Trích một phần nhỏ của bộ sách Mấy Ðiệu Sen Thanh
Quyển này bút giả tuyển dịch từ nguyên bản Tịnh Ðộ
Thánh Hiền Lục của Phật giáo Trung Hoa. Bộ Tịnh Độ
Thánh Hiền Lục do cư sĩ Bành Tế Thanh cùng cháu là
Hy Tốc, người đời Càn Long nhà Thanh sưu tập những
truyện niệm Phật được vãng sanh soạn thành. Đến cuối
đời Đạo Quang, Thanh triều, Liên Quy cư sĩ Hồ Đỉnh
góp nhặt các chuyện vãng sanh tục biên thêm. Sang
đời Trung Hoa Dân Quốc, Đức Sum Pháp sư lại sưu tập
những sự tích tu Tịnh độ có ứng nghiệm bổ túc vào.
Trước sau có tất cả được gần một ngàn truyện.
Thật ra, người tu Tịnh độ vãng sanh rất nhiều, không
phải chỉ có ngần ấy mà thôi. Nguyên do bởi những cổ
thư về Tịnh độ thất lạc, phần ký lục kém thiếu, ngày
xưa sự lưu thông chưa thuận tiện, nên các chuyện
niệm Phật văng sanh không được truyền rộng và ghi
chép đầy đủ. Thử nghĩ quang cảnh lúc ngài Thiện Đạo
ở Trường An, ngài Thiếu Khang ở Tân Định, tiếng niệm
Phật vang khắp các nẻo đường, tất biết người sanh về
Tịnh độ số còn hơn muôn ức. Nhưng bao nhiêu truyện
tích sưu tập trên, cũng tạm gọi là đủ để làm khuôn
mẫu cho những người tu Tịnh độ đời sau.
Trong thời gian trước, bút giả có ghi chép được hơn
vài mươi chuyện niệm Phật vãng sanh ở Việt Nam, tiếc
vì lúc chiến nạn bị thất lạc mất. Bởi thế, đành phải
dem những chuyện vãng sanh ở Trung Hoa để làm gương
khuyến tấn người tu Tịnh độ. Nơi quyển này, chỉ
tuyển dịch ra những sự tích có phần đặc sắc trong
nguyên bản, vì e nhiều quá sẽ gây sự nhàm chán cho
độc giả. Trước kia, Thượng Tọa Vạn Đức (Thích Trí
Tịnh) có dịch được một phần ba, lấy tên là Đườ Về
Cực Lạc, được nhiều người ưa thích. Một vài liên hữu
yêu cầu tôi xin tiếp tục công việc ấy, và dịch những
chuyện vãng sanh của hàng căn cơ thời gần đây, để
người đời nay có thể theo dấu. Vì thế ở quyển này,
bút giả lưu ý dịch các truyện vào thời Dân Quốc cận
đại nhiều hơn.
Những lời và hạnh của thánh hiền tu Tịnh độ khi xưa,
là những điệu nhạc, những đài gương để khuyến khích,
soi sáng cho các hàng liên hữu. Cổ nhơn đã có vị
viết sách Tịnh độ, nhan đề là Liên Lậu Thanh âm.
Liên Lậu là giờ khắc hoa sen, lấy sự tích đồng hồ
sen nơi Bạch Liên Xã của ngài Huệ Viễn. Thanh Âm là
những âm điệu thanh tao để khuyến hóa mọi người niệm
Phật. Bút giả thể theo ý đó, đặt nhan đề quyển này
là MẤY ĐIỆU SEN THANH.
Mỗi tôn phái, ngoài lý thuyết còn có phần thật
nghiệm hay thật hành. Thật hành vừa để chứng minh
cho lý thuyết, vừa là tấm gương sáng nhắc nhở khuyến
khích người tu. Quyển này là thiên sử liệu chứng
minh cõi Cực lạc có thật, công đức niệm Phật có lợi
ích ngay lúc hiện tại cho đến khi mạng chung. Cõi
Cực lạc đã có thật, thì thiên cung, địa ngục, ba cõi
sáu đường, việc tội phước nhân quả, thánh thần quỉ
ma, suy ra cũng đều có thật không phải hư huyễn. Từ
điểm này xét kỹ sâu rộng thêm, tất có thể dứt trừ
những điều xấu ác, xu hướng về nẻo thiện lương vậy.
"Nương mình tựa án xem người cổ
Ẩn bóng trong gương ngẫm chuyện đời".
Mong độc giả khi xem quyển này, thức tỉnh cuộc đời
là khổ lụy vô thường, sớm phát tâm tìm lối giải
thoát, tu các phước lành ăn chay niệm Phật. Từ sự tự
tu, khuyến hóa trong thân tộc cho đến mọi người đều
tu hành, thì cõi này tuy chưa thành Cực lạc, song
trong một vùng một xứ, cũng được nhiều phước lợi an
vui.
Ngoài ra, những tình tiết của nội dung toàn quyển,
có thể dẫn đạo ý thâm trầm cho người xem. Như ăn mía
nhai từ ngọn đến gốc, sẽ lần lần tiến vào giai cảnh
vậy.
Hoằng Tế Đại sư, họ Dao, tự Đồng Chu, người ở Dư
Diêu. Lúc thơ ấu, ngài đã để chóp vào ở chùa Bảo
Tích trong thôn ấp. Năm mười sáu tuổi, mới hoàn toàn
xuống tóc, thọ giới Sa di. Tuổi đúng hai mươi, lại
được thọ Cụ túc giới.
Đại sư giữ luật rất nghiêm cẩn, nương theo Pháp sư
Bản Sơn Toàn học tập Thiên Thai giáo quán. Không bao
lâu, sự tu học đã đến mức thông suốt tinh vi. Ngài
thường hành trì các sám pháp như: Tịnh Độ, Pháp Hoa,
Kim Quang Minh. Một hôm trong định, Đại sư thấy Tứ
Minh tôn giả trao cho cây Tê giác như ý, từ đó biện
tài lưu loát như suối tuôn trào.
Đời nhà Nguyên, nhằm Thái Định ngươn niên, ngài được
mời trụ trì chùa Viên Giác ở huyện Vạn Thọ. Năm sau,
tại huyện Diêm Quan gần đó giông bão dữ dội, đê biển
sắp bị sóng đánh vỡ, dân chúng quanh vùng đều nơm
nớp e sợ. Thừa tướng Thoát Hoan cũng lo lắng, cho
quan địa phương thân mời Đại sư đến chỗ đê biển, lập
Thủy lục đại trai đàn để cầu nguyện. Ngài tới nơi,
nhập Từ tâm tam muội, lấy cát biển tụng chú Đại Bi,
rải dọc theo bờ đê. Gót chân đến đâu, đê điều nơi đó
đều được ổn cố, sóng gió cũng dịu lần rồi dứt hẳn.
Mọi người đều khen tặng là thần kỳ! Sau Đại sư lần
lượt chủ trì các ngôi đại già lam: Tập Khánh, Hiển
Từ, Vin Thông. Lúc lớn tuổi lại trở về chùa Bảo Tích
ở quê nhà, chuyên tu Niệm Phật tam muội.
Niên hiệu Chí Chánh thứ mười sáu, ngày mùng ba tháng
mười, Đại sư cảm bịnh nhẹ, cho vời các đệ tử đến,
khai thị về ý nghĩa Duy tâm Tịnh độ. Trong chúng có
kẻ chưa thông hiểu, ngài cao giọng nghiêm trách nói:
"Bờ sanh tử rất nguy hiểm, khó nỗi ở yên, sao còn
chưa tỉnh ngộ?". Nói xong, liền chấp tay niệm Phật
mà hóa.
Đức
Thanh Đại sư, tự Trừng Ấn, lúc lớn tuổi lấy hiệu là
Hám Sơn lão nhơn, con nhà họ Thái ở Kim Lăng. Bà mẹ
nằm mộng thấy Quán Thế Âm bồ tát bồng đứa đồng tử
trao cho mà mang thai ngài. Đến khi sanh ra, có hai
lớp bọc trắng. Năm mười chín tuổi ngài xuất gia,
chuyên tâm niệm Phật. Một đêm Đại sư mộng thấy đức A
Di Đà hiện thân đứng giữa hư không, về phía mặt trời
lặn. Tướng Phật mày mắt rõ ràng, sáng suốt trang
nghiêm, từ đó thường hiển hiện trước mặt. Kế tiếp
ngài đến non Ngũ Đài, thiền ngộ được bản tâm, phát
nguyện chích máu tả kinh Hoa Nghiêm, mỗi nét bút
niệm Phật một câu. Lâu ngày động tịnh đều như một.
Năm Vạn Lịch thứ mười đời nhà Minh, Đại sư trụ tích
tại Lao Sơn. Lý Thái hậu nghe danh mến đức, xuất
tiền của cho người đến cất chùa, tứ bảng hiệu là Hải
Ấn Tự. Bấy giờ Thái hậu thường sai quan Trung Sứ đi
tu tạo chùa tháp các nơi. Trong hàng quyền quý có kẻ
hiềm khích với quan Trung Sứ, lập mưu xúi nhóm đạo
sĩ phái Đông Xưởng đánh trống đưa đơn đầu cáo, nói
ông xâm chiếm đạo viện sửa làm cảnh chùa. Việc ấy
gây liên lụy đến Đại sư, ngài bị truất bỏ tăng phục,
đày tới Lôi Châu. Khi từ giã đại chúng ra đi, Ngài
vẫn an nhiên, viết lời kệ tỏ ý chí rằng:
Cà sa cởi lớp đổi nhung trang
Tùy tiện nơi đâu cũng đạo tràng!
Dẫu gặp cảnh duyên dường lửa đỏ
Tấm lòng băng tuyết dễ chi tan?
