Cảnh Giới Phát Hiện
Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Nội Cảnh Giới
Trên đường tu không tinh tấn dụng công thì thôi, nếu
tinh tấn dụng công, nhứt định có cảnh giới. Cảnh
giới này có trong và ngoài khác nhau. Trước tiên xin
nói về phần trong tức là Nội cảnh giới.
Nội cảnh giới cũng gọi là Tự tâm cảnh giới, vì cảnh
giới này không phải từ bên ngoài vào, mà chính do
nơi công dụng trong tâm phát hiện. Những người không
hiểu rõ lý "muôn pháp do tâm" cho rằng tất cả cảnh
giới đều từ bên ngoài đến, là lối nhận định sai lầm.
Bởi khi hành giả dụng công đến mức tương ưng, dứt
tuyệt ngoại duyên, thì chủng tử của các pháp tiềm
tàng trong tạng thức liền phát sanh ra hiện hạnh.
Với người niệm Phật trì chú, thì công năng của Phật
hiệu và mật chú đi sâu vào nội tâm, tất gặp sự phản
ứng của hạt giống thiện ác trong tạng thức, cảnh
giới phát hiện rất là phức tạp. Các cảnh ấy thường
hiện ra trong giấc mơ, hoặc ngay khi tỉnh thức đang
dụng công niệm Phật. Nhà Phật gọi trạng thái này là
"A lại da biến tướng."
* Trong giấc mơ, nếu do chủng tử ác phát hiện, hành
giả hoặc thấy các loài sâu trong mình bò ra, hoặc
thấy nơi thân có loại nhiều chân giống như bò cạp,
rết, mỗi đêm mình gở ra năm bảy con; hoặc thấy các
loài thú ma quái, cảnh tượng rất nhiều không tả xiết
được! Đại khái người nhiều nghiệp tham nhiễm, bỏn
sẻn, hiểm độc, thường thấy tướng nam nữ, rắn rết,
hoặc dị loại sắc trắng. Người nhiều nghiệp sân hận,
thường thường thấy cọp beo, hoặc dị loại sắc đỏ.
Người nhiều nghiệp si mê, thường thấy loài súc vật,
sò ốc, hoặc dị loại sắc đen. Tuy nhiên, đây chỉ nói
với tánh cách ước lược, không phải tất cả đều nhứt
định như thế.
Nếu do chủng tử lành phát hiện, hành giả thấy cây
cao hoa lạ, thắng cảnh tươi tốt trang nghiêm, mành
lưới châu ngọc; hoặc thấy mình ăn các thứ thơm ngon,
mặc đồ trân phục, ở cung điện báu, hay nhẹ nhàng bay
vượt lên hư không. Tóm lại, trong tâm của chúng sanh
có đủ chủng tử mười pháp giới; chủng tử lành hiện
thì thấy cảnh Phật, Bồ Tát, Nhơn, Thiên; chủng tử ác
hiện, thấy cảnh tam đồ tội khổ. Như người kiếp trước
có tu theo ngoại đạo, thường thấy mình phóng ra
luồng điển, hoặc xuất hồn đi dạo chơi, tiếp xúc với
các phần âm nói về chuyện thạnh suy, quốc sự. Hoặc
có khi tâm thanh tịnh, trong giấc mơ thấy rõ việc
xảy ra đôi ba ngày sau, hay năm bảy tháng sẽ đến.
Đại khái người đời trước có tu, khi niệm Phật liền
thấy cảnh giới lành. Còn kẻ nghiệp nhiều kém phước
đức, khi mới niệm Phật thường thấy cảnh giới dữ; trì
niệm lâu ngày ác tướng mới tiêu tan, lần lượt sẽ
thấy điềm lành tốt.
* Về cảnh trong khi thức, nếu hành giả dụng công đến
mức thuần thục, có lúc vọng tình thoạt nhiên tạm
ngưng, thân ý tự tại. Có lúc niệm Phật đến bốn năm
giờ, nhưng tự thấy thời gian rất ngắn chừng đôi ba
phút. Có lúc đang trì niệm, các tướng tốt lạ hiện
ra. Có lúc trong vô ý, tinh thần bỗng nhiên được đại
khoái lạc. Có lúc trong một động một tịnh, thấy tất
cả tâm và cảnh đều không. Có lúc trong một phen thấy
nghe, liền cảm ngộ lý khổ, không vô thường, vô ngã,
dứt tuyệt tướng ta và người. Những tướng trạng như
thế nhiều không thể tả xiết!
Có một Phật tử đang khi thức ngồi trong đêm tối niệm
Phật, thoạt thấy dưới đất khắp nền nhà mọc lên hai
loại hoa đỏ trắng cao tới thành giường, trên hư
không hoa rơi xuống như mưa. Có vị đang khi quì niệm
Phật, bỗng thấy trước bàn Phật hiện ra đóa hoa sen
đỏ, từ búp lần lần nở tròn, độ mười lăm phút sau
liền tan biến. Có một Phật tử đang khi niệm Phật,
cảnh giới xung quanh bỗng ẩn mất, trước mắt hiện ra
biển nước mênh mang, êm tịnh không sóng gió, trên
mặt biển mọc lên vô số hoa sen nhiều màu đóa nào
cũng to lớn; kế đó tướng biển ẩn mất, hiện ra cảnh
núi non cỏ hoa tươi tốt, cổ thụ sum sê, có một ngôi
chùa nguy nga tráng lệ; tiếp theo tướng chùa núi lại
ẩn mất, hiện ra cảnh lưới châu, kết lại rồi đứt, đứt
rồi lại kết. Đại loại có rất nhiều cảnh tướng như
thế, do bút giả đã từng nghe những vị đồng tu trần
thuật, nay chỉ kể ra đây ít chuyện để hiển minh.
* Những cảnh tướng như thế, gọi là Nội cảnh giới hay
Tự tâm cảnh giới, do một niệm khinh an hiện ra, hoặc
do chủng tử lành của công đức niệm Phật trì chú biến
hiện. Những cảnh này thoạt hiện liền mất, hành giả
không nên chấp cho là thật có mà để tâm lưu luyến.
Nếu sanh niệm luyến tiếc, nghĩ rằng cảnh giới ấy sao
mà nhẹ nhàng an vui, sao mà trang nghiêm tốt đẹp,
rồi mơ tưởng khó quên, mong cho lần sau lại được
thấy nữa, đó là điểm sai lầm rất lớn. Cổ nhơn đã chỉ
trích tâm niệm này là "gãi trước chờ ngứa." Bởi
những cảnh tướng ấy do sự dụng công đắc lực tạm hiện
mà thôi, chớ không có thật. Nên biết khi người tu
dụng công đến trình độ nào, tự nhiên cảnh giới ấy sẽ
hiện ra. Ví như người lữ hành mỗi khi đi qua một
đoạn đường, tất lại có một đoạn cảnh vật sai khác
hiển lộ. Nếu như kẻ lữ hành chưa đến nhà, mà tham
luyến cảnh bên đường không chịu rời bước, tất có
ngại đến cuộc hành trình, và bị bơ vơ giữa đường
chẳng biết chừng nào mới về đến nhà an nghỉ. Người
tu cũng thế, nếu tham luyến cảnh giới tạm, thì không
làm sao chứng được cảnh giới thật. Thảng như mơ
tưởng đến độ cuồng vọng, tất sẽ bị ma phá, làm hư
hại cả một đời tu.
