Bốn Môn Niệm Phật
Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Niệm Phật không phải chuyên chỉ về
miệng niệm, mà dùng tâm để tưởng niệm, cũng là niệm
Phật. Cho nên trong môn Niệm Phật ngoài phương pháp
Trì Danh, còn có ba pháp khác nhau nữa là: Thật
Tướng, Quán Tưởng và Quán Tượng.
1. Thật Tướng Niệm Phật, tức là nhập vào đệ nhất
nghĩa tâm, là niệm tánh Phật bản lai của chính mình.
Đây là quán pháp thân thật tướng của Phật, kết quả
sẽ chứng được Chân Như Tam Muội. Phương pháp này vẫn
thuộc về Thiền, nhưng cảnh giới do tâm Thiền hiển lộ
lại là Tịnh Độ, nên cũng nhiếp về Tịnh Độ. Pháp này
không gồm thâu bậc trung, hạ căn, và nếu không phải
là bậc thượng thượng căn, tất không thể ngộ nhập. Vì
thế trong tông Tịnh Độ ít có người đề xướng, mà phần
hoằng hóa lại thuộc về các vị bên Thiền Tông. Nhưng
theo thiển ý: khi còn đi trên đoạn đường hành trì
chưa đạt đến địa vị viên giác, thì tất cả pháp môn
đều thuộc về phương tiện, niệm Phật cũng là phương
tiện mà tham thiền cũng là phương tiện. Theo ba kinh
Tịnh Độ, đức Thích Tôn mở phương tiện chỉ bày cõi
Cực Lạc của Phật A Di Đà, khuyên chúng hữu tình nên
niệm Phật cầu sanh về thế giới ấy để không còn bị
luân hồi, mượn cảnh duyên thắng diệu tiếp tục tu
hành mau tiến lên Phật quả. Niệm Phật tinh chuyên
cũng tỏ ngộ như bên Thiền Tông, nhưng điểm chánh yếu
của môn Niệm Phật là cầu vãng sanh, còn tỏ ngộ được
bao nhiêu cũng thuộc về phần thứ yếu. Cho nên pháp
Thật tướng niệm Phật, luận về chỗ cứu cánh, vẫn
nhiếp thuộc Tịnh Độ. Nhưng nếu nói đến phương tiện
vãng sanh nó vẫn chưa chính thức thuộc về Tịnh Độ,
như ý nghĩa ba kinh Tịnh Độ mà đức Thích Tôn đã đề
xướng. Có lẽ do điểm này nên chư Tổ bên Tịnh Tông
chỉ đề cập để cho rộng thêm về nghĩa lý Tịnh Độ, mà
không rộng tuyên hóa để khuyên người tu chăng?
2. Quán Tưởng Niệm Phật, là chiếu theo Kinh Quán
Vô Lượng Thọ, để quán tưởng y báo chánh báo nơi cõi
Cực Lạc. Trong kinh này có dạy mười sáu phép quán,
nếu quán hạnh được thuần thục, thì lúc mở mắt hay
nhắm mắt hành giả đều thấy cảnh Cực Lạc hiện tiền
tâm thần dạo chơi nơi cõi tịnh, khi mạng chung quyết
định sẽ vãng sanh. Công đức của pháp này lớn lao
không thể nghĩ bàn, nhưng vì cảnh quán quá vi tế sâu
mầu, nên ít người hành trì được thành tựu. Bởi đại
để trong ấy có năm điều khó. Điều thứ nhứt, nếu căn
độn tất khó thành tựu. Điều thứ hai, nếu tâm thô tất
khó thành tựu. Điều thứ ba, nếu không biết khéo dùng
phương tiện xoay chuyển trong khi tu, tất khó thành
tựu. Điều thứ tư, nếu ghi nhận ấn tượng không sâu,
tất khó thành tựu. Điều thứ năm, nếu tinh lực yếu
kém, tất khó thành tựu. Trong năm điều kiện này, ít
có người được đầy đủ, nên phép Quán tưởng xét lại
cũng thuộc về môn khó hành trì.
