Trích Thiên Như Đại Sư Khai Thị Niệm Phật
HT Thích Thiền Tâm
Hỏi:- Sự
nhiếp cơ của Tịnh Độ quả thật là rộng, ngu giả không
còn dám luận bàn. Nhưng tôi thường nghe nói: 'Di Đà
bản tánh, Tịnh Độ duy tâm,' trong ý cũng có trộm
mừng! Đến chừng xem qua các kinh luận về tông nầy,
thì Tịnh Độ là miền Cực Lạc ngoài muôn ức cõi. Di Đà
là vị giáo chủ ở Liên Bang. Như vậy thì kia đây cách
xa, ngoài nghĩa lý duy tâm bản tánh rồi! Thế là ý
chỉ gì?
Đáp:- Chỗ hiểu ấy còn nông cạn hẹp hòi. Ông
không biết rằng chân tâm của ông rộng rãi và sáng
suốt vô cùng? Kinh Lăng Nghiêm nói: 'Những non sông
đất liền cho đến hư không ở ngoài sắc thân ta, đều
là cảnh vật trong chân tâm mầu sáng.' Lại nói: 'Các
pháp sanh hóa, đều là hiện cảnh của duy tâm.' Thế
thì đâu có cõi Phật nào ngoài tâm ta ư? Cho nên ý
nghĩa của Tịnh Độ duy tâm là nói cõi Tịnh Độ ở trong
chân tâm của ta, như biển cả nổi lên vô lượng bóng
bọt, mà không có bóng bọt nào ở ngoài biển cả. Lại
như những hạt bụi nơi đất liền, không có hạt bụi nào
chẳng phải là đất; cũng như không có cõi Phật nào
chẳng phải là tâm. Nên Tiên Thánh đã nói: 'Chỉ một
tâm nầy có đủ bốn cõi là: Phàm Thánh Đồng Cư, Phương
Tiện Hữu Dư, Thật Báo Vô Chướng Ngại, và Thường Tịch
Quang.'
Cõi Phàm Thánh Đồng Cư có hai: Đồng Cư Tịnh Độ và
Đồng Cư Uế Độ. Đồng Cư Uế Độ là như cõi Ta Bà trong
quốc độ nầy có phàm có thánh ở chung lẫn, mà phàm và
thánh đều có hai hạng. Hai hạng của phàm là ác chúng
sanh, tức bốn thú, và thiện chúng sanh, tức trời
người. Hai hạng của thánh là thật thánh và quyền
thánh. Thật thánh là các thánh nhơn thuộc bốn đạo
quả, bậc Bích Chi Phật, bậc thất địa trong Thông
giáo, thập trụ trong Biệt giáo, thập tín hậu tâm
trong Viên giáo. Những vị nầy phần thông hoặc tuy
dứt song sắc thân quả báo hãy còn, nên đều gọi là
thật. Quyền thánh là các vị Bồ Tát trụ ở những cõi
Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang cùng bậc Diệu Giác
(Phật) vì làm lợi lạc cho kẻ hữu duyên nên ứng sanh
vào cõi Đồng Cư. Bởi tùy cơ thị hiện nên gọi là
quyền. Những vị trên đây cùng với phàm phu đồng ở,
nên gọi là Phàm Thánh Đồng Cư, và cảnh cư trú về
phần khí thế giới, có hầm hố, gai gốc, bùn đất, cùng
các tướng nhơ nhớp, về phần hữu tình giới có bốn ác
thú, nên gọi là Uế Độ. Đồng Cư Tịnh Độ là như cõi
Cực Lạc, tuy y báo chánh báo nơi đây trang nghiêm
mầu nhiệm, không có bốn ác thú, song cũng gọi Phàm
Thánh Đồng Cư vì chúng sanh sanh về cõi nầy không
phải đều là bậc đắc đạo. Như trong kinh nói: 'Hạng
người phạm tội nặng, khi lâm chung chí tâm sám hối
và niệm Phật, đều được vãng sanh.' Do đó nên biết
nơi cõi nầy chúng sanh còn hoặc nhiễm cũng có thể
được ở. Thế Giới Cực Lạc cũng có hai hạng Thánh Cư
và bởi y báo chánh báo đều sạch sẽ trang nghiêm, nên
gọi là Tịnh Độ. Để nói rộng thêm, tuy gọi Tịnh Độ
nhưng thật ra trong ấy có nhiều hạng hơn kém không
đồng. Như thế giới Diệu Hỉ tuy là Tịnh Độ, song còn
có nam nữ và núi Tu Di, và Tịnh Độ đã như thế, uế độ
cũng như vậy.