Kinh Kim Cang nói:
"Phàm có những tướng đều là hư vọng; nếu thấy các
tướng chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai." (Phàm sở
hữu tướng giai thị hư vọng; nhược kiến chư tướng phi
tướng, tức kiến Như Lai). "Có những tướng" không
phải "những tướng có" thuộc về pháp hữu vi sanh
diệt, bởi các tướng ấy chẳng tự bảo rằng mình có hay
không, thật hay giả, chỉ do kẻ chưa ngộ đạo lý động
niệm phân biệt, chấp cho là có, không, thật, giả,
nên mới thành ra hư vọng. Đến như bậc tham thiền khi
nhập định thấy định cảnh mênh mang rỗng không trong
suốt, tự tại an nhàn, rồi sanh niệm ưa thích; hay
khi tỏ ngộ được một đạo lý cao siêu, rồi vui mừng
chấp giữ lấy, cũng đều thuộc về "có tướng." Và đã
"có tướng" tức là có hư vọng. "Thấy các tướng" là
thấy những tướng: lành, dữ, đẹp, xấu, dơ, sạch, có,
không, Phật, chúng sanh, cho đến cảnh năm ấm, sáu
trần v.v "Chẳng phải tướng", nghĩa là thấy mà đừng
chấp trước cũng đừng phủ nhận, cứ để cho nó tự
nhiên. Tại sao không nên phủ nhận? - Bởi các tướng
tuy hư huyễn, nhưng cũng chẳng phải là không; ví như
bóng trăng đáy nước tuy không phải thật có, nhưng
chẳng phải không có tướng hư huyễn của bóng trăng.
Cho nên trong khi tu, nếu thấy các tướng hiện, đừng
lưu ý cứ tiếp tục dụng công; ví như người lữ hành
tuy thấy cảnh bên đường, nhưng vẫn tiến bước để mau
về đến nhà. "Tức thấy Như Lai" là thấy bản tánh
Phật, thấy được đạo vậy.
* Kết yếu lại, từ các tướng đã kể trên cho đến Sự
nhứt tâm, Lý nhứt tâm, đều là Nội cảnh giới. Cảnh
giới này có hai phương diện là: tương tợ và phần
chứng. Cảnh tương tợ là tạm thấy rồi biến mất. Cảnh
phần chứng là một khi được tất được vĩnh viễn, vì đã
chứng ngộ được một phần Chân Như. Không luận Nội
cảnh hay Ngoại cảnh, phàm tương tợ đều không phải
Chân cảnh giới, mà gọi Thấu Tiêu Tức, nghĩa là thông
thấu được một phần tin tức của chân tâm. Người thật
phát lòng cầu giải thoát, chớ nên đem tướng Thấu
Tiêu Tức nhận làm Chân cảnh giới. "Thấu Tiêu Tức" ví
như cảnh trời âm u râm tối, hốt nhiên có trận gió
thổi làm mây đen tạm phân khai, hé ra một chút ánh
thái dương, kế đó mây đen lại che khuất. Lại như
người xưa cọ cây lấy lửa, trước khi lửa bật lên, tất
có tướng khói phát hiện. "Chân cảnh giới" ví như ánh
thái dương sáng suốt giữa trời trong tạnh và như cọ
cây đã lấy được lửa. Tuy nhiên, cũng đừng xem thường
Thấu Tiêu Tức, vì được tướng này, mới chứng minh xác
thật có Chân cảnh giới. Nên từ mức đó gia công tinh
tấn, thì Chân cảnh giới cũng không xa.
Ngoại Cảnh Giới
Ngoại cảnh giới là cảnh không phải do nội tâm hiện
ra, mà từ bên ngoài đến. Hoặc có hành giả thấy Phật,
Bồ Tát hiện thân thuyết pháp, khuyến tấn khen ngợi.
Hoặc có hành giả đang khi niệm Phật, thoạt nhiên tâm
khai, thấy ngay cõi Cực Lạc. Hoặc có hành giả đang
tịnh niệm thấy chư thần tiên đến, chắp tay vi nhiễu
xung quanh tỏ ý kính trọng, hoặc mời đi dạo chơi.
Hoặc có hành giả thấy các vong đến cầu xin quy y.
Hoặc có hành giả khi mức tu cao, bị ngoại ma đến thử
thách khuấy nhiễu...
* Như khi xưa có một Phật tử căn tánh ngu tối, song
thường kính niệm đức Quán Thế Âm. Một đêm nằm mơ
thấy Bồ Tát đến bảo nên thường tham cứu bài kệ sau
đây, lâu ngày sẽ được khai ngộ:
Đại trí phát nơi tâm
Nơi tâm chỗ nào tìm?
Thành tựu tất cả nghĩa
Không cổ cũng không kim!
* Như thời Trung Hoa Dân Quốc gần đây, có cư sĩ
Giang Am Nam, vào tháng ba năm Nhâm Thân (1932),
nhân khi bị bịnh được thấy cảnh Cực Lạc. Ông gượng
đau viết thư cho anh là cư sĩ Giang Diệt Viên, đại
khái như sau: "Em đau nặng. Vào khoảng ba giờ sáng
ngày hai mươi lăm tháng ba, sau một cơn sấm sét mưa
to, trời lại trong tạnh tỏ suốt như ban ngày. Nơi
phương Tây, bỗng hiện ra chân cảnh thế giới Cực Lạc
sáng mênh mang không ngằn mé. Em thấy bảy báu trang
nghiêm, bảo thọ, bảo tháp, và vô số tướng trân kỳ.
Phật ngồi giữa hư không, bảo em lên bái kiến. Nhưng
khi em đến được trước Phật, kim tướng đức Di Đà Thế
Tôn lần lần xa, tiếng nói vọng lại rất nhỏ, kế cảnh
giới đều tan biến. Chắc là do định lực của em còn
kém, nhưng từ đây em tin chắc cảnh Tây Phương Cực
Lạc là xác thật..."
