Nói Lược Về Các Duyên Khảo
Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Vài Nguyên Nhân Của Các Chướng Duyên
Các bậc tiền bối trong làng
tu thường bảo: "Khi phát nguyện làm những công
đức rộng lớn, hay tu hành, thường gặp nhiều
chướng duyên khảo đảo thử thách." Người xuất gia
có bốn giai đoạn mà chướng duyên thường phát
hiện là: khi cạo tóc vào chùa, lúc thọ giới, khi
học kinh điển nhứt là kinh Đại Thừa, và lúc gát
bỏ mọi việc để tịnh tu. Có nhiều vị đã gieo sẵn
duyên lành, hoặc do sức cố gắng tinh tấn nên dễ
dàng vượt qua ba giai đoạn trước, bước sang mức
thứ tư. Nhưng đến khi tu hành tiến lên trình độ
khá cao, tất khó tránh khỏi chướng duyên phát
hiện. Như Hư Vân thượng nhơn, một cao tăng cận
đại, trong khi tinh tấn dụng công tham thiền,
nghiệp chướng bỗng phát hiện làm cho ngài bị
đui, điếc và câm trong ba tuần nhựt. Duyệt qua
truyện cũ, bút giả nhớ một vị họ Tô, cất am
riêng ở chỗ thanh vắng tham thiền, đem một người
theo giúp việc. Ban sơ ông tập ngồi từ một, hai
giờ rồi lần lần tăng tiến có thể ba ngày đêm ở
luôn trong định. Một độ nọ, Tô cư sĩ thiền định
luôn hai mươi mốt ngày không ăn uống. Người tùy
cận thấy ông ngồi quá lâu, đến gần dò xem thì
hơi thở ra vào đã tuyệt, không còn thoi thóp như
mấy lần trước. Y không biết đó là trạng thái sâu
mầu của thiền định, lầm tưởng cư sĩ đã chết,
liền đem ông đi chôn sống luôn.
Lại có một vị tăng tu Tịnh Độ, niệm Phật mỗi
ngày đêm đến mười muôn câu. Do công đức niệm
Phật, chỗ đất của sư đi đều hóa ra sắc vàng
ròng. Một hôm có người nạn dân đến xin tá túc.
Sư nhìn người ấy rồi nói riêng với thị giả: "Gã
này có tướng đạo tặc, ngươi nên cho y ăn no rồi
hãy bảo ra khỏi nơi đây." Ông đạo nhỏ vì lòng
thương xót, thấy người kia nài nỉ mãi, lưu luyến
chưa nở đuổi. Quả nhiên ít hôm sau, người ấy nửa
đêm lén vào phòng sư, bẻ gảy chân tay giết ông
chết, trộm một ít đồ trong am rồi bỏ đi luôn.
Hai trường hợp trên cổ đức bình luận cho là sức
định nghiệp không thể tránh khỏi. Người tu có ba
chướng là: phiền não chướng, nghiệp chướng và
báo chướng, mà sức nghiệp chướng lại nặng nề
nguy hiểm hơn hai thứ kia. Nhưng tại sao khi
chưa tu thì chẳng có chi, đến lúc tu hành càng
cao lại thường gặp nhiều chướng nạn? - Đó cũng
bởi chúng ta là phàm phu thời mạt pháp, cố nhiên
phần đông chướng duyên đều nặng. Nếu chúng ta
nghiệp nhẹ, tất đã sanh vào thời tượng pháp hoặc
chánh pháp rồi. Nhưng không phải do tu hành nên
phát sanh chướng nạn, mà đó là sức chuyển
nghiệp, chuyển quả báo nặng thành quả báo nhẹ,
chuyển quả báo đời sau thành quả báo hiện tại.
