Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Lời Khuyên Dạy Của Cổ Đức
Khi mới vào chùa, bút giả nghe được một truyền
thuyết bao hàm ẩn ý, mà không biết có đúng với
nguyên ngữ chăng, và phát xuất từ đâu? Câu ấy là:
"Phật cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng, Phật cao
nhứt trượng, ma cao quá trượng đầu, Phật cao siêu
quá trượng đầu, ma quy hàng Phật." Ý nghĩa câu này
là: "Phật cao một thước, ma cao một trượng. Phật cao
một trượng , ma cao khỏi đầu trượng; nếu Phật cao
vượt khỏi đầu trượng nữa, ma sẽ quy hàng Phật." Suy
gẫm theo câu trên, người tu phải làm sao cho ông
Phật của mình cao hơn con ma, nếu chẳng thế tất bị
ma chướng đánh đổ. Cho nên trong làng tu, những kẻ
bị thối bại không nên đổ cho hoàn cảnh, hoặc phiền
trách ai, chỉ trách tại ông Phật của mình thua con
ma mà thôi. Nếu cố gắng giữ vững chí nguyện, ma
chướng sẽ tiêu trừ. Vì biết trên đường tu có nhiều
chướng ngại, khi xưa đức Đạt Ma Tổ Sư đã nói bốn
hạnh để làm phương châm tiến đạo cho hàng đệ tử. Bốn
hạnh ấy là: Báo Oan Hạnh, Tùy Duyên Hạnh, Xứng Pháp
Hạnh và Vô Sở Cầu Hạnh.
1. Sao gọi là Báo Oan Hạnh? - Chúng ta từ trước đến
nay luân hồi trong sáu nẻo, mỗi đời đều gây nghiệp
trái hoặc ân hoặc oán, từ việc nhỏ đến việc lớn, có
thể nói là vô lượng vô biên. Cho nên khi ta hành
đạo, tuy nhờ công đức tu tập tiêu trừ một phần nào,
nhưng các nghiệp chưa tan, tất phải lần lượt đền
trả. Như người thường đau yếu hoặc tàn tật, do kiếp
trước đã tạo nghiệp sát sanh. Người bị nhiều tiếng
thị phi khen chê, do kiếp trước ỷ thông minh quyền
thế xem rẻ người, hoặc đã tạo nghiệp hủy báng. Người
bị nghèo khổ thiếu hụt, do kiếp trước không có lòng
xót thương tu hạnh bố thí. Người bị gông cùm tra
khảo tù đày, do kiếp trước hay trói buộc, đánh đập,
giam nhốt chúng sanh. Kẻ bị cô độc lẻ loi thiếu
người phụ trợ, do kiếp trước không hoan hỷ kết duyên
với mọi người. Những nghiệp như thế vô lượng vô
biên, ngày nay tu hành khi bị oan trái đến, phải an
lòng nhẫn nại chịu đền trả, không nên oán trách buồn
phiền. Nơi kiếp luân hồi, chúng sanh đều có ăn uống
cùng gia đình đôi bạn, nên trong các nghiệp duy có
nghiệp sát và nghiệp ái là nặng nhứt. Cổ đức đã
than: "Bể nghiệp mênh mang, khó đoạn không chi hơn
ái dục. Cõi trần man mác, dễ phạm duy chỉ có sát
sanh!"
- Bút giả từng nghe một Phật tử Bắc Việt thuật lại
câu chuyện, vì lâu quá chỉ nhớ phần đại khái, quên
mất tên họ địa chỉ của người trong cuộc. Phật tử ấy
nói: "Có một vị sư nguyên là thầy giáo, vì tỉnh ngộ
cảnh thế phù du, nên lên tịnh tu trên núi. Trải một
thời gian, vị sư được chư thần mách bảo rằng: Ông có
duyên nợ mười chín năm với một cô tên họ là thế, nay
tuy đã tu hành không nên kết duyên chồng vợ, nhưng
phải xuống núi dạy dỗ giác ngộ cô kia, trả xong mối
nợ tiền khiên đúng như thời hạn ấy, rồi trở lên núi
tu hành mới có thể thành công. Vị sư y lời xuống
núi, quả nhiên gặp một cô tên họ đúng như chư thần
đã bảo, cảm mến đeo đuổi. Sư khuyên nhủ dạy đạo cho
cô, trả xong y theo thời hạn rồi lên núi. Lúc lâm
biệt cô ấy vẫn còn quyến luyến khóc lóc." Đây là sự
trả nợ nần về nghiệp ái.
