Thiên Như Ðại Sư Khai Thị Niệm Phật
HT Thích Thiền Tâm
Hỏi:- Sự nhiếp cơ của Tịnh
Độ quả thật là rộng, ngu giả
không còn dám luận bàn.
Nhưng tôi thường nghe nói:
'Di Đà bản tánh, Tịnh Độ duy
tâm,' trong ý cũng có trộm
mừng! Đến chừng xem qua các
kinh luận về tông nầy, thì
Tịnh Độ là miền Cực Lạc
ngoài muôn ức cõi. Di Đà là
vị giáo chủ ở Liên Bang. Như
vậy thì kia đây cách xa,
ngoài nghĩa lý duy tâm bản
tánh rồi! Thế là ý chỉ gì?
Đáp:- Chỗ hiểu ấy còn nông
cạn hẹp hòi. Ông không biết
rằng chân tâm của ông rộng
rãi và sáng suốt vô cùng?
Kinh Lăng Nghiêm nói: 'Những
non sông đất liền cho đến hư
không ở ngoài sắc thân ta,
đều là cảnh vật trong chân
tâm mầu sáng.' Lại nói: 'Các
pháp sanh hóa, đều là hiện
cảnh của duy tâm.' Thế thì
đâu có cõi Phật nào ngoài
tâm ta ư? Cho nên ý nghĩa
của Tịnh Độ duy tâm là nói
cõi Tịnh Độ ở trong chân tâm
của ta, như biển cả nổi lên
vô lượng bóng bọt, mà không
có bóng bọt nào ở ngoài biển
cả. Lại như những hạt bụi
nơi đất liền, không có hạt
bụi nào chẳng phải là đất;
cũng như không có cõi Phật
nào chẳng phải là tâm. Nên
Tiên Thánh đã nói: 'Chỉ một
tâm nầy có đủ bốn cõi là:
Phàm Thánh Đồng Cư, Phương
Tiện Hữu Dư, Thật Báo Vô
Chướng Ngại, và Thường Tịch
Quang.'
Cõi Phàm Thánh Đồng Cư có
hai: Đồng Cư Tịnh Độ và Đồng
Cư Uế Độ. Đồng Cư Uế Độ là
như cõi Ta Bà trong quốc độ
nầy có phàm có thánh ở chung
lẫn, mà phàm và thánh đều có
hai hạng. Hai hạng của phàm
là ác chúng sanh, tức bốn
thú, và thiện chúng sanh,
tức trời người. Hai hạng của
thánh là thật thánh và quyền
thánh. Thật thánh là các
thánh nhơn thuộc bốn đạo
quả, bậc Bích Chi Phật, bậc
thất địa trong Thông giáo,
thập trụ trong Biệt giáo,
thập tín hậu tâm trong Viên
giáo. Những vị nầy phần
thông hoặc tuy dứt song sắc
thân quả báo hãy còn, nên
đều gọi là thật. Quyền thánh
là các vị Bồ Tát trụ ở những
cõi Phương Tiện, Thật Báo,
Tịch Quang cùng bậc Diệu
Giác (Phật) vì làm lợi lạc
cho kẻ hữu duyên nên ứng
sanh vào cõi Đồng Cư. Bởi
tùy cơ thị hiện nên gọi là
quyền. Những vị trên đây
cùng với phàm phu đồng ở,
nên gọi là Phàm Thánh Đồng
Cư, và cảnh cư trú về phần
khí thế giới, có hầm hố, gai
gốc, bùn đất, cùng các tướng
nhơ nhớp, về phần hữu tình
giới có bốn ác thú, nên gọi
là Uế Độ. Đồng Cư Tịnh Độ là
như cõi Cực Lạc, tuy y báo
chánh báo nơi đây trang
nghiêm mầu nhiệm, không có
bốn ác thú, song cũng gọi
Phàm Thánh Đồng Cư vì chúng
sanh sanh về cõi nầy không
phải đều là bậc đắc đạo. Như
trong kinh nói: 'Hạng người
phạm tội nặng, khi lâm chung
chí tâm sám hối và niệm
Phật, đều được vãng sanh.'
Do đó nên biết nơi cõi nầy
chúng sanh còn hoặc nhiễm
cũng có thể được ở. Thế Giới
Cực Lạc cũng có hai hạng
Thánh Cư và bởi y báo chánh
báo đều sạch sẽ trang
nghiêm, nên gọi là Tịnh Độ.
Để nói rộng thêm, tuy gọi
Tịnh Độ nhưng thật ra trong
ấy có nhiều hạng hơn kém
không đồng. Như thế giới
Diệu Hỉ tuy là Tịnh Độ, song
còn có nam nữ và núi Tu Di,
và Tịnh Độ đã như thế, uế độ
cũng như vậy.
Cõi Phương Tiện Hữu Dư là
chỗ ở của bậc Nhị Thừa và ba
hạng Bồ Tát đã chứng Phương
Tiện Đạo. Những vị nầy do tu
hai môn quán, dứt phần thông
hoặc, phá hết trần sa, bỏ
thân phân đoạn thọ thân pháp
tánh, tự tại ở ngoài ba cõi;
nhưng vì họ chưa đoạn được
biệt hoặc vô minh nên còn có
sự biến dịch sanh tử. Sở dĩ
gọi phương tiện vì đó là
cảnh giới của hành nhơn tu
chứng Phương Tiện Đạo. Gọi
hữu dư là bởi họ chưa đoạn
được vô minh. Cho nên trong
Thích Luận nói: 'Ngoài tam
giới có cõi Tịnh Độ, đây là
chỗ của hàng Thanh Văn, Bích
Chi Phật cư trú, thọ Pháp
Tánh thân, không còn sự phân
đoạn sanh tử.'
