Pháp Môn Niệm Phật
Hòa Thượng Tuyên Hóa
Thích Quảng Đại dịch
Tại sao chúng ta phải niệm Nam Mô A Di Đà Phật? Vâng!
Bởi vì đức phật A Di Đà Phật có nhân duyên lớn với
tất cả chúng sanh trong mười phương. Khi còn thực
hành Bồ tát hạnh, tức là khi chưa chứng Phật quả,
ngài làm vị tỳ kheo tên là Pháp Tạng. Bấy giờ,
tỳ kheo Pháp Tạng có phát ra bốn mươi tám lời nguyện
lớn. Trong các lời nguyện ấy, đều có một mục đích
chung, đó là phải cứu độ chúng sanh thoát khỏi khổ
đau sanh tử, chứng lên quả vị Phật Đà. Trong bốn
mươi tám lời nguyện, có một lời nguyện như sau: “Tất
cả chúng sanh trong mười phương trên thế giới, đợi
sau khi ta thành Phật, nếu có chúng sanh nào niệm
danh hiệu của ta thì người ấy nhứt định sẽ thành
Phật, nếu như họ không thành Phật thì ta cũng không
bước lên quả vị chánh giác”.
Nguyện lực này của đức Phật A Di Đà giống như sức
hút của khối nam châm khi gặp sắt thép. Hết thảy
chúng sanh trong mười phương thế giới đều giống như
khối sắt mà đức Phật A Di Đà là khối Nam châm, cho
nên ngài thu hút tất cả họ vào trong thế giới Cực
lạc. Giả sử thu hút không được thì sao? Thì đức A Di
Đà sẽ không thành Phật. Vì vậy, hết thảy chúng sanh,
nếu có những ai niệm danh hiệu của Phật A Di Đà thì
những người đó đều có cơ hội thành Phật.
THÂU
NHIẾP HẾT THẢY CĂN TÁNH VÃNG SANH CỰC LẠC
Kinh A Di Đà là bộ kinh không có ai hỏi mà đức Phật
Thích Ca tự nói. Tại sao không hỏi mà tự nói? Bởi vì
chẳng có ai hiểu biết về pháp môn này cả, cho nên
chẳng có người hỏi đến. Trong kinh, tuy Tôn giả đại
trí Xá-lợi-Phất là đối tượng đương cơ để đức Phật
nói pháp, nhưng ngay cả tôn giả cũng không biết phải
hỏi như thế nào!
Sở dĩ đức Phật nói ra, vì ngài không thể chờ được
nữa. ngài nói cho đại chúng nghe pháp môn niệm Phật
là pháp môn rất thù thắng, rất thực tế, rất dễ hiểu,
ngắn gọn mà lại rẻ tiền. Chỉ cần mọi người niệm
Phật, “hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn
ngày, năm ngày, sáu ngày, hoặc niệm đến bảy ngày”,
nhiếp tâm không loạn thì khi sắp lìa đời, người ấy
sẽ thấy đức Phật A Di Đà cùng thánh chúng hiện ra
trước mặt để tiếp dẫn họ. Cho nên pháp môn này không
phải là điều mà mọi người tầm thường có thể tin
tưởng và tiếp nhận được. Nhưng pháp môn này lại rất
thực tế, dễ hiểu. Pháp môn niệm Phật này có khả năng
thâu nhiếp hết thảy cả ba hạng căn tánh, lanh lợi
hay ám độn… đều dung nạp. Bất luận, bạn là người
thông minh hay là kẻ ngu si, khi bước vào tu tập
pháp môn này đều giống nhau, tất cả đều có thể thành
Phật.
Vãng sanh về thế giới Tịnh độ, ở đó không có chúng
sanh khổ, chỉ thọ hưởng những pháp vị an vui. Việc
hóa sanh từ hoa sen, không như con người chúng ta
phải trải qua chín tháng mười ngày ở trong bào thai
rồi mới sanh ra. Ở cõi nước ấy lấy hoa sen làm thai
bào, an trụ trong hoa sen một thời kỳ, tương lai sẽ
chứng thành Phật quả.
NGÀY ĐÊM THÀNH TÂM CHUYÊN TRÌ NIỆM
Một câu Di Đà
vua muôn pháp
Năm thời tám giáo bao hàm cả
Hành giả chỉ nên chuyên trì niệm
Niệm Phật thêm một lời
Đập tan mối đầu niệm
THỜI
KHẮC QUÁN TƯỞNG TƯ LƯƠNG TỐT
Pháp môn niệm Phật này, gồm có bốn phương pháp quán
niệm.