Giả sử ta có mười phần nghiệp chướng, do công
đức tu nên tiêu trừ được bảy phần, còn phát hiện
ra ba phần. Và đáng lẽ quả báo ấy đến sau mới
trả, nhưng nhờ sức tu niệm, nên chỉ chịu quả nhẹ
trong kiếp này để mau được giải thoát.
Như Giới Hiền luận sư tiền kiếp là một vị quốc
vương đem binh đi đánh dẹp các nơi, tạo nghiệp
sát quá nhiều, đáng lẽ đến đời này sau khi hưởng
phước thừa rồi chết, sẽ phải bị đọa vào địa
ngục. Nhưng nhờ luận sư chí tâm tu hành và hoằng
dương Phật pháp, nên mỗi ngày ông bị một cơn
bịnh trạng như có nhiều lưỡi gươm vô hình đâm
chém trong thân. Như thế trải qua hai năm bịnh
mới dứt. Do duyên đó mà luận sư tiêu được nghiệp
địa ngục, sanh lên cõi Đâu Suất Đà Thiên. Lại
như ông Ngô Mao tiền nhân cũng tạo nghiệp sát,
đáng lẽ phải đọa làm heo bảy kiếp cho người
giết. Nhưng nhờ ông trường trai niệm Phật, nên
khi thọ số mãn, bị giặc đâm bảy dao trả nghiệp
xong một lần, rồi được vãng sanh về Cực Lạc. Nói
tóm lại, lời tục gọi đó là trạng thái dồn
nghiệp.
Tuy nhiên, không phải mỗi người tu đều bị trả
quả. Có người càng tu càng có điểm tốt, càng
được an thuận, không bị trở ngại chi. Đó là do
vị ấy những kiếp về trước không tạo nghiệp chi
quá nặng, hoặc đã từng tu niệm và có nhiều căn
lành. Nhưng luận theo phần đông, đại khái nếu
không gặp những chướng ngại lớn, cũng vấp phải
những chướng ngại nhỏ. Ngoài những trở ngại của
ngoại duyên, lại còn có ba nguyên nhân phát sanh
chướng nghiệp:
1. Cứ theo tông Pháp Tướng, trong tạng thức của
ta có chứa lẫn lộn những nghiệp chủng lành dữ.
Khi niệm Phật hay tham thiền, ta huân tập hạt
giống công đức vô lậu vào, tất các nghiệp chủng
kia phải phát hiện. Ví như một khu rừng rậm
nhiều thú, nếu có dân cư đến khai hoang, tất cây
cối bị đốn, các loài thú đều chạy ra. Cảnh tướng
và phiền não chướng duyên do nghiệp chủng phát
hiện cũng thế. Đây gọi là sức phản ứng của chủng
tử nghiệp.
2. Có những vị tu hành chẳng am tường giáo lý,
không hiểu những tướng của nội tâm và ngoại cảnh
đều như huyễn, chưa phát minh thế nào là chân và
vọng, nên nhận định sai lầm. Do đó đối với cảnh
duyên trong ngoài sanh niệm tham chấp, vui mừng,
thương lo, sợ hãi, mà tự gây chướng nạn cho
mình.
3. Lại ví như người theo họa đồ đi tìm mỏ vàng,
đường sá phải trải qua non cao, vực thẳm, đồng
vắng, rừng sâu, bước hành trình tất phải nhiều
công phu và gian lao khổ nhọc. Nếu người ấy
không vững lòng, không biết tùy sức tùy hoàn
cảnh mà nhẫn nại uyển chuyển, tất phải thối lui.
Hoặc có khi bỏ cuộc ghé vào một cảnh tạm nào đó,
hay chết giữa đường. Lộ trình tu tập cũng thế,
hành giả tuy y theo kinh giáo mà thật hành, song
nếu không biết tùy sức tùy hoàn cảnh nhẫn nại
uyển chuyển, sự lập chí không bền lâu, tất sẽ
thất bại. Chướng nạn đó cũng do chính mình gây
ra.