* Cũng trong thời Dân Quốc, có cư sĩ Lưu Khai Nan,
biệt hiệu là Tây Tiều tiên sinh. Trước khi ông vãng
sanh, chư thần mời đến cảnh U Minh xin nhậm quan
chức; kế lại thấy chư thiên thỉnh lên cõi trời, cư
sĩ đều nghiêm sắc khước từ, bảo: "Làm quan dễ tạo
nghiệp, phước trời có lúc hết. Tôi chỉ nguyện sanh
về Cực Lạc." Ít ngày sau cư sĩ vãng sanh.
* Một sư cô quen với bút giả tu ở gần vùng Đà Lạt.
Sau thời trì chú cô đang ngồi tịnh, bỗng thấy có hai
sứ giả phong thái và cách trang phục như thần tiên,
đến cung kính mời lên non viếng cảnh. Trong cơn
định, sư cô hỏi: "Non cao, sức yếu, làm sao đi được"
Một sứ giả đáp: "Không ngại, tôi đã có cách." Liền
lấy cành cây tợ nhánh dương liễu, đập nhẹ vào mình
sư cô và bảo đi theo. Cô bỗng thấy thân thể mình
lâng lâng bay lướt trên đầu ngọn cỏ, giây phút sau
cùng tiến lên non. Đến đây thấy cảnh tòng bá thanh
u, công xòe hạt múa, xa xa có một cung điện lầu các.
Vừa khi ấy, cô thị giả ở nhà sau làm rớt đồ vật có
tiếng động mạnh. Sư cô liền chợt giác tỉnh, cảnh
giới tan mất, cảm thấy hai bắp đùi còn mỏi đau.
Những tướng trạng lược kể như trên, đều gọi là Ngoại
cảnh giới. Có người hỏi: "Thấy Phật thấy hoa sen, có
phải là cảnh ma chăng?" Xin đáp: "Nếu nhân quả phù
hợp, không phải là cảnh ma. Bởi tông Tịnh Độ thuộc
về "hữu môn", người niệm Phật khi mới phát tâm từ
nơi tướng có mà đi vào, cầu được thấy thánh cảnh ở
Tây Phương. Đến khi thấy hảo tướng đó là quả đến đáp
nhân, nhân và quả hợp nhau, đâu phải cảnh ma? Trái
lại, như Thiền Tông từ nơi "không môn" đi vào, khi
phát tâm tu liền quét sạch tất cả tướng, cho đến
tướng Phật tướng Pháp cũng đều bị phá trừ. Bậc Thiền
Sĩ không cầu thấy Phật hoặc hoa sen, mà tướng Phật
và hoa sen hiện ra, đó là nhân quả không phù hợp.
Quả không có nhân mà phát hiện, đó mới chính thật là
cảnh ma. Cho nên người tu thiền luôn luôn đưa cao
gươm huệ, ma đến giết ma, Phật đến giết Phật, đi vào
cảnh chân không, chẳng dung nạp một tướng nào cả."
Tuy nhiên, đó là chỉ nói những hành giả mới tu,
riêng bậc tu thiền cao, có khi thấy các tướng song
không phải là ma cảnh. Bởi những vị đã tu thiền
nhiều kiếp, khi tâm địa khai thông, có thể thấy được
cảnh ác đạo cùng thiên đường cho đến mười phương
Tịnh Độ và Uế Độ; vì mười phương thế giới đều ở
trong ánh sáng của chân tâm. Và người tu Tịnh Độ có
khi thấy các tướng, nhưng lại là cảnh ma, mà đoạn
Biện Ma Cảnh sau đây sẽ nói rõ.
Kết lại, Nội cảnh giới và Ngoại cảnh giới, là nói
ước theo trình độ người còn đi trên bước đường tu
tập. Đến như bậc đã chứng đạo quả, thì tâm tức cảnh,
cảnh tức tâm, vạn vật cùng ta đồng một thể không có
trong ngoài chi cả.
Biện Ma Cảnh
Như trên đã nói, người niệm Phật có khi thấy các
tướng song lại là ma cảnh; điều này chỉ cho trường
hợp nhân quả không tương ứng. Chẳng hạn như người
đang quán tướng Phật, hốt nhiên thấy tướng mỹ nữ. Kẻ
tinh tấn niệm Phật mong thấy thắng cảnh ở Tây
Phương, song chợt thấy một vùng nhà cửa ô tạp, nam
nữ cùng loài súc vật đi qua chạy lại lăn xăn. Người
mong thấy hoa sen báu, nhưng bỗng thấy một cổ xe
nhỏ. Do nhân quả không hợp nhau như thế, nên biết là
cảnh ma. Có năm trường hợp để phân biệt là cảnh ma
hay cảnh thật như sau:
1. Các cảnh nhân quả không phù hợp, quán tướng này
song thấy tướng khác, cầu cảnh nọ mà lại hiện cảnh
kia, như trên đã vừa nói. Và lại, cảnh hiện ra không
giống như trong kinh diễn tả, đều là cảnh ma.
2. Chư Phật, Bồ Tát tâm từ bi trong sạch, cho nên dù
hiện tướng quỉ thần đến thử thách, ta vẫn cảm thấy
an nhiên thanh tịnh. Trái lại, bản nghiệp các loài
ma là phiền não hiểm ác, nên dù hiện tướng Phật đến
khuyên dạy, ta tự cảm thấy xao động nóng nảy không
yên.
3. Ánh sáng của Phật làm cho ta cảm thấy êm dịu mát
mẻ, lại không có bóng, không chói mắt. Ánh sáng của
ma làm cho ta chói xót đôi mắt, bứt rứt không yên,
và có bóng. Cho nên Kinh Lăng Già nói:
Phật địa là tối thắng
Trong sạch mầu trang nghiêm
Chiếu hiệu như lửa hừng
Ánh sáng đến khắp nơi
Rực rỡ không tổn mắt
Xoay vần độ ba cõi.
4. Lời thuyết pháp của Phật, Bồ Tát hợp với kinh
điển, thuận theo chân lý. Lời của ma trái lẽ phải,
không đúng với kinh Phật đã chỉ dạy.
5. Khi thắng tướng hiện ra, muốn khảo nghiệm, hành
giả chỉ chánh ý tụng Bát Nhã Tâm Kinh, hoặc nhiếp
tâm trì chú niệm Phật. Nếu là thánh cảnh, càng niệm
lại càng rõ ràng, vì vàng thật không sợ lửa. Nếu là
ma cảnh, trì niệm một hồi nó liền ẩn mất, bởi tà
không thể lấn chánh.