Cõi Thật Báo Vô Chướng Ngại
là nơi không có hàng Nhị
Thừa, chỉ thuần là bậc pháp
thân Bồ Tát ở. Những vị nầy
phá từng phần vô minh, chứng
từng phần pháp tánh, được
quả báo chân thật. Song vì
họ chưa đoạn hết vô minh nên
còn nhuận vô lậu nghiệp, thọ
báo thân pháp tánh, và cảnh
giới nầy cũng gọi là Quả Báo
Độ. Kinh Nhân Vương nói: 'Ba
hiền mười thánh trụ quả báo'
là chỉ cho sự việc trên đây.
Sở dĩ gọi Thật Báo, vì các
Đại Sĩ ấy do quán thật
tướng, phát được chân vô lậu
thọ hưởng quả báo chân thật.
Gọi Vô Chướng Ngại là bởi
chư Bồ Tát đây, tu chân
không định, sắc cùng tâm
không ngăn ngại lẫn nhau.
Trong Kinh Hoa Nghiêm thuyết
minh thế giới Nhân Đà La
Võng, chính là cảnh nầy.
Cõi Thường Tịch Quang là
chân lý pháp giới như như,
sáng suốt cùng cực của bậc
Diệu Giác. Đây là Phật Tánh
Chân Như, tức độ là thân,
tức thân là độ, thân và độ
không hai, là trụ xứ của Đức
Tỳ Lô Giá Na, cũng gọi là
Pháp Tánh Độ. Thường chính
là đức pháp thân. Tịch là
đức giải thoát. Quang là đức
bát nhã , như chữ Y (() có
ba điểm, không thể cách lìa,
một tức là ba, ba nguyên vẫn
một. Đây cũng gọi là Bí Mật
Tạng, là cảnh giới du hóa
của Như Lai, cứu cánh chân
thường, thanh tịnh cùng cực.
Hai cõi trước là chỗ ở của
Ứng Thân Phật. Cõi thứ ba
cũng thuộc về Ứng cũng thuộc
về Báo, mà chánh thức là chỗ
ở của Báo Thân Phật. Cõi thứ
tư không phải Ứng và Báo mà
kiêm cả Ứng, Báo, là chỗ ở
của Pháp Thân Phật.
Bốn cõi trên đây tùy theo
chỗ tu chứng mà phân chia,
song kỳ thật vẫn là một. Cho
nên chân tâm bao trùm muôn
tượng, vô biên quốc độ như
vi trần ở khắp mười phương,
chính là cảnh giới trong tâm
ta, hằng sa chư Phật trong
ba đời, cũng là các Đức Phật
trong tâm ta; tất cả không
ngoài bản tâm mà có. Hiểu
được lý nầy thì biết không
có cõi nào chẳng nương nơi
tâm ta mà kiến lập, không có
vị Phật nào chẳng nương nơi
tánh ta mà xuất sanh. Thế
thì miền Cực Lạc ngoài mười
muôn ức cõi há chẳng phải là
cảnh Tịnh Độ của duy tâm ư?
Thế Giới Cực Lạc đã như thế,
thì vị giáo chủ ở cõi ấy
cũng là Đức Di Đà của bản
tánh. Nên biết chỉ một tâm
nầy bao trùm đủ mười giới,
thân và độ dung thông, trùng
trùng không ngại. Lại nên
biết tâm, Phật, chúng sanh,
ba chính là một, đồng thể
không khác nhau, chúng sanh
và Phật hỗ hiện, mỗi niệm
giao tham. Cho nên cổ đức
nói: 'Chúng sanh trong tâm
chư Phật, mỗi trần đều là
Cực Lạc, chư Phật trong tâm
chúng sanh, mỗi niệm chính
thật Di Đà. Mười phương tịnh
uế gom về trong khoảng sát
na. Một niệm sắc tâm, bủa
khắp gồm thâu pháp giới.'
Xem thế thì biết tất cả đều
sẵn đủ trong thể thiên chân,
không phải do duyên khởi mới
thành lập. Một tâm niệm đã
như thế, một điểm trần lại
khác chi? Vì vậy nên mới có
thể: 'Trong mỗi mỗi trần tất
cả cõi. Trong mỗi mỗi tâm
tất cả tâm. Mỗi mỗi tâm trần
lại khắp nhau. Trùng trùng
không tận không chướng ngại.
Đồng thời hiện rõ không ẩn
hiển. Tất cả viên thành
chẳng kém hơn.' Cảnh giới
chân tâm bao hàm vô biên
quốc độ trên đây, như lưới
báu Thiên Châu của trời Đế
Thích, bóng và ánh sáng của
bao nhiêu hạt châu đều gom
hiện vào một hạt châu, bóng
và ánh sáng của một hạt châu
lại hiện khắp vào tất cả các
hạt châu khác. Tuy mỗi mỗi
hạt châu giao hiện lẫn nhau,
nhưng hạt châu nầy không thể
là hạt châu kia, hạt châu
kia không thể là hạt châu
nầy, xen mà không tạp, lìa
mà chẳng phân, mỗi mỗi khắp
bày, vẫn không sở tại! Thế
giới Cực Lạc cho đến mười
muôn ức cõi mỗi miền cũng
như một trong các hạt châu.