Trên đây là đại lược một ít nguyên nhân của các
điều chướng ngại.
Các Duyên Ma Khảo
Những duyên nghiệp khảo đảo gây chướng ngại cho
người tu, có rất nhiều chi tiết sai biệt. Nay
chỉ xin tóm tắt đại cương qua sáu điểm:
1. Nội Khảo: - Có người trong lúc tu tập, bỗng
khởi lên những tâm niệm tham lam, giận hờn, dục
nhiễm, ganh ghét, khinh mạn, nghi ngờ, hoặc si
mê dễ hôn trầm buồn ngủ. Những tâm niệm ấy đôi
khi phát hiện rất mãnh liệt, gặp duyên sự nhỏ
cũng dễ sanh cau có bực mình. Nhiều lúc trong
giấc mơ, lại thấy các tướng thiện ác biến
chuyển. Trong đây những tình tiết chi ly không
thể tả hết được. Gặp cảnh này, hành giả phải ý
thức đó là do công năng tu hành nên nghiệp tướng
phát hiện. Ngay lúc ấy, nên giác ngộ các nghiệp
tướng đều như huyễn, nêu cao chánh niệm, tự
nhiên những tướng ấy sẽ lần lượt tiêu tan. Nếu
không nhận thức rõ ràng, tất bị nó xoay chuyển
làm cho thối đọa. Tiên đức bảo: "Chẳng sợ nghiệp
khởi sớm, chỉ e giác ngộ chậm," chính là điểm
này. Có người đang lúc dụng công, bỗng phát sanh
tán loạn mỏi nhọc khó cưởng nỗi. Ngay khi ấy,
nên đứng lên lễ Phật đi kinh hành, hoặc tạm xả
lui ra ngoài đọc một vài trang sách, sửa năm ba
cành hoa, chờ cho thanh tĩnh sẽ trở vào niệm
Phật lại. Nếu không ý thức, cứ cưởng ép cầu cho
mau nhứt tâm, thì càng cố gắng lại càng loạn.
Đây là sự uyển chuyển trong lúc dụng công, ví
như thế giặc quá mạnh tợ nước tràn, người chủ
soái phải tùy cơ, nên cố thủ chớ không nên ra
đánh. Có vị tu hành, khi niệm Phật bỗng thấy cô
tịch như bản đàn độc điệu dễ sanh buồn chán, thì
không ngại gì phụ thêm trì chú, quán tưởng, hoặc
tụng kinh.
Nhân tiện, xin thuật ra đây một việc để cho các
bạn đồng tu thêm phần nhận thức. Có một nữ Phật
tử đến chỗ bút giả buồn khóc thưa thật rằng: mỗi
khi cô niệm Phật tụng kinh độ vài mươi phút là
ngủ gục lúc nào không hay, có khi tiểu tiện ngay
trước bàn Phật. Do đó cô sợ tội bỏ luôn không
dám tụng niệm. Bút giả khuyên cô nên chuyên sám
hối trong một thời gian. Quả nhiên ít lâu sau cô
dứt hẳn nghiệp tướng ấy, lại nằm mơ thấy nhiều
vỏ ốc, đập mỗi vỏ ốc ra thấy một hạt sen. Cô này
nghiệp si nặng, vỏ ốc là hiện tướng của nghiệp
si, đập vỏ ốc thấy hạt sen là phá si mê mà thành
tựu nhân lành giác ngộ vãng sanh về cõi Phật.
Lại có một vị sa di trần thuật lại rằng: Cứ ít
đêm chú nằm mơ, thấy ba bốn mươi người cầm dao
gậy đến đánh chém. Chú thay đổi trì Đại Bi rồi
Chuẩn Đề chân ngôn đều không thành tựu, vì mỗi
lần tụng độ ít biến là nhứt đầu cả ngày, uống
thuốc cũng không khỏi. Biết mình nghiệp nặng,
chú phát nguyện lạy Tam Thiên Phật để sám hối.
