Bốn Môn Tam Muội
Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Người niệm Phật khi đi đến chỗ tuyệt
đỉnh tận cùng duy có một định thể là Niệm Phật Tam
Muội. Đây là cảnh hư linh sáng lặng, vọng giác tiêu
tan, hành giả duy còn trụ tâm nơi tướng hảo hoặc
hồng danh của Phật. Nhưng tuy nói trụ mà thật ra vô
trụ, vì âm thanh sắc tướng đương thể như huyễn,
chính đó là không. Tướng Tam Muội ấy như thế nào? -
Theo Liễu Dư đại sư thì khi hành giả chuyên nhất
niệm Phật, quên hết thân tâm ngoại cảnh, tuyệt cả
thời gian không gian, đến lúc sức cực công thuần,
ngay nơi đương niệm trần vọng bỗng thoạt tiêu tan,
tâm thể bừng sáng, chứng vào cảnh giới vô niệm vô
bất niệm. Cảnh ấy như hư không mây tan, trời xanh
một vẻ, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm,
không thấy biết mới là sự thấy biết chân thật, có
thấy biết tức lạc theo trần. Đến đây thì nước bạc
non xanh đều là chân đế, suối reo chim hót toàn diễn
diệu thừa, tâm quang bao hàm muôn tượng mà không trụ
một pháp, tịch mà chiếu, chiếu mà tịch, đều còn đều
mất, tuyệt đãi viên dung...
Cảnh giới Tam Muội đại để là như thế, khó tả nên
lời, duy chứng mới thể nghiệm được. Niệm Phật Tam
Muội vẫn là một thể, nhưng để đi vào định cảnh ấy,
người xưa đã căn cứ theo kinh, y nơi ý nghĩa và oai
nghi hành trì mà chia thành bốn môn như sau:
1. Bát Chu Tam Muội: - Bát Chu có nghĩa là Phật
Lập. Hành trì môn Tam Muội này, có ba oai lực phù
trợ: oai lực của Phật, oai lực của pháp Tam Muội, và
oai lực công đức của người tu. Khi thật hành Bát Chu
Tam Muội, phải lấy chín mươi ngày làm một định kỳ.
Trong thời gian ấy, ngày đêm hành giả chỉ đứng hoặc
đi, tưởng đức Phật A Di Đà hiện thân đứng trên đảnh
mình đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp; hay
miệng thường niệm danh hiệu Phật, tâm thường tưởng
Phật không xen hở. Khi công thành, trong Tam Muội
hành giả thấy đức A Di Đà và chư Phật mười phương
hiện ra đứng trước mình khuyến tấn khen ngợi.
Bát Chu cũng gọi là Thường Hành Đạo. Người tu khi
đi, mỗi bước mỗi tiếng đều không rời danh hiệu Phật,
ba nghiệp hành trì không gián đoạn như dòng nước
chảy. Pháp này công đức rất cao, song chỉ bậc thượng
căn mới kham tu trì, hạng người trung hạ và tinh lực
yếu kém không thể thật hành nổi.
2. Nhất Hạnh Tam Muội: - Nhất hạnh có nghĩa là
chuyên nhất về một hạnh. Khi tu môn Tam Muội này,
hành giả thường ngồi và chỉ chuyên nhất quán tưởng,
hoặc niệm danh hiệu đức A Di Đà. Lại tuy chỉ tu một
hạnh mà được dung thông tròn đủ tất cả hạnh, nên
Nhất Hạnh cũng gọi là Viên Hạnh. Từ pháp Tam Muội
này cho đến hai môn sau, ba hạng căn cơ đều có thể
tu tập.
3. Pháp Hoa Tam Muội: - Đây là một môn Tam Muội
trong mười sáu Tam Muội như Kinh Pháp Hoa phẩm Diệu
Âm Bồ Tát đã trần thuật. Theo ý chỉ của Thiên Thai
Tông, thì ba đế viên dung là Pháp, quyền thật không
hai là Hoa. Ví như hoa sen khi cánh hoa (quyền) chưa
nở, mà gương sen (thật) đã thành, gương với cánh
đồng thời; nơi một đóa hoa mà gồm đủ ý nghĩa quyền
và thật vậy.
Nói theo tông Tịnh Độ thì tức niệm là Phật, tức
sắc là tâm; một câu niệm Phật gồm cả ba đế, nhiếp cả
thật quyền. Nếu tỏ ngộ lý này mà niệm Phật, gọi là
tu hạnh Pháp Hoa Tam Muội. Khi tu môn Tam Muội này,
hành giả dùng hai oai nghi ngồi và đi mà thay đổi để
quán Phật hoặc niệm Phật, kỳ cho đến khi nào chứng
nhập vào chánh định. Pháp nghi tu tập này lại có
phần dễ hơn Nhất Hạnh Tam Muội ở trên.
4. Tùy Tự Ý Tam Muội: - Pháp thức này có nghĩa là
tùy tâm hoặc đi đứng, hoặc nằm ngồi, đều nhiếp niệm
không rời danh hiệu đức A Di Đà để tu chứng vào Tam
Muội. Hành nghi đây lại còn có tên là "Lưu Thủy Niệm
Phật". Ví như ngọn nước nơi dòng sông cứ liên tục
chảy mãi, dù gặp cây đá ngăn cản nó chỉ dội lại rồi
cũng tìm lối chảy đi. Thông thường người tu theo môn
này, cứ mỗi buổi khuya lễ Phật A Di Đà bốn mươi tám
lạy, Quán Âm, Thế Chí và Hải Chúng mỗi danh hiệu đều
bảy lạy, kế quỳ xuống sám hối. Rồi từ đó cho đến
tối, lúc đi đứng nằm ngồi đều niệm Phật, hoặc lần
chuỗi ghi số, hoặc niệm suông, đến trước khi đi ngủ,
lại lễ Phật một lần nữa và đem công đức tu trong
ngày, mà phát nguyện hồi hướng vãng sanh. Trong khi
hành trì nếu có tiếp xúc với các duyên, khi qua rồi
vẫn trở lại niệm Phật. Pháp tu này tuy tùy tiện dễ
dàng, nhưng phải khéo tránh bớt duyên và có tâm bền
bĩ mới mong thành tựu.