Nói tinh tế hơn khắp mỗi cõi
từ tam thừa thánh nhơn cho
đến trời, người, tu la, súc
sanh, ngạ quỉ, địa ngục, mỗi
mỗi lại cũng như một trong
các hạt châu. Và Đức A Di Đà
cũng là một trong các hạt
châu. Cho nên, thấy một vị
Phật, tức thấy mười phương
chư Phật, mà cũng là thấy
chín giới chúng sanh ở khắp
mười phương. Cõi Phật vô
biên, mười phương kim cổ
toàn thể là một hải ấn đốn
viên, không còn pháp chi
khác nữa!
Như thế thì, thần trải qua
mười muôn ức cõi, chính hóa
sanh trong bản tâm ta; chất
gởi nơi chín phẩm hoa sen,
há cách biệt ngoài chân như
Phật? Những lời dẫn giải
trên đây đều là những minh
huấn của Phật, Tổ, Thánh,
Hiền đã tuyên dương vậy.
Hiểu được lý này tất sẽ thấy
thế giới Cực Lạc là duy tâm,
mỗi cõi Phật mỗi điểm trần
đều là duy tâm; Đức Di Đà là
bản tánh, mỗi vị Phật mỗi
chúng sanh cũng đều là bản
tánh. Như thế lại còn chi
phải nghi ngờ?
Lời phụ:
Pháp giới chân tâm là một
thể rộng rãi vô biên, bao
hàm vi trần thế giới, chư
Phật và chúng sanh. Trong
thể nhất chơn ấy, phần thế
giới chúng sanh luôn luôn
biến đổi, thuộc về sanh diệt
môn; phần tịch quang lặng
mầu sáng suốt và thường
hằng, gọi là chân như môn.
Chân tâm là một thật thể
chung, gồm hai môn hữu vi và
vô vi đó. Tất cả những danh
từ: Chân Tâm, Bản Tánh, Bản
Thể, Phật Tánh, Như Lai
Tạng, Pháp Giới, Pháp Tánh,
Thật Tướng, Niết Bàn, Pháp
Thân, Vô Cấu Bạch Tịnh Thức,
Như Lai A Lại Da Thức, Bản
Lai Diện Mục, Bát Nhã, Chân
Không, đều là chỉ cho thật
thể ấy. Để trở về thật thể
nầy, giáo môn của Phật chia
làm hai. Các tông như: Thành
Thật, Tam Luận, Thiên Thai,
Thiền, Thai Tạng Bộ của Mật
Giáo, từ nơi không môn mà đi
vào. Còn các tông: Câu Xá,
Pháp Tướng, Luật, Hoa
Nghiêm, Tịnh Độ, và Kim Cang
Bộ của Mật Giáo, lại do nơi
hữu môn mà thể nhập. Cho nên
những vị hiểu sâu về lý Bát
Nhã của Thiền, hay lý huyền
môn của Hoa Nghiêm, đều nhận
rõ sắc chẳng khác không,
không chẳng khác sắc, sắc
chính là không, không chính
là sắc. Trái lại, các vị học
chưa thấu đáo, nếu không
chấp có tất cũng chấp không.
Nhưng chấp có thì còn biết
kiêng sợ nhân quả, lánh dữ
làm lành, đời sau hưởng
phước nhân thiên, hoặc
chuyên niệm Phật lại có thể
sanh về Tịnh Độ. Đến như
chấp không tất sẽ đi đến chỗ
bài nhân quả, bác Phật
Thánh, tương lai bị đọa
xuống tam đồ. Cho nên tiên
đức đã răn bảo: 'Thà chấp có
như non Tu, chớ chấp không
như hạt cải!'
Vị thiền giả trên, vì chưa
nhận rõ chân tâm, nên nghe
nói 'duy tâm Tịnh Độ, bản
tánh Di Đà', vội hiểu lầm
rằng tâm mình thanh tịnh đó
là Tịnh Độ là Di Đà rồi, chớ
không có cõi Cực Lạc hay Đức
Di Đà nào khác nữa. Phật
Pháp dù ở xứ nào, Trung Hoa
hay Việt Nam cũng có hạng
người tà kiến chấp không ấy.
Đại khái họ bác không có Di
Đà, Cực Lạc, không có địa
ngục, thiên cung, hoặc như
nói Địa Tạng là tâm địa tánh
tạng, chớ không có Đức Địa
Tạng nào cả. Như người đeo
cặp kiến đen thì thấy nơi
nào cũng tối tăm, những kẻ
ấy dù có giảng thuyết bao
nhiêu lời, diễn dịch bao
nhiêu kinh sách, kết cuộc
cũng lạc vào bịnh không
chấp. Những kẻ chấp không
thường tự cao tự mãn, cho
mình là cao siêu, bác người
là chấp tướng. Xét ra khi
diễn dịch kinh, họ cũng có
tâm muốn hoằng dương Phật
Pháp, không dè ngược lại
thành ra kết quả hủy báng
Tam Bảo; tự mình đã sai lầm,
khiến cho bao nhiêu người
khác bị lầm lạc theo. Ví như
kẻ dung y đem tâm muốn cứu
đời, chẳng ngờ sự học hiểu
về y dược không rành, trở
lại làm cho nhiều người thêm
bịnh.
