều là sự hành trì của chư Phật. Chúng ta đã
làm được chưa? Tôi thường khuyên các vị đồng tu khi
khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác phải đối chiếu
với năm khoa mục này, nếu tương ứng, phù hợp thì
hạnh của quý vị là chánh hạnh; nếu không tương ứng
thì hạnh của quý vị là tà hạnh, tà hạnh chẳng thể
vãng sanh được đâu!
Cho nên chúng tôi
biên soạn năm đề mục của Tịnh Tông thành cuốn sách
nhỏ gọi là ‘Nguyên tắc tu hành’, đây là nguyên tắc
chúng ta nhất định phải tuân theo trong đời sống,
công việc, xử sự, đãi người, tiếp vật hằng ngày,
nhất định chẳng thể làm trái ngược. Nếu làm trái
ngược thì niệm Phật, phát nguyện cũng không thể vãng
sanh. Tại sao vậy? Nguyện này của bạn là nguyện giả,
nguyện suông, không thực tế. Khi chúng ta phát
nguyện hồi hướng, bạn lấy gì để hồi hướng? Nói
suông, hồi hướng suông thì không được, bạn phải dùng
những gì thực tế để hồi hướng. Thực tế là gì?
Thực tế là tu hành chứng quả, đoạn ác tu thiện,
chuyển mê thành ngộ. Đây là công đức tu hành
chân thật của mình, mình phải dùng cái này để hồi
hướng. Hôm nay bạn không phát nguyện và cũng không
niệm Phật, làm sao bạn có thể vãng sanh cho được?
c. Đời mạt pháp, tà sư
nhiều như cát sông Hằng.
‘Đồng tu Tịnh Tông
nghe xong khởi lên rất nhiều nghi vấn’, những người
này vô tri, ngu muội, là những người đáng thương!
Giống như mấy năm trước đây ông Trần Kiến Dân ở Mỹ
đã tuyên bố khắp thế giới rằng: ‘đới nghiệp không
thể vãng sanh’, làm những người niệm Phật khắp thế
giới vô cùng phân vân, thắc mắc. Đó là ma, không
phải là Phật đâu! Ngay cả những vị như lão cư sĩ
Châu Tuyên Đức cũng lung lay lòng tin. Khi tôi đến
Los Angeles ông ra phi trường đón tôi, vừa gặp mặt
liền hỏi: ‘Pháp sư, hiện nay có người nói: ‘đới
nghiệp không thể vãng sanh’, phải ‘tiêu nghiệp mới
có thể vãng sanh’, vậy thì phải làm sao?’.
Tôi bèn nói với ông:
‘Không vãng sanh thì thôi!’.
Ông nghe xong lời này
vô cùng hoang mang; tôi nhìn ông đờ cả người, đứng
đó nói chẳng nên lời. Tôi nói:
‘Nếu không đới
nghiệp, thì Tây phương Cực Lạc thế giới chỉ có đức
Phật A Di Đà cô độc một mình trên đó, ông còn lên đó
làm gì?’
Ông vẫn còn chưa
hiểu, tôi mới nói thêm:
‘Quán Thế Âm Bồ Tát,
Đại Thế Chí Bồ Tát đều là Đẳng Giác Bồ Tát, vẫn còn
một phẩm Sanh Tướng vô minh chưa phá trừ, như vậy có
phải là
đới
nghiệp hay không?’.
Nghe xong ông mới
tỉnh ngộ -- Quán Âm, Thế Chí đều đới nghiệp, chỉ có
một mình A Di Đà Phật là chẳng đới nghiệp mà thôi.
‘Nhưng trong kinh
chẳng có nói ‘đới nghiệp vãng sanh’?’
Tôi trả lời: ‘Trong
kinh có nói đến bốn cõi, ba bậc, chín phẩm hay
không?’
‘Có!’
‘Nếu không đới nghiệp
thì mọi người đều bình đẳng, vậy thì đâu có ba bậc,
chín phẩm phải không?’
Đây là lời đức Phật
dạy chúng ta: 'Noi theo nghĩa chứ không noi theo
lời nói', tuy đức Phật chẳng có nói ‘đới nghiệp
vãng sanh’, [nhưng] có nói đến ba bậc, bốn cõi, chín
phẩm, vậy thì ý tứ của chữ đới nghiệp đều nằm trọn
trong đó rồi. Bạn đem theo nghiệp nhiều thì phẩm vị
của bạn thấp; bạn đem theo nghiệp ít thì phẩm vị của
bạn sẽ cao. Đâu có đạo lý chẳng đới nghiệp!
Người học Phật phải
khai mở trí huệ, tại sao có thể vừa nghe người ta
nói hai ba câu thì lung lay lòng tin liền, mê hoặc
điên đảo như vậy? Bạn nói người như vậy có đáng
thương hay không? Niệm Phật suốt cả đời, bảy tám
chục tuổi rồi, vừa nghe lời đồn đãi của người ta thì
lung lay niềm tin, thiệt là
đáng
thương quá! Vì vậy nên đức Phật dạy chúng ta: 'Y
pháp chứ đừng y theo người’, ‘Y nghĩa chứ không y
theo lời nói', pháp là kinh điển; kinh điển của
Tịnh Tông là năm kinh, một luận, phải hiểu lời dạy
của Ngài.
‘Bổn nguyện niệm
Phật’ có sai không?
Không sai!
Vậy thì ‘bổn nguyện’
là gì?
Năm kinh, một luận là
bổn nguyện, bốn mươi tám nguyện là bổn nguyện của
đức Phật A Di Đà, rút một câu trong đó ra thì không
được! Rút ra bất cứ một câu nào trong đó, nếu bạn
hiểu được ‘một tức là nhiều’, một câu tức là toàn bộ
năm kinh và một luận, nếu bạn có công phu đến mức
này thì có thể hiểu như vậy, có thể như vậy. Nếu
không có công phu đến mức này thì hãy ngoan ngoãn,
thực thà theo thứ tự mà bước đi từ từ, học tập theo
thứ lớp đ
àng
hoàng, được vậy bạn sẽ thành công. Hễ không đúng như
pháp, giải sai, lệch lạc ý nghĩa của bổn nguyện niệm
Phật thì đều là ma hết; ma sợ bạn thành tựu ngay
trong một đời này nên mau mau kéo bạn trở lại, đẩy
bạn vô địa ngục A Tỳ xong thì ma mới vui! Được rồi,
tôi giải thích vấn đề này cho các bạn đến đây thôi.
Ngày 5 tháng 1, 2000
tại Báo Ân Đường Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba.