Giải Thích Các Điều Nghi
Trích Niệm Phật Thập Yếu của HT Thích Thiền Tâm
Những Mối Nghi
Thông Thường Về Tịnh Độ
Các điều không tin, lạm dụng và kém nhận thức như
trên, còn thuộc về phương diện đứng bên ngoài mà
nhìn vào cửa Tịnh Độ. Nơi đây xin đề cập đến những
kẻ thật ý muốn tu, hoặc đã nhập môn. Có nhiều người
thật tâm muốn niệm Phật, hoặc đã từng hành trì rồi,
nhưng vì sự học hiểu về giáo lý còn kém, nên khi
nghe kẻ khác biện luận bài bác, liền khởi lòng nghi.
Những mối nghi đó rất nhiều, nay chỉ nêu ra ba điểm
phổ thông mà lắm người thường vướng phải. Mấy điểm
ấy đại khái như: nghi Cực Lạc là quyền thuyết, nghi
pháp môn tu chứng quá dễ, nghi mình kém duyên phước
khó vãng sanh. Xin giải thích đại lược như sau:
* 1- Có kẻ thấy trong kinh điển tả cảnh Tịnh Độ quá
trang nghiêm, bỗng sanh niệm nghi rằng: - Cõi Cực
Lạc là quyền tiện của Phật nói ra để cho người hâm
mộ gắng tu làm lành lánh dữ, đại khái như thuyết
thiên đường, hỏa ngục hay cảnh Bồng Lai, để thưởng
thiện phạt ác của các giáo phái khác. Làm gì có một
thế giới từ đất đai, cây cối, lầu các đều bằng thất
bảo như: vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu,
mã não hợp thành? Lại còn thân người bằng chất ngọc
nhuyễn kim cương, hóa sanh từ hoa sen không có già
bịnh chết, các thức ăn mặc trân quý đều tùy ý niệm
hiện ra? Như thế toàn là những chuyện đâu đâu, xa
với thật tế hiện thấy trước mắt, làm sao tin được?
- Để giải thích điều này, xin đáp:
- Những ý nghĩ đó đều còn cuộc hạn theo sự nghe thấy
của tai mắt phàm tình. Người muốn học Phật không nên
đem trí phàm phu mà suy lường cảnh thánh. Đừng nói
đâu xa, ngay ở Việt Nam ta, khi cụ Phan Thanh Giản
đi sứ sang Pháp trở về thuật lại, nói bên ấy đèn
không đốt mà cháy, xe thuyền không ngựa kéo người
bơi mà tự chạy. Cụ có vịnh hai câu thi:
Bá ban xảo kế tề thiên địa.
Duy hữu tử sanh tạo hóa quyền!
Hai câu này ngụ ý khen người Pháp trăm việc hay khéo
sánh bằng trời đất, duy có sự sống chết là còn thuộc
quyền tạo hóa định đoạt mà thôi! Vua Tự Đức và triều
thần nghe nói thế đều không tin. Đến như ông Nguyễn
Tri Phương là chỗ bạn thân, cũng mĩm cười cho là cụ
Phan đi xa về nói khoác. Thử hỏi: - Vua Tự Đức cùng
triều thần đều tự nhận mình là người học thức, cho
sự việc đó tai không nghe, mắt không thấy, vượt quá
sức tưởng tượng, nên không tin. Nhưng các điều ấy
quả thật không có chăng? Lấy một việc nhỏ này suy
ra, ta thấy nếu đem những định kiến theo tai nghe
mắt thấy và sự tưởng nghĩ phàm thường mà đo lường
cảnh thánh đều thành sai lạc. Hơn nữa, nếu không có
Phật A Di Đà tiếp dẫn, tại sao nhiều người niệm Phật
khi sắp chết biết trước ngày giờ, thấy các cảnh
tướng Tây Phương, cùng Phật, Bồ Tát hiện thân đón
rước? Nếu cõi Cực Lạc là hư huyền, tại sao có những
vị tu Tịnh Độ trong lúc hiện tiền bỗng được tâm khai
thấy rõ ràng cảnh Tây Phương trang nghiêm y như lời
Phật nói? Đệ tử của Phật hay người muốn học Phật mà
không lấy lời Phật dạy trong kinh làm mực thước, thử
hỏi còn lấy chi để làm chỗ tựa nương? Cho nên do
theo Thánh Ngôn Lượng và Hiện Chứng Lượng (cách suy
lường dựa theo lời Phật nói và sự hiện chứng của
người tu), ta phải tin rằng những sự trang nghiêm ở
Cực Lạc đều có thật.
* 2- Có người nghe nói pháp môn Tịnh Độ hành trì
giản dị mà được kết quả rất mau chóng cao siêu, thì
nghi ngờ rằng: - Đâu lại có phương pháp thành Phật
quá dễ dàng như thế? Bởi đường lối thường thức của
các môn tu là Chỉ và Quán. Khi hạ thủ dụng công,
trước tu Chỉ, kế tiếp Quán; hoặc trước tu Quán, kế
tiếp Chỉ. Lần lần tiến đến "trong Quán có Chỉ, trong
Chỉ có Quán." Khi tới trình độ "Chỉ Quán không hai,
định huệ tịch chiếu" mới gọi là bước vào cảnh giới
tự tâm. Rồi từ đó về sau, nếu mỗi đời đều tiếp tục
tinh tấn tu hành, theo như trong kinh luận nói, phải
trải qua một muôn đại kiếp mới lên ngôi Bất Thối
Chuyển. Tại sao chỉ niệm một câu Phật hiệu, ngay
trong đời này lại được vãng sanh lên ngôi Bất Thối,
há chẳng phải là quá dễ dàng ư?
Đề cập đến nghi vấn nầy, chúng ta nên biết tu các
pháp môn khác chỉ hoàn toàn nương nơi tự lực, cho
nên phải khó. Riêng đường lối Tịnh Độ có hai năng
lực, là tự tâm lực và Phật tiếp dẫn lực, nên sự
thành công rất dễ. Ví như một người chân yếu, muốn
tự mình lên tận đỉnh núi cao là điều rất khó. Nhưng
nếu kẻ ấy được một vị đại lực sĩ khoác cánh tay
phăng phăng đưa bước tiến lên, thì kết quả đăng
phong nào có khó chi! Về môn Tịnh Độ cũng thế, khi
ta chuyên tâm niệm Phật tức là lúc tâm lực phát
triển. Niệm đến một lòng không loạn, là lúc tâm lực
hoàn toàn hiện bày. Đang khi ấy nghiệp lực bị hàng
phục không còn làm chướng ngại, lại được thêm Phật
lực tiếp dẫn nên tuy nghiệp chưa trừ dứt, mà được
vãng sanh. Khi sanh về Tây Phương rồi, sống lâu vô
lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, sự không thối chuyển
cho đến khi thành Phật là một điều hiển nhiên dễ
hiểu.