Cõi Phương Tiện Hữu Dư là chỗ ở của bậc Nhị Thừa và
ba hạng Bồ Tát đã chứng Phương Tiện Đạo. Những vị
nầy do tu hai môn quán, dứt phần thông hoặc, phá hết
trần sa, bỏ thân phân đoạn thọ thân pháp tánh, tự
tại ở ngoài ba cõi; nhưng vì họ chưa đoạn được biệt
hoặc vô minh nên còn có sự biến dịch sanh tử. Sở dĩ
gọi phương tiện vì đó là cảnh giới của hành nhơn tu
chứng Phương Tiện Đạo. Gọi hữu dư là bởi họ chưa
đoạn được vô minh. Cho nên trong Thích Luận nói:
'Ngoài tam giới có cõi Tịnh Độ, đây là chỗ của hàng
Thanh Văn, Bích Chi Phật cư trú, thọ Pháp Tánh thân,
không còn sự phân đoạn sanh tử.'
Cõi Thật Báo Vô Chướng Ngại là nơi không có hàng Nhị
Thừa, chỉ thuần là bậc pháp thân Bồ Tát ở. Những vị
nầy phá từng phần vô minh, chứng từng phần pháp
tánh, được quả báo chân thật. Song vì họ chưa đoạn
hết vô minh nên còn nhuận vô lậu nghiệp, thọ báo
thân pháp tánh, và cảnh giới nầy cũng gọi là Quả Báo
Độ. Kinh Nhân Vương nói: 'Ba hiền mười thánh trụ quả
báo' là chỉ cho sự việc trên đây. Sở dĩ gọi Thật
Báo, vì các Đại Sĩ ấy do quán thật tướng, phát được
chân vô lậu thọ hưởng quả báo chân thật. Gọi Vô
Chướng Ngại là bởi chư Bồ Tát đây, tu chân không
định, sắc cùng tâm không ngăn ngại lẫn nhau. Trong
Kinh Hoa Nghiêm thuyết minh thế giới Nhân Đà La
Võng, chính là cảnh nầy.
Cõi Thường Tịch Quang là chân lý pháp giới như như,
sáng suốt cùng cực của bậc Diệu Giác. Đây là Phật
Tánh Chân Như, tức độ là thân, tức thân là độ, thân
và độ không hai, là trụ xứ của Đức Tỳ Lô Giá Na,
cũng gọi là Pháp Tánh Độ. Thường chính là đức pháp
thân. Tịch là đức giải thoát. Quang là đức bát nhã ,
như chữ Y (() có ba điểm, không thể cách lìa, một
tức là ba, ba nguyên vẫn một. Đây cũng gọi là Bí Mật
Tạng, là cảnh giới du hóa của Như Lai, cứu cánh chân
thường, thanh tịnh cùng cực.
Hai cõi trước là chỗ ở của Ứng Thân Phật. Cõi thứ ba
cũng thuộc về Ứng cũng thuộc về Báo, mà chánh thức
là chỗ ở của Báo Thân Phật. Cõi thứ tư không phải
Ứng và Báo mà kiêm cả Ứng, Báo, là chỗ ở của Pháp
Thân Phật.