3. Quán Tượng Niệm Phật, là phương thức đem một
bức tượng Phật A Di Đà để trước mặt, ghi nhận mọi
nét của bức tượng ấy, rồi quán tưởng cho đến khi dù
không có tượng, lúc mở mắt nhắm mắt đều thấy hình
tượng Phật hiện rõ nơi trước. Phương pháp này cũng
khó, vì cần phải có tinh lực mạnh, ký ức sâu, và trí
phương tiện khéo. Đã có người áp dụng cách thức này,
nhưng vì không khéo dùng phương tiện thay đổi, bị hư
hỏa xông lên, mang chứng bịnh nhức đầu khó trị.
Nhưng xét lại dùng pháp Quán tượng để vãng sanh,
trong kinh không thấy nói. Đây chỉ là cách thức phụ
giúp cho sự trì danh hiệu Phật, để hành giả tâm
không tán loạn, dễ được chánh niệm mà thôi. Nếu
người tu, với lòng tinh thành, cũng có thể được cảm
ứng, tiêu tội nghiệp sanh phước huệ, từ nơi hình
tượng giả mà thấy được Phật tướng thật và được vãng
sanh.
4. Trì Danh Niệm Phật, là phương pháp niệm ra
tiếng hay niệm thầm bốn chữ hoặc sáu chữ hồng danh
"Nam Mô A Di Đà Phật." Trì bốn chữ "A Di Đà Phật"
được điểm lợi dễ nhiếp tâm; trì đủ sáu chữ được điểm
lợi dễ phát khởi sự kính thành cơ cảm. Phương pháp
này trong kinh Phật Thuyết A Di Đà, đức Thích Tôn đã
đề xướng, hiện đang được thông dụng nhứt.
* Xét qua bốn phương pháp niệm Phật, pháp Thật
Tướng và Quán Tượng trong ba kinh Tịnh Độ không thấy
nói, chỉ có Kinh Niệm Phật Tam Muội, quyển Phổ Hiền
Quán Hạnh Ký và một vài kinh luận khác đề cập đến mà
thôi. Nhưng cả hai cũng chỉ là phương tiện thứ yếu,
để nói rộng thêm về giáo nghĩa niệm Phật, không phải
đường lối chánh thức của môn Tịnh Độ mà chư Tổ bên
Liên Tông hằng tuyên dương. Pháp Thật Tướng duy có
tác dụng suy diễn sâu rộng về ý nghĩa niệm Phật, lại
quá cao thâm, không trùm khắp ba căn, đi lạc về bên
Thiền. Pháp Quán Tượng chỉ là cách thức phụ trợ, lại
cũng không dễ thật hành. Đối với người tu Tịnh Độ,
hai môn ấy không được thích nghi. Phương pháp Quán
Tưởng tuy do Phật tuyên dương, công đức vô lượng
nhưng chỉ để dành cho bậc thượng căn, người thời mạt
pháp ít ai hành trì được. Kết yếu, duy môn Trì Danh
Niệm Phật đã gồm khắp ba căn, lại đắc hiệu mau lẹ,
ai cũng có thể thật hành. Trì Danh nếu tinh thành sẽ
có cảm cách, hiện tiền thấy ngay chánh báo y báo cõi
Cực Lạc, tỏ ngộ bản tâm, đời nay dù chưa chứng thật
tướng, sau khi vãng sanh cũng quyết được chứng. Vì
thế „n Quang đại sư, vị Tổ thứ mười ba của Liên
Tông, đã khen:
Chỉ duy trì danh mà chứng thật tướng,
Không cần quán tưởng cũng thấy Tây Phương!
Cổ đức cũng phê luận: "Môn Tịnh Độ là con đường
tắt để chứng đạo trong các pháp môn, mà pháp Trì
Danh lại là con đường tắt trong môn Tịnh Độ." Hiện
nay phương pháp này là đường lối thông hành nhứt
trong môn Niệm Phật.