* 3- Có kẻ lại nghi rằng: Cảnh Cực Lạc mầu đẹp trang
nghiêm vô lượng, chẳng phải dùng ít nhân duyên căn
lành phước đức mà được sanh về. Nhìn gẫm lại mình,
căn lành phước đức còn sơ bạc, nghiệp chướng lại
nhiều, mong gì đời này được duyên tốt vãng sanh?
- Xin kính khuyên quý vị ngàn muôn lần chớ nên nghi
như thế. Bởi khi các vị lần chuỗi niệm Phật được, là
căn lành phước đức đã sâu dày rồi. Thử nghĩ lại xem,
trên thế gian này biết bao nhiêu kẻ không nghe được
danh hiệu Phật? Biết bao nhiêu người tuy nghe hồng
danh đức A Di Đà, nhưng mãi đoạt lợi tranh danh, đeo
đuổi theo các điều trần nhiễm, không chịu niệm Phật?
Nay các vị đã được nghe Phật pháp và chí tâm niệm
Phật, há không phải là có căn lành phước đức lớn đó
ư? Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Phật bảo Di Lặc Bồ Tát:
"Nếu có chúng sanh nào nghe danh hiệu đức Phật kia,
vui mừng khấp khởi, cho đến một niệm, nên biết kẻ ấy
được lợi lớn, đã đầy đủ phước đức vô thượng." Lời
này đủ chứng minh: biết niệm Phật tức là đã có nhiều
phước đức căn lành rồi. Trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục
có dẫn sự tích những người phạm tội cực ác như
Trương Thiện Hòa, Hùng Tuấn, Duy Cung và loài súc
sanh như chim bát kha, anh võ, chí tâm niệm Phật đều
được vãng sanh. Phước đức căn lành của quý vị đã
vượt xa hơn những người ác và loại súc sanh kia. Vậy
cần chi phải e ngại là ngay trong đời này không được
sanh về Cực Lạc!
Những Mối Nghi Thiệp Lý
Ngoài ba điểm nghi phổ thông như trên, còn những mối
nghi về Tịnh Độ quan thiệp tới đạo lý từ cạn đến
sâu. Các điều nghi này rất nhiều, nay chỉ xin nêu ra
các chi tiết quan trọng để giải thích, thể theo lối
vấn đáp như sau:
1) Hỏi: Môn Tịnh Độ là pháp sơ cơ, chỉ để cho kẻ ngu
dốt, căn trí thấp kém hành trì. Những người căn tánh
cao phải tu Thiền hay Duy Thức mới hợp lý. Vả lại
bậc trượng phu phải có chí hùng cường tự lập, nên
căn cứ nơi sức mình mà giải thoát; nếu cầu mong tha
lực, chẳng tỏ ra hèn yếu lắm ư?
- Đáp: Với lời hỏi này, trước tiên xin nói về căn
cơ, sau sẽ trả lời đến yếu tố tự lực tha lực.
* Pháp môn Tịnh Độ không phải chỉ để cho bậc trung,
hạ căn, mà còn thâu nhiếp cả bậc thượng thượng căn.
Bậc trung, hạ căn niệm Phật sẽ dứt được phiền não
nghiệp chướng, phát sanh phước đức trí huệ, lần lần
đi đến định cảnh, tùy công phu thấp cao mà vãng sanh
về chín phẩm sen nơi Cực Lạc. Bậc thượng căn vừa đề
khởi câu niệm Phật, liền thâm nhập vào cảnh giới
định huệ, đi đứng nằm ngồi đều ở trong Niệm Phật Tam
Muội, khi lâm chung sanh về thượng thượng phẩm ở
Liên Bang. Trong hàng tiên đức đã có vị đi vào cảnh
giới này, và trình thuật với câu:
Niết khởi sổ châu thằng sách đoạn
Thể hương phạn thục dĩ đa thời
Ý nói:
Nắm lấy chuỗi tràng trần niệm dứt,
Nghiễm nhiên thành Phật đã từ lâu.
Cho nên, câu niệm Phật thâu nhiếp hết ba căn, với
người cao nó thành cao, với người thấp nó thành
thấp.
Các bậc đại tri thức trong Phật Giáo thường phê
luận: "Pháp môn Niệm Phật gồm nhiếp cả Thiền, Giáo,
Luật, Mật." Tại sao pháp Niệm Phật lại gồm nhiếp cả
bốn môn này? - Sở dĩ có điều ấy, bởi khi niệm Phật
dứt trừ cả vọng tưởng chấp trước, đó là Thiền. Sáu
chữ hồng danh bao gồm vô lượng nghĩa mầu, vô lượng
nghĩa đều ẩn một và xuất hiện từ nơi đấy, đó là
Giáo. Niệm Phật đến cảnh giới sâu, ba nghiệp đều
trong sạch vắng lặng, đó là Luật. Câu niệm Phật có
công năng như một câu thần chú, hay giải oan, trừ
nghiệp, mãn nguyện, hàng ma đó là Mật. Như Liên Trì
đại sư, trong một năm nắng hạn lâu ngày, thay vì
niệm chú đảo võ, Ngài chỉ đi ngoài đồng gõ mõ niệm
Phật, đi đến đâu trời mưa đến đó. Và Viên Chiếu Bản
thiền sư, thay vì tham thiền, Ngài chỉ dùng sáu chữ
hồng danh mà được ngộ tánh bản lai, chứng vào Niệm
Phật Tam Muội. Cứ như đây suy nghiệm rộng sâu thêm,
câu niệm Phật cũng gồm thâu cả năm thời tám giáo,
nhiếp luôn sáu pháp Ba La Mật, như Triệt Ngộ đại sư
đã trình bày trong thiên Niệm Phật Bách Kệ.
Trong kinh lại nói: "Chí thành xưng niệm danh hiệu
Phật A Di Đà, sẽ được tiêu tội nặng trong tám mươi
ức kiếp sanh tử." Người niệm Phật nếu hằng giữ định
tâm, tất sẽ phát huệ đồng như lối tu của các pháp
môn khác. Hơn nữa, trên định tâm mà xưng danh hiệu
Phật A Di Đà, thì sự tiêu nghiệp chướng sanh phước
huệ càng cao thắng chóng mau. Vì thế, Liên Trì đại
sư đã khen pháp Niệm Phật là: đại thiền định, đại
trí huệ, đại phước đức, đại thánh hiền. Theo Quán
Kinh: người tạo tội ngũ nghịch thập ác khi lâm chung
tướng địa ngục hiện, nếu chí thành xưng danh hiệu
Phật A Di Đà cho đến mười niệm, thì Ngài liền hiện
thân tiếp dẫn sanh về Cực Lạc. Từ một kẻ cực ác, chỉ
dùng mười niệm mà được vãng sanh, lên ngay ngôi Bất
Thối Chuyển thật là điều rất hy hữu. „n Quang đại sư
đã khen: "Pháp Niệm Phật bậc cực cao niệm đến một
lòng không loạn, chứng vào Tam Muội, kẻ cực thấp chỉ
dùng mười niệm thành công, là điểm đặc sắc mà chưa
thấy pháp môn nào có."