* Phải lấy cả năm điều như trên để xét nghiệm, chớ
không thể chỉ một hai điều. Vì có những thiên ma
hoặc thần tiên theo ngoại phái, muốn dắt dẫn ta
hướng về đường lối của họ, nên giả hiện tướng Phật
Bồ Tát để thuyết pháp. Tuy môn tu của họ không phải
là con đường cứu cánh giải thoát, song họ có nghiệp
lành, hoặc sức thiền định khá cao, nên hào quang
phát ra cũng làm cho ta được mát mẻ êm dịu. Lại lối
thuyết pháp của họ đôi khi cũng khuyên làm lành giữ
giới, ăn chay niệm Phật, song có một vài điểm sai
khác không hợp với kinh Phật, phải nhận định kỹ và
phải hiểu giáo lý mới biết được. Chẳng hạn như họ
cũng khuyên ăn chay niệm Phật, nhưng lại dạy phải
vận hành câu niệm Phật khắp châu thân gọi là "chuyển
pháp luân" để khai thông mạch Nhâm, Đốc, và mở Nê
Hoàn Cung. Đây là lối thuyết pháp của hàng ma ngoại
đạo. Hoặc có loài ma hiện ra tướng cao tăng bảo:
"Phật đồng, Phật xi măng không độ được nước, vì
xuống nước phải chìm; Phật tượng, Phật gỗ không độ
được lửa, vì gặp lửa phải bị cháy; chỉ có Phật tâm
mới không bị vật chi làm hoại. Tu được Phật tâm
thanh tịnh thì không cần tu thân và khẩu; cho nên dù
ăn thịt uống rượu, có vợ con cũng vô hại. Lối tu
thân và khẩu như giữ giới, ăn chay, tụng kinh, trì
chú, niệm Phật, là những cách khổ hạnh bó buộc vô
ích." Đây là lời thuyết pháp của hạng tinh mị lâu
năm, hoặc loài ma ái dục. Có những hạng ma ngoại đạo
công năng tu khá cao, có thể dùng sức thiền định gia
bị, khiến cho hành giả thân tâm được an định trong
vòng bảy ngày, hoặc hai mươi mốt ngày. Nhưng lối
thuyết pháp của họ không siêu thoát, kết cuộc chỉ
trong vòng ngã chấp.
* Cổ đức đã bảo: "Thấy ma không ma, ma liền tự hoại;
thấy quái không quái, quái liền tự bại." Câu này có
nghĩa: nếu thấy ma quái mà lòng không xao động sợ
hãi, giữ chánh niệm được vững vàng, hoặc chí tâm
niệm Phật, loài ma quái ấy không làm chi được, sẽ tự
bỏ đi. Chẳng những khi thấy ma quái phải như thế, mà
dù cho lúc tu hành được một phần kết quả, hay thấy
thắng tướng, cũng đừng nên quá bi cảm, kinh ngạc
hoặc vui mừng. Ví như ta có hạt châu làm rớt dưới
đáy hồ, vì nước đục nên dò kiếm mãi vẫn mất tích.
Nay nước lắng trong lại tìm thấy được, hạt châu ấy
nguyên là của đã có, việc chi đến đổi phải kinh
ngạc, vui mừng? Người tu nếu tâm không bình tỉnh,
quá bi thương, tất bị loài bi ma ám nhập làm cho
thương khóc mãi chẳng thôi. Như quá vui mừng, cũng
bị loài ma hoan hỷ ám nhập, làm cho cười mãi như
điên cuồng. Lại, hành giả niệm Phật tuy cũng mong
được thấy thánh cảnh, nhưng đừng quá mơ tưởng ước
ao, bởi niệm tức là đã cầu rồi. Nên giữ tâm trạng
điềm tỉnh, "cầu mà không cầu, không cầu mà cầu", mới
không bị sự cầu mong làm xao động. Cứ chí tâm niệm
Phật, lâu ngày niệm lực thanh tịnh đạo cảm ứng giao
thông, tất thấy được thánh cảnh. Nếu mãi để lòng
mong ước, đó tức là vọng tưởng, ma sẽ thừa cơ len
lỏi vào để phá hoại.
* Vào khoảng Thanh mạt bước sang thời Dân Quốc, ở
Trung Hoa có ông Ngụy Tịch Phủ vốn là thiền hữu của
cư sĩ Dương Nhân Sơn, Ngụy Tịch Phủ tu tập thiền
định gần ba mươi năm, một hôm bỗng được Thiên Nhãn
Thông. Ban sơ ông thấy những vật ngoài tường vách,
kế lại thấy rõ những việc xung quanh vài ngoài mươi
dặm như ở trước mắt. Biết mình đã đắc Thiên Nhãn,
ông rất kinh ngạc vui mừng! Ban đầu chỉ thấy thôi,
sau lại nghe rõ cả tiếng người và cầm thú ở ngoài
xa. Đó là Thiên Nhĩ Thông tùy theo phát hiện. Lần
hồi những sự vật ngoài mấy ngàn dặm, cũng đều thấy
nghe được. Sau đó những việc chưa phát hiện, ông vẫn
thấy nghe và hiểu biết rõ ràng. Đây là cảnh chứng
của Túc Mạng Thông. Bấy giờ phe đảng của Hồng Tú
Toàn thuộc nhóm Thái Bình Thiên Quốc chưa khởi sự
đánh Thanh triều, nhưng Ngụy Tịch Phủ đã thấy trước
chiến cuộc xảy ra ở Quảng Tây lần hồi đến Tô Châu,
nhơn dân chết vô số. Bởi mục kích nhiều trạng thái
chết chóc rất thê thảm, ông quá xúc động, gặp ai
cũng thương khóc bảo: "Đại loạn sắp đến nơi rồi, dân
chúng sẽ bị tàn lục khổ sở đáng thương xót, biết làm
sao?" Lúc đó mọi người nghe ông nói thế, ai cũng cho
là điên. Cư sĩ Dương Nhân Sơn bấy giờ ở kinh sư
thường gần gũi ông, nên biết rõ việc ấy. Kế đó giặc
xảy ra thật. Đến khi loạn bình rồi, Dương Nhân Sơn
cư sĩ gặp Ngụy Tịch Phủ ở Dương Châu mấy lần, thấy
ông vẫn còn khóc lóc. Sau Nhân Sơn gặp cư sĩ Đinh
Phước Bảo, trần thuật lại sự việc và nói: "Đó là
cảnh bi ma ám nhập. Phàm người tu đến lúc đắc lực,
Thiên Nhãn Thông ngẫu nhiên phát hiện, nên soi về tự
tánh, đừng để cho sắc trần làm lay chuyển. Nên biết
các thần thông ta vẫn sẵn có, không nên quá mừng rỡ
kinh ngạc cho là sự lạ kỳ."
* Trong Trúc Song Tùy Bút Lục, Liên Trì đại sư có
thuật lại câu chuyện:
- Một thiền sư cất am tu gần khe suối. Đêm nọ đang
lúc tĩnh tọa, sư nghe thấy hai con quỉ ngồi bên bờ
suối nói với nhau rằng: "Ngày mai vào lúc xế chiều,
có người đội mão sắt đi qua cầu suối này, tôi sẽ dìm
cho chết đắm để thay thế." Con quỉ kia bảo: "Mừng
giùm anh sẽ được thoát ly, tôi còn phải chịu lạnh
lẽo chờ đến hai năm sau mới có người thế mạng."