Nơi truyện Quần Tiên, nhân tiết trung thu chàng văn
sĩ Vân Tiêu lên núi chơi. Trong đêm rằm, chàng mục
kích chư tiên nương mây cởi hạt giáng xuống một tòa
thạch bàn, bày tiệc trái ngon rượu quí, vừa đàn ngâm
hát rằng:
Đêm thu một khắc một chầy
Vầng trăng khéo rọi cảnh này sơn âm!
Nghiêng bầu hỏi bạn đồng tâm
Hằng Nga khuất bóng biết tìm nơi đâu?
Bên tiên nữ có một nàng tên là Thái Loan, sắc đẹp
dịu dàng, ca ngâm hay nhất, làm cho Vân Tiêu tuy ẩn
bóng rình nghe, cũng bàng hoàng xúc động. Giây lát
sau, một vị lão tiên uống rượu xong, ca rằng:
Hữu duyên tương hội tại tiên đàn
Ưng đắc Vân Tiêu giá Thái Loan!
Nghe hai câu ấy, Vân Tiêu phải chường mặt ra dự vào
đàn tiên. Chư tiên bảo Thái Loan tiên nữ còn trần
duyên với Vân Tiêu mười ba năm, truyền đồng tử đem
sổ ra xóa bỏ tiên tịch. Và sau mười ba năm sống với
Vân Tiêu, trần duyên đã mãn, Thái Loan dùng phép ẩn
thân bay về non tu lại. Cho nên chư tiên vẫn còn ở
trong vòng nhân duyên kiếp quả.
Về nghiệp sát, như Sư Tử tôn giả bên „n Độ và Thần
Quang nhị tổ ở Trung Hoa tuy đều đắc đạo, nhưng ngày
kết liểu vẫn phải an nhiên chịu chém để đền nợ mạng.
Lại như ngài Mục Kiền Liên tuy đắc quả A La Hán,
thần thông bậc nhất trong hàng Thanh Văn, nhưng vì
muốn trả túc nghiệp, nên để bọn hung đồ dùng đá gậy
liệng đánh cho đến chết, thi hài lại bị vùi trong
hầm phẩn. Đức Phật thấy thế thương xót, sai đệ tử
đem thây Ngài lên tắm rửa sạch sẽ, xoa ướp dầu thơm,
rồi đem đi trà tỳ thâu lấy xá lợi. Và như thái tử
nước An Tức xuất gia tu hành đắc đạo, dùng Túc Mạng
Trí thấy mình còn nghiệp trái sát sanh, nên ba phen
chuyển kiếp đến xứ Lạc Dương ở Trung Hoa trả nợ mạng
ba lần. Kiếp sau rốt, ngài là sa môn An Thế Cao.
Cho nên trên đường tu đâu biết ai là toàn vẹn, ta
không nên tự mãn mà khinh thường người. Bởi nghiệp
trái của chúng sanh rất nhiều, có khi đền trả hết
lớp này lại đến lớp khác. Nhiều vị xem dường rảnh
rang không oan trái, nhưng chưa hẳn là không có, chỉ
vì chưa đến thời tiết nhân duyên đền trả đó thôi.
Muốn dứt oan khiên ta phải an nhẫn sám hối và cố
gắng tu hành để diệt trừ. Thi sĩ Nguyễn Du có lẽ đã
tin sâu về thuyết nghiệp báo và sự cải tạo nhân quả
của nhà Phật, nên mới có câu:
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Có trời mà cũng có ta...
Lời này đã được nhiều bậc thức giả công nhận.
2. Thế nào là Tùy Duyên Hạnh? - Đây là nói sự an
phận tùy duyên của người tu cảnh nào sống theo cảnh
ấy. Như cảnh giàu sang tùy theo giàu sang, cảnh
nghèo hèn tùy theo nghèo hèn, cảnh man rợ tùy theo
man rợ, cảnh hoạn nạn tùy theo hoạn nạn, cho đến
cảnh thạnh suy, họa phước, đắc thất, thị phi... cũng
đều như thế. An phận tùy duyên đây, là giàu sang mà
không tự đắc kiêu căn, nghèo hèn hoạn nạn mà không
buồn rầu đổi chí. Tại sao thế? Vì tất cả cảnh thạnh
suy họa phước đều như huyễn, chỉ tùy nghiệp hiện lên
một thời gian rồi diệt, có chi đáng tham luyến nản
buồn?
