Mười Phương Thức Trì Danh
Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Như đã nói, môn Trì Danh là pháp tu
Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Nhưng Trì Danh cũng
được áp dụng với nhiều cách thức khác nhau tùy theo
căn tánh của mỗi người, mà bút giả xin gạn lọc lại
qua mấy phương pháp như sau:
1. Phản Văn Trì Danh: - Phương pháp này, miệng vừa
niệm, tai vừa nghe vào trong, kiểm soát từng chữ
từng câu cho rành rẽ rõ ràng hết câu này đến câu
khác. Nghe có hai cách, hoặc dùng tai nghe, hoặc
dùng tâm để nghe. Tuy nghe vào trong nhưng không trụ
nơi đâu, lần lần quên hết trong ngoài, cho đến quên
cả thân tâm cảnh giới, thời gian không gian, chỉ còn
một câu Phật hiệu. Cách thức phản văn, khiến cho
hành giả dễ gạn trừ vọng tưởng, mau được nhứt tâm.
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chân giáo thể phương này,
thanh tịnh do nghe tiếng. Muốn chứng vào Tam Muội,
nên như thế tu hành"; chính là ý trên đây.
2. Sổ Châu Trì Danh: - Đây là cách thức miệng vừa
niệm tay vừa lần chuỗi, ban đầu ý niệm còn ràng buộc
nơi tràng hạt, sau lần buông bỏ đi đến cảnh nhứt
tâm. Phương pháp sổ châu khiến cho niệm lực mạnh mẽ,
ví như người yếu chân đi núi, nhờ nương cây gậy mà
tiến bước lên cao mãi. Niệm cách này lại cần phải
ghi số mỗi thời hoặc mỗi ngày là bao nhiêu câu. Ghi
số có điểm lợi là bắt buộc người tu phải giữ định
số, trừ được bịnh biếng trễ; nhưng cần chú ý đừng
quá tham mau tham nhiều mà niệm không được rành rẽ
rõ ràng. Người xưa tuy niệm nhiều nhưng cũng ở trong
sự rành rõ, do nhờ hai điểm là: thuần thục và định
tâm. Ngẫu Ích đại sư vị Tổ thứ chín của Liên Tông,
từng khai thị: "Muốn đi đến cảnh giới Nhất tâm bất
loạn, không có cách chi kỳ diệu khác. Trước tiên
hành giả cần phải lần chuỗi ghi số, niệm niệm rành
rẽ rõ ràng, mỗi ngày hoặc ba muôn, năm muôn, cho đến
mười muôn câu, giữ khóa trình quyết định chẳng
thiếu, thề một đời không thay đổi. Niệm như thế lâu
ngày lần lần thuần thục, không niệm vẫn tự niệm,
chừng ấy ghi số hay không ghi số cũng được. Và niệm
như thế kèm thêm tín nguyện tha thiết, mà không được
vãng sanh, thì chư Phật ba đời đều mang lỗi nói dối.
Khi đã vãng sanh, tất cả pháp môn đều được hiện
tiền. Nếu ban sơ vì cầu cao tự ỷ, muốn tỏ ra không
trước tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại, đó
là tín nguyện chẳng bền sâu, hành trì không hết sức;
dù có giảng suốt mười hai phần giáo, giải ngộ một
ngàn bảy trăm công án, cũng là việc ở bên bờ sanh tử
mà thôi."
Lời khuyên dạy này thật là cây kim chỉ nam cho
người niệm Phật.
3. Tùy Tức Trì Danh: - Niệm Phật thầm hay niệm se
sẽ tiếng, nương theo hơi thở, mỗi hơi thở ra vào đều
một câu Phật hiệu; đó là ý nghĩa của Tùy tức Trì
Danh. Bởi mạng sống con người liên quan với hơi thở,
nếu biết nương theo đây mà niệm, thì khi sống hằng
không rời Phật, lúc lâm chung tất hơi vừa tắt, liền
về cảnh giới Liên Bang. Nhưng nên chú ý là phương
thức này khi tập đã thuần thục, cần niệm ra tiếng,
chớ không nên chỉ niệm thầm. Như thế niệm lực mới
mạnh, ý nguyện cầu sanh dễ được phát khởi. Bằng
không, ý niệm vãng sanh sẽ khó tha thiết và sợ e lại
lạc vào công dụng Ngũ Đình Tâm Quán của Tiểu Thừa.
4. Truy Đảnh Trì Danh: - Khi dùng cách này, nên
niệm nho nhỏ tiếng, mỗi chữ mỗi câu đều kế tiếp nhau
liên tỏa chặt chẽ, thành hình thế chữ sau đuổi theo
chữ trước, câu nọ gối đầu câu kia nên gọi là Truy
Đảnh. Áp dụng phương thức như thế, nhờ sự kín đáo
bền chặt, trung gian không xen hở, nên tạp niệm
không có chỗ len vào. Dùng đến pháp này, thì tình ý
khẩn trương, tâm miệng dũng tiến, oai lực của chánh
niệm bao trùm tất cả, khiến cho nghiệp tưởng vô minh
tạm thời chìm lắng, ánh mầu Tam Muội bộc phát chiếu
xa. Từ xưa người tu tịnh nghiệp trong lúc tình tưởng
mênh mang rối loạn, thường dùng cách thức này.
