Cách Đối Trị Hôn Trầm Tán Loạn
Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Người tu có lúc tâm tư lạc vào trạng
thái mê mờ, nặng nề muốn ngủ; đó là vọng chướng hôn
trầm. Hoặc có lúc miệng tuy niệm Phật, song tâm lại
vẩn vơ tưởng chuyện đâu đâu; đó là vọng duyên tán
loạn. Hôn trầm và tán loạn hai chướng duyên này rất
nguy hại, vì nó phá hoại người tu, khiến cho không
thể vào chánh định.
Nhiều vị trong lúc đang hành trì, vọng tưởng thoạt
nhiên chìm lặng, câu niệm Phật vẫn nghe đều đều, tâm
tư êm dịu quên cả nóng bức, hoặc sự cắn đốt của muỗi
mòng. Trạng thái này thường thường kéo dài từ nửa
giờ đến một giờ đồng hồ, có khi ra mồ hôi ướt cả áo
mà không hay; đến lúc chợt giác tỉnh mới cảm biết
trong người nóng bức khó chịu. Hành giả thấy thế
đừng vội mừng cho rằng tâm mình được an định, công
phu đã có đôi phần thành tích. Thật ra đó chỉ là
trạng thái hôn trầm thuộc phần vi tế nhẹ nhàng. Cổ
nhơn đã bảo: "Nhè nhẹ hôn trầm khôn phát giác. Trọn
ngày hạng quỉ mãi sinh nhai!" Trong trường hợp này
hành giả phải đề khởi tinh thần, dụng công chặt chẻ,
vừa niệm vừa soi vào bên trong mới phá trị nó được.
Theo chỗ kinh nghiệm, đại khái khi hôn trầm sắp kéo
đến, tất trước tiên có vọng niệm tán loạn nổi lên.
Cũng có lúc hôn trầm và vọng tưởng đồng thời sanh
khởi. Nhưng đây là hiện tượng thô, rất dễ phát giác.
Đến khi hôn trầm vi tế sắp hiện, trước tiên một loại
tạp tưởng vi tế nổi sanh, hành giả cảm biết có một
điểm mê mờ từ sau ót kéo lên đỉnh đầu, kế xuống đôi
mắt và sau rốt vào tâm tạng. Hôn trầm đi đến đâu tất
nơi đó bị ảnh hưởng, như đến đầu thì hơi gục xuống,
đến mắt, đôi mắt nhắm lại; đến tâm tạng, tâm liền mê
mờ. Về loại hôn trầm nhẹ, phải có trí tinh tế mới
nhận xét được.
* Vọng tưởng cũng có hai phần: thô và tế. Vọng
tưởng thô ai cũng biết, bởi hành tưởng nó rất rõ
ràng. Người xưa bảo: "Mới tu sợ vọng tưởng, tu lâu
sợ hôn trầm." Lời này duy đúng một phần, không được
cứu cánh lắm, vì đó chỉ nói về phần tán loạn thuộc
vọng tưởng thô. Đến như về phần vọng tưởng vi tế,
người tu già dặn cũng phải e ngại. Bởi khi niệm Phật
dụng công chặt chẻ kín đáo, tạp tưởng thô phù cố
nhiên phải lặng chìm, song rất khó nhận được tướng
qua lại của phần vọng tưởng vi tế. Ví như một ao
nước đục, khi bọt nổi lên mặt ao ta mới nhận thấy.
Còn phần khí thể nhỏ nhẹ từ dưới đáy ao được cổ động
lên, hoặc sôi tim nhỏ trên mặt nước, hoặc đến nửa
chừng rồi không lên được, muốn thấy rõ nó, cần phải
có một ao nước thật trong. Người niệm Phật lâu, đến
trình độ nước tâm trong lặng, mới thấy biết được
vọng tưởng vi tế. Bạch Thánh pháp sư, một buổi sáng
từ nơi giường bước lại ghế ngồi, trong khoảng chừng
ba giây đồng hồ, đã phát giác trong tâm mình nổi lên
đến vài mươi vọng niệm sai biệt. Chừng ấy Ngài mới
chứng minh được lời nói trong kinh Phật: "Một niệm
có chín mươi sát na, một sát na có chín trăm sanh
diệt." Đây là vọng tưởng thuộc loại vi tế.
* Nhân tiện xin nhắc lại một câu chuyện về vọng
tưởng vi tế, cho các bạn đồng tu thêm phần nhận
thức: Quang Huệ và Giới Diễn là hai vị thiền sư đều
ngộ đạo. Một hôm trong khi đồng ngồi thiền, nơi tiềm
thức của ngài Giới Diễn thoạt nổi lên một niệm sắc
ái, Ngài liền diệt trừ; song bên kia Quang Huệ thiền
sư đã hay biết. Sau khi xuất định, ngài Quang Huệ
làm bài kệ có ý trêu cợt ngài Giới Diễn. Giới Diễn
thiền sư buồn thẹn, liền thâu thần nhập diệt. Ngài
Quang Huệ hối hận, gọi đệ tử đến phó chúc rằng: "Bạn
ta trong khi thiền định có một niệm sắc ái, sau tất
lụy về sắc; vì phiền ta mà thị tịch, sau sẽ phá hoại
Tăng Bảo. Lỗi ấy một phần do ở nơi ta, nếu ta không
theo hóa độ, tất sẽ mang lấy hậu quả." Dặn dò xong,
Ngài cũng viên tịch theo luôn. Sau Quang Huệ chuyển
thân làm thiền sư Phật „n; Giới Diễn chuyển kiếp làm
Tô Đông Pha. Đông Pha do kiếp trước có tu nên làm
quan, thông minh trí huệ mà cũng đa tài đa tình. Ông
có đến bảy người thiếp, và thường đem sự thông minh
bác lảm của mình mà vấn nạn các vị thiền sư. Về sau
bị ngài Phật „n chiết phục, ông mới quay lại đường
lối tu Phật. Cho nên vọng tưởng vi tế, người tu lâu
cũng phải e ngại là thế. Tiên đức có câu:
Công phu không thiếu cũng không dư.
Muôn kiếp tham si chữa dễ trừ!
Vậy người tu khi có chút cảnh giới tốt chớ vội
khoe khoang tự đắc, phải nhìn gương ngài Giới Diễn.
Và cũng đừng vội tự thị chê bai kẻ khác, mà phải xem
gương Quang Huệ thiền sư.
* Hôn trầm và vọng tưởng vi tế, người tu lâu tự
biết lối giải trừ. Nơi đây, chỉ lược bàn qua cách
đối trị về phần thô. Thông thường, khi loạn tưởng
nhiều, hành giả nên ngồi yên nhiếp tâm niệm Phật.
Lúc hôn trầm đến, nên đứng lên vừa niệm vừa kinh
hành. Cứ dùng hai oai nghi này thay đổi mãi, lâu
ngày hai chướng duyên ấy sẽ tiêu trừ. Theo chỗ kinh
nghiệm, lắng tai ghi nhận rành rõ từ tiếng từ câu
niệm Phật theo lối Phản Văn Trì Danh, có lẽ là
phương pháp kiến hiệu nhứt để đối trị tán loạn. Và,
Lễ Bái Trì Danh, là phương thức tối thượng để đối
trị với mối chướng hôn trầm nặng nề.
Nhưng, mỗi hành giả đều có chỗ kinh nghiệm và
thích hợp riêng. Trên đây chỉ lược đưa ra vài quan
điểm để góp phần khuyến ích.