* Về vấn đề tự lực tha lực, nếu như hiểu môn Tịnh Độ
chỉ hoàn toàn nương nơi tha lực là lầm. Người niệm
Phật phải đem hết tự lực dứt trừ phiền não, trì niệm
cho đến cảnh giới tâm mình, và tâm Phật tương ứng.
Từ cảnh giới đó, hiện thời hành giả được Phật phóng
quang thầm nhiếp thọ, khi mạng chung sẽ được tiếp
dẫn vãng sanh. Sự tiếp dẫn mới là yếu tố chánh của
tha lực, vì thế giới Cực Lạc cách xa cõi Ta Bà này
đến mười muôn ức Phật độ, còn không phải sức thần
thông đạo lực tầm thường có thể đến được, huống nữa
là phàm phu! Vì thế cần phải nhờ tha lực tức thần
lực của Phật hoặc chư thánh tiếp dẫn. Ví như một học
sinh, tự mình biết gắng hết sức chuyên học, dĩ nhiên
là điều đáng quý. Nếu trên sự chuyên học ấy, lại
được vị giáo sư giỏi kèm theo chỉ dạy, tất mức học
vấn càng cao thâm, kết quả thi đỗ sẽ là phần bảo
đảm. Trên tự lực của hành giả, thêm tha lực của Phật
gia bị tiếp dẫn cũng lại như thế. Vậy sự kiện chính
mình đã gắng hết sức để tu, lại cầu thêm tha lực cho
được kết quả mau chóng, có phải là một điều hèn yếu
lỗi lầm chăng? Sự cao diệu của môn Tịnh Độ, chính
các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh,
Long Thọ; các vị Tổ Sư như Vĩnh Minh, Trí Giả, Triệt
Ngộ, Liên Trì, cho đến nhiều đấng tôn túc ở các
tông, đều khuyến nguyện vãng sanh. Chê Niệm Phật là
thấp kém chỉ để cho bậc hạ căn tu hành tức là chê
chư Bồ Tát, Tổ Sư và các vị cao đức đã nói trên. Bảo
niệm Phật là hèn yếu, chỉ nương nơi tha lực, tức là
chưa hiểu biết chi về môn Tịnh Độ.
2) Hỏi: Cổ thi có câu:
Thân khinh luyện đắc đồng tiên hạc
Cực Lạc hoành hoành nhứt trực phi.
Ý nói:
Luyện thân nhẹ được đồng tiên hạc,
Cực Lạc bay ngang thẳng trở về!
Thế thì ta cứ tham thiền, chờ khi chứng được thần
thông, chừng ấy có thể đi về Cực Lạc, hoặc tùy ý
sang các cõi Tịnh Độ khác. Như vậy, hà tất phải khăn
khăn niệm Phật cầu về Cực Lạc làm chi?
- Đáp: Hai câu thi trên, ý nói cảnh giới cảm thông
từ hành giả dung hòa với thần lực nhiếp thọ của
Phật, chớ không phải chỉ cho cảnh giới thần thông.
Xin tuần tự giải thích hai điều ấy, trước tiên hãy
nói về cảnh giới thần thông.
* Theo trong kinh, đạo nhãn và thần thông của bậc sơ
quả Tu Đà Hoàn thuộc phạm vi một tiểu thế giới, gồm
bốn cõi ác thú, bốn đại châu, một núi Tu Di, một
nhật nguyệt, sáu cõi trời Dục, và một cõi Sơ Thiền.
Đạo nhãn và thần thông của bậc nhị quả Tư Đà Hàm ở
trong chu vị một tiểu thiên thế giới; bậc A Na Hàm,
một trung thiên thế giới; bậc A La Hán, một đại
thiên thế giới. Bậc Sơ Địa Bồ Tát, đạo nhãn thấy
được một trăm cõi Phật cùng trăm đức Phật, chứng một
trăm Tam Muội; thần lực có thể phóng ánh sáng và làm
rung động một trăm cõi Phật, đi sang khắp một trăm
Phật độ. Đạo nhãn và thần thông của bậc Nhị Địa Bồ
Tát ở trong chu vi một ngàn cõi Phật; bậc Tam Địa Bồ
Tát, một trăm ngàn cõi Phật. Cứ như thế lần lượt
tăng gấp bội lên mãi cho đến bậc đệ Thập Địa Bồ Tát
thuộc ngôi Pháp Vân, thần thông đạo lực, bao hàm vô
biên quốc độ. Từ thế giới Ta Bà này sang Cực Lạc
cách mười muôn ức Phật độ. Số ức của „n Độ thời xưa
có ba bậc, mà mức trung bình là một triệu bây giờ.
Như thế, nếu lấy mười muôn nhân cho một triệu
(100.000 x 1.000.000) thì Ta Bà cách Cực Lạc đến một
trăm ngàn triệu Phật độ. Lại về Phật độ, tức phạm vi
ứng thân giáo hóa của một vị Phật, có đức Phật lấy
một đại thiên thế giới gồm một ngàn triệu thái dương
hệ làm một Phật độ; có đức Phật lấy hai, ba hoặc
trăm, ngàn, muôn, ức cõi đại thiên làm một Phật độ;
có đức Phật lấy từ một hằng hà sa cho đến nhiều hằng
hà sa cõi đại thiên làm một Phật độ. „y là chưa kể
những khoảng trống xa cách từ Phật độ này đến Phật
độ kia. Như thế ta thấy từ Ta Bà đến Cực Lạc, chẳng
những bậc A La Hán, mà với thần thông của các vị hạ
địa Bồ Tát cũng khó nỗi tìm sang. Cho nên khi xưa
ngài Mục Kiền Liên tuy hiện thân ở ngôi A La Hán,
song kỳ thật là bậc Bồ Tát thị hiện làm Thanh Văn để
tu Bồ Tát hạnh, nghe Phật nói Kinh A Di Đà, có lúc
đã dùng sức thần thông của mình tìm sang Cực Lạc.
Nhưng Ngài tìm mãi không thấy, sau cùng lạc đến thế
giới của Phật Tu Di Tướng. Núi Tu Di cao tám muôn
bốn ngàn do tuần, mỗi do tuần trung bình là sáu mươi
dặm, Phật Tu Di Tướng và dân chúng ở cõi ấy, thân
hình đều to lớn như núi Tu Di. Khi ngài Mục Kiền
Liên đến cõi này, thấy Phật đang thuyết pháp cho đại
chúng nghe, liền đi vòng quanh trên miệng bát của
một vị tăng. Vị tăng ấy bạch với Phật rằng: có một
con trùng nhỏ giống hình người bò trên miệng bát của
mình. Phật Tu Di Tướng bảo: "Không phải thế đâu, đó
chính là vị Thanh Văn đệ tử thần thông bậc nhất của
Phật Thích Ca Mâu Ni ở thế giới Ta Bà, tên gọi là
Mục Kiền Liên." Ngài Mục Kiền Liên nghe nói thế,
liền hiện thân lớn bằng núi Tu Di, đồng với thân
lượng chúng sanh ở cõi ấy, bạch với Phật nguyên nhân
mình đi lạc đến thế giới này, và kính xin Phật dùng
thần lực đưa trở lại quốc độ Ta Bà. Như thế, ta thấy
nếu căn cứ nơi thần lực, thì thần thông không rộng
lớn, chẳng thể đi về Cực Lạc.