5. Giác Chiếu Trì Danh: - Niệm theo Giác Chiếu là
một mặt niệm Phật, một mặt hồi quang soi trở lại
chân tánh của mình. Do niệm như thế, hành giả sẽ đi
vào cảnh giới hư linh siêu tuyệt, chỉ còn cảm giác
thân tâm của mình cùng chân tâm Phật ngưng đọng
thành một khối, sáng tròn rỡ rỡ, đầy rộng mênh mang.
Khi đó phòng nhà vật dùng thảy đều ẩn mất, cho đến
thân giả tứ đại của ta cũng không biết rơi lạc vào
chỗ nào. Niệm theo đây thì báo thân chưa mãn đã
chứng tịch quang, Phật hiệu vừa tuyên liền vào Tam
Muội. Đem thân phàm phu mà dự vào cảnh thánh, thật
không chi mau lẹ hơn phương pháp trên đây. Song chỉ
tiếc, nếu chẳng phải bậc thượng thượng căn tất không
thể lãnh hội thật hành, nên phần độ cơ của cách thức
này vẫn còn sơ hẹp.
6. Lễ Bái Trì Danh: - Phương thức này là vừa lạy
vừa niệm Phật. Hoặc niệm một câu lạy một lạy, hoặc
một mặt niệm một mặt lạy, không luận câu Phật nhiều
hay ít. Cách lễ Phật lại phải hết sức nhẹ nhàng chậm
rãi, lễ niệm song hành, thân miệng hợp nhứt. Nếu
thêm vào đó ý thành khẩn tha thiết, thì thành ra ba
nghiệp đều tập trung, ngoài câu Phật hiệu không còn
một tơ hào vọng niệm. Phương pháp này có sở năng phá
trừ hôn trầm, công đức và hiệu lực rất to lớn, vì
hành giả vận dụng cả ba nghiệp để trì niệm. Cư sĩ
Vương Nhật Hựu khi xưa từng áp dụng cách trên đây,
mỗi ngày đêm ông lễ niệm trung bình là một ngàn lạy.
Nhưng dường như đây là lối niệm đặc biệt của hạng
người tâm lực tinh tấn, thiếu khả năng ấy tất khó
vững bền, bởi lạy lâu thân thể mỏi nhọc dễ sanh chán
nản. Cho nên thông thường, cách thức này chỉ hợp
kiêm dụng, khó bề chuyên dụng.
7. Ký Thập Trì Danh: - Đây là cách niệm ký số, cứ
lấy mỗi mười câu làm một đơn vị. Người hơi ngắn có
thể niệm thành hai lượt, mỗi đoạn năm câu; hoặc chia
ra ba lượt, hai đoạn ba câu một đoạn bốn câu. Sau
khi niệm đủ mười câu, đều lần qua một hạt chuỗi.
Niệm theo lối này, tâm đã niệm Phật, lại còn phải
ghi nhớ số. Như thế dù không chuyên cũng bắt buộc
phải chuyên, nếu không chuyên thì số mục liền sai
lạc. Cho nên pháp này đại để là một phương tiện
cưỡng bức cho hành giả chuyên tâm, rất có công hiệu
với những kẻ nhiều tạp niệm. „n Quang đại sư thường
khuyên các liên hữu áp dụng cách thức trên đây.
8. Liên Hoa Trì Danh: - Lấy bốn sắc hoa sen xanh,
vàng, đỏ, trắng, vừa niệm vừa tưởng, luân lưu chuyển
tiếp, là danh nghĩa của lối niệm trên đây. Hành giả
khi niệm câu Phật hiệu thứ nhứt, tưởng trước mặt
mình hiện ra một đóa sen xanh to lớn phóng ánh sáng
xanh. Câu thứ hai, tưởng hoa sen vàng phóng ánh sáng
vàng. Cho đến câu thứ ba thứ tư, là hoa sen đỏ,
trắng, màu nào phóng ánh sáng ấy. Kế tiếp tục tưởng
lại hoa sen màu xanh, cứ như thế luân lưu mãi. Đồng
thời khi hoa hiện, lại tưởng có hương sen thanh nhẹ
phưởng phất xung quanh. Bởi có nhiều hành giả trong
Liên Hoa Tông dùng mọi pháp thức vẫn khó ngăn được
tạp niệm, nên cổ nhơn mới phát minh ra lối niệm này.