Nhưng khi lên chùa lễ Phật thì thấy một người
tướng mạo cao lớn hung dữ đến xô té không cho
lạy. Do đó chú đến buồn khóc bảo: Có tội thì sám
hối tu hành, nhưng sám hối tu hành không được,
chẳng biết phải làm sao? Bút giả nghe xong suy
nghĩ, biết vị này nghiệp sát nặng, mà chú Đại Bi
cùng Chuẩn Đề có sức phá nghiệp khá mạnh, và tâm
nguyện lạy Tam Thiên Phật là điều nguyện rộng
lớn. Đây là lỗi ở chỗ chỉ biết cầu riêng phần
mình mà không cầu cho các vong oan trái, và cách
dụng công phá nghiệp không khéo uyển chuyển. Ví
như người yếu bị bịnh phong nặng, đáng lẽ phải
dùng các vị thuốc nhẹ như Phòng Phong Kinh Giới
lần lượt tiêu trừ, mà trái lại vì muốn cho mau
lành, dùng đến các vị thuốc mạnh như Mã Tiền Bả
Đậu để khu phong, tất con bịnh bị hành hạ chịu
không nỗi. Do đó bút giả khuyên chú mỗi đêm nên
thử lạy Tiểu Sám Hối theo Kinh Pháp Hoa, rồi quì
tụng Vãng Sanh hăm mốt biến, đoạn niệm Phật độ
năm trăm câu để cầu tiêu tội, và nguyện cho các
mối tiền oan được mau siêu thoát. Cứ hành trì
như thế trong một thời gian, nếu thấy yên ổn, có
thể lần lượt tăng thêm. Chú sa di y theo lời,
quả nhiên trạng thái ấy dứt tuyệt.
Trên đây là những nghiệp tướng khảo đảo bên
trong, nếu không biết giác ngộ uyển chuyển phá
trừ, tất sẽ thành ra chướng nạn.
2. Ngoại Khảo: - Đây là những chướng cảnh bên
ngoài làm duyên khó khăn thối đọa cho hành giả.
Chứng cảnh đó là sự nóng bức, ồn ào, uế tạp,
hoặc chỗ quá rét lạnh hay nhiều trùng kiến muỗi
mòng. Gặp cảnh này cũng nên uyển chuyển, đừng
chấp theo hình thức, chỉ cầu được an tâm. Chẳng
hạn như ở cảnh quá nóng bức, chẳng ngại gì mặc
áo tràng mỏng lễ Phật, rồi ra ngồi chỗ mát mà
trì niệm, đến khi xong lại trở vào bàn Phật phát
nguyện hồi hướng. Hoặc gặp chỗ nhiều muỗi, có
thể ngồi trong màn thưa mà niệm Phật. Như ở miền
bắc Trung Hoa vì thời tiết quá lạnh, các sư khi
lên chánh điện tụng kinh, cũng phải mang giày vớ
và đội mũ cẩn thận. Có hàng Phật tử vì nhà
nghèo, làm lụng vất vả, đi sớm về khuya, hoặc nợ
nần thiếu hụt, rách rưới đói lạnh, vợ yếu con
đau, không có chỗ thờ cúng trang nghiêm. Trong
hoàn cảnh ấy sự tu tập thật ra rất khó, phải có
sự nhẫn nại cố gắng như bà lão ăn xin niệm Phật,
mới có thể thành công. Hoặc có người vì nhiều
chướng nghiệp, lúc không tu thì thôi, khi sắp
vào bàn Phật lại nhức đầu chóng mặt sanh đủ
chứng bịnh, hay có khách viếng thăm và nhiều
việc bất thường xảy đến. Gặp những cảnh như thế,
phải cố gắng và khéo uyển chuyển tìm phương tu
hành. Sự cố gắng uyển chuyển tùy trường hợp sai
biệt mà ứng dụng không thể nói ra hết được. Nên
nhớ gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ, phải chú trọng
phần tâm đừng câu nệ phần tướng mới có thể dung
thông. Cõi Ta Bà ác trược vẫn nhiều khổ lụy, nếu
không có sức cố gắng kham nhẫn, tất sự tu hành
khó mong thành tựu.