Cho nên sự dịch kinh, thuyết
pháp, vị tất là có phước, là
hoằng dương Phật Giáo nếu
hành giả lạc vào tà kiến,
không hiểu ý kinh.
Hỏi:- Sở dĩ Phật, Tổ
ra đời vì độ chúng sanh; học giả chỉ lo việc lớn
chưa xong, nếu đã phát minh đại sự (tức ngộ đạo),
nên theo gương đấng Đại Giác hiện thân vào nơi khốn
khổ, không hiềm đường sanh tử, mà độ khắp hàm linh.
Nếu bậc đã ngộ đạt mà còn cầu sanh Tịnh Độ, đó chẳng
qua là tâm niệm chán khổ tìm vui, không đoái đến kẻ
đang ở trong vòng chìm đắm? Tôi dù ngu hèn, vẫn
không thích làm như vậy!
Đáp:- Thấy chiếc trứng mà muốn cho nó nở liền, tâm
niệm ấy sao đà vội gấp! Ông cho rằng sau một phen tỏ
ngộ, thì nghiệp tập đã dứt sạch, được ngay vị bất
thối chuyển ư? Và cũng không còn học khắp Phật Pháp,
không cần phải tu hành thêm để chứng những quả vị từ
thấp đến cao ư? Hay là ông lại nghĩ: sau một phen
ngộ đạo, tất đã đồng hàng với chư Phật, có thể vào
sanh ra tử không bị chướng duyên nhiễu loạn ư? Nếu
quả như thế thì chư Đại Bồ Tát trải qua hằng hà sa
kiếp tu sáu độ muôn hạnh, cũng đều phải hổ thẹn với
ông vậy! Cổ giáo đã có lời răn nhắc: 'Hàng Thanh Văn
còn muội lúc ra thai, bậc Bồ Tát còn mê khi cách
ấm!' Hai hạng ấy mà còn như thế, huống chi người ngộ
giải non kém, tự cứu chưa xong giữa đời nay ư? Dù
cho chỗ tỏ ngộ có sâu xa, trí thông hiểu có cao
sáng, hạnh cùng giải hợp nhau, chí quyết muốn độ
người; nhưng vì chưa lên hàng bất thối, lực dụng
chưa đầy đủ, mà muốn ở cõi đời ác nầy hóa độ kẻ cang
cường, điều ấy bậc Tiên Thánh cũng chưa hứa nhận. Ví
như đem chiếc thuyền đóng trám chưa kỹ, để vớt người
nơi biển dậy ba đào, cái họa trầm nịch cả đoàn tất
không tránh khỏi. Cho nên Luận Vãng Sanh nói: 'Muốn
du hành nơi địa ngục, muốn cứu độ chúng hữu tình mê
khổ, trước phải cầu sanh về cõi kia, đợi khi chứng
được Vô Sanh Nhẫn rồi sẽ trở lại đường sanh tử mà
thật hành bản nguyện. Do nhân duyên ấy nên người tu
mới cầu về Tịnh Độ.' Lại Tiên Thánh cũng đã bảo:
'Chưa được vị Bất Thối Chuyển, chưa chứng Vô Sanh
Nhẫn, cần phải thường không rời Phật. Ví như trẻ thơ
không nên xa mẹ, như chim non chỉ có thể bay chuyền
theo cành cây.'
Nay ở cõi Ta Bà nầy Đức Thích Ca đã diệt, Phật Di
Lặc chưa sanh. Huống nữa, bốn đường khổ thú, nhân
quả dây dưa, trăm mối ngoại tà, thị phi rối loạn;
sắc tốt tiếng dâm hằng quyến dụ, cảnh hư duyên ác
mãi vây quanh. Trong hiện trạng ấy, đã không có Phật
để nương nhờ, lại bị cảnh duyên làm khuấy động, hàng
sơ tâm ngộ đạo hỏi mấy ai không bị thối lui? Cho nên
Đấng Thế Tôn ân cần chỉ về Cực Lạc là bởi lý do ấy.
Phương chi ở cõi kia, Đức Di Đà hiện đang nói pháp,
cảnh diệu độ muôn thứ thuận duyên; đã nương nhờ hải
chúng, nhẫn lực mau thành, lại gần Đấng Pháp Vương,
Phật Thừa dễ đạt. Chừng ấy muốn ra ứng hoá độ sanh,
còn chi trở ngại? Cũng vì lẽ ấy, nên bậc thượng căn
lợi trí còn nguyện thác sanh, huống chi ông là hạng
trung hạ mới được đôi chút giải ngộ đó ư?
Ông há không thấy trong kinh Quán Phật Tam Muội,
Ngài Văn Thù tự bày tỏ túc nhân, bảo mình đã chứng
môn Niệm Phật Tam Muội, thường sanh ở Tịnh Độ ư? Do
bởi đó, Đức Thế Tôn mới thọ ký cho ngài rằng: 'Ông
sẽ được sanh về thế giới Cực Lạc.'
Lại chẳng thấy trong kinh Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Bồ
Tát đem mười đại nguyện vương khuyến tấn Thiện Tài
Đồng Tử và đại chúng nơi hải hội, nên dùng công đức
đó cầu sanh về Cực Lạc ư? Trong ấy có đoạn nói: 'Tôi
nguyện khi đến lúc lâm chung. Dứt trừ tất cả điều
chướng ngại. Diện kiến Đức Phật A Di Đà, liền được
sanh về cõi Cực Lạc.'