Tùy chỗ đi đến, Đại sư vẫn mang lớp tục trang thuyết
pháp, lại phát nguyện hoằng dương kinh Đại thừa, sớ
luận các bộ như: Lăng Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác.
Năm Vạn Lịch thứ bốn mươi hai, ngài được ân chiếu xá
tội và cho hoàn tăng phục. Trên đường về qua Lô Sơn,
Đại sư thích cảnh thanh u, kết am ở dưới ngọn Ngũ
Nhũ Phong, noi theo gương Viễn Công, đào hồ trồng
sen, phân định thời khắc tu Tịnh độ rất tinh tấn.
Bấy giờ có vị tu thiền ở Hải Dương, trong khi cầu
thọ giới pháp, nhân hỏi về yếu chỉ Tịnh độ. Đại sư
bảo: "Đức Thế Tôn chỉ dạy nhiều phương tiện tu hành
để ra khỏi vòng sống chết luân hồi, tiến lên Phật
quả. Tựu trung duy có môn niệm Phật cầu sanh Tịnh
độ, không ai thưa hỏi mà đức Phật tự nói, đủ thấy
tầm mức quan trọng đến dường nào! Môn ấy trùm khắp
ba căn, thâu cả bốn chúng, không phải quyền tiện vì
bậc hạ căn mà lập ra. Kinh nói: "Muốn thanh tịnh cõi
Phật, trước thanh tịnh tâm mình!". Cho nên người tu
Tịnh độ phải lấy tịnh tâm làm căn bản. Muốn tâm được
thanh tịnh, điều cần nhứt là giữ giới căn cho trong
sạch. Các giới tuy nhiều, nhưng yếu ước lại không
ngoài ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng và ba
nghiệp của ý. Giữ mười nghiệp này sạch lành, là
chánh nhân của nẻo khổ tam đồ. Dùng tâm giữ giới
thanh tịnh như thế, khởi lòng bi cảm, nhàm chán nỗi
khổ nhơ ác ở Ta bà, phát nguyện cầu sanh Cực lạc để
mau thành đạo quả độ mình độ loài hữu tình, mà lập
chánh hạnh niệm Phật. Cách thức niệm Phật lại tùy
tiện theo căn cảnh của mỗi người, nhưng cần phải
thật tâm thật hạnh mới đem đến hiệu quả thiết
thật!".
Lại có cư sĩ Tịnh Tâm đến xin chỉ dạy, hỏi: "Tại sao
có nhiều người niệm Phật không tinh tấn và khó thành
một khối?". Đại sư khai thị: "Điểm quan yếu bậc nhất
của sự tu hành là: tha thiết vì thoát ly nỗi khổ
sống chết luân hồi. Nếu không tha thiết nghĩ đến
điều này, thì làm sao có thể niệm Phật tinh tấn và
thành một khối được? Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến
nay, mỗi niệm buông theo vọng tưởng, gốc tình ái bám
sâu, ngay ở cõi người vui ít khổ nhiều, còn trong
nẻo luân hồi thì sanh lên cõi nhơn thiên như đất nơi
móng tay, đọa xuống ba đường ác như đất miền đại
địa! Cổ nhơn đã bảo: "Tam đồ một đọa ngàn muôn kiếp.
Tái phục nhơn thân biết lúc nào?". Nếu trong đời này
không thống thiết vì sự khổ sống chết luân hồi, mỗi
niệm vẫn theo tình nhiễm, muốn đem lòng tin hời hợt
niệm Phật để cầu thoát ly, thì khác nào mong dùng
một gáo nước để cứu muôn xe lửa đỏ? Tu hành như thế
chỉ e khi mất thân người khó bề lại được, một phen
bê trễ tiếc hận lâu đài! Vậy phải phát lòng tinh
tấn, dùng hạnh niệm Phật vượt phá muôn ngàn vọng
tưởng, tùy thời tùy chỗ đều giữ cho câu Phật hiệu
được hiện tiền. Quyết tâm hạ công phu khổ thiết như
thế, lâu ngày sẽ được thuần thục tương ưng, và câu
niệm Phật tự thành một khối. Việc này toàn do nơi
mình suy gẫm và hết lòng gắng sức. Nếu đem câu niệm
Phật làm hình thức bên ngoài, chắc chắn khó mong có
ngày được vãng sanh giải thoát!".
Đại sư ở Lô Sơn được mấy năm rồi sang trụ tích tại
Tào Khê. Tháng mười niên hiệu Thiên Khải thứ ba,
ngài cảm bịnh nhẹ, bảo người rằng: "Lão Tăng duyên
đời đă sắp hết!", rồi tắm gội đốt hương, ngồi ngay
thẳng mà viên tịch. Lúc ấy có ánh sáng chói hừng
trời. Đại sư hưởng thọ được bảy mươi tám tuổi.
Thích Đế Nhàn, pháp danh Cổ Hư, hiệu Trác Tam họ
Châu, người ở Hoàng Nham tỉnh Triết Giang. Pháp sư
tánh huệ đã trồng, căn lành sẵn đủ, hai mươi tuổi
đến xuất gia nơi chùa Bạch Vân huyện Lâm Hải. Hai
năm sau được thọ giới Cụ túc tại chùa Quốc Thanh ở
non Thiên Thai.
Từ đó đông tham thiền, hạ học Phật, Pháp sư tinh tấn
hành đạo, gần gũi với các bậc kỳ túc, và rất tương
đắc cùng Mẫn Hy lão nhơn. Ngài từng dự khóa giảng
Pháp Hoa, nghe chưa trọn bộ đã lãnh hội ý mầu Tam đế
tam quán. Kế tiếp được cho ngồi tiểu tòa phúc giảng
lại, lời sâu mầu lý thông suốt, khiến hàng đồng bối
đều kinh hãi thán phục. Mẫn công cũng thở than khen
ngợi cho là bậc long tượng trong pháp môn. Năm hai
mươi tám tuổi, Pháp sư mở diễn hội Pháp Hoa nơi chùa
Lục Thông tại Hàng Châu. Khi giảng tới đoạn "Khai
Phật tri kiến". Ngài bỗng vào định lặng yên. Giây
lát xuất định giảng tiếp thì biện tài không ngại,
đáp nạn giải nghi như bình tuôn nước, lời lẽ thâu mở
tự tại chẳng ai chế ngự nổi. Từ đó về sau, thường
lấy sự hoằng pháp lợi sanh làm trách nhiệm của mình.
Pháp sư lại lo huệ nhiều định ít sợ nỗi chướng đạo,
nên đóng cửa nhập thất nơi am Thánh Quả ở chùa Từ
Khê. Lúc rỗi rảnh thì nghiên cứu thêm về Đại thừa
kinh điển.
Ba năm sau vừa ra thất, Ngài liền nhận lời cầu thỉnh
giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Long Hoa ở Thượng Hải.
Khóa giảng xong lại về Kim Sơn tự tham thiền, rồi
đến chùa Quốc Thanh tu quán. Trải qua thời gian đó,
sự giải ngộ của Pháp sư càng đến chỗ sâu sắc nhiệm
màu, được Tổ Thích Đoan Dung chọn làm truyền nhơn
môn phái Thiên Thai đời thứ bốn mươi ba. Từ đây đến
hơn hai mươi năm về sau, Ngài ứng lời cầu thỉnh liên
tục đi giảng khắp nơi ít khi rỗi rảnh, mở pháp hội
kể có mấy ngàn lần. Mỗi ngày Pháp sư đều tụng kinh
Kim Cang, Viên Giác, Quán Vô Lượng Thọ, Phổ Hiền
Hạnh Nguyện phẩm và niệm Phật hơn một muôn câu lấy
làm thường khóa. Ngày rằm và ba mươi lại tụng thêm
kinh Phạm Võng.
Trong một đời hoằng hóa, ngài đã trùng hưng chùa Đầu
Đà ở Ôn Châu, chùa Vạn Niên ở Thiên Thai, chùa Quán
Tông ở Ninh Ba, chùa Phạm Thiên ở Hàng Châu. Ngoài
ra còn mở Phật học đường để đào tạo Tăng tài, lập
tịnh viện cho đại chúng tu tập. Chùa Quán Tông là
nơi thường trụ tích của Pháp sư. Ngài trứ thuật rất
nhiều lời khai thị, dưới thích ứng với cơ duyên,
trên thâm hợp cùng Phật lý, khiến cho phần đông hàng
đạo tục đều được lợi ích thấm nhuần. Cách thức chỉ
dạy thì giáo mở Thiên Thai, hạnh chuyên Tịnh độ, nên
mỗi khi giảng kinh đều chỉ quy về sự niệm Phật. Bản
thân của Pháp sư cũng thật hành theo đường lối đó,
hạnh giải kiêm toàn chúng đều khâm phục, được mọi
người tôn xưng là bậc trung hưng Thai giáo thời bấy
giờ. Cho đến những điều công ích, các việc từ thiện
ngài đều khẳng khái giúp thành.
Trong hai mùa xuân hạ năm Tân Mùi thời Dân quốc,
Pháp sư giảng kinh nơi chùa Ngọc Phật ở Thượng Hải.
Ngoài ra lại ứng đáp lời cầu thỉnh của Vô Tích cư
sĩ, giảng bài văn Phát Bồ Đề Tâm của Tĩnh Am đại sư.
Nhân vì tuổi đã cao, thời tiết nóng bức, Phật sự quá
nhọc nhằn, nên sau kỳ giảng Pháp sư lâm bịnh. Lúc
trở về bản tự, tinh thần cùng sự ăn uống mỗi ngày
thêm suy giảm. Ngài bèn tuyệt hết các duyên, quyết ý
chuyên niệm Phật cầu sanh. Sang mùa hạ năm Nhâm
Thân, Pháp sư đem thủ tục và quy chế ở chùa Quán
Tông giao phó hoàn tất, chỉ định cho môn nhơn là Bảo
Tịnh nối tiếp hoằng trì.