Khi xưa, đức Khổng Tử và đồ đệ bị giặc vây giữa nước
Trần nước Thái, thầy trò tuyệt lương đã bảy ngày,
song Ngài vẫn khảy đàn tươi cười. Tử Cống hỏi: "Tại
sao gặp hoàn cảnh sống chết không định ngày, mà phu
tử hãy còn vui cười được?" Ngài đáp: "Việc gì ta đã
cố gắng làm hết sức ta mà xảy ra như vậy, là mạng
trời, buồn rầu thương khóc nào có ích chi?" Như đức
Khổng Tử có thể gọi là bậc thánh tri mạng, luôn luôn
bình tĩnh sáng suốt, không bị bối rối đổi thay trước
mọi hoàn cảnh. Người tu nên như thế, phải xem ruộng
vườn, nhà cửa, quyến thuộc, tài sản đều là duyên giả
tạm, không vì nó mà quyến luyến bận tâm, mới có thể
tiến lên đường giải thoát.
3. Sao gọi là Xứng Pháp Hạnh? - "Pháp" đây là Chân
Như pháp, đối với người tu Tịnh Độ là Niệm Phật Tam
Muội. Người tu Thiền khi đi đứng nằm ngồi, tâm phải
xứng hợp với pháp Chân Như, như nước hòa nước, tợ hư
không hợp với hư không. Hành giả tu Tịnh Độ cũng
thế, tâm lúc nào cũng trụ nơi câu niệm Phật. Cổ đức
bảo: "Nếu tạm thời không trụ nơi chánh định, tức
đồng như người đã chết." Bởi không trụ được nơi
chánh định, tức là bị trần cảnh đoạt. Bị trần cảnh
cướp đoạt lôi cuốn, thì pháp thân huệ mạng không
còn. Cho nên người tu Tịnh Độ nếu thường trụ nơi câu
niệm Phật, thì tâm địa lần lần lặng yên sáng suốt,
cảm thông với Phật, chắc chắn sẽ được vãng sanh.
4. Thế nào là Vô Sở Cầu Hạnh? - Đạo là chỉ cho tâm
hạnh trong sạch không mong cầu điều chi. Bởi tất cả
pháp đều như huyễn, sanh rồi diệt, diệt lại sanh, có
chi chân thật để mong cầu? Vả lại pháp thế gian đều
tương đối, trong họa có phước, trong phước có họa,
nên người trí vẫn bình thản, ở cảnh thạnh suy họa
phước đều không động tâm. Thí dụ: một tăng sĩ khi ẩn
tu nơi am tranh vắng vẻ, sự sống hẩm hiu, ít người
thăm viếng, duyên đời tuy suy nhưng đạo lại thạnh.
Ít lâu sau, nếu có người đạo tâm hay biết tới cúng
dường, lần lần lập nên chùa lớn, tăng chúng tập
trung về đông đảo, chừng ấy phước duyên tuy thạnh
nhưng phần giải thoát lại suy, bởi vị ấy mắc bận tâm
lo ứng phó công việc bên ngoài. Lẽ họa phước ẩn
nương nhau cũng như thế. Cho nên tâm hạnh của người
tu là không cầu việc ác, hay cầu làm chúng sanh,
cũng không cầu điều thiện, hoặc cầu thành Phật. Có
người hỏi: "Nếu niệm Phật không cầu vãng sanh, không
cầu phước huệ viên mãn để thành Phật, thì làm sao tu
tiến?" Đáp: "Bởi Phật là chơn không, càng cầu lại
càng xa càng mất." Vì thế Kinh Pháp Hoa nói: "Giả sử
có vô số bậc Thanh Văn, Duyên Giác cho đến hàng Bất
Thối Bồ Tát, trong vô lượng kiếp suy nghĩ tìm cầu,
cũng không thấy hiểu được thật trí của Phật." Về sự
vãng sanh, thì lối cầu của người tu là cầu mà không
cầu, không cầu mà cầu. Sự ứng dụng ấy như mặt gương
sáng trong, khi hình đến thì chiếu soi, hình đi, lại
lặng yên rỗng suốt. Giữ sự thấy biết tìm cầu thì lạc
vào vọng tưởng, không thấy biết tìm cầu nào khác gì
gỗ đá vô tri!" Nói rộng ra, hạnh Vô Sở Cầu đây gồm
cả ba môn: Không, Vô Tướng, Vô Nguyện vậy.