Lại chẳng thấy trong Kinh Lăng Già, Đức Thế Tôn đã
huyền ký: 'Sau xứ Nam Thiên Trúc, có danh đức Tỳ
Khưu, tôn hiệu là Long Thọ. Hay phá hữu, vô tông.
Trong thế gian hiển ngã. Pháp Vô Thượng đại thừa.
Chứng Sơ Hoan Hỷ Địa. Sanh về cõi Cực Lạc' ư?
Và chẳng thấy trong Luận Khởi Tín, Mã Minh Bồ Tát,
khen ngợi sự vãng sanh; trong Kinh Đại Bảo Tích,
Phật hứa khả cho Tịnh Phạn Vương và bảy muôn Thích
chủng đồng về An Dưỡng; trong Kinh Thập Lục Quán,
Đức Thế Tôn chỉ dạy phương pháp cho bà Vi Đề Hy cùng
năm trăm thị nữ được lễ cẩn Đức A Di Đà ư?
Trong mấy vị trên, như Vua Tịnh Phạn và bà Vi Đề Hy
hiện tiền đều đã chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Ở Tây
Trúc những hạng ấy cầu vãng sanh rất nhiều. Bên đông
độ thì có Viễn Công ở Lô Sơn cùng các bậc cao nhơn
trong Liên Xã, những vị tôn túc ở hai tông Thiên
Thai, Hiền Thủ, tất cả đều dùng môn niệm Phật tự tu
và độ người khuyến hóa hàng tăng tục đồng cầu sanh
về Tịnh Độ. Nói chung những bậc cao đức tu tịnh
nghiệp số lượng không biết bao nhiêu mà kể! Đến như
hai ngài Văn Thù, Phổ Hiền là bậc Đại Bồ Tát, Thiện
Tài Đồng Tử và hải chúng Hoa Tạng đều là bậc đại
nhơn trong bốn mươi mốt vị. Mã Minh, Long Thọ là
hàng Bồ Tát, mà cũng là bậc Đại Tổ Sư.
Những thánh nhơn ấy chỗ ngộ và chứng siêu xuất hơn
người ngộ đạt ngày nay như trời với vực, mà còn
nguyện sanh về Tây Phương, ông bảo rằng đã tỏ ngộ
không cầu về Cực Lạc, lại bác sự cầu sanh, thì các
ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, chắc là
không bằng ông rồi! Ông thử tự lượng xem chổ tu
chứng có bằng hai bậc Đại Sĩ, và hai vị Tổ Sư; sự
tham ngộ có bằng ngài Thiện Tài cùng hải chúng, cảnh
giới sở đắc và được Phật hứa khả có bằng vua Tịnh
Phạn và bà Vi Đề Hy chăng? Vã Tịnh Phạn Vương là
thân sanh của Phật, bảy muôn Thích chủng là tộc
thuộc của Ngài, nếu sự về Tịnh Độ không có lợi ích
thì Đức Thế Tôn đâu nỡ khiến phụ vương và hàng thân
thuộc cầu vãng sanh? Trước kia đã nói bậc chứng được
Vô Sanh Nhẫn có thể vào tục độ sanh, nay vua Tịnh
Phạn và người thân thuộc của Phật đã đắc quả ấy mà
Đức Như Lai còn khuyên và thọ ký cho vãng sanh, thì
tấm lòng hộ trì bảo dưỡng của Ngài há chẳng là thân
thiết và sâu xa ư?
Tôi thấy hàng thiền giả đời nay phần nhiều không xét
liễu nghĩa của Như Lai, chẳng rõ huyền cơ của Đạt
Ma, bụng rỗng lòng cao, tập quen thành bệnh cuồng
vọng. Khi thấy người tu Tịnh Độ, họ khinh thường và
cười bảo: 'Đó là việc làm thấp kém của hàng ngu phu
ngu phụ!' Tôi thường cho đó không phải khinh hạng
ngu phụ ngu phu, mà chính là khinh các Ngài Văn Thù,
Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ; đó chẳng những tự mê
chánh đạo, tự làm mất căn lành mà còn tự bỏ quên huệ
thân và tự để tiêu Phật chủng. Đó cũng là tự gây ra
tội báng Chánh Pháp, tự kết thành nghiệp khinh Thánh
Tăng. Chư Phật, Tổ xem những kẻ ấy là hạng người
đáng thương xót! Vì lẽ ấy nên Ngài Vĩnh Minh động
mối bi tâm đem hết tâm can chủ trương Tịnh Độ, đã tự
tu lại khuyên đời. Nên khi lâm chung, Đại Sư biết
trước ngày giờ, có các điềm lành ứng hiện; lúc trà
tỳ xá lợi tuôn ra vô số. Về sau có một vị tăng ở Phủ
Châu thường cung kính đi nhiễu xung quanh tháp của
ngài, nhiều người hỏi lý do thì vị tăng ấy đáp:
'Nhân lúc tôi bị bịnh nặng thần thức đi vào minh
giới, Diêm Vương xét thấy thọ số chưa mãn, cho đưa
trở về. Khi ấy tôi thấy bên phía tả đại điện có
thiết bàn thờ di tượng một vị Đại Đức, Diêm Vương lễ
bái ân cần. Hỏi ra thì Quan Chủ lại bảo đó là chân
dung của Vĩnh Minh Diên Thọ Thiền Sư, vì ngài tu
hành tinh tấn, được sanh về Thượng Phẩm ở Cực Lạc,
nên Diêm Vương họa tượng để thờ.' Vĩnh Minh Đại Sư
là bậc đã ngộ suốt môn thiền trực chỉ của tổ Đạt Ma,
mà lại gởi chất nơi phẩm sen thượng thượng bên trời
An Dưỡng; những sự kiện ấy đủ giải thích mối tình
chấp của người tu thiền, còn làm duyên khuyến tấn
cho chúng sanh đời mạt pháp. Cho nên tôi nói ngài
rất có công đối với bên tông cũng như bên giáo là ở
điểm nầy.