Thiền sư nghe xong lưu ý. Trưa hôm sau, một trận mưa
to đổ xuống, nước dâng ngập cả suối cầu. Xế lại mưa
còn lâm râm, quả nhiên có người đầu đội cái chảo
gang, lần dò muốn vượt qua cầu suối về nhà. Sư liền
đón lại thuật rõ sự việc nghe thấy. Người này cả
kinh quay trở lại. Tối hôm đó, thiền giả nghe con
quỉ nói: "Sắp được thoát ly mà bị ông thầy tu này
phá hoại, đêm nay tôi phải báo thù mới được!" Sư
nghe xong, liền nhiếp tâm nhập chánh định, thấy quỉ
ra vào và đi xung quanh am mấy lượt như có ý tìm
kiếm. Do sức chánh định, quỉ tìm mãi không thấy được
thiền sư, sau cùng chán nản bỏ đi.
Trên đây là hai câu chuyện "bi ma" và "khước ma".
Xin ghi lại cho chư liên hữu thêm phần ý thức trên
đường tu niệm.
Các Loại Ma
Ba tiết Nội cảnh giới, Ngoại cảnh giới, Biện ma cảnh
vừa viết xong, có một liên hữu đến thăm thấy bút giả
đang duyệt xem lại, liền xin đọc cho nghe. Sau khi
nghe qua, vị này yêu cầu nói rõ thêm về các loại ma
để những bạn đồng tu biết mà phòng ngừa. Thật ra,
trong ba tiết trên đã nói khái quát về các cảnh
giới, trong ấy có ma cảnh; nếu hành giả nắm được
cương yếu, tự có thể giữ vững tâm và đối trị với mọi
cảnh duyên phá hoại. Nhưng thể theo lời yêu cầu đó,
nhân tiện cũng xin trình bày tổng quát về các loại
ma như sau:
"Ma" tiếng Phạn
gọi Ma La, Trung Hoa dịch là Sát, bởi nó hay cướp
của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người
tu. "Ma" cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành
giả thối đạo tâm, cuồng loạn mất chánh niệm, hoặc
sanh tà kiến làm điều ác rồi kết cuộc bị sa đọa.
Những việc phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu
tình đến Niết Bàn, gọi là Phật sự. Các điều phá hoại
căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong
vòng sống chết luân hồi, là Ma sự. Người tu càng
lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng hung
hiểm cường thạnh. Ma tuy nhiều, nhưng kết yếu chỉ có
ba loại là: Phiền Não Ma, Ngoại Ma và Thiên Ma.
* Phiền Não Ma chỉ cho các phiền não tham nhiễm, hờn
giận, si, mê, khinh mạn, nghi ngờ, ác kiến; cho đến
các thứ ma: năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám
giới. Loại ma này cũng gọi là Nội ma, do lòng mê
muội điên đảo sanh ra, nên phải dùng tâm chân chánh
sáng suốt giác ngộ mà giải trừ. Phàm phu tự mình đã
có những nghiệp riêng, lại do công nghiệp sống chung
trong khung cảnh, mà người xung quanh phần nhiều
tánh tình hiểm ác, nghiệp chướng lẫy lừng, nên dễ
động sanh phiền não. Có kẻ không chịu đựng nổi sự
lôi cuốn của ngũ trần, nên bị sa ngã. Có người vì
nghịch cảnh, khiến cho bi thương sầu não, chí tiến
thủ tiêu tan. Những sự việc này xui khiến người tu
nhẹ thì ưu sầu, uất ức sanh đau bịnh; nặng thì chán
nản bỏ đạo, hoặc phẫn chí tự tận; nguy hại hơn nữa,
tất đến chỗ đối với hàng xuất gia tại gia đều mất
hết mỹ cảm, tránh xa chán ghét, sanh việc khinh rẽ
chê bai, không tin nhân quả, làm điều ác rồi phải
đọa tam đồ.
Muốn đối trị thứ ma này, hành giả phải quán xét
phiền não là hư huyễn, xao động, nóng bức, trói
buộc, tối tăm, chỉ làm khổ cho người và mình. Dứt
phiền não, ta sẽ trở về chân tâm tự tại giải thoát,
mát lặng sáng trong, an vui mầu nhiệm. Đối với sự mê
chấp từ năm ấm cho đến mười tám giới cũng nên quán
như thế. Trong Kinh Pháp Hoa, đức Phật bảo: "Các
ngươi chớ nên tham đắm sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp thô tệ. Nếu mê đắm tham trước, tất bị nó thiêu
đốt." Khi xưa đức Văn Thù hỏi một vị thiên nữ:
"Ngươi xem mười tám giới như thế nào?" Thiên nữ đáp:
"Như thấy kiếp lửa đốt thế gian!" Đây là những lời
cảnh giác để phá trừ loại ma phiền não.
Phiền não ma hay Nội ma, nếu không chế phục được,
tất sẽ chiêu cảm đến Ngoại ma ở ngoài đến phá. Lời
xưa nói: "Trong cửa có tiểu nhơn, ngoài cửa tiểu
nhơn đến. Trong cửa có quân tử, ngoài cửa quân tử
đến." Lại như khi ăn trộm đào ngách muốn vào nhà,
gia chủ hay được tỏ ra bình tỉnh răn trách, tất nó
phải sợ hãi bỏ đi. Nếu chủ nhà kinh sợ rối rít năn
nỉ, đó chính là thái độ khuyên rước trộm vào nhà
vậy.
* Ngoại Ma là những loài quỉ thần yêu mị bên ngoài.
Người tu khi có đôi chút công phu, liền bị nó đến
thử thách phá khuấy. Loài này có thể chia thành ba
hạng là: Bố Ma, Ái Ma và Não Ma.
1. Bố Ma là loài ma ưa khủng bố làm cho người kinh
sợ. Thứ ma này thường hóa hình cọp, sói, rắn, rít,
hoặc các loài thú hung dữ kỳ lạ, hay hình ác quỉ ghê
rợn để dọa nhát người tu. Những hình tướng này biến
huyễn vô cùng, hoặc không đầu, nhiều đầu, nhiều tay,
nhiều mắt; hoặc mình người đầu thú, mình thú đầu
người, hoặc cầm khí giới, hoặc phung lửa đỏ. Nếu
hành giả kinh hãi, liền bị nó phá làm mất chánh
niệm, lắm khi sanh điên cuồng. Gặp cảnh này, nên
nghĩ các tướng đều giả dối, ma chỉ có thể hủy diệt
huyễn thân chớ không thể phá hoại được chân tâm. Suy
xét như thế rồi liền bình tĩnh không sợ chết, an
nhiên chuyên tâm niệm Phật hoặc trì chú, nó sẽ tự
rút lui.