Nếu người tu giữ theo bốn hạnh của đức Đạt Ma Tổ Sư
đã dạy, thì có thể bình thản trước mọi chướng duyên.
Cách Giữ Vững Tâm Không Thối Chuyển
Trong luận Niệm Phật Bảo Vương Tam Muội có thuyết
minh về Thập Bất Cầu Hạnh, nghĩa là mười hạnh không
cầu, để phá mười điều chướng ngại lớn. Mười điều
chướng ngại này gồm nhiếp tất cả chướng ngại. Cho
nên nếu nắm vững mười hạnh không cầu đây, thì tất cả
chướng ngại đều phải tiêu tan. Mười hạnh ấy là:
1. Thân không cầu không bịnh. Thân không đau bịnh
thì tham dục dễ sanh. Tham dục sanh thì phá giới
thối đạo.
2. Cuộc đời không cầu không hoạn nạn. Đời không hoạn
nạn, thì kiêu xa dễ khởi. Khi lòng kiêu mạn xa hoa
khởi lên, sẽ khinh dễ đè lấn tất cả mọi người.
3. Tu tâm không cầu không chướng ngại, tâm không
chướng ngại thì sự học sẽ vượt bậc. Học vượt bậc tất
có lỗi chưa được cho là mình đã được, đã thông suốt.
4. Lập hạnh không cầu không bị ma chướng. Hạnh không
ma chướng thì sức thệ nguyện không bền chắc. Nguyện
không bền chắc sẽ có lỗi chưa chứng cho là mình đã
chứng.
5. Mưu sự không cầu dễ thành tựu. Sự dễ thành tựu
thì sanh niệm khinh lờn. Niệm khinh lờn sanh, tất
mang lỗi tự đắc cho rằng mình đủ đức hạnh tài năng.
6. Giao hảo không cầu mình được lợi ích. Mình được
ích lợi thì hư mất đạo nghĩa. Đạo nghĩa hư mất, tất
chỉ thấy lỗi của người.
7. Đối với người không cầu được sự thuận thảo. Người
thuận thảo thì mình dễ tự kiêu. Và lòng đã kiêu căn,
tất chỉ thấy phần phải của mình.
8. Làm ơn không cầu báo đáp. Cầu báo đáp thì lòng có
chỗ tính toan. Đã có tính toan tất sẽ ham lợi khoe
danh.
9. Thấy lợi không cầu mình được phần. Cầu được phần
thì lòng si nổi động. Khi lòng si nổi dậy, tất sẽ bị
mối lợi nhơ làm tiêu hủy thanh danh.
10. Bị oan ức không cầu biện minh. Cầu biện minh thì
lòng nhơn ngã còn chưa dứt. Tâm nhơn ngã thị phi
chưa dứt, tất mối oán hận sẽ từ đó nảy sanh ra
nhiều.
Suy qua các điểm trên, ta thấy cuộc đời đầy nỗi
chướng ngại, mà có thể khái quát lại trong 10 điều:
1. Thân đau bịnh
2. Gặp hoạn nạn
3. Sự tu học bị ngăn trở
4. Khi lập hạnh ma chướng phá
5. Mưu sự thất bại
6. Bạn bè phản phúc lãnh đạm
7. Nhiều kẻ chống đối
8. Làm ơn mắc oán
9. Người mưu chiếm lợi danh
10. Chịu nỗi oan ức
Trong mười điều này, luận Bảo Vương Tam Muội đã dùng
mười hạnh không cầu để phá trừ. Thế thì trong phước
có họa, trong họa có phước, trong thông có ngại,
trong ngại có thông. Vì hiểu lẽ này nên các bậc tu
hành khi xưa đã dùng "sự chướng ngại làm duyên tiến
đạo." Tiên đức có bảo: "Vô nhơn kiến xúc, đạo quả
nan thành!" Câu này có nghĩa: "Nếu không bị người
làm xúc não, tất đạo quả của mình khó thành tựu."