Đây là cách dùng hình sắc thay đổi để buộc tâm tưởng
cho chuyên nhất, và hình sắc này lại lấy tướng hoa
sen nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc "Một câu Di Đà,
một đóa bảo liên", bởi hoa sen Tịnh Độ hiện thành
không rời hoa sen công đức của tâm niệm Phật. Và khi
mạng chung, thần thức của hành giả sẽ nương hoa sen
báu ấy mà sanh về Cực Lạc. Chư liên hữu nếu thấy có
duyên với phương thức trên đây, nên áp dụng để mau
đi vào Niệm Phật Diệu Liên Hoa Tam Muội.
9. Quang Trung Trì Danh: - Vì có hành giả khi nhắm
mắt niệm Phật, thường bất chợt thấy những hình tướng
ô uế, hoặc màu sắc đen tối xao động nổi lên, nên cổ
đức mới truyền dạy cho cách thức này. Đây phương
pháp vừa niệm Phật, vừa tưởng mình đang ngồi giữa
vùng ánh sáng trong suốt to rộng. Khi tâm đã an định
trong vùng quang minh ấy, hành giả cảm thấy thần trí
sáng suốt mát mẻ, không những tạp tưởng trừ dứt, mà
các tướng uế ác cũng tiêu tan. Rồi chánh niệm do đó
được bền lâu, và Tam Muội cũng do đó lần lần thành
tựu. Đây tuy là phương tiện đặc biệt chuyên trừ
tướng uế ác nhưng dù không có nghiệp bịnh ấy, nếu
muốn tinh thần thơ thới để đi sâu vào Niệm Phật Tam
Muội, hành giả cũng nên áp dụng cách thức này.
10. Quán Phật Trì Danh: - Pháp quán tưởng trong
Quán Kinh rất trọng yếu, công đức cực to rộng, nhưng
chưa phải là phương tiện phổ thông cho chúng sanh
thời mạt pháp hành trì. Nhưng vì không muốn bỏ công
đức đặc biệt của quán pháp, nên cổ nhơn đã thể dụng
trong mười sáu phép quán, lựa cách thức dễ tu tập
nhứt, lấy trì danh làm chánh, quán Phật làm phụ, gọi
là Quán Phật Trì Danh. Hành giả mỗi ngày sau khi
niệm Phật, lại để riêng một thời tịnh tâm quán tưởng
sắc tướng quanh minh của Phật A Di Đà. Cách quán
Phật này rút lựa phép quán thứ mười ba trong Quán
Kinh, tưởng đức A Di Đà thân cao một trượng sáu, sắc
vàng ròng, đứng bên bờ ao thất bảo. Nếu chưa quán
tưởng được ao thất bảo, hành giả có thể tưởng đức
Phật đứng trong vùng ánh sáng giữa hư không trước
mắt mình, tay trái đưa ngang ngực bắt ấn kiết tường,
tay mặt buông sè xuống theo thế tiếp dẫn. Muốn quán
Phật cho thành tựu, trước tiên nên quán đại khái
toàn thân, kế chỉ chuyên tâm quán tướng lông trắng
giữa đôi mày. Tướng bạch hào này rỗng không trong
suốt như bạch ngọc, có tám cạnh, xoay về bên hữu cao
thành năm vòng. Bạch hào là tướng căn bản trong ba
mươi hai tướng, khi tướng này quán thành, do sự cơ
cảm, các tướng kia đều lần lượt hiện rõ. Tuy nhiên,
muốn được phần chắc chắn hành giả cũng nên duyệt xem
trong kinh, để ghi nhớ rõ ba mươi hai tướng tốt của
Phật trước khi dụng công. Phương pháp trên đây sở dĩ
để Trì Danh vào phần chánh, vì nếu quán tưởng không
thành vẫn còn phần Trì Danh để bảo đảm cho sự vãng
sanh. Nhưng thật ra, Trì Danh cũng giúp quán tưởng,
quán tưởng lại phụ dực cho Trì Danh, hai phần này hổ
tương đưa hành giả đến chỗ song song thành tựu. Pháp
thức này tuy có phần khó hơn các lối trên, song nếu
thành tựu thì công đức to rộng vô biên, nên xin đưa
ra sau cùng để làm duyên khuyến tấn.
* Như trên đã lược trình mười lối Trì Danh, cũng
là mười phương pháp cốt yếu để đối trị tâm bịnh của
người niệm Phật. Trong các sách Tịnh Độ, có đưa ra
đến mấy mươi cách như: Cao Thanh Trì Danh, Đê Thanh
Trì Danh, Mang Trung Trì Danh, Nhàn Trung Trì Danh,
v.v..., nhưng đó chỉ là những lối niệm cao tiếng,
thấp tiếng, khi gấp, khi huởn, chưa có thể gọi là
một phương pháp niệm Phật. Vì thế, bút giả đã chọn
lọc lại rút ra mười cách thức căn bản, khả dĩ gọi là
"phương pháp", để đối trị mối chướng hôn trầm tán
loạn, và có thể thông dụng cho một phần lớn căn tánh
hiện thời. Trong mười pháp thức trên, các liên hữu
có thể thí nghiệm qua, và sau cùng áp dụng một lối
niệm nào mà mình thích hợp nhứt...