2. Ái Ma là loài ma khích động lòng ái dục cho đến
tâm tham nhiễm cảnh ngũ trần. Chúng hóa hình nam, nữ
lõa lồ xinh đẹp; hoặc hình cha mẹ anh em, kẻ thân
mến; cho đến thân Phật, Bồ Tát tướng tốt trang
nghiêm để khuyến dụ. Nếu người thích ăn ngon, chúng
hóa sơn hào hải vị hương thơm ngào ngạt đem dâng;
người ưa bảo vật, chúng hiện hình thú lạ ngậm châu
ngọc đến hiến tặng. Tùy tâm niệm hành giả ưa thích
điều chi, nó liền hiện ra thứ ấy. Chúng có thể dùng
ma lực khiến cho người tu được tà định, tà trí, tài
biện thuyết, phép thần thông biết quá khứ, vị lai.
Những kẻ không hiểu cho là đã chứng đạo quả, thảy
đều tin phục; song kỳ thật người kia trong tâm điên
đảo, chuyên làm phép quỉ mê hoặc thế gian.
Có một nhà sư Việt Nam tu tại chùa Bàng Long bên
Lào, trong khi thiền định thấy một nhóm mỹ nữ lõa
lồ, nắm tay nhau nhảy múa. Sư trấn định tâm không
nổi, liền thành khẩn niệm Phật, tướng ấy mới tan.
Khi xưa, ở chùa núi Chung Nam tại Trung Hoa, có một
vị sư đang tham thiền, nhân khi trời lạnh bụng đói,
động niệm tưởng ăn; bỗng thấy một thiếu phụ bưng
thức ăn đến cúng dường. Thiếu phụ quì sớt đồ ăn vào
bát, thỉnh sư nên dùng liền kẻo nguội lạnh, mất
ngon. Sư vì đói muốn thọ dụng ngay, nhưng nghĩ chưa
đến giờ thọ trai, nên nhẫn nại bảo hãy tạm để một
bên, chờ đúng giờ rồi sẽ ăn. Thiếu phụ nghe nói, có
vẻ hờn giận bỏ đi. Giây lâu sau đúng ngọ, sư giở bát
ra thấy trong ấy toàn là dòi bò lúc nhúc. Chừng ấy
ông mới tỉnh ngộ, biết vừa động sanh vọng niệm, liền
rước lấy cảnh ma; may nhờ có chút định lực mới khỏi
ăn đồ dơ và phạm giới sát.
Lại một vị sư cũng tu thiền trong non, thấy mình lẻ
loi cô quạnh, nên sanh vọng tưởng muốn được một ít
người cùng ở cho vui. Vừa đâu có bà lão dẫn hai cô
gái trẻ đẹp, bảo nhà ở dưới làng chân núi, tìm đến
am tranh cầu xin dạy đạo. Vị tăng ban sơ không nghi
ngờ, liền thuyết pháp khai thị. Tới lui như thế lâu
ngày, một hôm bà lão thưa bạch xin cho hai cô gái
làm thị giả lo việc giặc giũ cơm nước để sư đỡ nhọc.
Sư nghe nói thoáng sanh lòng ngờ lạ, liền nghiêm
trách từ chối. Ba người đó có vẻ hờn thẹn bỏ đi. Sư
lén theo dõi qua một khúc quanh bỗng chợt mất bóng,
đến xem thì đã cùn đường, lại không có nhà cửa chi
cả, chỉ thấy ba gốc cổ thụ, một to hai nhỏ. Ông suy
nghĩ biết đây là yêu tinh cổ thụ làm quái; muốn đem
búa chặt đốn hoặc nổi lửa thiêu đốt để dứt trừ hậu
hoạn. Vừa nghĩ đến đó bỗng thấy ba người hiện ra cầu
sám hối và xin tha mạng.
Thế nên biết, tâm yên cảnh lặng, vọng khởi ma sanh,
người tu phải ghi nhớ điều này.
3. Não Ma là loại ma chuyên phá rối, làm não loạn
người tu. Có giống tinh mị mỗi loài đến theo giờ của
nó, đại khái mỗi giờ có ba loài, mười hai giờ thành
ba mươi sáu loại tinh thú. Như giờ Dần đến, tất là
loài cọp, beo, gấu; giờ Mẽo đến là loài mèo, thỏ,
cáo; giờ Thìn đến là loài rồng, cá, thuồng luồng...
Theo trong Tọa Thiền Chỉ Quán có thứ quỉ Du Lạp Kiết
Chi, Trung Hoa gọi là Đôi Dịch, đầu mặt như cây đàn
tỳ bà, bốn mắt, hai miệng, thường ưa khuấy động phá
rối người tu. Chúng chờ khi người đang tụng niệm,
hóa ra loài sâu trùng, hoặc bò lên khắp đầu mặt;
hoặc chun vào miệng, lỗ mũi, mắt, lỗ tai; hoặc chui
vào nách, bụng của hành giả mà cắn, chích. Đôi khi
chúng kêu vang vào lỗ tai, làm thành tiếng ồn náo,
nhức óc; hoặc chợt ôm giữ người, quơ tìm thì không
đụng thấy. Chúng còn hóa ra cảnh ngũ trần hoặc
thuận, hoặc nghịch, hoặc không thuận nghịch, biến
huyễn khôn lường, làm cho hành giả loạn động chẳng
biết đâu mà nhận thức, dễ mất định tâm. Muốn đối trị
với ba mươi sáu loài tinh thú, cứ theo giờ kêu tên
của nó mà quở trách; với ma Đôi Dịch, nên tụng tam
quy ngũ giới hoặc giới bổn, bởi chúng là thứ quỉ
phạm tội phá giới. Làm như thế chúng liền ẩn mất.
Hoặc cách đối trị tổng quát là nên nhiếp tâm vào
chánh định, hay chuyên chí trì chú niệm Phật, chúng
sẽ biến tan.
Gặp cảnh ma chướng quá nhiều, người xưa còn có
phương pháp là sắm hai mặt gương soi, rồi nhập thất
bốn mươi chín ngày, chuyên tụng chú Đại Bi hoặc chú
Chuẩn Đề gia trì vào trong gương. Xong, treo hai tấm
gương trên cao chiếu nghiêng xuống nơi chỗ thường
ngồi trì niệm, một để trước mặt, một ở sau lưng. Nếu
loài ma đến liền bị thâu bắt hiện hình vào gương,
chừng ấy hành giả muốn đuổi đi hay hành phạt gì tùy
ý. Gương phép này lâu lâu phải dùng vải sạch lau
chùi và gia trì thần chú một lần. Làm như thế nó
chẳng những nhắc nhở cho sự trong sáng của tâm linh,
mà còn tăng thêm phần ứng nghiệm. Đây là cách dùng
gương để đối trị nội ma và ngoại ma theo kinh nghiệm
của tiền nhơn.