— Thời mạt pháp này, người tham thiền ngộ đạo còn
khó có, nói chi chứng đến Sơ Quả Tu Đà Hoàn! Khi
chưa chứng quả tất phải bị luân hồi, sự khỏi sa đọa
còn không bảo đảm, bàn đến việc mỗi đời tiếp tục
tiến tu trải qua vô lượng vô số kiếp, chờ chứng được
ngôi vị thượng địa Bồ Tát để có thể sang Cực Lạc,
phải chăng là một điều hư tưởng viễn vông? Dù có đủ
thần thông sang Cực Lạc, mà muốn ở cõi đó, phải quy
kính xưng niệm danh hiệu đức A Di Đà, mới được lưu
trụ. Ví như nhà giàu kia có một vườn hoa tươi đẹp,
sức ta có thể vượt tường đi vào, nhưng thật ra muốn
vào đó thưởng ngoạn, còn phải thưa hỏi chủ nhơn. Bởi
thế, khi xưa ngài Duy Ma Cật dùng thần thông đem
những tòa ngồi nghiêm đẹp cao bốn muôn hai ngàn do
tuần ở cõi nước Phật Tu Di Đăng Vương về nơi tịnh
thất, chỉ riêng các bậc đại Bồ Tát đã từng lễ kính
cúng dường mười phương chư Phật mới lên ngồi được.
Ngoài ra những vị tân phát ý Bồ Tát cho đến hàng
Thanh Văn đại đệ tử, tuy có thần thông dư sức vượt
cao hơn bốn muôn hai ngàn do tuần, song không thể
lên ngồi. Ngài Duy Ma Cật biết những tòa sư tử này
do công đức phước báo của Tu Di Đăng Vương Như Lai,
liền bảo với các vị ấy xưng danh hiệu quy kính đức
Phật kia, sau đó mới lên ngồi được. Thế nên biết,
muốn về cõi Cực Lạc phương Tây, sự xưng niệm đức
Phật A Di Đà, là một điều tất yếu.
* Cảnh giới tự tâm cảm thông với thần lực nhiếp thọ
của Phật là thế nào? Kinh nói: "Phật A Di Đà thường
phóng quang nhiếp thọ tất cả chúng sanh niệm Phật ở
mười phương không bỏ sót." Cho nên khi ta niệm Phật,
liền được nguyện lực quang minh của Phật âm thầm
nhiếp thọ. Lúc hành giả nhứt tâm niệm Phật, thì
nghiệp lực chìm lắng, tâm lực lộ bày, ánh sáng của
tự tâm giao tiếp với quang minh của Phật, nên hiện
tiền có thể thấy cảnh Tây Phương, hoặc thần linh dạo
chơi miền Tịnh Độ. Sức tâm nguyện thanh tịnh hướng
về Tây Phương của hành giả gọi là tự tâm lực, hay tự
lực; sức phóng quang nhiếp thọ để dẫn độ của Phật A
Di Đà gọi là Phật nhiếp thọ lực, hay tha lực. Nhờ
hai năng lực ấy nên tuy chưa được thần thông rộng
lớn mà hành giả niệm Phật có thể sanh về Tây Phương.
Khi lâm chung, người niệm Phật tùy theo công đức của
mình, hoặc thấy Phật đến tiếp dẫn, hoặc thấy Bồ Tát
hay Thánh chúng đến tiếp dẫn. Có vị tuy không thấy
chi cả, nhưng do nguyện lực của mình và sức quang
minh hướng dẫn của Phật, nên cũng được vãng sanh. Sự
quan trọng của tha lực là như thế.
3) Hỏi: Tu Tịnh Độ cần phải chứng Niệm Phật Tam
Muội, hoặc ít nữa đi đến cảnh giới nhứt tâm bất
loạn, mới được vãng sanh. Như thế người hạ căn chưa
chắc đã thực hành nổi. Vậy thì kẻ thấp kém ngu tối
làm sao được sanh về Cực Lạc? Nếu kẻ hạ căn ngu tối
không vãng sanh được, sao lại gọi pháp môn Niệm Phật
thâu nhiếp cả ba căn?
- Đáp: Thật ra với căn cơ thời nay, cảnh giới nhứt
tâm bất loạn trong lúc hiện tiền, còn không có mấy
người đi đến, huống chi là Niệm Phật Tam Muội!
Nhưng, theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ, kẻ tạo tội ngũ
nghịch thập ác khi lâm chung tướng địa ngục hiện,
chí tâm xưng danh hiệu Phật A Di Đà từ một cho đến
mười niệm, liền được Phật hiện đến tiếp dẫn vãng
sanh. Thế thì sự nhứt tâm được vãng sanh, là chỉ cho
khi lâm chung chớ không phải lúc hiện tiền. Nếu lúc
bình thời niệm Phật được nhứt tâm, nhưng sau đó lại
chuyển hướng tu theo pháp môn khác không cầu vãng
sanh, thì làm sao được về Cực Lạc? Mà muốn được nhứt
tâm khi lâm chung, thì lúc bình thời phải tập câu
niệm Phật cho thuần thục. Do bình thời thường niệm
Phật, dù chưa được nhứt tâm, nhưng chủng tử niệm
Phật dồn chứa đã nhiều, lúc sắp chết, hành giả khởi
niệm Phật nó liền phát hiện mạnh mẽ nên được nhứt
tâm. Kẻ hạ căn niệm Phật được vãng sanh, thường ở
trong tình trạng ấy.
4) Hỏi: Niệm Phật cốt để ngăn trừ vọng tâm, chận
đứng phiền não, đi đến chỗ vô niệm. Đã như thế thì
cứ để tâm thanh tịnh, lần lần sẽ tiến vào cảnh giới
vô niệm, cần gì phải niệm Phật cho nhọc sức lao hơi?
- Đáp: Điểm cứu cánh của pháp Niệm Phật là Niệm Phật
Tam Muội, chứng toàn thể bản tánh Di Đà, tức cảnh
giới Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Nhưng mục đích chánh
yếu và cấp thiết của tông Tịnh Độ, là cầu vãng sanh
để bảo đảm không còn luân hồi mê đọa, mượn hoàn cảnh
ưu thắng ở cõi Cực Lạc tu hành, cho mau tiến lên
Phật quả. Vì lẽ ấy nên hành giả của môn Tịnh Độ cần
phải xưng niệm danh hiệu đức A Di Đà. Chủ đích của
môn Tịnh Độ là như thế, không cấp thiết ở chỗ cầu
cảnh giới vô niệm, mau chứng ngộ tánh bản lai như
bên Thiền Tông.