Bởi sự khinh hủy chưởi mắng, giá họa vu oan, và mọi
chướng ngại khác là "cái mức để đo lường đạo lực của
người tu." Nếu gặp những chướng duyên đó mà vẫn nhẫn
nại an nhiên được, tất chứng tỏ người ấy đã tu tiến
đến mức khá cao. Bằng chẳng thế, làm sao đo lường
được mức tu tiến của mình? Thật ra không phải người
tu mong cầu sự chướng ngại, mà vì đường đạo đầy nổi
bất trắc khó khăn, nên cần luôn luôn cảnh giác đặt
mình trước mọi nỗi chướng duyên, để khi lâm cảnh vẫn
an nhiên không rối động. Diệu Hiệp đại sư bảo: "Mười
hạnh trên, duy người trí huệ hùng tâm mới áp dụng
nỗi. Nếu biết xét soi giác ngộ, giữ vững mười điều
này, thì tuy vào cảnh giới ma không bị ma làm thối
chuyển. Dù cho ở trong cảnh sắc thinh, danh lợi,
thương ghét, thị phi, thạnh suy, đắc thất... vẫn
được an nhiên."
Cho nên nếu không biết, thì tất cả sự tốt đẹp thuận
lợi có thể thành duyên chướng đạo. Như xét thấu tất
cả bịnh khổ cùng ma chướng đều giả dối không căn,
tất nó cũng không làm chi được. Đối với mười điều
trên, lối xử dụng của bậc trí lực là:
1. Lấy bịnh khổ làm thuốc hay.
2. Lấy hoạn nạn làm giải thoát.
3. Lấy chướng ngại làm tiêu dao.
4. Lấy các ma làm bạn pháp.
5. Lấy việc khó làm an vui.
6. Lấy bạn xấu làm giúp đỡ.
7. Lấy kẻ nghịch làm vườn hoa.
8. Lấy sự quên việc thi ân như quên bỏ chiếc dép
rách.
9. Lấy thanh đạm làm giàu sang.
10. Lấy sự oan ức làm duyên tiến đạo.
Xem đây suy rõ sự hay dở đắc thất vẫn tùy tâm. Thế
nên, người mới tu rất sợ chướng duyên, bậc tu lâu có
khi lại muốn thử đương đầu với chướng cảnh. Xin
thuật ra đây một đôi chuyện để làm tỷ lệ:
Thuở xưa, ngài Thần Quang sau khi đắc pháp với tổ
Đạt Ma, liền khuất thân đi làm mướn, như bửa củi,
giã gạo hoặc gác cửa cho người. Có kẻ đến hỏi: "Ngài
là bậc kế truyền Tổ vị, sao lại thấp mình đi làm
những việc tầm thường như thế?" Ngài đáp: "Ta muốn
hàng phục cái tâm của ta, chẳng phải chỗ ông biết!"
Lại một vị tiên là Lưu Trường Sanh sau khi đơn
thành, xuất thần bay lên chỗ bà Diêu Trì Kim Mẫu,
thấy chư tiên nữ dung sắc cực kỳ xinh đẹp khó tả khó
họa, ông liền động tâm. Kim Mẫu quở rằng: "Ngươi tuy
thành đạo, mà niệm sắc ái chưa tiêu, làm sao xứng
đáng liệt vào hàng tiên phẩm?" Trường Sanh hổ thẹn,
trở xuống cõi nhân gian, dùng phép điểm đá hóa vàng,
vào chỗ lầu xanh mướn năm bảy cô dâm nữ đẹp nhất,
cùng nhau chung sống. Trong hai năm trời ông nằm gần
các cô dâm nữ lõa thể để luyện trừ niệm sắc dục. Khi
xét thấy mình tâm đã bất động, ông bảo các cô ấy làm
bánh, rồi để bánh trên bụng vận lửa đơn điền nướng
chín, đem đãi các cô, nói đạo khai ngộ cho, xong mới
cỡi mây bay đi.