Đến ngày mùng hai tháng bảy, trước giờ ngọ, Pháp sư
bỗng chấp tay hướng về Tây yên lặng giây phút rồi
bảo: "Đức A Di Đà đã quang lâm tiếp dẫn, lão nhơn
xin từ đây giã biệt!". Nói đoạn, bảo thị giả nấu
nước thơm để mình tắm gội. Sau khi thay y phục mới
sạch, đắp cà sa xong, Pháp sư dạy đỡ mình lên chánh
điện lễ Phật, rồi bảo dìu xuống tự ngồi kiết già
trong bảo khám. Kế tiếp, trước khi dạy chúng đồng
thanh niệm Phật. Ngài nói lời kệ phú chúc vắn tắt
rằng:
Ta nhờ niệm Phật
Tịnh độ hiện tiền
Chân thật thọ dụng
Chúng gắng tinh chuyên!
Quá ngọ một giờ ba khắc, ngài an lành mỉm cười vãng
sanh trong tiếng trợ niệm của đại chúng. Lúc ấy sắc
mặt của Pháp sư hiện vẻ rất tươi sáng, mấy giờ sau
đảnh đầu còn nóng. Bấy giờ nhằm ngày mùng hai tháng
bảy, năm Dân Quốc thứ hai mươi mốt (1932), Pháp sư
hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi, Tăng lạp năm mươi lăm,
Di hài được môn nhơn làm lễ nhập tháp nơi chùa Từ
Khê, non Ngũ Lôi.
Thích Thọ Tâm tự Chuyên Tây, họ Mao, người ở Phương
Thành tại Triết Đông. Từ khi mới sanh ra, sư chỉ ăn
uống thức thanh đạm, không dùng sữa và thịt cá. Lớn
lên, nhàm chán cảnh trần lao, lập chí tu hành lìa
thế tục. Năm mười tám tuổi, sư vào chùa Tiểu Linh
Sơn ở Thành Tây, nương theo Giới Am Pháp sư xuống
tóc xuất gia.
Lúc sắp thọ Cụ túc, ngài Giới Am đau nặng, Thọ Tâm
nghĩ: "Sự hoằng dương Phật pháp phải nhờ những bậc
tôn túc như thầy mình. Tự xét bản thân mong manh tợ
sương mai, mạng này đâu có chi đáng tiếc!". Do đó sư
nấu nước thơm tắm gội, đến trước Tam bảo đốt hương
khấn nguyện, rồi trở về phòng mình tự mổ bụng, muốn
cắt lá gan hòa với thuốc để trị bịnh cho thầy. Đâu
hay vừa mới đưa dao rọc nhẹ vào bụng, bỗng đau đớn
xây xẩm té xuống đất. Giây lát sư hồi tỉnh, bò lại
giường thì phương đông trời đã rực sáng. Đại chúng
phát giác, cùng nhau lo buộc thuốc băng bó cho sư.
Ngài Giới Am hay biết chuyện đó, vời Thọ Tâm đến an
ủi rằng: "Lòng hiếu từ của con tuy mạnh mẽ, nhưng
trọn không phải là chánh hạnh của người tu. Huống
nữa ta tự biết thời tiết nhân duyên, đã rõ sanh vốn
vô sanh, thì có chi là diệt? Việc của con làm hoàn
toàn do vọng tưởng, nhưng ta nghĩ thương một niệm
hiếu thành, nên tạm lưu lại ít lâu!". Quả nhiên sau
khi sư thọ Cụ túc trở về vừa độ một tháng, thì ngài
Giới Am liền quy tịch. Thọ Tâm thiên tánh hiếu
thuận, thương khóc quá phần, lo việc tẩn liệm chôn
cất, mỗi mỗi đều chu đáo.
Không bao lâu, sư đem việc chùa giao phó cho pháp đệ
là Liên Đường, còn mình thì đi các nơi tham học. Sư
nghiêm giữ giới luật, tu hạnh đầu đà, , chân trần lộ
đảnh, mùa đông tiết hạ chỉ một manh áo, thường
chuyên lo niệm Phật. Mọi người thấy thế đều xưng gọi
là Xích Cước đại sư. Mùa thu năm Tân Tỵ trong niên
hiệu Quang Chữ, Thọ Tâm trở về chùa Tiểu Linh Sơn.
Lúc ấy nắng hạn đã lâu, những làng quanh vùng đều
lập đàn đảo võ. Quan huyện là Tôn công lòng lo như
đốt, ngày đêm khẩn cầu mà chưa thấy ứng nghiệm. Thọ
Tâm động lòng thương xót, đi thẳng đến ra mắt Tôn
công, an ủi khuyên chớ quá lo, việc cầu mưa để tự
mình lãnh trách nhiệm. Hôm sau là ngày Nhâm Tý, sư
ôm bát đến vực suối cạn lấy được một vật hình như
cái Thủ cung. Đến ngày Ất Mão, Thọ Tâm lập đàn trì
chú, lễ bái sáu thời. Sang giờ Dần ngày Bính Thìn,
trời xuống cơn mưa nhưng giây phút lại tạnh. Tôn
công sai các thân hào do ông Lý Tiêu Nham hướng dẫn,
đến xin cầu đảo thêm. Sư bảo: "Các vị chớ lo, ngày
mai sẽ có mưa lớn!". Đêm ấy Thọ Tâm chí thành trì
chú cầu nguyện, đảnh lễ tới sáng. Quả nhiên vào giờ
Ngọ ngày Đinh Tỵ, mưa đổ xuống như trút dẫn đến
chiều tối, ruộng nương đều đầy dẫy nước. Dân chúng
trong vùng vui mừng hớn hở. Tôn công xuất lãnh hàng
thân hào lên núi tạ ơn. Quan huyện giữ lễ đệ tử, tự
tay viết bốn chữ lớn "Bát Long Giáng Trạch" để kỷ
niệm. Sư vẫn an tĩnh điềm nhiên, không lộ vẻ chi
khác. Tôn công than rằng: "Nay mới biết Tăng đức
uyên thâm, không thể nghĩ bàn được!".
Mùa thu năm Nhâm Ngọ, Thọ Tâm đóng cửa thất tạ tuyệt
các duyên, mỗi ngày trì chú Đại Bi một trăm lẻ tám
biến, niệm Phật mười muôn câu. Ngoài ra còn tụng
danh hiệu Quán âm, Thế Chí một ngàn lần, lễ hồng
danh đức Thích Tôn và Tây phương Tam Thánh, mỗi vị
đều ba mươi lạy. Trong thất sư có nuôi một con chó
và mèo, mỗi ngày đều vì chúng quy y chú nguyện. Do
đó nên mèo không bắt chuốt, chó chẳng ăn đồ dơ. Sau
ba năm, vào ngày mười chín tháng chín, sư ra thất.
Đến đầu tháng mười một, Thọ Tâm nhiễm bệnh kiết lỵ
nhẹ vài ngày rồi lành. Nhưng từ đó thân thể lần suy
yếu, chư Tăng thay phiên hầu hạ, sư không cho, bảo:
"Phận xuất gia, mỗi người đều có công khóa tu hành,
đừng nên để lầm lỡ nhau. Nếu quả đến thời, sẽ cho
người kêu gọi!". Chiều tối đến ngày hai mươi sáu,
Thọ Tâm vời các đồ chúng đến gần giường dạy rằng:
"Đêm nay ta sẽ về Tây phương, nên mau nấu nước thơm
đem đến!". Sau khi cạo tóc, tắm gội và thay y phục
xong, sư ngồi kiết già cử bài tán Phật, bảo chúng
hòa theo. Lúc niệm Phật độ hơn trăm câu, tiếng sư
thấp nhỏ lần, đầu hơi cúi xuống. Bổng lại ngước đầu
lên ngay thẳng, nói: "Ta đi đây! Đại chúng nên trân
trọng!". Rồi cao tiếng niệm Phật một câu mà viên
tịch. Đêm ấy hai con thú chó và mèo nuôi trong thất,
cũng đồng ngồi thoát hóa. Mọi người đều bảo nó vãnh
sanh theo sư.
Bấy giờ nhằm năm Ất Dậu, niên hiệu Quang Chữ.
Thích Tư Ngạn tự Nguyên Đăng, con nhà họ Tạ ở Tiền
Đường tại Hàng Châu. Lúc tuổi trẻ ông theo học Nho
vào hàng Chư sanh. Không bao lâu cảm thấy việc đời
vô thường, nên quy y Tam bảo, đi tham học khắp các
bậc tri thức về Tông và Giáo. Sau ông nghe Ngọc
Phong pháp sư khai thị: "Muốn cầu thoát khổ, chỉ có
pháp môn Niệm Phật là d thành tựu", liền phát tâm
mỗi ngày trì Phật hiệu sáu muôn câu lấy làm định
khóa. Bình sanh có làm công đức chi, đều hồi hướng
về Tịnh độ. Năm Nhâm Thân niên hiệu Đồng Trị, lại
phát tâm thọ ngũ giới nơi chùa Hải Triều.