Tuy nhiên, khi thật hành chủ đích này, hành giả phải
niệm Phật cho được nhứt tâm, nên dù không cầu vô
niệm mà cảnh vô niệm vẫn tự hiện bày. Hơn nữa, nhờ
công đức niệm Phật giúp sức cho mau tiêu nghiệp, nên
cảnh giới ấy lại càng chóng hiển lộ. — đây chúng ta
thấy mở thêm một tia sáng: muốn mau được vô niệm,
được sớm ngộ tánh bản lai, lại cần phải niệm Phật.
Đi sâu thêm, nếu là người căn tánh Đại Thừa, tất
phải hiểu niệm Phật là để thành Phật. Như chỉ hiểu
niệm Phật cốt để ngăn trừ vọng tưởng, tức đã lạc vào
Ngũ Đình Tâm Quán của Tiểu Thừa. Tại sao niệm Phật
là để thành Phật? - Bởi khi vừa đề khởi câu niệm
Phật, thì quá khứ, hiện tại, vị lai đều mất, tuy có
tướng mà lìa tướng, tức sắc là không, hữu niệm đồng
vô niệm, đi ngay vào cảnh giới bản giác ly niệm của
Như Lai, đương thể là Phật chớ còn chi nữa? Nếu cho
rằng có niệm là còn trệ nơi hữu vi thì khi đức Thế
Tôn hiện các tướng hữu vi như ăn cơm, khoác y, đàm
luận, thuyết pháp đi đứng nằm ngồi, đều trệ nơi hữu
vi và không phải là Như Lai sao? Lại nếu cho rằng
còn niệm Phật chưa phải là vô niệm, thì chư tôn đức
bên Thiền Tông khi tham thoại đầu, giảng luận, hoặc
có lúc tụng kinh, lễ bái, sám hối, kinh hành đều
thuộc về hữu tướng, không phải là thiền ư? Nên biết
đạo lý của vô vi là "làm tất cả việc hữu vi mà không
thấy có tướng làm", vô niệm cũng thế; chớ không phải
tuyệt cả hành động, ngôn ngữ là vô vi vô niệm đâu!
Bởi chẳng rõ lý này nên nhiều kẻ chấp không cho
rằng: Niệm Phật như chiếc xe chạy đi thêm chở nặng,
hoặc như trong vàng còn lẫn chì, trong cơm lẫn cát,
không được nhẹ nhàng thuần nhứt, thật đã sai lầm!
Nhưng niệm mà không niệm là cảnh giới của bậc thượng
thượng căn; nơi đây chỉ khái luận qua để giải mối
nghi chấp. Riêng bậc trung, hạ căn gắng niệm Phật
cho thuần thục cũng đã quí lắm rồi!
5) Hỏi: Thể của các pháp là không, xưa nay vẫn vô
sanh và bình đẳng vắng lặng. Khi tâm ta thanh tịnh,
dù ở Uế Độ cũng thanh tịnh; trái lại như không thanh
tịnh, tuy ở Tịnh Độ vẫn phiền não rộn ràng. Nếu đã
có sanh tất phải có diệt hay có sanh là có tử. Thế
thì bỏ Ta Bà cầu sanh về Cực Lạc, chẳng là trái đạo
lý ư?
- Đáp: Vấn đề này có hai nghĩa. Xin thể theo lời của
Trí Giả đại sư trong Thập Nghi Luận và phụ thêm đôi
chút ý kiến để giải thích, phân làm tổng đáp cùng
biệt đáp.
Về phần tổng đáp, nếu cho rằng cầu về Tịnh Độ là bỏ
đây tìm kia, không hợp với lý Chân Như bình đẳng.
Thế thì trụ Ta Bà không cầu sanh Cực Lạc, há không
bị lỗi bỏ kia chấp đây sao? Còn như bảo: "Tôi không
cầu kia cũng không chấp đây", lại cũng mắc vào lỗi
đoạn diệt. Cho nên kinh Kim Cang Bát Nhã nói: "Tu Bồ
Đề! Ông đừng nghĩ rằng: Nói phát tâm vô thượng Bồ Đề
là đoạn diệt hết tướng của các pháp. Tại sao thế? Vì
phát tâm vô thượng Bồ Đề, đối với các pháp không nói
tướng đoạn diệt."
Về phần biệt đáp, xin giải thích về lý vô sanh và
tâm tịnh.
Vô sanh cũng chính là lý bất sanh bất diệt. Bất sanh
là các pháp do nhân duyên giả hợp mà sanh, không tự
thể, nên không thật có tướng sanh. Vì nó hư huyễn,
không phải thật từ đâu sanh hiện, nên gọi là bất
sanh. Bất diệt là khi các pháp hoại diệt, cũng không
tự tánh, không bảo rằng mình hoại diệt. Vì nó không
thật có chỗ trở về, dứt mất, nên gọi là bất diệt.
Cho nên lý vô sanh hay bất sanh diệt, không phải
"ngoài các pháp sanh diệt mà có." Vì thế chẳng phải
không cầu sanh Tịnh Độ mà gọi là vô sanh, hoặc sanh
về Cực Lạc, là có tử diệt, trái với lý vô sanh đâu!
Đó là luận về lý, riêng về sự thì người sanh Tịnh Độ
tất lên ngôi bất thối, sống lâu vô lượng vô biên a
tăng kỳ kiếp. Trong thời gian ấy tiến tu đã dư chứng
quả vô sanh. Như thế đâu còn vấn đề: có sanh có
diệt, hoặc có sanh có tử mà phòng ngại!
Lý tâm tịnh cũng thế, dùng tâm thanh tịnh ở Ta Bà
hành đạo, cùng trụ tâm thanh tịnh ở Cực Lạc để tu
tiến, nào có ngại gì? Kinh Duy Ma nói: "Tuy biết các
cõi Phật, cùng với hữu tình không, mà thường tu Tịnh
Độ, để giáo hóa quần sanh." Cho nên người trí tuy
siêng cần niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, mà không chấp
có tướng sanh, vì nó không thật có; tuy biết rõ các
pháp xưa nay hằng thanh tịnh vắng lặng, mà không
ngại gì cầu sanh Tây Phương, mượn thắng duyên tu
tiến để giáo hóa loài hữu tình. Đây mới là chân vô
sanh, và cũng thật là nghĩa tâm tịnh tùy chỗ thanh
tịnh. Trái lại, kẻ kém hiểu biết bị tướng sanh ràng
buộc, nghe nói sanh liền nghĩ là thật có sanh, có tử
diệt; nghe nói vô sanh lại chấp không sanh về đâu
cả. Họ đâu biết sanh chính là vô sanh, vô sanh há
ngại gì sanh; và tâm tịnh lại có ngại gì cầu về Cực
Lạc ư? Vì không hiểu lẽ ấy, họ sanh lòng tranh chấp
thị phi, khinh chê người cầu sanh Tịnh Độ, thật lầm
lạc xiết bao!