3. Nghịch Khảo: - Trên đường đạo, nhiều khi hành
giả bị nghịch cảnh làm cho trở ngại. Có người bị
cha mẹ anh em hay vợ chồng con cái ngăn trở hoặc
phá hoại không cho tu. Có vị thân mang cố tật
đau yếu mãi không lành. Có kẻ bị oan gia luôn
theo đuổi tìm cách mưu hại. Có người bị vu oan
giá họa, khiến cho ngồi tù chịu tra khảo hoặc
lưu đày. Có vị bị sự tranh đua ganh ghét, hoặc
bêu rao nhiều tiếng xấu xa, làm cho khó an khó
nhẫn. Điều sau này lại thường xảy ra nhiều nhứt.
Những cảnh ngộ như thế đều do sức nghiệp. Lời
xưa từng nói: "Hữu bất ngu chi dự, hữu cầu toàn
chi hủy." Câu trên hàm ý nghĩa: có những tiếng
khen, những vinh dự bất ngờ, không đáng khen mà
được khen; và có những sự kiện thật ra không
đáng khinh chê, lại diễn thành cảnh khinh hủy
chê bai trọn vẹn. Để chứng minh điểm này, bút
giả xin thuật một vài việc nhỏ:
Trước đây vào thời Pháp thuộc, có một vị hòa
thượng được triều đình Huế ban cho bằng Tăng
Cang, và phong tặng hiệu chùa là Sắc Tứ. Do đó
đi đâu hòa thượng đều có xe ngựa và bê son tích
trượng theo hầu, thậm chí lúc lên xuống đò cũng
có người võng. Một tên du đảng thấy thế bất mãn
chưởi thề, rồi tuyên ngôn để đến ngày rằm tháng
bảy sẽ lên chùa xài mắng hòa thượng một trận
trước mặt các tín đồ. Đến ngày ấy, tên du đảng
sau khi uống rượu xong, ở trần vắt áo lên chùa,
gặp dịp một người Phật tử đem con qui nhờ hòa
thượng chú nguyện thả nơi ao sen. Thấy quang
cảnh ấy, y bỗng cảm động, trở về kêu đồng bọn
lên chùa quy y, rồi từ đó đi đâu cũng khen hòa
thượng là bậc hiền lành đạo đức. Cho đến việc
hầu hạ võng giá, y cũng nói là do thầy mình có
phước.
Lại câu chuyện xảy ra cách đây không lâu, có hai
Phật tử ở xa đến viếng thăm một vị thượng tọa
đồng hương đã từng quen thân từ trước. Khi đến
chùa thì vị thượng tọa vừa đi khỏi cách đó độ
mười lăm phút. Hai người gạn hỏi, ông thị giả
nói thầy vừa đi khỏi; hỏi mấy vị khác, họ không
biết bảo là mới thấy thầy ở đây. Chỉ một chút đó
mà hai Phật tử ấy sanh lòng nghi ngờ vị thượng
tọa không muốn tiếp mình, từ biệt luôn không đến
chùa, rồi đi đâu cũng chê bai vị thượng tọa nọ
gồm những điều không đức hạnh.
Thật ra, cung cách của vị hòa thượng trên không
đáng khen mà được khen. Và hành động vô tâm của
vị thượng tọa kể sau không có gì đáng chê, lại
bị hiểu lầm khinh hủy. Thế gian cho đó là điều
may rủi, thuyết nhân quả nhà Phật nhận định là
lúc nghiệp duyên tội phước hiện ra. Cổ thi có
câu:
Vẻ chi ăn uống sự thường.