Năm Quang Chữ thứ chín, ông chán cuộc trần lao, muốn
sớm cầu giải thoát, nên đem việc nhà giao phó cho
hai con, đi thẳng đến chùa Hộ Quốc, l Hòa thượng
Kính Phong cầu xuống tóc xuất gia. Mùa đông năm ấy,
sư được duyên lành thọ giới Cụ túc nơi chùa Kỳ Viên
ở Túc Sơn. Kế đó lại trở về chùa Hộ Quốc chuyên tu
tịnh nghiệp. Do gắng công lao nhọc đã lâu, Tư Ngạn
lần nhim bịnh, tuy thuốc thang điều trị nhiều phen,
song bịnh lành rồi lại tái phát. Hai con trai nhớ
mến, rước sư về dưỡng bịnh nơi nhà, mở một gian tịnh
thất để làm chỗ tĩnh tu. Mùa thu năm Quang Chữ thứ
mười lăm, sư bỗng vương chứng hạ ly, thuốc thang
không công hiệu. Từ đó sự ăn uống tuy lần kém giảm,
song sức niệm phật lại thêm thành kính thiết tha.
Tới ngày mùng mười tháng chín. Tư Ngạn gọi hai con
lại bảo rằng: "Thời kỳ vãng sanh của thầy đã đến,
hai con hãy đi thỉnh chư Tăng về nhà niệm Phật bảy
ngày, để hộ ta về Tây phương!". Sư định sáng sớm
ngày mười hai khởi đầu kỳ Phật thất, bảo với vị Tăng
là Lăng Phong rằng mình chỉ còn lưu trụ bảy hôm nữa
thôi. Sang ngày rằm, lại cầm tay Tăng hữu là Đình
Sơn nói: "Chỉ còn ba hôm, tôi sẽ về Cực lạc!".
Đến tối ngày mười bảy, sang canh tư, sư hỏi mấy giờ,
hai con đáp là giờ Sửu. Tư Ngạn nói: "Giờ Sửu tức đã
qua ngày mười tám, là kỳ hạn thầy vãng sanh. Vậy nên
thỉnh chư Tăng xưng hồng danh trợ niệm!". Khi chúng
xướng Phật hiệu, sư cũng niệm theo. Ước chừng tàn
nửa cây hương, bỗng lặng thinh nhắm mắt. Giây lâu
chợt mở mắt chấp tay, đối chúng Tăng xưng tạ và nói:
"Tôi đã được đến Tây phương l cẩn đức A Di Đà cùng
hai vị đại sĩ. Phật rủ lòng thương xót trao tịnh y
cho tôi. Còn Quán Âm Bồ Tát thì cầm cành dương rảy
nước cam lộ nơi đầu. Nhìn ra xa, tôi thấy Liên Trì
đại sư đang thuyết pháp cho các bậc thượng thiện
nhơn nghe. Bay dạo trên ao thất bảo rộng lớn mênh
mang, nhìn khắp các hoa sen báu, tôi thấy một hoa
tòa ghi tên chỗ mình sanh về. Đức Phật dạy tôi hãy
tạm trở lại Ta bà, cáo trí cho mọi người biết rằng
mình được sanh về tịnh độ. Xin phụng khuyến các vị
nên gắng chuyên tinh niệm Phật, để ngày kia cùng gặp
nhau nơi cõi Liên bang!". Nói xong bảo đem nước mát
uống ba hớp, rồi lại giường nằm nghiêng bên hữu,
niệm Phật vài mươi câu mà thoát hóa.
Hôm sau, khi nhập quan, đảnh đầu hãy còn nóng.
Chí
Thiện thiền sư, người đời Thanh, chưa được rõ xuất
xứ. Trong niên hiệu Đồng Trị Quang Chữ, ngài mở pháp
hóa nơi chùa Hải Hội ở Lô Sơn. Thiền sư đạo hạnh cao
siêu, bốn chúng ngưỡng mến nương về, là bậc danh đức
ở miền Giang Tây trong thời cận đại. Sau khi ngộ
suốt tâm tông, ngài chuyển sang niệm Phật, sự tự tu
và khuyên hóa người đều lấy Tịnh độ làm nơi quy
hướng. Cho nên trong thời gian đó, cư dân nơi vùng
núi ấy, người đều đeo chuỗi, nhà đều thờ Phật. Từ
hạng nông công cho đến kẻ tiều phu mục đồng, khi
rảnh việc phần nhiều ngồi nơi gốc cây hoặc trên tảng
đá nhắm mắt niệm Phật, là điều thường thấy không ai
còn lấy làm lạ. Di phong ấy đến nay vẫn còn nối tiếp
lưu truyền.
Lúc lớn tuổi, Thiền sư đem việc chùa giao phó cho
hàng cao đồ là Thanh Hư Hòa thượng, còn mình thì ở
nơi tịnh thất chuyên tu. Học chúng khi vào thất
thỉnh ích, ngài đều bảo tự tiện ngồi, rồi tùy cơ mà
ứng đối chỉ dạy. Có vị Tăng là Cẩm Phong, làm chức
Tàng chủ coi kho vật thực trong chùa, mỗi ngày cũng
trồng rau bổ củi tham thiền niệm Phật, chúng đều xem
như người thường. Một năm vào đầu mùa đông, sư đến
phương trượng xin nghỉ việc. Thanh Hư Hòa thượng
dạy: "Thường trụ mới khởi kỳ Phật thất, ông chớ vội
rời bỏ sớm, nên ở lại đây hết năm rồi sẽ đi!". Sư
thưa: "Thời kỳ đã đến, không thể chờ đợi!". Hòa
thượng bảo: "Ta vì ông mà cầm lại!". Cẩm Phong l tạ
rồi lui ra. Sang xuân vào ngày mùng ba, sư lại đến
xin đi. Hòa thượng nói: "Đầu năm mới ông đi chúng sẽ
động niệm, nên nán lại đôi ba hôm nữa!". Cẩm Phong
lại lui ra.
Qua ngày mùng mười, sư lên phương trượng kiên quyết
xin đi và nói: "Tôi cùng các bạn đồng tham sống
chung với nhau đã lâu, nên có mối hậu tình. Qua tiết
Nguyên Tiêu, phần đông Tăng chúng sẽ tản đi du
phương các nơi, về sau không còn có cơ duyên gặp gỡ.
Vì thế tôi muốn các đồng bạn đưa nhau một đoạn
đường!". Hòa thượng nghe nói chấp thuận. Cẩm Phong l
tạ, rồi sang yết kiến ngài Chí Thiện. Thiền sư dự
biết trước, để sẵn một chén nước trong vắt, dặn thị
giả rằng: "Nếu Cẩm Tàng chủ đến đây, bảo hãy uống
chén nước này, không cần phải vào ra mắt". Thị giả
đem điều ấy nói lại, Cẩm Phong bái lãnh mà uống. Đến
giờ ngọ, sư vẫn theo chư Tăng thọ trai. Trai cúng
xong, Hòa thượng bạch với chúng rằng: "Cẩm Tàng chủ
sắp đi xa. Vậy sau giờ ngọ hai tiếng bảng, xin đại
chúng đồng đắp y đem mõ nhỏ và khánh cùng đến liêu
phòng tin đưa Tàng chủ!". Chúng nghe nói hầu hết đều
có vẻ ngơ ngác lấy làm lạ. Đến giờ, Duy na hướng dẫn
chư Tăng đến nơi, Cẩm Phong đã dọn thất trống trải
sạch sẽ, chính giữa để bàn hương án thờ Phật, hai
bên sắp chỗ ngồi cho đại chúng. Giây phút Hòa thượng
tới, Cẩm Phong cúi lạy, rồi hướng về chư Tăng đảnh
l. Ngài Thanh Hư ân cần nói kệ phú pháp. Chừng đó
đại chúng mới biết là Tàng chủ sắp viên tịch, sanh
về Tây phương. Sau khi Hòa thượng lui ra, Duy na cử
xướng kinh A Di Đà, Cẩm Phong về chỗ ngồi theo chúng
mà trì tụng. Khi đến bài kệ tán tiếp sang niệm Phật,
cây hương vừa cháy thêm độ một tấc, tiếng của sư
thấp nhỏ lần, xâu chuỗi cầm nơi tay rơi xuống chiếu.
Vị Tăng ngồi gần bên dò thăm, rồi ra dấu Tàng chủ đă
tắt hơi. Đại chúng không dám kinh động, vẫn niệm
Phật như cũ. Một lúc, Cẩm Phong bỗng mở mắt, yêu cầu
chư Tăng luân phiên trợ niệm luôn một ngày đêm. Nói
xong, sư liền nhắm mắt đi thẳng.
Năm Mậu Tuất trong niên hiệu Quang Chữ, triều đình
thay đổi chính sách mới. Ngài Chí Thiện than rằng:
"Thời kỳ Phật pháp suy tàn đã đến, ta già rồi không
làm sao cứu giúp được! Chỉ nguyện sớm sanh về Cực
lạc, sau khi chứng quả Vô sanh, sẽ trở lại cõi này
để hộ trì chánh giáo!". Nói xong, viết thơ gởi chư
Đại đức khắp nơi, ngỏ lời giã biệt. Bấy giờ Thanh Hư
Hòa thượng đang trụ trì tại chùa Viên Thông ở Nam
Xương, được tin thơ vội vã trở về. Khi Hòa thượng
vừa bước vào chùa, thì ngài Chí Thiện còn đang ngồi
tựa án viết lời phú chúc. Thấy Hòa thượng, Thiền sư
chu tất công việc rồi cười bảo: "Việc lớn đều giao
phó hết cho ông. Ta đi đây!". Nói xong ngồi ngay nơi
tòa mà thoát hóa.
Mặc
Am đại sư, pháp danh Thượng Nhân tự Chân Nguyên, họ
Châu, người ở Hoành Châu tỉnh Hồ Nam. Cha học Nho,
mãn phần sớm, ngài còn bé mà đĩnh ngộ sáng lẹ, liếc
mắt qua đã đọc xong mấy hàng sách. Năm mười lăm
tuổi, văn tài tiến vượt xa các đồng bạn, thầy dạy
học nghĩ rằng đường công danh về sau tất sẽ rực rỡ.