Song chẳng những chỉ có Vĩnh Minh Đại Sư mới như thế
mà thôi. Ngoài ra, còn có Tử Tâm Tân Thiền Sư đã ngộ
bên Thiền, lại khuyên tu bên Tịnh. Ngài đã bảo: Di
Đà rất dễ niệm, Tịnh Độ rất dễ sanh. Người tham
thiền niệm Phật rất tốt. Nếu kẻ căn cơ hơi kém, sợ e
đời nay chưa được đại ngộ, kiếp sau dễ lạc bến mê,
thì nên nhờ sức bi nguyện của Đức A Di Đà để sớm
vãng sanh về Cực Lạc. Nếu vị nào chí tâm niệm Phật
mà không được sanh về Tịnh Độ, lão tăng xin chịu đọa
vào địa ngục Bạt Thiệt (ngục rút lưỡi). Lại như Chân
Yết Liễu Thiền Sư, trong bài văn khuyên tu Tịnh Độ,
có nói: 'Tại sao người trong tông Tào Động, ngoài sự
tập thiền, còn mật tu Tịnh Độ? Sở dĩ có việc ấy, vì
pháp môn niệm Phật là con đường tắt trong các lối tu
hành. Xét trong Đại Tạng môn nầy ngoài sự tiếp dẫn
bậc thượng thượng căn còn thâu nhiếp hạng người
trung hạ... Bậc đại tượng trong tông môn đã ngộ pháp
phi không phi hữu, lại chăm chú tu tịnh nghiệp, có
phải sự thấy Phật cửa Tịnh Độ còn giản dị hơn tông
môn chăng? Cho nên dù Phật dù Tổ, hoặc Giáo hoặc
Thiền, đều do nơi cửa Tịnh Độ đồng về nơi chân
nguyên. Vào được môn nầy, tức có thể vào được vô
lượng pháp môn khác...'
Đến như các ngài: Thiên Y Hoài Thiền Sư, Viên Chiếu
Bản Thiền Sư, Từ Thọ Thâm Thiền Sư, Nam Nhạc Tư
Thiền Sư, Pháp Chiếu Thiền Sư, Tịnh Yết Thiền Sư,
Tịnh Từ Đại Thông Thiền Sư, Thiên Thai Hoài Ngọc
Thiền Sư, Lương Đạo Trân Thiền Sư, Đường Đạo Xước
Thiền Sư, Tỳ Lăng Pháp Chân Thiền Sư, Cô Tô Thủ Nạp
Thiền Sư, Bắc Nhàn Giản Thiền Sư, Thiên Mục Lễ Thiền
Sư, những đại lão ấy là bậc tông tượng trong thiền
môn, song xét ra chỗ mật tu và hiển hóa đều phát
dương ý chỉ Tịnh Độ, tuy không ước hẹn mà ngẫu nhĩ
đồng đường. Chẳng những các vị đại lão ấy như thế mà
thôi, tôi lại thường nghe một vị kỳ túc bên tông môn
nói: 'Hầu hết ngũ gia tông phái và những thiền tăng
trong thiên hạ, đã tỏ ngộ cùng chưa tỏ ngộ, đều quy
hướng về Tịnh Độ.' Hỏi lý do thì vị đó đáp: 'Ngài Bá
Trượng Trí Hải Thiền Sư là đích tử của Giang Tây Mã
Tổ, những tòng lâm trong thiên hạ đều y theo cách
thức của ngài mà kiến lập và thanh quy ở khắp thiền
môn đều y theo pháp chế của ngài mà cử hành. Từ xưa
đến nay không ai dám có lời thị phi và trái với pháp
chế ấy. Theo thanh quy của ngài, thì nghi thức tụng
cầu cho những vị tăng bệnh nặng có lời văn như sau:
'Phải nhóm chúng lại, tất cả đồng tụng bài kệ tán
Phật A Di Đà, rồi cao tiếng niệm Nam Mô A Di Đà
Phật, hoặc trăm câu, ngàn câu. Khi niệm xong, hồi
hướng phục nguyện rằng: Nếu các duyên chưa mãn, sớm
được an lành. Như hạn lớn đến kỳ, sanh về A Dưỡng.'
Đó chẳng phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ hay sao?
Lại trong nghi thức đưa những vị tăng đã tịch có
đoạn nói: 'Đại chúng đồng niệm A Di Đà Phật hồi
hướng phục nguyện rằng: Thần siêu cõi tịnh, nghiệp
dứt đường trần, thượng phẩm sen nở hiện kim thân,
nhứt sanh Phật trao phần quả ký.' Đó không phải là
bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ hay sao? Đến như lúc trà
tỳ, trong thanh quy lại dạy: Vị Duy Na chỉ dẫn khánh
niệm Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại
Bi A Di Đà Phật mười lần, đại chúng đồng xướng họa
theo.