Những Mối Nghi Căn Cứ Theo Kinh Điển
Ngoài những điều trên, lại có nhiều người học Phật,
căn cứ các lý thuyết thế giới kinh văn, mà đặt các
nghi vấn về môn Tịnh Độ. Nhân tiện, cũng xin tiếp
theo thể vấn đáp để giải quyết các mối nghi ấy.
1) Hỏi: Kinh Kim Cang nói: "Tất cả pháp hữu vi, như
mộng, huyễn, bóng, bọt". Thế thì cảnh Ta Bà đã
huyễn, mà cõi Cực Lạc cũng là huyễn. Sao không đi
ngay vào bản tâm chân thật, còn cầu về cảnh huyễn
làm chi?
- Đáp: Thật ra các cõi Uế Độ và Tịnh Độ trong mười
phương đều dường mộng huyễn; nhưng khi nào chứng
được Như Huyễn Tam Muội, mới thấy đó là hư giả. Bằng
chưa được như thế, vẫn thấy nó là thật, vẫn bị nó
chi phối, vẫn còn biết khổ vui, vào mùa nắng vẫn khó
chịu về sự nóng bức, cho đến việc rất nhỏ như con
kiến, con muỗi cắn đốt cũng vẫn còn bị đớn đau. Như
vậy sao được gọi là huyễn? Nên biết môn Tịnh Độ là
phương tiện nhiệm mầu của Phật, mượn cảnh như huyễn
an vui, để đưa chúng sanh thoát khỏi cảnh như huyễn
thống khổ dẫy đầy chướng duyên và hiểm nạn. Rồi từ
cảnh an vui như huyễn đó tiến tu dễ dàng, để mau
chứng vào cõi chân tâm thường tịch.
Lấy một thí dụ như tại cõi Ta Bà này, cảnh gia đình
hay nơi thị tứ ồn ào là huyễn, cảnh chùa am hoặc
chốn núi non vắng vẻ cũng là huyễn. Nhưng tại sao
người tu giải thoát, lại bỏ cảnh gia đình thị tứ tìm
nơi chùa am thanh vắng ở núi non? Có phải tại chốn
gia đình nhiều bận buộc, cảnh huyên náo khó nhiếp
tâm, mà nơi chùa am hay chỗ núi non thanh vắng dễ tu
chăng? Cho nên cảnh phàm tình cùng cảnh thánh chứng
khác nhau, phàm tình mà đặt mình vào cảnh thánh
chứng là điều xa vời trái với thật tế. Ta còn phàm
phu hãy cứ theo phận phàm phu mà tuần tự tiến tu,
đừng vội đem con mắt thánh nhìn nói quá cao xa,
thành ra vọng ngữ và có hại.
Khi xưa cũng có một Thiền giả cho cõi Cực Lạc là
huyễn mộng, niệm Phật cầu vãng sanh vô ích. Triệt
Ngộ đại sư nghe lời này, liền bảo: "Không phải thế
đâu! Từ bậc Thất Địa Bồ Tát trở về trước, đều tu
hành ở trong mộng. Đến như đối với mộng lớn vô minh,
thì bậc Đẳng Giác vẫn còn say ngủ. Duy riêng chư
Phật mới có thể tôn xưng Đại Giác, là những bậc hoàn
toàn thức tỉnh mà thôi. Khi tự thân đã ở trong mộng,
thì sự vui khổ vẫn uyễn nhiên, vui cũng thấy vui,
khổ còn biết khổ, sao được gọi mình là người tỉnh
mơ, cảnh là huyễn mộng? Thế thì thay vì ở trong cảnh
mộng khổ của Ta Bà, sao bằng về cảnh mộng vui nơi
Cực Lạc! Huống chi mộng ở Ta Bà là từ mộng vào mộng,
bị cảnh duyên nghiệp lực lôi cuốn, mãi luân hồi sống
chết chìm mê. Còn cảnh mộng ở Cực Lạc là từ mộng đến
giác, lần lượt sẽ thức tỉnh hoàn toàn chứng lên quả
Phật. Cho nên mộng huyễn vẫn đồng, mà duyên cảnh
mộng ở hai nơi thật chẳng đồng vậy. Thế thì sự niệm
Phật cầu vãng sanh chẳng là cần thiết lắm ư!"
Lời cổ đức giải thích như thế, thì sự cầu sanh đã
được hiển minh. Tuy nhiên, bài kệ trong Kinh Kim
Cang nói đó, vẫn còn là lời phương tiện để cho chúng
sanh lìa quan niệm chấp có theo phàm tình. Tiến một
bước cao hơn, như Kinh Đại Phẩm Bát Nhã nói: "Như
Lai vì hạng người căn tánh tối, mà nói các pháp như
huyễn vắng lặng, vì e họ sanh chấp kiến; vì hạng
người căn tánh sáng, nói tướng hảo của chư Phật, bởi
họ như hoa sen chẳng nhiễm trần." Cho nên Tu Bồ Đề
là bậc giải ngộ lý không bậc nhứt, tuyệt không danh
tướng, mà đức Thế Tôn lại thọ ký cho ông về sau
thành Phật, hiệu là Danh Tướng Như Lai. Thế thì lý
mầu không danh tướng chẳng ngoài danh tướng, tất cả
pháp mộng huyễn đều là Phật pháp chân thường. Và đi
sâu đến chỗ viên dung, như đức Lục Tổ nói, thì phàm
phu nguyên là Phật, phiền não tức Bồ Đề, tất cả vô
minh huyễn vọng đều là thể viên minh chân giác của
Như Lai tạng.
2) Hỏi: Kinh Pháp Bảo Đàn nói: "Không niệm, niệm mới
chánh. Có niệm, niệm thành tà." Như vậy, niệm Phật
có phải là tà vọng chăng?
- Đáp: Về đạo lý vô sanh vô niệm, đoạn trước đã có
nói. Nơi đây xin đáp một cách thẳng tắt: - Chẳng
phải không niệm Phật, không tụng kinh, gọi là vô
niệm. Mà thường hằng niệm Phật tụng kinh, nhưng tâm
địa rỗng không, chẳng chấp thấy mình có niệm tụng,
mới gọi là vô niệm. Trái lại, dù ngồi an tĩnh lòng
không suy nghĩ chi cả, mà còn cảm thấy biết cho
mình, có sự ngồi thiền, vẫn gọi là "có niệm". Nếu
nghĩ rằng "không niệm" là chẳng niệm Phật, tụng
kinh, thuyết pháp, không có sự suy tư, thì thành ra
gỗ đá; muốn tránh lỗi chấp có, lại lạc vào lỗi chấp
không. Thế thì đã trái với ý kinh chỉ dạy. Cho nên
đức Lục Tổ mới nói tiếp: "Có, Không đều chẳng tưởng.
