Trích Thiên Như Đại Sư Khai Thị Niệm Phật
HT Thích Thiền Tâm
Hỏi:- Tu làm sao cho mỗi niệm nối nhau, thật ra tôi vẫn muốn được như thế. Song chỉ hiềm định lực chưa thành, niệm đầu không chủ, hoặc tri giác cũ khó quên, hoặc tư tưởng vọng nổi dậy, hoặc xúc đối cảnh duyên tự kềm giữ không vững, hoặc tâm tình rối loạn cố ngăn dẹp chẳng kham. Cứ ngồi vào lần chuỗi một lúc, là tâm niệm đã chạy hết đông sang tây, bất giác nó đã đi xa cách mấy ngàn muôn dặm hồi nào, cũng không tự hay biết. Có khi phải bận lo một việc chi, thì luôn trong năm mười ngày hoặc đến cả tháng, tâm trí vẫn vướng vít chưa quên, chỉ dẹp trừ nó còn chưa xong, nói gì đến việc gián đoạn! Điều nầy thốt ra thật đáng hổ thẹn, song nghĩ lại cũng đáng thương tâm! không biết có cách gì đối trị chăng, xin nhờ Đại Sư chỉ bảo?
Đáp:- Đó là
căn bịnh chung của hầu hết người tu. Trong lúc ấy
nếu ông không thống thiết tự trách răn, thì khó mà
thành tựu pháp chuyên tu vô gián. Tôi nghe người xưa
có ba điều thống thiết tự trách răn, nay vì ông tỏ
bày, nên ghi nhớ cho kỹ:
Điều thứ nhất là phải nghĩ đến sự báo ân. Người tu
có những ân trọng. Hãy tạm gác qua ân Phật ân thầy,
như ông là phận xuất gia, công ơn sanh dưỡng của cha
mẹ há chẳng phải là sâu nặng ư? Ông đã lìa tục xuất
gia, vì đi học đạo nên phải xa cách quê quán nhiều
năm, cha mẹ nhọc nhằn cực khổ ông cũng không biết,
khi già yếu đau bịnh lại cũng không hay mà săn sóc
thuốc thang. Đến lúc cha mẹ mãn phần, ông không
biết, hoặc có được tin gì về cũng đã trễ muộn. Khi
ông còn nhỏ, có khi cha mẹ vì nuôi nấng thương lo
cho con mà gây ra nhiều tội nghiệp, lúc chết rồi
hoặc bị đọa vào nẻo khổ, hy vọng ông cứu độ, như
khát chờ uống, như hạn trông mưa. Nếu ông tu hành lơ
láo tất tịnh nghiệp không thành; đã không thành thì
tự cứu chưa xong, làm sao cứu được cha mẹ? Đối với
song thân ông đã lỗi phần phụng dưỡng về thể chất,
mà còn không cứu độ được phần hương linh, tức là phụ
nghĩa quên ân, là người đại bất hiếu. Kinh nói:
'Phạm tội bất hiếu, sẽ bị đọa vào địa ngục.' Thế thì
tâm niệm gián đoạn không chuyên tu, chính là nghiệp
địa ngục vậy.
Lại ông không dệt mà mặc, không cày mà ăn. Phòng,
nhà, chăn, gối, cơm áo, thuốc thang đều do đàn việt
cúng dâng. Tổ sư từng răn dạy: 'Hàng thiện tín vì
sùng kính Tam Bảo đã chia cắt bớt phần ăn của gia
đình đem đến cúng dường. Nếu người tu đạo hạnh không
tròn, thì dù là tấc vải hạt cơm, kiếp sau cũng phải
đền trả. Muốn báo ân đàn việt ông phải lo chuyên tu
tịnh nghiệp để độ mình độ người. Nếu ông sanh một
niệm gián đoạn không chuyên. Tất đã có phần trong
kiếp luân hồi vay trả. Và tâm niệm ấy chính là
nghiệp hạ tiện hoặc súc sanh vậy.
Điều thứ hai là phải có chí quyết định. Người tu
hành phải kiên quyết để đi đến kết quả. Ông một đời
tham thiền đã chẳng ngộ thiền, khi học giáo lại
không tinh về giáo. Cho đến ngày nay tâm địa chưa
lắng yên, niệm đầu còn sôi nổi, khi thì muốn làm
thi, lúc lại thích tả tự, khi thì thuyết giáo, lúc
lại đàm thiền, ý chí ly tán đi ba bốn nẻo. Tổ sư đã
bảo: 'Tâm niệm còn vướng mắc, đó là nghiệp luân hồi.
Tình tưởng vừa sanh ra, muôn kiếp bị ràng buộc.' Sở
dĩ ông chưa được chánh niệm, là do vì còn tình tưởng
phân vân, và tình tưởng còn phân vân cũng bởi chí
không quyết định. Cho nên người tu mà ý chí không
nhất quyết, đó chính là đầu mối của sự sa đọa tam đồ
vậy.