Khi xướng xong, lại hồi hướng rằng: 'Trước đây xưng
dương mười niệm, phụ giúp vãng sanh...' Đó không
phải là bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ hay sao? Cho nên
lão tăng nói: 'Các thiền gia trong thiên hạ đều quy
hướng Tịnh Độ, là bởi nguyên nhân đó.' Tôi nghe
những lời dẫn chứng của vị kỳ túc ấy đều có y cứ,
nên không biện bác ra sao được. Nhân đó tôi lại chợt
hiểu chỗ lập pháp của ngài Bá Trượng tất có thâm ý
nhiệm mầu.
Nay ông ở tòng lâm, thân đã đưa không biết bao nhiêu
vị tăng quy tịch, tai cùng miệng đã nghe và xướng
không biết bao nhiêu lần mười niệm, ý đã chuyên chú
hồi hướng về Tịnh Độ lại không biết bao nhiêu lần
nữa! Thế mà ông đã không hiểu ý Tổ Sư, đã không phát
lòng thức tỉnh, lại lầm bảo: những bậc ngộ đạt không
nguyện vãng sanh. Quả thật cái bệnh chấp thiền trong
thiên hạ, không còn ai hơn ông được.
Hỏi:- Tu làm sao cho
mỗi niệm nối nhau, thật ra tôi vẫn muốn được như
thế. Song chỉ hiềm định lực chưa thành, niệm đầu
không chủ, hoặc tri giác cũ khó quên, hoặc tư tưởng
vọng nổi dậy, hoặc xúc đối cảnh duyên tự kềm giữ
không vững, hoặc tâm tình rối loạn cố ngăn dẹp chẳng
kham. Cứ ngồi vào lần chuỗi một lúc, là tâm niệm đã
chạy hết đông sang tây, bất giác nó đã đi xa cách
mấy ngàn muôn dặm hồi nào, cũng không tự hay biết.
Có khi phải bận lo một việc chi, thì luôn trong năm
mười ngày hoặc đến cả tháng, tâm trí vẫn vướng vít
chưa quên, chỉ dẹp trừ nó còn chưa xong, nói gì đến
việc gián đoạn! Điều nầy thốt ra thật đáng hổ thẹn,
song nghĩ lại cũng đáng thương tâm! không biết có
cách gì đối trị chăng, xin nhờ Đại Sư chỉ bảo?
Đáp:- Đó là căn bịnh chung của hầu hết người tu.
Trong lúc ấy nếu ông không thống thiết tự trách răn,
thì khó mà thành tựu pháp chuyên tu vô gián. Tôi
nghe người xưa có ba điều thống thiết tự trách răn,
nay vì ông tỏ bày, nên ghi nhớ cho kỹ:
Điều thứ nhất là phải nghĩ đến sự báo ân. Người tu
có những ân trọng. Hãy tạm gác qua ân Phật ân thầy,
như ông là phận xuất gia, công ơn sanh dưỡng của cha
mẹ há chẳng phải là sâu nặng ư? Ông đã lìa tục xuất
gia, vì đi học đạo nên phải xa cách quê quán nhiều
năm, cha mẹ nhọc nhằn cực khổ ông cũng không biết,
khi già yếu đau bịnh lại cũng không hay mà săn sóc
thuốc thang. Đến lúc cha mẹ mãn phần, ông không
biết, hoặc có được tin gì về cũng đã trễ muộn. Khi
ông còn nhỏ, có khi cha mẹ vì nuôi nấng thương lo
cho con mà gây ra nhiều tội nghiệp, lúc chết rồi
hoặc bị đọa vào nẻo khổ, hy vọng ông cứu độ, như
khát chờ uống, như hạn trông mưa. Nếu ông tu hành lơ
láo tất tịnh nghiệp không thành; đã không thành thì
tự cứu chưa xong, làm sao cứu được cha mẹ? Đối với
song thân ông đã lỗi phần phụng dưỡng về thể chất,
mà còn không cứu độ được phần hương linh, tức là phụ
nghĩa quên ân, là người đại bất hiếu. Kinh nói:
'Phạm tội bất hiếu, sẽ bị đọa vào địa ngục.' Thế thì
tâm niệm gián đoạn không chuyên tu, chính là nghiệp
địa ngục vậy.
Lại ông không dệt mà mặc, không cày mà ăn. Phòng,
nhà, chăn, gối, cơm áo, thuốc thang đều do đàn việt
cúng dâng. Tổ sư từng răn dạy: 'Hàng thiện tín vì
sùng kính Tam Bảo đã chia cắt bớt phần ăn của gia
đình đem đến cúng dường. Nếu người tu đạo hạnh không
tròn, thì dù là tấc vải hạt cơm, kiếp sau cũng phải
đền trả. Muốn báo ân đàn việt ông phải lo chuyên tu
tịnh nghiệp để độ mình độ người. Nếu ông sanh một
niệm gián đoạn không chuyên. Tất đã có phần trong
kiếp luân hồi vay trả. Và tâm niệm ấy chính là
nghiệp hạ tiện hoặc súc sanh vậy.