Hai năm kế đó, ngài đến ở trọ chùa Nhạn Phong học
tập, nhân chép kinh Kim Cang tới câu: "Tâm quá khứ,
hiện tại, vị lai đều không thể được", bỗng chợt nảy
sanh tư tưởng xuất trần.
Năm Hàm Phong thứ bảy, mẹ muốn tìm nơi hỏi vợ cho,
Ngài lén trốn đến chùa Nam Phong, nương theo Phổ
Chiếu thiền sư xuất gia. Năm sau, lại đắc giới nơi
Thúy Đình thượng nhơn ở chùa Phước Nghiêm. Đại sư
nghe Chúc Thánh Lượng thiền sư pháp hóa rất thạnh,
đến thọ tâm ấn. Qua năm kế, lại yết kiến Pháp Vân
thiền sư, đi sâu vào giáo nghĩa, do đó đối với sách
Nho cũng được suốt thông. Các bậc danh tài thạc học
nghe tiếng Đại sư, đều thích tìm đến để giao du.
Ngài dõng mãnh về việc hướng thượng nên tới ẩn tích
ở Kỷ Cung Nham tại Nam Nhạc, cùng với Thiềm Vân pháp
sư nương nhau sách tấn để tham cứu tu hành.
Song niên hiệu Đồng Trị, Đại sư đi tham phỏng khắp
các bậc tôn túc nam bắc ngộ nhập nguồn tâm, rồi trở
về chùa Phước Nghiêm duyệt xem Đại tạng. Mùa thu năm
Quang Chữ thứ hai, ngài lại cất tịnh xá bên chùa
Chúc Thánh ở Nam Nhạc, khổ thiết mật tu, lâu ngày sự
tỏ ngộ càng thêm sâu sắc. Từ đó các sách vở ngoại
thảy đều quán triệt, hàng danh sĩ lại tìm đến giao
du như cũ. Chùa Đại Thiện ở Nam Nhạc, nguyên là một
danh lam cổ, bị người xâm chiếm, Đại sư quyên tiền
chuộc lại rồi trùng tu. Ngài phỏng theo quy tắc của
Triệt Ngộ thiền sư tổ chức sự tu học, nên chư Tăng
mười phương vân tập về, đến đỗi không đủ chỗ dung
chứa. Tất cả học chúng nơi đó đều suốt thông tánh
tướng, giữ luật hạnh trang nghiêm. Đại sư lấy Thiên
Thai giáo quán làm tiền đạo cho hàng học giả, lấy Di
Đà Tịnh độ làm chỗ cứu cánh nương về. Ban sơ Đại sư
giữ nhựt khóa niệm Phật sáu muôn câu, lâu ngày đi
đến cảnh không niệm tự niệm, nên câu hồng danh chẳng
lúc nào gián đoạn.
Mùa xuân năm Nhâm Dần, Đại sư đem việc chùa giao phó
cho đệ tử thượng thủ và nói: "Ta sắp về Tây
phương!". Sang Đông, ngài cử hành l Phật thất. Được
hơn một tuần, trong định Đại sư thấy nước bát công
đức lóng lánh nơi ao thất bảo trang nghiêm. Không
bao lâu ngài cảm bịnh nhẹ, từ khước thuốc thang một
lòng niệm Phật và bảo đồ chúng luân phiên trợ niệm.
Kế đó Đại sư tuyệt thực ẩm, nằm theo lối kiết tướng
nghiêng về bên hữu, giữ pháp Kim cang trì niệm. Hôm
sau ngài thấy đức A Di Đà hiện thân, tướng bạch hào
quang sáng chói, liền chỗi dậy ngồi kiết già hướng
về Tây, bảo xếp dọn chăn gối. Thị giả ngần ngại
trình thưa tiết trời quá lạnh, Đại sư bảo: "Ta sắp
từ bỏ tệ phục đổi lấy trân phục, bỏ huyn thân nhơ
nhớp thay thân bảo chất đẹp nghiêm!". Tăng chúng hay
tin tụ hội đến, ngài an tường nhìn khắp xung quanh
và chẫm rãi hỏi: "Thế nào là giải thoát?". Chúng đều
nhìn nhau không khế hội. Đại sư mỉm cười bảo: "Đã
vậy, chi bằng học theo ông già bà cả quê mùa, ăn
chay trường chân thành mà niệm Phật là chắc chắn hơn
cả!". Kế đó dạy chúng đánh mõ trợ niệm, giây lát
tiếng mõ hơi gấp, ngài bảo dừng lại, chỉ đồng thanh
xưng Nam mô A Di Đà Phật. Khi niệm độ hơn một trăm
câu, Đại sư chấp tay mà thị tịch. Bấy giờ nhằm ngày
mười ba tháng chạp, năm Quang Chữ thứ hai mươi tám.
Vài giờ sau chúng dò thăm thấy đảnh của ngài còn
nóng, thân thể đều như nhuyến.
Đại sư hưởng tuổi đời được sáu mươi bốn, Tăng lạp
bốn mươi bốn.
Cư
sĩ Dương Kiệt, tự Thứ Công, người đời Tống, ở huyện
Vô Vi, nên tự hiệu là Vô Vi Tử. Trong niện hiệu
Nguyên Phong, ông làm quan Thái thường, ban sơ mến
thích Thiền tông, hằng đến pháp hội của Thiên Y Hoài
thiền sư, tham cứu về cơ ngữ của Bàng cư sĩ. Đến khi
phụng chiếu đi tế ở đỉnh Thái Sơn, thấy vầng hồng
mọc lên như chiếc mâm tròn rực rỡ, bỗng nhiên đại
ngộ.
Cuối năm Hy Ninh, ông cư tang mẹ ở quê nhà, nhân lúc
rảnh duyệt tạng kinh, liền quy hướng về Tịnh độ. Cư
sĩ vẽ tượng Phật A Di Đà cao một tượng sáu, hằng đem
theo mình để quán niệm. Thuở bình sanh có những trứ
thuật, phần nhiều đều chỉ đạo về Cực lạc. Ông từng
viết lời tựa trong quyển Tịnh Độ Thập Nghi Luận của
ngài Thiên thai như sau:
"Ái tâm chẳng nhim nặng, thì không sanh ở Ta bà.
Niệm Phật chẳng chuyên nhứt tất không sanh về Cực
lạc. Ta bà là cõi ác nhơ, Cực lạc là miền đẹp sạch.
Mạng sống ở Ta bà có hạn. Thọ số ở Cực Lạc không
cùng! Nơi Ta bà đủ các sự khổ, it có niềm vui. Miền
Cực lạc phiền khổ chẳng còn, an vui vô lượng. - Ta
bà theo nghiệp luân hồi, không biết lúc nào được
thoát ly. Cõi Cực lạc một khi được sanh, tất không
thối chuyển, lần lượt chứng đến quả đại giác. Nếu
muốn hóa độ mười phương, tùy ý tự tại, không còn bị
nghiệp buộc ràng. Xét qua hai cõi, các sự: ác nhơ,
đẹp sạch, phiền khổ, an vui, mạng sống ngắn ngủi,
thọ số dài lâu, mãi luân hồi, mau chứng ngộ, đều
trái khác nhau. Như thế, mà chúng sanh mê mờ không
biết, há chẳng đáng thương xót lắm ru?
Đức Di Đà là bậc nhiếp thọ tiếp dẫn ở Cực lạc. Phật
Thích Ca là vị chỉ đạo Tịnh độ ở Ta bà. Cho nên
trong các giáo điển Đại thừa của Ngài, phần nhiều
đều hết lời cặn kẽ khuyên bảo vãng sanh. Bồ tát Quán
Âm, Thế Chí theo phụ trợ đức A Di Đà, cùng nương
thuyền đại nguyện vào biển luân hồi, chẳng trụ bờ
bên này bên kia cùng giữa dòng, mà làm việc tế độ.
Cho nên kinh A Di Đà nói: "Nếu có thiện nam tử,
thiện nữ nhơn nào, nghe nói Phật A Di Đà, niệm giữ
danh hiệu, hoặc từ một ngày cho đến bảy ngày, một
lòng không loạn. Kẻ đó đến lúc mạng chung, được Phật
A Di Đà cùng các Thánh chúng hiện ra ở trước. Người
ấy khi mạng chung lòng không điên đảo liền được vãng
sanh về cõi nước Cực lạc của Phật A Di Đà!". Cho nên
khi xưa ở viện Vô Thường tại Kỳ Hoàn tinh xá, Phật
dạy người bịnh nằm day mặt hướng phương Tây, tưởng
sanh về Tịnh độ. Tại sao thế? Bởi đức A Di Đà phóng
ánh sáng soi khắp pháp giới, nhiếp lấy chúng sanh
niệm Phật không bỏ sót. Vì thánh phàm đồng một tâm
thể, nên cơ cảm hợp nhau, có niệm tất có ứng. Cho
nên chúng sanh trong tâm chư Phật, nếu biết quay về,
mỗi niệm đều là Tịnh độ. Chư Phật trong tâm chúng
sanh, áng linh soi khắp, mỗi chỗ đều là từ bi.
Lấy đây mà xét: người trí tuệ d vãng sanh, vì dứt
trừ nghi hoặc. Người thiền định d vãng sanh, vì lòng
không tán loạn. Người trì giới d vãng sanh, vì xa
các nhim ô. Người bố thí d vãng sanh vì xả bỏ của
trần. Người nhẫn nhục d vãng sanh vì không cưu mang
oán hận. Người tinh tấn d vãng sanh, vì mau thành
tựu tịnh niệm. Người không tạo thiện không tạo ác
cũng d vãng sanh, vì một lòng quy hướng thuần nhứt.