Bốn cõi trên đây tùy theo chỗ tu chứng mà phân chia,
song kỳ thật vẫn là một. Cho nên chân tâm bao trùm
muôn tượng, vô biên quốc độ như vi trần ở khắp mười
phương, chính là cảnh giới trong tâm ta, hằng sa chư
Phật trong ba đời, cũng là các Đức Phật trong tâm
ta; tất cả không ngoài bản tâm mà có. Hiểu được lý
nầy thì biết không có cõi nào chẳng nương nơi tâm ta
mà kiến lập, không có vị Phật nào chẳng nương nơi
tánh ta mà xuất sanh. Thế thì miền Cực Lạc ngoài
mười muôn ức cõi há chẳng phải là cảnh Tịnh Độ của
duy tâm ư?
Thế Giới Cực Lạc đã như thế, thì vị giáo chủ ở cõi
ấy cũng là Đức Di Đà của bản tánh. Nên biết chỉ một
tâm nầy bao trùm đủ mười giới, thân và độ dung
thông, trùng trùng không ngại. Lại nên biết tâm,
Phật, chúng sanh, ba chính là một, đồng thể không
khác nhau, chúng sanh và Phật hỗ hiện, mỗi niệm giao
tham. Cho nên cổ đức nói: 'Chúng sanh trong tâm chư
Phật, mỗi trần đều là Cực Lạc, chư Phật trong tâm
chúng sanh, mỗi niệm chính thật Di Đà. Mười phương
tịnh uế gom về trong khoảng sát na. Một niệm sắc
tâm, bủa khắp gồm thâu pháp giới.' Xem thế thì biết
tất cả đều sẵn đủ trong thể thiên chân, không phải
do duyên khởi mới thành lập. Một tâm niệm đã như
thế, một điểm trần lại khác chi? Vì vậy nên mới có
thể: 'Trong mỗi mỗi trần tất cả cõi. Trong mỗi mỗi
tâm tất cả tâm. Mỗi mỗi tâm trần lại khắp nhau.
Trùng trùng không tận không chướng ngại. Đồng thời
hiện rõ không ẩn hiển. Tất cả viên thành chẳng kém
hơn.' Cảnh giới chân tâm bao hàm vô biên quốc độ
trên đây, như lưới báu Thiên Châu của trời Đế Thích,
bóng và ánh sáng của bao nhiêu hạt châu đều gom hiện
vào một hạt châu, bóng và ánh sáng của một hạt châu
lại hiện khắp vào tất cả các hạt châu khác. Tuy mỗi
mỗi hạt châu giao hiện lẫn nhau, nhưng hạt châu nầy
không thể là hạt châu kia, hạt châu kia không thể là
hạt châu nầy, xen mà không tạp, lìa mà chẳng phân,
mỗi mỗi khắp bày, vẫn không sở tại! Thế giới Cực Lạc
cho đến mười muôn ức cõi mỗi miền cũng như một trong
các hạt châu. Nói tinh tế hơn khắp mỗi cõi từ tam
thừa thánh nhơn cho đến trời, người, tu la, súc
sanh, ngạ quỉ, địa ngục, mỗi mỗi lại cũng như một
trong các hạt châu. Và Đức A Di Đà cũng là một trong
các hạt châu. Cho nên, thấy một vị Phật, tức thấy
mười phương chư Phật, mà cũng là thấy chín giới
chúng sanh ở khắp mười phương. Cõi Phật vô biên,
mười phương kim cổ toàn thể là một hải ấn đốn viên,
không còn pháp chi khác nữa!
Như thế thì, thần trải qua mười muôn ức cõi, chính
hóa sanh trong bản tâm ta; chất gởi nơi chín phẩm
hoa sen, há cách biệt ngoài chân như Phật? Những lời
dẫn giải trên đây đều là những minh huấn của Phật,
Tổ, Thánh, Hiền đã tuyên dương vậy. Hiểu được lý này
tất sẽ thấy thế giới Cực Lạc là duy tâm, mỗi cõi
Phật mỗi điểm trần đều là duy tâm; Đức Di Đà là bản
tánh, mỗi vị Phật mỗi chúng sanh cũng đều là bản
tánh. Như thế lại còn chi phải nghi ngờ?