Điều thứ hai là phải có chí quyết định. Người tu
hành phải kiên quyết để đi đến kết quả. Ông một đời
tham thiền đã chẳng ngộ thiền, khi học giáo lại
không tinh về giáo. Cho đến ngày nay tâm địa chưa
lắng yên, niệm đầu còn sôi nổi, khi thì muốn làm
thi, lúc lại thích tả tự, khi thì thuyết giáo, lúc
lại đàm thiền, ý chí ly tán đi ba bốn nẻo. Tổ sư đã
bảo: 'Tâm niệm còn vướng mắc, đó là nghiệp luân hồi.
Tình tưởng vừa sanh ra, muôn kiếp bị ràng buộc.' Sở
dĩ ông chưa được chánh niệm, là do vì còn tình tưởng
phân vân, và tình tưởng còn phân vân cũng bởi chí
không quyết định. Cho nên người tu mà ý chí không
nhất quyết, đó chính là đầu mối của sự sa đọa tam đồ
vậy.
Lại nếu người tu ý chí không quyết định, thì không
thể gìn giữ giới căn. Do ý niệm phân vân nên không
thể thâu nhiếp thân và khẩu. Kinh nói: 'Thà lấy nước
đồng sôi rót vào miệng, nguyện không để miệng phá
giới nầy thọ các thức ăn uống của tín tâm đàn việt.
Thà dùng lưới sắt nóng quấn thân thể mình, nguyện
không để thân phá giới nầy thọ những y phục của tín
tâm đàn việt.' Phương chi, do các giới không trang
nghiêm, nên tâm càng vọng động; nhân sự vọng động ấy
mà phần chuyên tu bị gián đoạn. Thế thì một niệm
gián đoạn, đâu chỉ là nghiệp nhân của lưới sắt nóng
và nước đồng sôi ư?
Và nếu người tu ý chí không quyết định, tất không
nhận rõ tướng đời giả huyễn, dễ chạy theo danh lợi
hư phù. Khi danh lợi thuộc về mình thì sanh lòng mê
đắm, danh lợi thuộc kẻ khác lại sanh lòng ganh ghét
hơn thua. Cổ đức bảo: 'Tham đắm danh lợi đi về nẻo
súc đường quỉ, buông lòng thương ghét đồng vào hầm
lửa vạc dầu!' Thế thì một niệm gián đoạn chính là
ngạ quỉ, hầm lửa vậy.
Điều thứ ba là cầu sự ứng nghiệm. Người đã tu tịnh
nghiệp, nên cố gắng làm sao cho có sự ứng nghiệm.
Kiếp người mong manh, vô thường chẳng hẹn. Như ông
nay tóc đã điểm bạc, da đượm nét nhăn, tướng suy tàn
hiện rõ, kỳ lâm chung phỏng còn được mấy ngày? Vậy
ông phải cố gắng chuyên tu, làm sao cho có triệu
chứng vãng sanh chắc chắn. Như khi xưa, Huệ Viễn
Pháp Sư ở Lô Sơn, ba phen thấy Phật xoa đầu. Lại như
Hoài Cảm Pháp Sư chí thành xưng danh hiệu Phật, liền
thấy Đức A Di Đà phóng ánh quang minh, hiện ra tướng
hảo. Và như Thiếu Khang Pháp Sư khi niệm Phật một
câu, đại chúng liền thấy một vị Phật từ nơi miệng
bay ra, cho đến trăm ngàn câu cũng như thế, tợ hồ
các hạt chuỗi nối tiếp nhau. Những sự ứng nghiệm như
thế có đến muôn ngàn. Nếu tâm ông không gián đoạn,
thì thấy Phật rất dễ; như còn gián đoạn, tất khó
thấy Phật. Đã không thấy Phật thì cùng với Phật vô
duyên. Và đã vô duyên quyết khó sanh Tịnh Độ. Khi
không được sanh về Tịnh Độ tất sớm muộn gì cũng bị
đọa vào ác đạo. Thế thì một niệm gián đoạn chính là
nghiệp tam đồ vậy. Phải nên răn dè và suy nghĩ kỹ!
Ba điều cảnh sách trên, người tu tịnh nghiệp phải
ghi nhớ suy nghĩ rồi tự trách răn một cách thống
thiết, làm sao cho tâm không rời Phật, Phật chẳng
rời tâm, đạo cảm ứng giao thông, hiện đời được thấy
Phật. Đã thấy Đức Phật ở Cực Lạc, tức thấy chư Phật
khắp mười phương, và thấy chư Phật mười phương, tức
thấy vị Phật thiên chân của tự tánh. Khi thấy được
Phật tự tánh, thì sự đại dụng sẽ hiện tiền. Chừng ấy
mới theo lòng bi nguyện, độ khắp quần sanh. Đó gọi
là Tịnh Độ Thiền mà cũng là Thiền Tịnh Độ vậy. Thế
thì ý của ngài Vĩnh Minh nói: 'Có Thiền có Tịnh Độ,
dường như cọp mọc sừng, đời nay làm thầy người, đời
sau làm Phật Tổ.' há chẳng là ứng nghiệm trong giai
đoạn nầy ư? Phải nên cố gắng!
Thiền giả nghe xong vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lặng
lẽ giây lây, dường như tìm được vật chi đã mất.
Thiên Như lão nhơn lại bảo: 'Thiền cùng Tịnh Độ vẫn
không hai, nếu liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê,
bởi ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, đừng
nên lầm nhận!' Thiền thượng nhơn liền đảnh lễ mà
thưa rằng: 'Tôi rất may mắn được nhờ ơn chỉ bảo, nay
đã biết đường về!' rồi từ tạ mà lui.