Cũng là tiền định khá thương lọ là.
Một việc nhỏ đã như thế, thì tất cả các nghịch
cảnh khác đều do túc nghiệp, hoặc hiện nghiệp
xui khiến. Khi gặp những cảnh này hành giả chỉ
nên ẩn nhẫn sám hối, chớ buồn phiền oán trách mà
thối thất đạo tâm.
4. Thuận Khảo: - Có người không gặp cảnh nghịch
mà lại gặp cảnh thuận, như cầu gì được nấy,
nhưng sự thành công đều thuộc duyên ràng buộc
chớ không phải giải thoát. Có vị khi phát tâm
muốn yên tu bỗng cảnh danh lợi sắc thanh chợt
đến, hoặc nhiều người thương mến muốn theo phụng
sự gần bên. Thí dụ như người xuất gia khi phát
tâm tu, bỗng có kẻ đến thỉnh làm tọa chủ một
ngôi chùa lớn; hoặc như người tại gia thì có thơ
mời làm tổng, bộ trưởng, hay một cuộc làm ăn mau
phát tài. Đây là những cảnh thuận theo duyên đời
quyến rủ người tu, rồi dẫn lần đến các sự phiền
toái khác làm mất đạo niệm. Người ta chết vì lửa
thì ít, mà chết vì nước lại nhiều, nên trên
đường tu cảnh thuận thật ra đáng sợ hơn cảnh
nghịch. Cảnh nghịch đôi khi làm cho hành giả
tỉnh ngộ dễ thoát ly niệm tham nhiễm, hoặc phẫn
chí lo tu hành. Còn cảnh thuận làm cho người âm
thầm thối đạo lúc nào không hay, khi bừng tỉnh
mới thấy mình đã lăn xa xuống dốc. Người xưa
nói: "Việc thuận tốt được ba. Mê lụy người đến
già." Lời này đáng gọi là một tiếng chuông cảnh
tỉnh. Thế nên duyên thử thách của sự thuận khảo
rất vi tế, người tu cần phải lưu ý.
5. Minh Khảo: - Đây là sự thử thách rõ ràng
trước mắt mà không tự tỉnh ngộ. Chẳng hạn như
một vị tài đức không bao nhiêu, nhưng được người
bưng bợ khen là nhiều đức hạnh, tài năng, có
phước lớn, rồi sanh ra tự kiêu tự đắc, khinh
thường mọi người, làm những điều càn dở, kết
cuộc bị thảm bại. Hoặc một vị có đủ khả năng
tiến cao trên đường đạo, nhưng bị kẻ khác gàn
trở, như bảo ăn chay sẽ bị bịnh, niệm Phật trì
chú nhiều sẽ bị đổ nghiệp, gặp nhiều việc không
lành, rồi sanh ra e dè lo sợ, thối thất đạo tâm.
Hoặc có những cảnh tự mình biết nếu tiến hành dễ
rước lấy sự lỗi lầm thất bại, nhưng vì tham vọng
hay tự ái, vẫn đeo đuổi theo. Hoặc đối với các
duyên bên ngoài, tuy biết đó là giả huyễn nhưng
không buông bỏ được, rồi tự chuốc lấy sự buồn
khổ vào tâm.
Như có một vị sư đổ ra nhiều công của mướn thợ
chẻ đá, thợ mộc, thợ hồ, xây cất một cảnh chùa
to trên núi. Khi ngôi tự viện vừa hoàn thành,
thì sư cũng vừa kiệt sức mang bịnh nặng. Lúc sắp
chết, ông sai đệ tử võng đi quanh chùa rờ từ
viên đá buồn khóc tiếc than!