1. Trì danh niệm phật, chính là hành giả chú tâm vào
câu Nam Mô A Di Đà Phật.
2. Quán tưởng niệm Phật, nghĩa là nghĩ tưởng đến đức Phật A Di Đà. Tưởng nghĩ như sau:
Tướng tốt chói sáng tự trang nghiêm
Năm tu di uyển chuyển bạch hào
Bốn biển lớn trong ngần mắt biếc
Trong hào quang hóa vô số Phật
Vô số Bồ tát hiện ở trong
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh
Chín phẩm sen vàng lên giải thoát
Đó là phương pháp quán tưởng niệm Phật
3.Quán Tướng niệm Phật, nghĩa là đối trước hình
tượng của đức Phật A Di Đà để niệm danh hiệu của
ngài. Phương pháp này đòi hỏi hành giả nhìn thẳng
vào hình tượng của đức phật A Di Đà một cách rõ
ràng, miệng niệm rõ từng tiếng, tai nghe rõ từng
tiếng, tâm chỉ nghĩ tưởng đến hình tướng của ngài.
Đây gọi là quán tướng niệm Phật.
4. Thật tướng niệm Phật, chính là phương pháp tham
thiền. Hành giả tham công án: “Niệm Phật là ai?”, cứ
chuyên tìm câu niệm Phật là ai? như thế đến hai tuần
lễ niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật”. Đợi khóa niệm Phật
xong, chúng ta mới có thể tìm ra câu “Niệm Phật là
ai” này. Nhất định hành giả phải tìm cho ra, không
nên tìm nửa chừng rồi bỏ. Nếu nửa chừng bỏ đi, bạn
sẽ lạc đường, không tìm về nhà được. Như thế là bạn
không thấy được đức Phật A Di Đà.
CHÁNH
TÍN CHÁNH NGUYỆN CHÁNH HẠNH
Tín, Nguyện,Hạnh, đây là ba món tư lương của hành
giả tu tập pháp môn Tịnh độ.
Thế nào gọi là tư lương? Giống như bạn muốn đi du
lịch nơi nào đó thì bạn phải chuẩn bị các thức ăn,
đây gọi là Lương. Chuẩn bị tiền bạc, các thứ cần
dùng, gọi là Tư.
Tư lương là thức ăn, là tiền bạc, là các thứ cần
dùng của bạn. Cũng vậy, người hành giả tu tập pháp
môn Tịnh độ, muốn vãng sanh về thế giới Cực
lạc thì cũng phải đầy đủ ba món tư lương. Ba món tư
lương này chính là lòng tin, phát nguyện và thực
hành. Ban đầu, hành giả nhứt định phải phát khởi tín
tâm. Nếu như bạn chưa có lòng tin, đó là bạn chưa có
duyên với thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà. Nếu bạn
đã có lòng tin, nghĩa là bạn đã có duyên. Cho nên,
đầu tiên đòi hỏi bạn phải có lòng tin chân thật.
Lòng tin ấy là tin vào chính bản thân mình và tin
đối tượng mà mình hướng đến, tin nhân, tin quả, tin
sự, tin lý.
Vì sao gọi là tin vào bản thân mình? Hành giả tu tập
phải tin vào bản thân mình, quyết định rằng, mình có
khả năng sanh về thế giới Cực lạc ở Tây phương. Bạn
không nên xem nhẹ bản thân mình rằng: “Ôi! Tôi đã
tạo ra quá nhiều tội lỗi, tôi không có khả năng sanh
về thế giới Cực lạc được!”. Như vậy, tức là bạn
không tin vào chính khả năng của mình. Bạn tạo ra
nhiều tội lỗi phải không? Nếu tu tập pháp môn này,
bạn sẽ gặp nhiều cơ hội tốt đấy! Cơ hội tốt là gì?