Người làm các điều ác, nghiệp báo đã hiện, cũng d
vãng sanh, nếu biết thẹn sợ mà niệm Phật. Trái lại,
kẻ tuy tạo các công đức lành, nếu không có lòng tin
nguyện hồi hướng, tất không được vãng sanh vậy!
Ôi! Hiệu Di Đà rất d niệm, cõi Tịnh độ rất d sanh!
Chúng sanh không muốn niệm, không cầu sanh, Phật dù
xót thương cũng chẳng biết làm sao được? Vả chăng:
tạo ác nghiệp đọa đường khổ, niệm Di Đà sanh cõi
vui, hai điều ấy đều là lời Phật dạy. Chúng sanh chỉ
lo sợ đọa địa ngục, mà nghi ngờ sự vãng sanh, há
cũng chẳng mê lầm ư?
Trong năm Nguyên Hựu, ông làm quan Đề hình tại Lưỡng
Triết, rồi mãn phần ở đó. Khi lâm chung, nói kệ
rằng:
Sống vẫn không chi luyến
Thác cũng không chi xả
Giữa khoảng thái hư không
Mặc chi hồ giả dã!
Đem lầm đến sai khác
Cõi Tây phương Cực lạc!
Trước đó, quan Hữu tư tham quân là Vương Trọng Hồi,
người lân lý với Thứ Công, vẫn từng theo ông thọ học
pháp môn Niệm Phật, có hỏi rằng: "Làm thế nào để
được không gián đoạn?". Ông đáp: "Sau khi đã tin
chắc chẳng còn nghi, tức là không gián đoạn!". Trọng
Hồi nghe nói lãnh ngộ, vui mừng khấp khởi, từ tạ ra
về. Năm sau, Thứ Công làm quan ở Đơn Dương, một đêm
mơ thấy Trọng Hồi dến thưa rằng: "Trước kia nhờ ngài
chỉ dạy về Tịnh độ, nay tôi đã được vãng sanh, nên
đến đây tạ ân!". Nói xong đảnh l rồi lui. Mấy hôm
sau, ông được thơ cáo phó của con Vương Trọng Hồi.
Trong ấy, kể rõ cha mình dự biết vãng sanh, có đi
khắp nhà thân hữu từ biệt. Khi Thứ Công đã mãn phần,
có Kinh Dương phu nhơn nằm mộng dạo chơi đến cõi Tây
phương, thấy một vị thân tướng đoan nghiêm ngồi trên
hoa sen, đội mão ngọc, đeo anh lạc, tà áo phất phơ
theo gió nhẹ. Bà hỏi là ai, được cho biết là Vô Vi
Tử Dương Kiệt.
Cư
sĩ Vương Cổ, tự Mẫn Trọng, người đời Tống, ở Đông
Đô, nguyên là tằng tôn của quan Tướng quốc Vương Văn
Đáng. Gia tộc bảy đời đã giữ giới bất sát, đến phiên
cư sĩ lại phát tâm phóng sanh một trăm muôn vật
mạng.
Khi ông làm quan ở Giang Tây, từng cùng các bậc lão
sư như: Hối Đường, Dương Kỳ nghiên tập về Thiền
tông. Cư sĩ có trứ tác quyển Trực Chỉ Tịnh Độ Quyết
Nghi Tập, hoằng dương môn Niệm Phật. Lúc rỗi rảnh,
tràng chuỗi chẳng rời tay, đi đứng nằm ngồi hằng tu
tịnh quán không xen nghỉ. Ông có viết bài tựa quyển
Tịnh Độ Bảo Châu Tập như sau:
"Chúng sanh tâm tịnh, thì cõi Phật tịnh Pháp tánh vô
sanh mà vẫn hằng sanh. Nay có đức Thế Tôn, hiện ở
cõi Cực lạc. Phật đó đang thuyết pháp, hiệu là A Di
Đà. Nơi quốc độ ấy, duyên thắng màu đẹp, kiếp thọ
lâu dài. Vị hóa chủ kia, bi nguyện rộng sâu, tiếp
dẫn quần loại. Đức Phật ánh sáng vô biên, nhiếp thọ
mười phương hàm thức. Cảnh trí nhiệm mầu đẹp sạch,
trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn! Lưới châu giăng
sáng giữa hư không, cây báu bày hàng trên mặt đất.
Nước ao hàm tám đức, sen ngọc phóng muôn màu. Sáu
thời nghe thiên nhạc thanh thao, ức cõi đem diệu hoa
rải cúng. Chư Phật sáu phương đồng khen ngợi, chúng
sanh mười cõi niệm nguyện nương về. Hàm thức trong
tâm vô lượng, niệm niệm vãng sanh. Di Đà nơi tâm
chúng sanh, hằng hằng nhiếp hoá. Chất gởi hoa sen,
không lìa đương xứ. Thần chơi cõi tịnh, chẳng ngoại
tự tâm. Như gương hàm muôn tượng, mà không có đến
đi. Tợ trăng ẩn ngàn sông, đâu phải là lên xuống!
Pháp độ cớ viên đốn, đều là bậc Bổ xứ nhất sanh. Cửa
mở nẻo quyền thừa, bày sắp lớp Liên hoa cửu phẩm.
Niệm Vô Lượng Quang trong bản tánh, xưa nay không
niệm. Sanh An Dưỡng quốc của duy tâm, vốn thật chẳng
sanh. Thoát vòng mê khổ, mười niệm siêu đến cảnh
Liên trì. Về cõi chân như, ba thừa kết chứng ngôi
Diệu giác. Đá to nhờ chuyên chở mà khỏi bị dắm chìm.
Thuyền nhẹ thuận nước buồm, tất không điều trở ngại.
Lúc mê mờ, đường tuy gần mà xa. Khi tỏ ngộ, nẻo
không xa chẳng cách.
Thương ôi! Những kẻ học ít chướng nhiều, nghi sâu
huệ cạn, hoặc bài bác niệm Phật cho là môn quyền
tiểu, hoặc mê mờ Tịnh độ chẳng rõ có hay không? Họ
đâu biết rằng: chê niệm Phật là chê chư Tổ Vĩnh
Minh, Trí Giả; bác Tịnh độ là bác Đại sĩ Long Thọ,
Mã Minh! Những người ấy, không tin mình sẽ được thọ
ký Bồ đề, không chịu trở lại quê hương xưa bản giác.
Thế rồi thân chim lồng cá chậu, vẫn mê mải nhởn nhơ;
kiếp đuốc gió bóng câu, lầm tưởng mơ bền bỉ. Báo
thân khi mãn, còn đâu là cuộc vui trần. Luân chuyển
không cùng, uổng chịu vào nơi khổ thú! Đâu nghĩ đến:
đấng Giác hoàng khuyên dạy, giọng kim khẩu hết lời.
Mà để được: bạn Thánh hiền trong sát na, đủ tướng
hảo trong khoảnh khắc. Trước thọ lạc xa lìa ngũ
trược, sau bi tăng cứu vớt tam đồ. Việc này mà thờ
ơ, thật là đáng thương xót!".
Triều vua Huy Tôn, ông làm quan Hộ bộ Thị lang, bị
vu cáo mất chức, kế đó niệm Phật mà thoát hóa. Một
vị Tăng thần thức dạo chơi Tịnh độ, thấy có Vương Cổ
cùng Cát Phiền đồng ngồi nơi hoa sen. Cát Phiền
người ở Trừng Giang, làm quan đến chức Triều Tán đại
phu. Khi tại công thự hoặc tư gia, ông đều để một
gian tịnh thất riêng thờ Phật. Một hôm đang lúc l
tụng, xá lợi từ hư không rơi xuống. Sau ông không
bịnh, ngồi ngay thẳng day mặt về Tây niệm Phật mà
qua đời.
Cư
sĩ Ngu Thuần Hy, tự Trưởng Nhu, người ở Tiền Đường,
lúc mới sanh ra nằm ngửa tỉnh táo không nhắm mắt.
Khi lên ba tuổi, miệng niệm Phật chẳng ngớt, thường
thấy hoa sen cây báu hiện ở trong nhà. Thuần Hy đem
cảnh giới ấy thuật lại, thì bà nội bảo: "Đó là tướng
đẹp lành ở Tây phương!". Rồi nhân đó bà dạy cho tập
định. Từ đấy ông thường ngồi kiết già ngay thẳng,
sụp đôi mi mắt. Em là Thuần Trinh, tự Tăng Nhu, cũng
có căn lành Phật pháp, lúc tuổi trẻ cùng ông rất
tương đắc. Khi thọ tang mẹ, cả hai đồng tu pháp
Thiên Thai Chỉ Quán.
Lớn lên, Thuần Hy làm thầy dạy trẻ trong làng,
thường chỉ bảo học tập môn Tỷ quán. Việc này làm cho
người chủ nhà trọ bất mãn, nhưng ông chẳng mấy để
tâm. Kế đó đỗ kỳ thi Hương, rồi dời đến Tỷ sơn dạy
học. Ông từng cùng bạn đồng xã tụng Lương Hoàng Sám,
cảm mây lành đoanh trong nhà, ánh sáng lạ chiếu vào
thất, cam lộ rơi phơi ướt vách, trời mưa xuống lúa
vàng nếp đen cùng hương trầm thủy. Lúc ấy đang tiết
đông mà trăm hoa đều đua nở xung quanh. Thuần Hy cảm
điềm linh dị, tu tập định lực càng bền chắc, nên có
thể dự biết mọi việc. Vân Thê Đại sư nghe được
chuyện ấy, răn nhắc rằng: "Đó chỉ là cảnh giới lành
tạm hiện, nếu tự cho là chứng đắc, tất sẽ lạc vào
lưới ma?".