Để so sánh về các hạnh tu, xin kể tiếp thêm vài
chuyện:
- Một sư cô nọ muốn dứt trừ lỗi lầm, nguyện kiết
thất và tịnh khẩu trong ba tháng. Buổi chiều kia, cô
đang ngồi bên cửa sổ lần chuỗi niệm Phật. Có ông đạo
trông thấy liền nói chuyện với người bạn, bảo cô
nhiều nghiệp, nhiều tánh xấu. Cô nghe nóng giận đỏ
mặt, nhưng vẫn làm thinh tiếp tục niệm Phật. Giây
lát ông đạo bảo: "Tôi rình thấy cô này lấy một ông ở
bên hàng xóm." Cô giận quá, nhịn không được nói lớn
tiếng lên: "Huynh nói tôi lấy ai phải xác nhận lại,
chớ tôi không chịu bỏ qua vụ này đâu?" Ông đạo cả
cười đáp: "Đó là tôi cố ý thử cô mà thôi. Cô đã
nguyện tịnh khẩu sao lại còn nói chuyện? Vả lại tịnh
khẩu là cốt để tịnh tâm, mà cô tịnh tâm không được,
thì tịnh khẩu có ích gì?" Sư cô ấy nghe xong chợt
tỉnh ngộ, hổ thẹn làm thinh.
- Một độ nọ bút giả về Phật Học Viện Huệ Nghiêm, gặp
ngài tọa chủ chùa Thuyền Lâm. Trong khi đàm đạo ngài
thuật chuyện rằng: "Trước kia ở ngoài Trung có một
vị sư tu thiền khá công phu, mỗi lần có thể ngồi lâu
đến sáu bảy giờ. Có lẽ muốn dứt trừ nhiễm duyên, sư
thường lẫn tránh người nữ, thậm chí cô nào đến viếng
chùa rồi về, ông cũng xách nước quét rửa chỗ ngồi
của cô ấy. Thời gian sau, sư đến ở trọ chùa Thập
Tháp tại Bình Định. Một buổi sáng, đang khi tọa
thiền trong liêu, sư bỗng la lên rồi chạy ra ngoài.
Hòa thượng Thập Tháp hỏi lý do, sư đáp: "Tôi đang
tham thiền bỗng thấy một người nữ xinh đẹp đến ôm
cổ." Nói xong chiều lại sư mệt mỏi nằm bịnh, gọi hòa
thượng Thập Tháp vào bảo: "Ngài phải làm sao cưới
gấp cho tôi một cô vợ, bằng không bắt đầu từ chiều
nay tôi sẽ tuyệt thực cho đến chết?" Cụ Thập Tháp
cho gọi một bà Phật tử tín cẩn đến bàn luận, bà ấy
bảo: "Để con về gọi đứa tớ gái của con, bảo nó giả
vờ chịu đỡ để dẫn dụ sư ăn uống cho mạnh rồi sẽ
hay." Sáng hôm sau, hòa thượng đưa cô tớ gái vào và
bảo: "Tôi đã bàn định xong, có cô này ưng chịu làm
vợ của Ngài đây." Sư nghe nói mở mắt ra nhìn, nắm
tay cô tớ gái vuốt ve một hồi rồi tắt hơi."
Trong hai đoạn trên, ta thấy sư cô nọ muốn phá phiền
não, song chỉ theo hình thức mà thôi. Còn ngài Thần
Quang biết tất cả phiền não đều không, và cội gốc do
nơi tâm chấp ngã, nên mới giả làm kẻ thấp hèn chịu
người sai mắng, để xem tâm nhơn ngã thị phi còn động
chăng đặng dứt trừ. Và Lưu Trường Sanh muốn diệt
niệm sắc ái, dám dõng mãnh đi ngay đến chỗ nữ sắc mà
quán phá. Vị sư kia bởi chưa hiểu sắc là không, quá
kiêng sợ nữ sắc, trong tâm còn chấp ngại hình thức,
kết cuộc lại bị loại sắc ma làm hại. Nhớ lại hồi năm
1960 có các Phật tử đem tờ báo Tiếng Chuông đến, chỉ
hình nhà sư Nhật Bản bắt tay một kỷ nữ lõa thể, chỉ
còn mặc chiếc quần nhỏ, và phê bình là lối tu tân
thời trái với đạo lý. Bút giả đã giải thích: "Chớ
hiểu lầm, đó là lối nghiệm tâm của các thiền sư Nhật
Bản, để xem mình đối với nữ sắc còn động chăng? Nếu
chưa được như như bất động, họ sẽ trở về tu lại. Vị
sư này cũng đã thiền định đến mức khá cao rồi, mới
dám làm như thế."
Để kết luận, bậc trí lực chẳng những không ngại
chướng duyên, mà còn mượn chướng duyên để tu tiến.
Các vị ấy không còn chấp nê hình thức, vì hình thức
chỉ là phương tiện mà nội tâm mới là cứu cánh.