Lại trước đây có một tăng sĩ địa vị trong đạo
khá cao, tánh tình chân thật rộng rãi ưa bố thí,
nhưng vấp phải một khuyết điểm là hay tự đắc tự
kiêu. Vài chánh khách thấy được chỗ đó, đem một
nhà tướng sĩ đến giả vờ thăm chơi, rồi thuận
tiện nhìn qua khen sư nhiều phước tướng, tất
được vô số người ủng hộ, danh vọng càng thành
đạt tiến cao. Ông ấy lại nói thêm, nếu sư thích
hoạt động, sẽ thành một tay lãnh tụ, và như ở
ngoài đời có thể làm đến tổng thống. Sư nghe
xong tuy khiêm nhường đôi tiếng, nhưng lộ vẻ cực
kỳ hoan hỷ. Nhân đó, các chánh khách than vản
thời thế, thương dân chúng khổ não, vận nước suy
đồi, rồi dần dà thuyết phục lôi cuốn sư vào một
cuộc vận động chánh trị. Và cũng bởi đó, sư bị
tai nạn trong một thời gian khá lâu.
Thế nên kẻ dễ dãi nhẹ dạ thường hay bị phỉnh
gạt. Khi chưa diệt được tham vọng dễ bị người
khác dùng tiền tài, sắc đẹp hoặc danh vị cuốn
lôi. Cho đến nếu còn tánh nóng nảy khí khái, tất
dễ bị người khích động, gánh vác lấy những việc
phiền phức vào thân. Đây là những cạm bẩy của
đời mà cũng là của đạo, xin nêu ra để khuyên
nhắc cùng nhau, nếu không dè dặt những điểm đó,
sẽ vương vào vòng chướng nghiệp. Đối với những
duyên thử thách như thế, hành giả phải nhận định
cho sáng suốt, và sanh lòng quả quyết tiến theo
đường lối hợp đạo mới có thể thắng nó được.
6. Ám Khảo: - Điều này chỉ cho sự thử thách
trong âm thầm không lộ liễu, hành giả nếu chẳng
khéo lưu tâm, tất khó hay biết. Có người ban sơ
tinh tấn niệm Phật, rồi bởi gia kế lần sa sút,
làm điều chi thất bại việc ấy, sanh lòng lo lắng
chán nản trễ bỏ sự tu. Có vị công việc lại âm
thầm tiến triển thuận tiện rồi ham mê đeo đuổi
theo lợi lộc mà quên lãng đường lối tu hành. Có
kẻ trước tiên siêng năng tụng niệm, nhưng vì
thiếu sự kiểm điểm, phiền não ở nội tâm mỗi ngày
tăng thêm một ít, lần lượt sanh ra biếng trễ, có
khi đôi ba tháng hay một vài năm không niệm Phật
được một câu. Có người tuy sự sống vẫn điều hòa
đầy đủ, nhưng vì thời cuộc bên ngoài biến
chuyển, thân thế nhà cửa nay đổi mai dời, tâm
mãi hoang mang hướng ngoại, bất giác quên bỏ sự
trì niệm hồi nào không hay.
Trên đây đều là ảnh hưởng diễn biến của nghiệp
thiện ác, nhưng nó có sức thầm lôi cuốn hành giả
làm cho bê trễ sự tu trì, nên gọi là "khảo". Khi
mới tu, ai cũng có một điểm hảo tâm, nhưng lần
lượt bị những duyên nghiệp trong ngoài, một trăm
người đã rớt hết chín mươi chín. Lời xưa nói:
"Tu hành nhứt niên Phật tại tiền, nhị niên Phật
tại tây thiên, tam niên vấn Phật yếu tiền." Câu
này có ý nghĩa: sự tu hành năm đầu Phật như ở
trước mặt, năm thứ hai Phật đã về tây, sang năm
thứ ba ai muốn hỏi đến Phật hay bảo niệm Phật,
phải trả tiền mới chịu nói tới, hoặc niệm quá ít
câu. Lời ngụ ngôn này cũng chỉ vào những điểm ở
trên, hành giả cần phải lưu tâm chú ý.