Năm Vạn Lịch thứ mười một đời Minh, ông đỗ Tiến sĩ,
vì tang cha, về cất lều bên mộ thủ hiếu ba năm. Nhân
dịp rảnh, lại đến thọ quy giới cùng ngài Vân Thê.
Lúc ở nhà mộ gần núi, mỗi ngày ông đều đem cơm canh
thí cho loài nai thỏ, có hổ báo đến liền thét quở
đuổi đi. Khi mãn tang, cư sĩ tựu chức, làm quan
Phương ty chủ sự. Không bao lâu, lại xin cáo thối,
lên non Thiên Mục ngồi trước tử quan của Cao Phong
Diệu thiền sư thuở xưa, ngày đêm tham thiền. Đến
ngày thứ hai mươi mốt, trong người mệt mỏi vừa muốn
tạm nằm nghỉ, chợt như mơ thấy Cao Phong Diệu thiền
sư chém đứt cánh tay trái, bỗng rổng rang đại ngộ.
Ông đem cảnh giới ấy cầu chứng với ngài Vân Thê. Đại
sư bảo: "Phàm người mới thức tỉnh, nếu không chổi
dậy chải gỡ bịt khăn, mà còn nằm yên trong chăn gối,
tất trở lại mơ màng. Kẻ mới ngộ đạo cũng thế, nếu
chẳng gắng tự trang nghiêm, mà còn gần nơi uế trược,
tất sẽ mê trở lại. Măng non d bị gãy, hoa sen gần
lửa d bị héo. Ông phải tự lo liệu, chớ vì được một
điểm ánh sánh nhỏ, mà làm trở ngại sự tiến tu của
mình!". Nhân đó, Đại sư khuyên cư sĩ nên niệm Phật
hồi hướng về Tịnh độ, để nối tiếp nhân lành đời
trước. Thuần Hy l tạ, nguyện trọn đời tuân hành.
Có kẻ đến chơi, bảo mình không tin sự niệm Phật. Cư
sĩ nói: "Giác ngộ mình, giác ngộ người, hạnh giác
ngộ đầy đủ, gọi là Phật. Niệm Phật, chính là niệm
giác ngộ vậy. Mỗi niệm không thường giác ngộ, mà để
thường mê, như thế có nên chăng! Chim đỗ nơi gò nổng
cây cao, người ở trong xóm làng đất nước. Không đậu
nơi đất lành, mà ở nơi chẳng lành, như thế có nên
chăng? Sự niệm Phật và cầu về Cực lạc, chính là đi
đến chỗ giác ngộ cùng sanh nơi đất lành để bảo đảm
sự giác ngộ đó vậy! kẻ ấy như chợt tỉnh, bái tạ ân
cần hỏi về cách thức niệm Phật. Cư sĩ đáp: "Trong
mỗi câu hồng danh phải đề tỉnh chánh niệm, cứ giữ
tiếp tục như thế mà thôi. Bởi trăm ngàn phương tiện,
cũng chỉ ở một chữ "giác". Nếu cứ giữ mỗi niệm A Di
Đà, tức Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, thì làm sao
chẳng vào được tri kiến của Phật? Người học đạo
chính vì cầu thoát ly sự sống chết luân hồi. Nếu mỗi
niệm cứ giữ như thế, thì làm sao không thoát ly
được?
Không bao lâu, ông lại được triệu giữ chức Chủ khách
ty viên ngoại lang. Kế đó cải tiến lên chức Tư huân.
Nhưng được một lúc cư sĩ cũng lại xin về, cùng em là
Thuần Trinh ẩn dật di dưỡng tánh tình, ngao du sơn
thủy. Bấy giờ ngài Vân Thê đang giảng kinh Viên Giác
ở Nam Bình. Đại sư xướng lập Phóng Sanh Xã, quyên
tiền đào Vạn Công Trì. Hàng Tăng tục vài muôn người
đều nương về hiệp trợ, tiếng tụng kinh niệm Phật
vang dội núi rừng. Anh em Thuần Hy có công lớn trong
việc xướng suất số đông hành danh nho thanh sĩ, tham
dự pháp hội ấy. Kết cuộc công thành, đào được ba đầm
Phóng sanh có bờ đê ngăn giữ và cất được nhiều nhà
gác, để thả các loài chim cá.
Xong mọi việc, Thuần Hy vào ẩn trong núi Nam Bình.
Thuần Trinh cũng ẩn cư nơi non Linh Thứu. Hai anh em
quyết dùng khoảng đời dư thừa, chuyên niệm Phật để
thành tựu sự vãng sanh không còn xuất hiện nữa.
Viên Hoằng Đạo, tự Trung Lang, hiệu Thạch Đầu cư sĩ,
người ở huyện Công An, tỉnh Hồ Bắc. Anh là Tông Đạo,
tự Bá Tu, hiệu Hương Quang cư sĩ. Em là Trung Đạo,
tự Tiểu Tu, hiệu Thượng Sanh cư sĩ. Ba anh em đồng
một mẹ, lúc thiếu thời đều nổi tiếng văn tài, lớn
lên cùng ưa thích Thiền tông. Trong niên hiệu Vạn
Lịch đời Minh, ba anh em trước sau lần lượt đều đổ
Tiến sĩ. Bá Tu làm quan đến chức Hữu giá tử. Tiểu Tu
làm quan đến chức L bộ lang trung. Sau hai anh em
đều xin về quê hưu dưỡng, sớm hôm siêng cần l tụng.
Riêng phần Trung Lang, tức Hoằng Đạo, sau khi thi
đỗ, được bổ làm Tri huyện ở Ngô Giang. Ông xử việc
án tụng rất sáng, lẹ quyết đoán. Khi rảnh việc công,
lại ưa ngao du sơn thủy. Sau được thăng lên chức L
bộ chủ sự, chẳng bao lâu cáo bịnh xin về nghỉ. Cư sĩ
có lập một khu vườn ở thành Nam, trồng cả muôn cây
liu xanh tốt. Khi gió thổi qua, đứng trên lầu cao,
thấy ngọn liu uốn dợn như ngàn đợt sóng, tiếng chim
oanh cùng các phi cầm đua nhau kêu hót bên trong.
Ông gọi cảnh trí là Liu lăng đấu oanh, thường cùng
các văn nhơn thiền khách du lãm trong đó, khi thì
uống rượu ngâm thi, lúc lại luận bàn đạo lý. Ban sơ,
cư sĩ học thiền với Lý Trác Ngô, tín giải thông
suốt, biện tài không ngại. Sau tự nghiệm xét, thấy
dù huyền luận dọc ngang, cũng chỉ là lời nói suông,
không có lợi ích thiết thật, mới hồi hướng về Tịnh
độ, sớm hôm sám hối l niệm, kiêm giữ gìn giới cấm.
Bá Tu và Tiểu Tu cũng đồng thời phát tâm niệm Phật.
Cư sĩ tuyển trong các kinh giáo, viết ra bộ Tây
Phương Hiệp Luận. Trong ấy bàn tánh tướng đến chỗ
viên dung, đi sâu vào pháp môn Bất Nhị. Xin lược
trích vài đoạn thiết yếu như sau:
"Trong năm thứ Hành môn, thứ nhứt là Tín tâm hạnh.
Kinh nói: "Niềm tin là bước đầu vào đạo, là mẹ các
công đức". Thể nên đức tin là chánh nhân của tất cả
hạnh. Cho đến khi tròn mãn quả Bồ đề, cũng chỉ hoàn
thành tín căn ấy mà thôi. Như mụt măng non khi thành
cây tre cao vút, trước sau cũng chỉ là một gốc. Các
Bồ tát mới phát tâm, không vị nào chẳng nương nơi
sức tin mà được thành tựu. Trong Liên tông, lòng tin
lại là cội gốc. Vậy phải tin như thế nào?
Một là tin Căn bản trí và Bất động trí của Phật A Di
Đà cùng mình không khác. Như khoảng thái hư, mặt
trời rọi thì sáng, mây kéo che thì tâm tối, nhưng hư
không vẫn không có tánh sáng tối. Lại nên hiểu mặt
trời cùng mây chẳng ngoài thể của hư không.
Hai là tin Phật A Di Đà tu tập các hạnh trong vô số
kiếp, làm những việc khó làm, nhẫn những điều khó
nhẫn, ta cũng có thể làm được. Tại sao thế? Bởi từ
trước trong vô số kiếp, khi ta bị chìm đắm ở ba ác
đạo, chịu vô lượng sự khổ về thân tâm, khi thì mang
lông đội sừng, lúc lại đọa nơi vạc dầu giường lửa.
Những sự khổ vô ích như thế, ta đã từng trải qua và
nhẫn chịu được; huống chi là muôn hạnh độ mình độ
chúng sanh của Bồ tát, ta há chẳng thể làm ư?
Ba là tin Phật A Di Đà có vô lượng trí huệ, thần
thông, thành tựu vô lượng nguyện lực cùng mọi việc,
ta cũng sẽ được. Bởi trong tự tánh phương tiện của
Như Lai, có đủ những việc không thể nghĩ bàn như
thế. Lại bởi ta cùng Như Lai đồng một thể tự tánh
thanh tịnh vậy.
Bốn là tin Phật A Di Đà không đi không lại, ta cũng
không đi không lại, cõi Cực lạc và Ta bà chẳng cách
một đầu lông, muốn thấy liền thấy. Tại sao thế? Vì
hai cõi đồng ở trong một thể chân tâm không phân
biệt kia đây. Lại vì tất cả chư Phật đều lấy pháp
tánh làm thân và độ vậy.