Ngồi được bạch ngưu xa". Bậc cao đức bên Tịnh Độ khi
xưa, tuy hằng niệm Phật cầu vãng sanh, song chẳng
chấp tướng niệm Phật cầu sanh, nên đã có lời kệ:
Có niệm đồng không niệm,
Không sanh tức là sanh,
Chẳng phiền dời nửa bước.
Thân đến Giác vương thành
Nhưng, trên đây là nói tác phong tu niệm của bậc
thượng căn. Với hàng căn cơ trung, hạ, cứ nên gắng
công niệm Phật cho nhiều, dù còn chấp thấy mình có
niệm có tha thiết cầu sanh, cũng là điều tốt. Bởi
nếu được như thế, khi mạng chung tất vãng sanh về
Tây Phương, chừng ấy kết cuộc cũng sẽ chứng vào cảnh
giới vô niệm vô sanh, đâu có điều đáng lo ngại! Bằng
chẳng lượng sức mình, ưu cầu cao thắng, nê chấp theo
kinh văn trên, đối với đạo lý vô niệm chưa thể làm
nổi, với sự thấy có niệm Phật có cầu sanh lại không
muốn thật hành, kết cuộc cả hai đều hỏng, vẫn chỉ là
phàm phu trong vòng luân hồi thống khổ mà thôi!
- Hỏi: Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, đức Lục Tổ bảo:
"Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây
Phương. Người Tây Phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh
về cõi nào?" Như thế thì chỉ cốt làm sao diệt được
tội, cần gì niệm Phật cầu vãng sanh?
- Đáp: Đức Lục Tổ và các vị cao đức bên Thiền Tông
đứng trên cương vị truyền bá tông chỉ duy tâm, nên
mỗi lời nói phải căn cứ theo chỗ lập pháp của mình,
đều chỉ ngay vào bản tánh, và đều lấy tâm làm chủ. Ý
Ngài muốn bảo: nếu tâm được thanh tịnh, thì tuy ở Ta
Bà cũng tự tại giải thoát; tâm không thanh tịnh dù ở
Tây Phương vẫn bị khổ não luân hồi. Thật ra, đối với
người tu Tịnh Độ hiểu đạo lý, lời nói của Tổ chỉ có
tác dụng khuyến tấn, bảo phải niệm Phật đến chỗ tịnh
tâm không còn chấp tướng; chớ không phải bác sự niệm
Phật cầu vãng sanh. Đức Thích Tôn, chư Phật khắp
mười phương, chư Đại Bồ Tát và chư vị Tổ Sư đều
khuyên niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Hai vị Tổ bên
Thiền Tông ở Thiên Trúc là Mã Minh, Long Thọ đều
khuyên niệm Phật; và chính ngài Long Thọ đã chứng
ngôi Sơ Hoan Hỷ Địa, vãng sanh về Cực Lạc. Nếu đức
Lục Tổ quả thật có ý bài bác sự Niệm Phật, thì chẳng
hóa ra bài bác đức Thích Ca Mâu Ni, chư Phật, chư Bồ
Tát, Tổ sư, và cả hai vị tiền bối trong tông của
mình là Mã Minh, Long Thọ hay sao? Cho nên, nếu hiểu
lầm rồi đem lời này chê bai niệm Phật, chính là bài
xích và gieo mối oan cho đức Lục Tổ vậy.
Lại, hành môn nào cũng có lý và sự. Lời của đức Lục
Tổ là nói về lý, ngoài ra còn có sự tướng của đường
tu, cần phải nghĩ đến. Ta thử đặt lại câu hỏi:
"Người ở ngoài đời tạo tội, vào chùa am xuống tóc ăn
chay giữ giới tìm nơi thanh vắng tu hành. Người ở
chùa am tạo tội tìm nơi nào để tu?" Nếu chỉ y theo
lý mà bác như vậy, thì việc xuất gia đến chùa am, ăn
chay giữ giới, cho đến tụng kinh, niệm Phật, trì
chú, tham thiền, đều là lỗi lầm hết cả hay sao? Pháp
tu Tịnh Độ cũng thế, thật ra chẳng phải người Đông
Phương do tạo tội mới niệm Phật cầu sanh Tây Phương,
mà niệm Phật cầu về Tây Phương chính là muốn mượn
thắng duyên tu hành, để mau chứng lên quả Vô Sanh
giải thoát. Dù người đã tạo nhiều tội, biết hồi tâm
sám hối niệm Phật cầu vãng sanh, cũng là vì muốn sớm
thoát sanh tử, vẫn không ngoài mục đích này. Còn
người ở Tây Phương Cực Lạc cũng không tạo tội, bởi
khi đã về cõi ấy, trên có Phật Bồ Tát, dưới có các
bậc thượng thiện nhơn, xung quanh mình tiếng chim
nói pháp, tiếng nhạc giảng kinh, không còn nhọc lòng
lo đến vấn đề ăn mặc ở và các sự đau bịnh tai nạn
oán thù, đường đạo chỉ thêm tiến lên, đâu còn có
duyên gì để tạo tội?
Kết lại, câu nói của đức Lục Tổ nên hiểu chỉ là lời
khai thị về lý tánh thanh tịnh để khuyến tấn mà
thôi, không nên nghĩ lầm đem nó để bác sự tướng.
Người niệm Phật nghe lời này, càng nên cố gắng niệm
cho đến trình độ tâm không, mới hợp với ý của Tổ.
Cần Phá Lối Chấp Nhị Biên
Những mối nghi về Tịnh Độ theo loại trên hãy còn
nhiều. Đó do bởi người học Phật còn lối chấp hai
bên, chưa dung hóa được giữa tánh tướng, có không,
sự lý. Vì thế nên mới dùng tánh phá tướng, đem lý
bác sự, lấy không bài có, và ngược lại, để gây thành
những tranh chấp nghi vấn phân vân. Họ không ngờ sự
lý tương tức, nghĩa là sự tức lý, lý tức sự, nếu
phân chia ra mà nhận định thiên lệch, thì sự không
thành chân sự, lý chẳng phải chân lý; cả đến tánh
tướng, có không, và các pháp nhị biên khác cũng như
vậy. Vì thế trong Kinh Duy Ma Cật mới nói đến Bất
Nhị pháp môn, nghĩa là pháp môn Không Hai, để phá
trừ lối chấp hai bên đó. Không Hai là dung hóa tất
cả để nhập vào tánh thể, chớ chẳng phải một. Đây mới
thật là chân cảnh của duy tâm. Ngoài ra, sự lập pháp
riêng về hữu môn hay không môn, cũng còn ở trong
vòng phương tiện quyền hóa mà thôi.
Kinh nói: "Chán bỏ công đức hữu vi là nghiệp ma.