Để nói rộng thêm, Ngoại ma còn là những ma về bàng
môn ngoại đạo. Theo chỗ nhận thấy của bút giả cùng
nhiều đồng bạn, những vị kiếp trước hoặc kiếp này đã
tu theo ngoại đạo, sau trở lại quy đầu Phật pháp;
hoặc những vị tuy chỉ nương về Tam Bảo, nhưng xưa
kia ông bà cha mẹ đều theo bàng môn, thường hay bị
ngoại ma phá rối. Bởi lối tu của ngoại đạo đều không
rời phiền não hữu lậu, còn trong vòng tự cao chấp
ngã, tham đắm quyền danh, nên hàng ngoại đạo hay quy
tụ bè phái, không muốn cho người có ít nhiều liên hệ
với phe mình tu theo đạo khác. Bút giả có người bạn
xuất gia, tánh nhu hòa hiền hậu, nhưng khi tu hành
bị ngoại ma theo phá mãi. Tiếc vì ông bạn này còn
vương hạt giống ngoại đạo không chí tâm dùng Phật
pháp đối trị với tà pháp. Trong lúc cùng quẩn vì ma
phá, thầy đi nhiều nơi tìm sự cứu độ với các người
tu theo ngoại phái. Kết cuộc thầy lạc hẳn về ngoại
đạo, bề ngoài là hình thức tăng già, nhưng bên trong
lại chuyên tu về luyện điển, bác phá sự lễ Phật tụng
kinh, cho là chấp tướng.
Lại có một nữ Phật tử, tánh tình rất tốt, song
thường lâm cảnh ngoại ma quấy nhiễu. Một độ nọ,
trong lúc đang tu, cô bị ma ngoại đạo vây khổn, và
nghe tiếng nói: "Ông cha mi đều là người tu theo
phái Ngũ Hành của chúng ta, sao mi không trở về gốc
cũ, lại đi theo đạo Phật?" Cô kinh hãi chí tâm niệm
Phật, mỗi câu niệm Phật thấy có một làn ánh sáng
phát ra che phủ thân mình, bọn ma không làm chi
được. Chúng tức giận bảo: "Mi đừng cậy có phép Phật
mà tự đắc tự kiêu, sẽ có người trưởng thượng của
chúng ta đến đây cho mi biết thủ đoạn!" Nói xong,
chúng liền rút lui. Khi ấy cô bỗng nghe tiếng một vị
thiện thần bảo: "Bọn chúng ganh hờn vì cô quy y Tam
Bảo, không theo đạo ông cha mà thờ cúng chúng nó.
Ngay bây giờ cả hai tay cô nên kiết ấn Kim Cang
quyền, bấm ngón tay cái vào lóng gốc ngón áp út và
nắm chặt lại. Cứ giữ y như thế rồi thành tâm trì chú
hoặc niệm Phật mãi, vì giây lát sẽ có người lớn của
bọn chúng đến đây, dùng phép ngũ lôi đánh và bắt hồn
cô. Vây cánh chúng rất đông, tôi chỉ giúp đỡ phần
nào thôi, bởi cô thế không làm sao xua đuổi bọn nó
nổi. Sức của cô cũng chỉ có hạn, sợ e lâu ngày chẳng
kham chống trả, tốt hơn nên vào chùa tu mới tránh
khỏi nạn." Cô liền y theo lời dặn, nắm tay lại kiết
ấn và trì chú Đại Bi. Giây lát bỗng nghe tiếng ồn ào
đông đảo, rồi có một làn chớp từ trên đánh xuống
nặng nề như búa bổ, nóng rát rêm nhứt cả đầu. Cô
liền buông bỏ tất cả ý niệm, liều mạng chí tâm trì
chú, không còn biết cảnh giới bên ngoài ra sao, giây
lâu nghe xung quanh lặng lẽ, thân tâm trở lại trong
trạng thái yên ổn bình thường.
Sau đó, cô nương vào chùa, nhưng vì còn bà thân già
hay đau yếu không ai săn sóc, nên bắt buộc phải về
nhà lo phần sanh kế để phụng dưỡng. Một khoảng thời
gian cách xa không gặp lại, bút giả nghe tin cô hay
nói chuyện hư huyền, và xướng ra làm bịnh, biết cô
chống không nỗi nên đã bị ma ám nhập, chỉ riêng thầm
thương xót thở than! Cho nên những vị trước kia có
liên hệ với ngoại phái sau trở về tu Phật, nên nhìn
gương trên mà lưu tâm cẩn thận.
* Thiên Ma là loại ma ở cõi Tha Hóa Tự Tại, thuộc
tầng thứ sáu của trời Lục Dục. Loại ma này có phước
báo, hưởng sự vui mầu nhiệm cao tột của ngũ trần,
cho đó là cảnh khoái lạc tuyệt đối, nắm quyền hạn về
dục nhiễm, không muốn ai thoát khỏi phạm vi ấy. Khi
hành giả đạt đến mức tu khá cao, tâm quang phát lộ,
ánh sáng chiếu thấu lên cõi trời Tha Hóa làm cho
cung điện ma rung động, chúng liền phát giác và vì
sợ e cho có người giải thoát, quyến thuộc mình sẽ bị
giảm bớt đi, nên tìm cách phá hoại. Chúng hiện ra
nhiều cảnh, hoặc hăm dọa, hoặc khuyến dụ, hoặc giúp
cho sức tà định tà trí cùng thần thông cốt để gạt
gẩm; lại thay phiên nhau rình rập không giây phút
nào xa rời để chờ cơ hội thuận tiện. Nếu hành giả có
một niệm sơ hở, liền bị chúng ám nhập, xúi giục làm
những điều trái đạo đức, đời tu kể như đã hư tàn.
Trong Luận Khởi Tín, Mã Minh Đại Sĩ từng khuyên dạy:
"Trong khi hành giả tịnh tu, thường bị các thiên ma,
ngoại đạo, hoặc quỉ thần làm não loạn. Chúng hiện
các hình tướng ghê rợn để khủng bố, hoặc tướng nam
nữ xinh đẹp mong quyến rũ. Có khi chúng hiện thân
Phật, Bồ Tát hay chư Thiên đủ các tướng tốt trang
nghiêm; hoặc nói các môn Đà Ra Ni; hoặc nói pháp bố
thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí
huệ; hoặc nói các pháp bình đẳng, không, vô tướng,
vô nguyện, khen ngợi cảnh không oán không thân,
không nhân không quả, cứu cánh rỗng không vắng lặng,
bảo đó là chân Niết Bàn... Hoặc chúng làm cho hành
giả biết đời trước của mình, suốt việc quá khứ vị
lai (túc mạng thông), thấu rõ tâm niệm mọi người
(tha tâm thông), cho đến được biện tài vô ngại.