Đó là có thể mang nghiệp vãng sanh. Những tội lỗi gì
mà bạn đã tạo ra đều có thể mang theo đến thế giới
Cực lạc, như vậy gọi là mang nghiệp vãng sanh. Thế
nhưng mang nghiệp, bạn phải biết rằng nghiệp ấy là
Túc-nghiệp, tức là những hành động bạn đã gieo tạo
trong quá khứ, chứ không phải mang theo nghiệp mới
tạo. “Túc” là túc thế, tức là mang theo
nghiệp khi bạn còn sanh tiền. Tân nghiệp là những
nghiệp tạo ra trong tương lai. Mang theo Túc-nghiệp
không mang theo tân nghiệp, chính là mang theo những
tội lỗi trong quá khứ bạn đã gây nên mà không mang
theo những tội nghiệp trong tương lai. Từ những việc
làm, những hành vi, những suy nghĩ của bạn, bất luận
là đã tạo ra những tội lỗi gì, giờ đây bạn phải sửa
đổi những lỗi lầm trong quá khứ của mình, làm lại
những việc làm mới, bỏ ác hướng thiện. Như vậy,
những tội lỗi của bạn đã gây tạo trước đây, bạn có
thể mang theo qua thế giới Cực lạc nhưng không mang
theo nghiệp tương lai.
Tin Tha, tức là tin vào đối tượng của mình hướng
đến. Bạn tin ở Tây phương có thế giới Cực lạc, thế
giới đó cách xa cõi ta bà chúng ta đang sống khoảng
mười vạn ức cõi Phật. Trước đây, khi đức A Di Đà
chưa thành Phật,ngài làm một vị tỳ kheo tên là
Pháp-tạng. Bấy giờ, ngài phát nguyện trong tương lai
sẽ xây dựng một thế giới Cực lạc. Nếu có chúng sanh
trong mười phương phát nguyện muốn sanh về, sống
trong cõi nước của ngài thì không cần gì khác, chỉ
cần niệm danh hiệu của ngài sẽ được vãng sanh. Những
công việc khác đều không bị hao phí, đã không phí
tiền, lại không phí sức. Có thể nói, pháp môn này là
pháp môn cao nhất, pháp môn tối thượng. Bạn chỉ cần
niệm Nam Mô A Di Đà Phật thì có thể vãng sanh đến
nước Cực lạc. Đây chính là tin tha.
Vã lại, hành giả phải tin vào nhân quả. Tin Nhân là
sao? Tức là tin vào bản thân mình từ xưa đã gieo
trồng thiện căn, vì vậy mới có thể gặp được pháp môn
này. Giả sử bạn không có thiện căn thì làm sao có
thể gặp được nó, cũng không thể gặp được tất cả pháp
môn của đức Phật nói ra. Bởi vì bạn có được thiện
căn do xưa bạn đã gieo trồng nhân hạnh lành, cho nên
đời này gặp được pháp môn Tịnh độ. Tín, nguyện, trì
danh này, nếu bạn không tiếp tục vun bồi căn lành
thì trong tương lai bạn sẽ không thành tựu được quả
vị Bồ-đề. Cho nên, bắt buộc bạn phải tin vào nhân
quả, tin vào bản thân của bạn xưa nay đã gieo trồng
hạt giống Bồ-đề, trong tương lai nhất định sẽ gặt
được quả giải thoát. Giống như trồng lúa, khi gieo
hạt giống vào trong đất rồi, bạn phải chăm bón, tưới
nước, hạt giống đó mới có khả năng sanh trưởng.
Hơn nữa, phải tin Sự, tin Lý. Thế nào gọi là tin Sự,
tin Lý? Bạn nên biết, đức Phật A Di Đà có nhân duyên
lớn đối với hàng chúng ta, ngài nhất định sẽ dẫn dắt
chúng ta đến khi thành Phật. Đây là tin vào sự.
Tin vào lý, vì sao chúng ta có nhân duyên lớn với
đức Phật A Di Đà? Nếu không có nhân duyên thì chúng
ta sẽ không gặp được pháp môn Tịnh độ này. Đức Phật
A Di Đà cũng chính là hết thảy chúng sanh, hết thảy
chúng sanh cũng chính là đức Phật A Di Đà. Ngài do
niệm Phật mà được thành Phật. Vì vậy, hết thảy chúng
sanh chúng ta, nếu như có niệm Phật thì cũng có thể
thành Phật A Di Đà. Đây là đứng trên lý mà nói.
Có lý, có sự, như vậy chúng ta nương theo lý sự đó
để tu hành. Trong kinh Hoa-Nghiêm, đức Phật từng
thuyết: “Sự vô ngại pháp giới, lý vô ngại
pháp giới,lý sự vô ngại pháp giới, sự sự vô ngại
pháp giới”. Chúng ta có những pháp giới này rồi,
đứng trên căn bản tự tánh mà nói thì cùng đức Phật A
Di Đà chỉ là một. Do đó, chúng ta có đủ tư cách để
thành Phật.