Tham trước công đức vô vi cũng là nghiệp ma." Cổ đức
cũng bảo: "Pháp hữu vi tuy huyễn, phế bỏ tất đạo
nghiệp không thành. Pháp vô vi tuy chân, chấp lấy
thì huệ tánh chẳng rộng." Những lời này chứng minh
rõ, trên đường tu, sự lý không thể rời nhau. Luận
Trung Quán lại nói: "Vì chúng sanh thông thường chấp
trệ nơi hình thức nên kinh giáo mới dùng lý không để
phá trừ. Nếu vừa lìa bịnh chấp có, lại rơi vào bịnh
chấp không, tất chẳng còn thuốc gì chữa khỏi." Bởi
lý Bát Nhã không nghe cao siêu mầu nhiệm, nên hàng
trí thức khi xem đến những loại kinh này, phần nhiều
hay vương vào chứng bịnh "nói lý", việc gì cũng lý
thuyết hóa, khinh thường những người hành trì theo
sự tướng, gây thành lỗi ngã mạn tự kiêu. Miệng họ
tuy nói không, nhưng hành vi lại ở trong có, chính
hợp với câu:
Đầu mồm nói suốt trăm phần diệu.
Dưới gót không ly một điểm trần!
* Khi xưa, các bậc đại tri thức cũng thường dùng lý
không để trừ bịnh chấp có, nhưng chỗ tu chúng cùng
sự khai hóa của những vị ấy đúng tư cách và hợp cơ
nghi, mới đem lại lợi ích. Chẳng hạn như câu chuyện
sau đây:
Có một vị thiền sư tu hành rất tinh tấn, ban đêm
chẳng ngủ và thường ngồi mãi không nằm. Nhưng đã lâu
năm dụng công, sư vẫn chưa chứng ngộ. Trong chùa có
chú Sa Di chẳng biết từ đâu đến, xin nhập chúng. Ông
này thường biếng trễ thậm chí nhiều phen tiếng
chuông công phu khuya nổi lên, vẫn nằm lỳ mãi không
ngồi dậy. Thiền sư biết được, gọi đến quở rằng: "Sao
đã vào chùa tu mà còn lười biếng cứ nằm mãi như thế?
Chú không nghe trong luật dạy: nghe chuông mà vẫn
nằm không ngồi dậy, tương lai sẽ đọa làm thân rắn
hay sao?" Sa Di đáp: "Thầy bảo tôi thường nằm sẽ
thành con rắn; còn thầy chấp cứ ngồi mãi cũng thành
con cóc, chớ có chứng ngộ được chi?" Sa Di nói xong
liền ẩn mất. Nhưng vị thiền sư đã tỏ ngộ. Thì ra Sa
Di này là một bậc đắc đạo, hiện thân đến khai hóa
cho thiền sư.
Ngoài ra, còn câu chuyện Đơn Hà Thiên Nhiên hòa
thượng cỡi lên cổ Phật và chẽ đốt tượng Phật gỗ để
phá quan niệm chấp Phật. Sư Pháp Đạt vì ỷ mình đã
tụng ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa, nên lạy đầu không
chấm đất, bị đức Lục Tổ quở, để phá quan niệm chấp
pháp, chấp công đức. Ngài Bắc Tháp sau khi chứng
được Đại Tự Tại Tam Muội, viết danh hiệu Văn Thù,
Phổ Hiền lên chiếc khố để phá quan niệm chấp Thánh
Tăng.
Thuở xưa các bậc đại tri thức, mức tu chứng đã cao,
biết tùy cơ nghi mà hóa đạo, lại những hành giả
trong thời ấy có nhiều bậc thượng căn, nên sự giảng
về lý "không" thường có lợi. Đời nay người trung, hạ
căn nhiều, cách giảng hóa nên dung hòa sự lý, tánh
tướng, mới không gây nghi ngờ và làm thối đạo tâm
của người học Phật. Nếu đa số người chưa thể một
bước đi thẳng vào cảnh chân không mà bác bỏ hình
thức, tất sẽ diễn thành tai nạn "chưa được lên bờ đã
vội phá bỏ chiếc bè", làm sao tránh khỏi cảnh đắm
chìm? Lại còn một điều nên để ý, nếu nói lý không mà
mình chưa được không, hoặc chưa có đôi phần tư cách
nào trên sự tu, tất chẳng thể cảm hóa người, chỉ
thành cuộc tranh chấp hơn thua vô ích. Trước đây,
bút giả đã có lần chứng kiến cảnh tượng ấy: Một đại
đức thông hiểu giáo lý ở ngụ nơi chùa nọ dạy kinh.
Vị sư trụ trì đã lớn tuổi, siêng tụng niệm nhưng
chấp theo cách thức xưa, thấy đại đức lối sống tự do
có vẻ tân thời, ý không ưa thích, liền bảo: "Thầy
khuyên dạy đạo mà ngày tối không thấy tụng một quyển
kinh, niệm một câu Phật, như vậy làm sao nêu mô phạm
tu hành cho đại chúng?" Vị đại đức đáp: "Cách tu có
nhiều lối, phải chạy theo hình thức như thầy, tối
ngày tụng niệm, mới gọi là tu sao?"
Kinh Kim Cang nói:
Nhược dĩ sắc kiến ngã.
Dĩ âm thanh cầu ngã,
Thị nhơn hành tà đạo.
Bất năng kiến Như Lai!
"Chớ đức Lục Tổ khi xưa đâu có tụng kinh niệm Phật
gì, mà Ngài cũng đắc đạo, làm Tổ được vậy?" Sư trụ
trì đuối lý, đành lặng yên. Xét ra, sư trụ trì có
lỗi chấp nê hình thức; vị đại đức tuy nói lý cao,
song thật ra cũng chẳng tham thiền tịnh niệm chi nên
đã không cảnh giác nổi mà còn gây thêm sự bực bội
cho sư.
Trong hai lối chấp có và không, sự chấp không rất
nguy hại. Kinh Lăng Già cùng Mật Nghiêm đều bảo:
"Thà chấp có như non Tu, chớ chấp không như hạt
cải". Chấp có, ý nói hằng kiêng nhân quả, sợ tội
phước, lo giữ giới, tụng niệm, làm lành, tuy bị hình
thức bó buộc không tự tại giải thoát, nhưng gây được
công đức và thiện căn. Còn chấp không, mình đã chưa
chứng được chân không, lại chẳng chịu theo hình
thức, siêng tu công đức, tất sẽ luân hồi sa đọa.
Bút giả tự xét mình, nghiệp chướng nhiều, căn tánh
kém, vẫn không muốn lạm bàn đến đạo lý cao siêu, sợ
e hạnh chẳng xứng lời, trở thành vọng ngữ. Nhưng với
lòng thành muốn cho người dứt nghi ngờ sanh tín tâm
niệm Phật, nên bất đắc dĩ phải thổ lộ ít nhiều. Hằng
ví mình như người bại chân ngồi ở ngả ba đường, tuy
không tự đi được, song cũng cố gắng chỉ nhắc hành
khách tránh nẻo hiểm nguy, theo lối đi rộng bằng an
ổn. Còn sự biện luận để phân biệt phải quấy kém hơn,
tuyệt nhiên lòng không nghĩ đến!