Lời phụ:
Pháp giới chân tâm là một thể rộng rãi vô biên, bao
hàm vi trần thế giới, chư Phật và chúng sanh. Trong
thể nhất chơn ấy, phần thế giới chúng sanh luôn luôn
biến đổi, thuộc về sanh diệt môn; phần tịch quang
lặng mầu sáng suốt và thường hằng, gọi là chân như
môn. Chân tâm là một thật thể chung, gồm hai môn hữu
vi và vô vi đó. Tất cả những danh từ: Chân Tâm, Bản
Tánh, Bản Thể, Phật Tánh, Như Lai Tạng, Pháp Giới,
Pháp Tánh, Thật Tướng, Niết Bàn, Pháp Thân, Vô Cấu
Bạch Tịnh Thức, Như Lai A Lại Da Thức, Bản Lai Diện
Mục, Bát Nhã, Chân Không, đều là chỉ cho thật thể
ấy. Để trở về thật thể nầy, giáo môn của Phật chia
làm hai. Các tông như: Thành Thật, Tam Luận, Thiên
Thai, Thiền, Thai Tạng Bộ của Mật Giáo, từ nơi không
môn mà đi vào. Còn các tông: Câu Xá, Pháp Tướng,
Luật, Hoa Nghiêm, Tịnh Độ, và Kim Cang Bộ của Mật
Giáo, lại do nơi hữu môn mà thể nhập. Cho nên những
vị hiểu sâu về lý Bát Nhã của Thiền, hay lý huyền
môn của Hoa Nghiêm, đều nhận rõ sắc chẳng khác
không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không,
không chính là sắc. Trái lại, các vị học chưa thấu
đáo, nếu không chấp có tất cũng chấp không. Nhưng
chấp có thì còn biết kiêng sợ nhân quả, lánh dữ làm
lành, đời sau hưởng phước nhân thiên, hoặc chuyên
niệm Phật lại có thể sanh về Tịnh Độ. Đến như chấp
không tất sẽ đi đến chỗ bài nhân quả, bác Phật
Thánh, tương lai bị đọa xuống tam đồ. Cho nên tiên
đức đã răn bảo: 'Thà chấp có như non Tu, chớ chấp
không như hạt cải!'
Vị thiền giả trên, vì chưa nhận rõ chân tâm, nên
nghe nói 'duy tâm Tịnh Độ, bản tánh Di Đà', vội hiểu
lầm rằng tâm mình thanh tịnh đó là Tịnh Độ là Di Đà
rồi, chớ không có cõi Cực Lạc hay Đức Di Đà nào khác
nữa. Phật Pháp dù ở xứ nào, Trung Hoa hay Việt Nam
cũng có hạng người tà kiến chấp không ấy. Đại khái
họ bác không có Di Đà, Cực Lạc, không có địa ngục,
thiên cung, hoặc như nói Địa Tạng là tâm địa tánh
tạng, chớ không có Đức Địa Tạng nào cả. Như người
đeo cặp kiến đen thì thấy nơi nào cũng tối tăm,
những kẻ ấy dù có giảng thuyết bao nhiêu lời, diễn
dịch bao nhiêu kinh sách, kết cuộc cũng lạc vào bịnh
không chấp. Những kẻ chấp không thường tự cao tự
mãn, cho mình là cao siêu, bác người là chấp tướng.
Xét ra khi diễn dịch kinh, họ cũng có tâm muốn hoằng
dương Phật Pháp, không dè ngược lại thành ra kết quả
hủy báng Tam Bảo; tự mình đã sai lầm, khiến cho bao
nhiêu người khác bị lầm lạc theo. Ví như kẻ dung y
đem tâm muốn cứu đời, chẳng ngờ sự học hiểu về y
dược không rành, trở lại làm cho nhiều người thêm
bịnh.
Cho nên sự dịch kinh, thuyết pháp, vị tất là có
phước, là hoằng dương Phật Giáo nếu hành giả lạc vào
tà kiến, không hiểu ý kinh.