Đức Phật A Di Đà, ngài ở ngay trong tâm của chúng
sanh. vì vậy chúng sanh cũng nằm trong tâm của đức
Phật A Di Đà. Bởi do mối quan hệ này mà có sự có lý,
nhưng đạo lý ấy nhứt định bạn phải tin tưởng, phải
hành trì, bạn không thể biếng nhác. Ví như bản
thân tôi đây, niệm phật mỗi ngày một tăng, chứ không
phải ngày càng giảm.
Trên đã nói về lòng tin, đến đây chúng ta tìm hiểu
về Nguyện. Thế nào gọi là Nguyện? Nguyện là lòng
mong muốn, tâm nguyện và ý chí hướng tới của bạn.
Tâm tưởng của bạn phải như thế mới phát nguyện.
Trong kinh thường hay nhắc đến bốn lời nguyện, đó
là:
Chúng
sanh vô số lượng thề nguyện đều độ khắp
Phiền
não không cùng tận thề ngyuện đều dứt sạch
Pháp
môn không kể xiết thề nguyện đều tu tập
Phật
đạo không gì hơn thề nguyện sẽ chứng lên.
Đây là bốn lời thệ nguyện rộng lớn mà hết thảy chư
phật, chư vị Bồ tát trong quá khứ đều y theo bốn lời
nguyện này mà thành được quả vị Phật Đà, thành tựu
hạnh nguyện của Bồ tát. Hết thảy chư Phật, chư vị Bồ
tát trong đời hiện tại cùng tận đời vị lai cũng căn
cứ theo bốn lời thệ nguyện này mà chứng thành đạo
quả. Nhưng việc phát nguyện, điều đầu tiên đòi hỏi
bạn phải có lòng tin kiên cố. Tin có thế giới Cực
lạc, tin có Phật Adi Đà, tin vào bản thân mình nhứt
định có nhân duyên lớn với đức Phật A Di Đà, vì vậy
chúng ta ắt sẽ vãng sanh qua thế giới Cực lạc. Nếu
có được tín tâm này rồi, sau đó bạn nên phát nguyện.
Khi đã phát nguyện, ắt sẽ được vãng sanh. cho
nên mới nói “Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ
trung”. Đây là do lòng mong muốn của chúng ta,
muốn sanh về thế giới Tịnh độ chứ không phải do một
ai miễn cưỡng gọi ta đi, không phải có người đến
nhất định bắt ta đi cho bằng được. Tuy nhiên, nói
đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn chúng ta thì cũng do
chính bản thân chúng ta mong muốn được đi, mong muốn
được gần gũi với đức Phật A Di Đà, được sanh qua thế
giới Cực lạc nên ngài mới đến tiếp dẫn. Hoa nở thấy
Phật, là mong đến thế giới cực lạc để được thấy Phật
nghe pháp. Nếu có được tâm nguyện ấy rồi, sau đó bạn
phải thực hành. Thực hành bằng cách nào? Đó chính là
niệm Phật, niệm Nam Mô A Di Đà Phật….giống như cứu
lửa cháy đầu, bởi chiếc đầu của mình sắp mất. Có
người muốn chặt đầu, do đó phải cấp tốc bảo vệ chiếc
đầu của mình.
Niệm Phật chính là thực hiện ba món tư lương Tín,
Nguyện, Hạnh này. Đây chính là tư lương, là lộ phí
trên hành trình vãng sanh về thế giới Cực lạc. Tư
lương chính là lộ phí đi đường, là tiền bạc cần
dùng. Ba món tư lương trên, là tiền bạc, là hành
trang du lịch, là vé đi đường đến thế giới Cực lạc.
Vì vậy, chúng ta cần phải có.
XƯỚNG
TỤNG NIỆM PHẬT, NIỆM PHÁP, NIỆM TĂNG
Hiện tại, chúng ta đang niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
Câu niệm Phật ấy, chính là tự chúng ta đang kiến tạo
cho mình một thế giới Tịnh độ, mỗi người tự trang
nghiêm thế giới Cực lạc, thành tựu thế giới cực lạc
cho bản thân mình. Thế giới Cực lạc không hoàn toàn
cách xa chúng ta mười vạn ức cõi Phật, nhưng nó cũng
thật sự cách xa cả mười vạn ức cõi Phật. Bởi vì, tuy
nó cách xa mười vạn ức cõi phật như thế, nhưng không
ra ngoài một niệm hiện tiền của chúng ta. Vì không
ra khỏi một niệm hiện tiền nên nói: không hoàn toàn
xa chúng ta mười vạn ức cõi Phật mà chính là ở ngay
tâm lý chúng ta. Thế giới Cực lạc, chính là bổn tâm
xưa nay của hết thảy chúng sanh chúng ta. Nếu như
bạn nhận ra chơn tâm xưa nay của mình thì bạn đã
sanh về thế giới Cực lạc, còn bạn chưa nhận ra nó
thì bạn không thể sanh về thế giới Cực lạc. Đức Phật
A Di Đà và chúng sanh chúng ta không thể phân biệt
bỉ thử. Một niệm hồi quang của chúng sanh sẽ nhận
biết được xưa nay mình là Phật, biết được xưa nay
mình là Phật, đó là thế giới cực lạc. Cho nên nói
thế giới cực lạc không hoàn toàn xa như thế.