Chúng khiến người tu tham luyến danh lợi thế gian,
tánh tình thất thường, hay giận, hay cười, ưa ngủ,
nhiều bịnh, dễ xót thương xúc cảm, có khi rất tinh
tấn, lắm lúc lại trễ nãi biếng lười. Hoặc chúng xui
hành giả sanh tâm nghi ngờ không tin, nhiều lo nghĩ,
bỏ pháp tu căn bản trở lại tu các tạp hạnh, đắm
nhiễm những việc triền phược ở thế gian. Hoặc chúng
làm cho hành giả được một ít phần tương tợ như Tam
Muội, có thể ở trong định từ một ngày cho đến bảy
ngày, thân tâm an vui không biết đói khát; song đó
là do sức tà chứng của ngoại đạo gia bị, không phải
thật Tam Muội. Hoặc lại khiến cho hành giả ăn uống
không chừng độ, khi nhiều khi ít, sắc mặt biến đổi
luôn. Khi gặp những cảnh như trên, người tu phải
dùng trí huệ quán sát, gắng giữ chánh niệm, đừng
sanh tâm chấp trước mà lạc vào lưới tà. Phải kiên
trì như thế mới xa lìa được ma chướng."
* Kết lại, nếu nói ước lược hơn, chỉ có Nội ma và
Ngoại ma; Thiên ma cũng nhiếp thuộc về loài Ngoại
ma. Nhưng sở dĩ lập Thiên ma thành một loại riêng,
là vì muốn cho hành giả lưu ý đến sự phá hoại nguy
hiểm tinh vi của nó. Ngoài Phiền não ma, Ngoại ma,
Thiên ma như trên, trong kinh còn có nói Bịnh ma và
Tử ma. Bởi cơn đau bịnh thường làm cho hành giả tiêu
giảm công phu, lại tu chưa đến đâu rồi chết có thể
khiến người thối thất đạo quả, nên mới gọi là "ma".
Nhưng Bịnh ma và Tử ma, đại ý chỉ cho sự chướng ngại
của bịnh và chết thuộc thân tứ đại trên đường tu,
không có tính cách phá hoại khuấy rối để giết hại
đạo tâm theo nghĩa "ma" chân thật. Vì thế nên đây
lược qua không đề cập đến.
Sức tu của người thời nay, phần nhiều bị Phiền não
ma hoặc Ngoại ma phá hoại, chưa đủ để cho Thiên ma
phải ra tay. Loại ma này chỉ đến với những vị tu
cao. Nếu Thiên ma quyết phá, những vị sức tu tầm
thường khó có hy vọng thoát khỏi. Trong Kinh Lăng
Nghiêm, vì thương đường tu nhiều hiểm nạn, đức Phật
khuyên các hành giả tham thiền nên kiêm trì mật chú,
để được nhờ thần lực gia hộ, thoát khỏi nạn ma thành
tựu chánh định. Ấn Quang đại sư đã bảo: "Mới xem
qua, dường như Kinh Lăng Nghiêm khác quan điểm với
Tịnh Độ, nhưng xét nghĩ sâu mới thấy kinh này trong
vô hình đã khen ngợi tuyên dương Tịnh Độ. Tại sao
thế? Bởi bậc đã chứng đệ tam thánh quả A Na Hàm, còn
có thể bị ma cảnh làm cho thối đọa; thì sự niệm Phật
cầu sanh Tịnh Độ càng nổi bật thêm tánh cách trọng
yếu, trong ánh sáng nhiếp hộ của đức A Di Đà không
còn nạn ma."
Cho nên xét luận trên đường hành đạo, khi chưa được
sanh về Cực Lạc, thì tu Tịnh Độ cũng có thể bị ma
chướng. Song phần nhiều đó là do hành giả không hiểu
giáo lý, chẳng khéo trị tâm, để Nội ma phát khởi
khiến chiêu cảm Ngoại ma đến phá hoại. Nếu giữ được
tâm bình tỉnh, thì với oai lực công đức của câu hồng
danh, ngoại ma không làm chi được, và phiền não cũng
lần lần tiêu trừ. Vì thế người tu Tịnh Độ, ma cảnh
nếu có cũng là phần ít. Trái lại, người tu thiền ma
cảnh hiện nhiều, bởi chỉ nương vào tự lực. Bậc Thiền
Sĩ phải đủ năm điều kiện sau đây, mới mong đường tu
được thành tựu: Một, là giới hạnh tinh nghiêm; hai,
căn tánh lẹ làng suốt sáng; thứ ba, phải hiểu rõ đạo
lý, khéo phân biệt tướng chánh, tà, chân, vọng; bốn,
ý chí mạnh mẽ vững bền, và năm, là phải nương bậc
thiện tri thức thông kinh điển, đã có kinh nghiệm tu
thiền nhiều năm, để nhờ sự hướng dẫn. Nếu thiếu năm
điều kiện đó tất dễ bị ma nạn. Tiên đức đã bảo: "Khô
mộc đường tiền thác lộ đa!" Câu này ý nói: trong cơ
thiền có rất nhiều duyên lạc lối. Vì thế tu thiền
muốn được thành tựu, phải là bậc lợi trí thượng căn.
Bậc tôn túc tông Thiền khi xưa, lúc truyền pháp cũng
căn dặn: "Phi bậc thượng thượng căn. Đừng dễ dàng
hứa nhận." (Phi thượng thượng căn. Thận vật khinh
hứa). Lời nói này đủ chứng minh cho điều nhận xét
trên.
Trong Luận Khởi Tín, sau khi kết hợp tổng quát về
tinh yếu của pháp Đại Thừa, và trình bày xong đường
lối tu tập, Mã Minh Bồ Tát lại bảo: "Cõi Ta Bà phiền
não cang cường, chánh tín khó vững, không thường
được gặp Phật nghe pháp, đường tu nhiều hiểm nạn
chướng duyên. Nên biết Như Lai có phương tiện thù
thắng, dạy cầu sanh về cõi Tịnh Độ ở tha phương. Như
trong khế kinh nói: nếu chuyên tâm niệm Phật A Di Đà
đem công đức tu hồi hướng cầu sanh Tây Phương, thì
sẽ được về thế giới Cực Lạc, thường thấy Phật nghe
pháp, không còn thối chuyển. Nếu hành giả y theo
đường lối này tu tập, quyết định sẽ được vào chánh
định tụ."
Như trên, ta thấy chuyên tâm niệm Phật là phương
tiện mầu nhiệm để thoát khỏi nạn ma, mau thành tựu
chánh định.