Lại nếu người tu ý chí không quyết định, thì không
thể gìn giữ giới căn. Do ý niệm phân vân nên không
thể thâu nhiếp thân và khẩu. Kinh nói: 'Thà lấy nước
đồng sôi rót vào miệng, nguyện không để miệng phá
giới nầy thọ các thức ăn uống của tín tâm đàn việt.
Thà dùng lưới sắt nóng quấn thân thể mình, nguyện
không để thân phá giới nầy thọ những y phục của tín
tâm đàn việt.' Phương chi, do các giới không trang
nghiêm, nên tâm càng vọng động; nhân sự vọng động ấy
mà phần chuyên tu bị gián đoạn. Thế thì một niệm
gián đoạn, đâu chỉ là nghiệp nhân của lưới sắt nóng
và nước đồng sôi ư?
Và nếu người tu ý chí không quyết định, tất không
nhận rõ tướng đời giả huyễn, dễ chạy theo danh lợi
hư phù. Khi danh lợi thuộc về mình thì sanh lòng mê
đắm, danh lợi thuộc kẻ khác lại sanh lòng ganh ghét
hơn thua. Cổ đức bảo: 'Tham đắm danh lợi đi về nẻo
súc đường quỉ, buông lòng thương ghét đồng vào hầm
lửa vạc dầu!' Thế thì một niệm gián đoạn chính là
ngạ quỉ, hầm lửa vậy.
Điều thứ ba là cầu sự ứng nghiệm. Người đã tu tịnh
nghiệp, nên cố gắng làm sao cho có sự ứng nghiệm.
Kiếp người mong manh, vô thường chẳng hẹn. Như ông
nay tóc đã điểm bạc, da đượm nét nhăn, tướng suy tàn
hiện rõ, kỳ lâm chung phỏng còn được mấy ngày? Vậy
ông phải cố gắng chuyên tu, làm sao cho có triệu
chứng vãng sanh chắc chắn. Như khi xưa, Huệ Viễn
Pháp Sư ở Lô Sơn, ba phen thấy Phật xoa đầu. Lại như
Hoài Cảm Pháp Sư chí thành xưng danh hiệu Phật, liền
thấy Đức A Di Đà phóng ánh quang minh, hiện ra tướng
hảo. Và như Thiếu Khang Pháp Sư khi niệm Phật một
câu, đại chúng liền thấy một vị Phật từ nơi miệng
bay ra, cho đến trăm ngàn câu cũng như thế, tợ hồ
các hạt chuỗi nối tiếp nhau. Những sự ứng nghiệm như
thế có đến muôn ngàn. Nếu tâm ông không gián đoạn,
thì thấy Phật rất dễ; như còn gián đoạn, tất khó
thấy Phật. Đã không thấy Phật thì cùng với Phật vô
duyên. Và đã vô duyên quyết khó sanh Tịnh Độ. Khi
không được sanh về Tịnh Độ tất sớm muộn gì cũng bị
đọa vào ác đạo. Thế thì một niệm gián đoạn chính là
nghiệp tam đồ vậy. Phải nên răn dè và suy nghĩ kỹ!
Ba điều cảnh sách trên, người tu tịnh nghiệp phải
ghi nhớ suy nghĩ rồi tự trách răn một cách thống
thiết, làm sao cho tâm không rời Phật, Phật chẳng
rời tâm, đạo cảm ứng giao thông, hiện đời được thấy
Phật. Đã thấy Đức Phật ở Cực Lạc, tức thấy chư Phật
khắp mười phương, và thấy chư Phật mười phương, tức
thấy vị Phật thiên chân của tự tánh. Khi thấy được
Phật tự tánh, thì sự đại dụng sẽ hiện tiền. Chừng ấy
mới theo lòng bi nguyện, độ khắp quần sanh. Đó gọi
là Tịnh Độ Thiền mà cũng là Thiền Tịnh Độ vậy. Thế
thì ý của ngài Vĩnh Minh nói: 'Có Thiền có Tịnh Độ,
dường như cọp mọc sừng, đời nay làm thầy người, đời
sau làm Phật Tổ.' há chẳng là ứng nghiệm trong giai
đoạn nầy ư? Phải nên cố gắng!
Thiền giả nghe xong vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, lặng lẽ giây lây, dường như tìm được vật chi đã mất. Thiên Như lão nhơn lại bảo: 'Thiền cùng Tịnh Độ vẫn không hai, nếu liễu thì liễu cả, mê cũng đồng mê, bởi ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, đừng nên lầm nhận!' Thiền thượng nhơn liền đảnh lễ mà thưa rằng: 'Tôi rất may mắn được nhờ ơn chỉ bảo, nay đã biết đường về!' rồi từ tạ mà lui.