Do vậy, bạn có thể mang theo tâm ô nhiễm của mình
vãng sanh về Cực lạc. Bấy giờ, những tâm lý tư lợi,
những tạp niệm, tâm đố kị, tâm chướng ngại, tâm ích
kỉ, tâm chỉ biết lợi riêng cho mình không còn nữa.
Bạn sẽ học hạnh lợi tha của Bồ tát, giác ngộ cho tất
cả chúng sanh. Đấy chính là thế giới Cực lạc hiện
tiền. Khi tâm không còn tạp niệm, không còn vọng
tưởng, bạn thử nghĩ xem, đây chẳng phải là thế giới
Cực lạc hay sao? Nếu đây không phải thế giới Cực lạc
thì bạn nói đây là cái gì?
Cho nên chúng ta không thể tìm bên ngoài mà có được
thế giới Cực lạc. Đối với các bậc thiện tri thức,
các vị đều là những người có được kiến thức sâu
rộng, thông minh hơn tôi. Trong tương lai, quý vị
giảng phật pháp đều sẽ hay hơn tôi giảng nhiều. Hiện
tại ở đây, chẳng qua các vị là người bản xứ, không
hiểu được tiếng của nước khác mà thôi! Tôi giới
thiệu cùng quý vị bằng những lời cũ rích, lời nói
quá xưa này, chẳng phải mới mẻ gì. Nhưng trong tương
lai, các bạn là những bậc thần kỳ, biến hoá vô song.
Điều ấy vi diệu không thể nói được.
Tiện đây, tôi hát tặng quý vị một bài:
Phật A Di Đà
Bậc đại thánh chúa
Đoan nghiêm tuyệt diệu không ai bằng
Hồ trân bảy báu
Hoa sen bốn màu
Tuyệt diệu thay!
Trào dâng sóng vàng
Đây là nói đến hoa sen bốn màu. Bậc đại thánh chúa
là ai? Đó là đức Phật A Di Đà. Cho nên nói:
Bậc đại thánh chúa A Di Đà
Đoan nghiêm tuyệt diệu, ai sánh bằng?
Ngài ngồi đó vẻ uy nghiêm
HOA
SEN XANH, VÀNG, ĐỎ, TRẮNG
Chúng ta niệm Nam Mô A Di Đà Phật, như thế sẽ có hoa
sen hiện ra trong nước tám công đức, ở ao bảy báu
của thế giới Cực lạc. Hoa sen ấy, ngày càng lớn
nhưng nó vẫn chưa nở, đợi đến lúc chúng ta lâm
chung, tự tánh chúng ta hiển lộ, sanh qua thế giới
Cưc lạc thì lúc đó hoa sen mới nở ra để đở lấy chân
chúng ta. Cho nên, bạn muốn biết phẩm vị của mình
cao hay thấp, từ thượng phẩm thượng sanh, hay là
trung phẩm trung sanh, hạ phẩm hạ sanh? Điều ấy còn
phải tuỳ thuộc vào bạn niệm Phật nhiều hay ít. Nếu
bạn niệm phật nhiều thì đoá sen của bạn vừa cao vừa
lớn, còn bạn niệm ít thì đoá sen của bạn sẽ vừa thấp
vừa nhỏ. Cũng vậy, nếu bạn không vun bồi, thực hành
niệm Phật thì đoá hoa sen của bạn sẽ bị khô héo và
sẽ chết mất. Cho nên, điều ấy hoàn toàn do bạn có
tranh thủ được quả vị tu tập của mình hay không?
GIÓ
LAY NƯỚC LẶNG RỘNG DIỄN PHÁP ÂM
“Nước tâm trong sạch trăng tuệõ lại chiếu
Bầu trời chánh niệm mây phiền não tan”.
Khi hành giả niệm Phật đạt đến mức “Niệm Phật tam
muội” thì bạn nghe tiếng gió thổi cũng trở thành
tiếng Nam Mô A Di Đà Phật. Bạn nghe tiếng nước đổ
cũng trở thành tiếng Nam Mô A Di Đà Phật. Bạn nghe
tất cả các thứ âm thanh đều sẽ trở thành câu niệm
Phật. “Nước chảy gió động đều rộng diễn nói pháp
âm”, nghĩa là, khi bạn đạt đến “Niệm Phật tam
muội” rồi, thì âm thanh của nước chảy cũng là
tiếng Nam Mô A Di Đà Phật, tiếng gió động cũng là
Nam Mô A Di Đà Phật. Vì vậy Tô Đông Pha từng
nói: “Vẻ đẹp của núi non đều là tuớng lưỡi rộng
dài”. Núi nọ, cảnh kia đều là tướng lưỡi rộng
dài của đức Phật A Di Đà đang diễn nói pháp mầu.
Tiếng róc rách của khe suối, tiếng ầm ầm của thác đổ
cũng đều là âm thanh thanh tịnh. Đây chính là đã đạt
được “Niệm Phật tam muội”.
Trước đây, tôi có viết một đoạn kệ tụng, nay xin đọc
ra cho mọi người nghe:
Niệm Phật chuyên niệm không gián đoạn
Miệng niệm Di Đà chẳng nghĩ toán
Niệm tạp không sanh, chứng Tam muội
Vãng sanh Tịnh độ chớ lo toan
Trọn ngày chán lìa Ta-bà khổ
Tâm niệm hồng trần sẽ đoạn ngay
Luôn nghĩ cầu sanh về Tịnh độ
Buông xả tạp niệm, thanh tịnh sanh
Câu: “Niệm Phật chuyên niệm không gián đoạn”, hành giả niệm Phật mãi miết, từ sáng đến tối chỉ nghe tiếng niệm Phật, không có thời gian dừng nghĩ, đó gọi là không gián đoạn. “Miệng niệm Di Đà chẳng nghĩ toán” tức là miệng luôn luôn niệm Nam Mô A Di Đà phật, như thế tạo thành một chuổi niệm Phật. “Tạp niệm không sanh chứng Tam muội”, khi hành giả cứ miên mật niệm Phật như thế, tâm niệm được buộc vào câu Nam Mô A Di Đà Phật, khi ấy không còn những vọng tưởng tạp niệm dấy khởi, hành giả sẽ đạt được nhứt tâm bất loạn, tức là đạt được định lực niệm Phật, đạt được cái thọ dụng của niệm Phật, đó là “Niệm Phật Tam muội”. Khi đạt được tam muội ấy rồi, bạn không còn lo gì đếùn chuyện vãng sanh Tịnh độ! Sự mong muốn vãng sanh tịnh độ của hành giả nhứt định sẽ đạt được. “Trọn ngày chán lìa Ta-bà khổ” tức là từ sáng đến tối chúng ta phải chán bỏ sự thống khổ của cõi Ta-bà, thì “Tâm niệm hồng trầnđược đoạn ngay”. Bởi vì bạn thấy rằng, sống giữa thế giới Ta-bà này rất khổ, cho nên muốn xa lìa tất cả các thứ khoái lạc bụi trần của thế gian. Khi các thứ tạp niệm đã đoạn trừ thì không còn các thứ tâm lý như dâm dục, ngã mạn, tâm tranh danh đoạt lợi, buông xả tất cả cảnh duyên bên ngoài, nhìn thấy chúng là tạm bợ, không thật. Vì vậy, hành giả mới đoạn trừ được tất cả tâm niệm của thế gian. Tâm niệm của bạn “Luôn nghĩ cầu sanh về Tịnh độ”, ý niệm đó vô cùng quan trọng để cho việc “Buông xả tạp niệm, thanh tịnh sanh”. Khi buông xả các tâm lý ô nhiễm rồi, lúc ấy hành giả đã đạt được tâm niệm thanh tịnh.
Đoạn kệ tụng này là nói về đạo lý của pháp môn niệm Phật, tuy rất ngắn gọn, rõ ràng, nhưng bạn thử suy gẫm kỹ xem, ý nghĩa của nó vô cùng thâm thuý, giúp cho người tu tập pháp môn niệm Phật này được nhiều lợi lạc.