Năm là tin Phật A Di Đà tu hành trải qua vô lượng vô
biên kiếp cho đến khi thành đạo, vẫn không lìa một
sát na, ta cũng không lìa một sát na mà địa vị ngang
hàng với chư Phật. Tại sao thế? Bởi thời gian là
huyn hóa không thật, nhiếp về nghiệp hư vọng phân
biệt. Trong biển pháp giới, tìm cái thật của nghiệp
không thể được. Tin hiểu như thế là sơ tâm bước vào
đạo, là tin hạnh Tịnh độ của tất cả chư Phật.
Thứ Ba là Lục độ hạnh. Khởi Tín Luận nói: "Bồ tát
hiểu sâu sự tu hiện tại của mình vốn lìa tướng. Vì
biết thể của chân tâm lìa tham lam bỏn sẻn, nên tùy
thuận tu hành Bố thí Ba la mật. Vì biết thể của chân
tâm không ô nhim, lìa sự lỗi lầm của năm điều dục
lạc, nên tùy thuận tu hành Trì giới ba la mật. Vì
biết thể của chân tâm không có tướng thân tâm, lìa
sự biếng tr, nên tùy thuận tu hành Tinh tấn ba la
mật. Vì biết thể của chân tâm yên tĩnh, không tán
loạn, nên tùy thuận tu hành Thiền định ba la mật. Vì
biết thể của chân tâm sáng suốt, lìa vô minh, nên
tùy thuận tu hành Bát nhã ba la mật". Người tu Tịnh
độ trong một câu niệm Phật, có đủ cả sáu môn như
thế. Niệm niệm xả lìa, tức là Bố thí. Niệm niệm
thanh tịnh tức là Trì giới. Niệm niệm nối tiếp không
gián đoạn, tức là Tinh tấn. Niệm niệm qui nhứt, tức
là Thiền định. Niệm niệm trong sáng, tức là Bát nhã.
Sáu hành môn này đều từ câu niệm Phật mà lưu xuất,
chánh và trợ không hai, sự cùng lý chẳng khác. Cho
nên hạnh niệm Phật gồm tất cả hạnh, vì đó là Nhứt
tâm pháp môn, vì ngoài tâm không có các hạnh vậy.
Nếu bỏ các hạnh, tức là bỏ tâm, bỏ sự tức chẳng
thành lý".
Khônh bao lâu, Hoằng Đạo được triệu giữ lại chức cũ,
lần thăng tiến đến ngôi Huân ty lang trung. Ít lúc
sau cáo bịnh xin nghỉ. Về nhà chẳng mấy ngày, liền
vào thành Kinh Châu ở trọ trong chùa Tăng tu niệm,
rồi không bịnh mà qua đời.
Trung Đạo tức Tiểu Tu, sau khi về hưu, sớm hôm tinh
cần niệm Phật. Một đêm, nhằm ngày rằm tháng mười năm
Giáp Dần, vào niên hiệu Vạn Lịch thứ bốn mươi hai,
khi khóa tụng xong, ông tĩnh tọa, cảm biết hình thần
thanh sáng. Bỗng chợt có trạng thái như vào định,
thần thức vượt lên khỏi nhà, nương mây bay đi. Hai
bên có hai đồng tử phò trợ, bảo: "Hãy theo chúng
tôi!". Rồi đưa đi về phương Tây lẹ như chim bay.
Trông chúng quanh, ánh trăng vẫn sáng tỏ, gương nga
lồ lộ giữa trời. Nhìn xuống dưới thấy núi, đầm,
ruộng nương, thành ấp, làng xóm, nhỏ như đống đất,
chén nước, chòm ong, tổ kiến. Khi sa thấp xuống một
chút, nghe mùi tanh hôi từ dưới bốc lên, liền gắng
sức vượt thẳng trên cao mới cảm thấy thanh nhẹ. Lần
lần bay nhanh như chớp, trải qua không bao lâu, hai
đồng tử bỗng hô lên bảo: "Dừng lại!". rồi cùng đáp
xuống đất.
Tiểu Tu nhìn quanh, thấy đường ngay như dây giăng,
mặt đất bằng phẳng sáng chói trơn nhuần, chẳng phải
chất cát đá. Dọc theo bên đường có đầm ao bề ngang
rộng hơn mười trượng, thềm ao bằng bảo thạch có lằn
như viên chạm. Trong ao hoa sen năm sắc đua nhau
tươi nở, thơm đẹp khác thường. Dài theo bờ ao có
hàng cây sáng chói, các thứ chim lạ hòa nhau kêu
thanh. Cách khoảng lại có cầu bằng vàng ngang qua ao
làm ranh giới. Câu lơn liên tiếp làm mé thành cầu.
Sau hàng cây bên bờ kia, có lầu các xinh lạ khó sánh
ví. Người trong lầu tướng mạo đều thanh sáng, tươi
đẹp như thiên tiên, nhìn Tiểu Tu mà mỉm cười. Hai
đồng tử đi mau, cư sĩ đuổi theo không kịp, vội kêu
lên rằng: "Xin tạm đứng trên cầu đợi tôi một chút!".
Hai đồng tử y lời, ông mới bước theo kịp, cùng tựa
lan can báu của cầu tạm dừng nghỉ. Tiểu Tu vòng tay
hỏi: "Xin được hân hạnh cho biết hai vị là ai? Đây
là nơi nào?". Một đồng tử đáp: "Chúng tôi là thị giả
của Linh Hòa tiên sanh, ngài muốn cùng ông gặp gỡ
nói đôi chuyện, nên bảo đến đón tiếp". Cư sĩ lại
hỏi: "Tiên sanh là bậc người thế nào?". Đáp: "Ngài
chính là lịnh huynh, Viên Hoằng Đạo tự Trung Lang
đấy. Sau khi gặp mặt ông sẽ tự biết, hiện thời chúng
ta phải kíp đi đến nơi!". Nói xong cùng qua cầu theo
đường tới một khu có hơn ngàn cội cây to, lá chất
phỉ thúy, hoa cánh hoàng kim. Sau vùng cây có ao to
rộng, qua cầu ao có cửa bằng bạch ngọc, một đồng tử
đẩy cửa tiến vào trước. Đồng tử kia dẫn Tiểu Tu đi
qua hơn hai mươi lớp lầu các, kim sắc chói rực rỡ,
hoa linh cỏ lạ phơ phất bên thềm. Khi tới dưới tòa
lầu nọ, có một vị thần thái tợ Trung Lang, mặt sáng
như ngọc, áo tợ ráng mây, coa hơn trượng, bước đến
đón rước, mừng rỡ bảo: "Em đã tới đó ư?" rồi dắt tay
lên lầu, trên đó có bốn năm vị tướng trạng như thiên
nhơn, ngồi xung quanh Trung Lang nói: "Đây là cảnh
biên địa ở Tây phương. Những hành giả niệm Phật, tín
giải chưa thành, giới châu chưa trọn, phần nhiều
sanh về chốn này. Nơi đây cũng gọi là Giải Mạn Quốc
(xứ của người tu còn bê tr). Phương trên có lâu đài
của Hóa Phật, trước lầu có ao to rộng hơn trăm do
tuần, trong ao có sen báu.
Chúng sanh mười phương sanh về gởi chất nơi hoa sen
ấy, đúng kỳ hoa nở, chia nhau đi ở các lầu đài, cùng
những bạn tu tịnh có duyên tụ hội nhau. Do không có
my sắc dâm thanh, nên thắng giải d thành, chẳng bao
lâu tu tiến lên sanh vào chánh quốc ở Cực lạc! Tiểu
Tu thầm nghĩ: "Cảnh đẹp như thế, mà hãy còn là biên
địa ư?'. Nhân đó hỏi: "Anh sanh về chỗ nào?", Trung
Lang đáp: "Anh tịnh nguyện tuy tha thiết, song tình
nhim chưa dứt trừ, ban sơ sanh về nơi đây ít lâu,
nay thì đã được Tịnh độ. Nhưng do thừa gắp giới
huỡn, nên chỉ thuộc hàng địa cư, không được cùng bậc
đại sĩ ở lầu các giữa hư không, còn phải tiến tu
thêm nữa. Rất may lúc còn tại Ta bà, nhờ trí huệ
mãnh lợi, anh từng soạn bộ Tây Phương Hiệp Luận,
khen ngợi công đức độ sanh không thể nghĩ bàn của
Như Lai nên cảm báo được bay đi tự tại, dạo chơi các
quốc độ. Chư Phật nói pháp, đều được đến nghe, đây
thật là điều thù thắng!"
Nói xong, nắm tay Tiểu Tu bay lên hư không, phút
chốc vượt ngàn muôn dặm, rồi đáp xuống một chỗ. Nơi
đây không ngày đêm nhật nguyệt, ánh sánh rực rỡ
chẳng bị ngăn che. Đất lưu ly trong ngoài chói suốt,
trụ dây hoàng kim thất bảo giao xen ngăn chia ranh
giới. Cây đều là thứ Chiên đàn, Cát tường, hàng hàng
nối nhau, gốc gốc trông nhau, vài muôn ngàn lớp. Mỗi
mỗi lá mọc ra các hoa đẹp mầu, màu sắc dị bảo. Bên
dưới cây là ao báu, vô lượng đợt sóng gợn, tự nhiên
phát ra tiếng pháp mầu. Đáy ao lót thuần bằng cát
kim cương. Trong ao sen báu muôn màu phóng ánh sáng
dị sắc. Dọc theo hàng cây bờ ao, lầu các nguy nga
quanh lộn ẩn hiện, hiên thềm nhô ra, cột đỡ mái
cong, cửa lớn cửa song giao chiếu, câu lớn báu doanh
vây bao bọc, thảy đều đầy đủ. Xung quanh lầu các có
treo vô lượng nhạc khí, tự khua động din các pháp
âm. Những điều ghi chép trong kinh A Di Đà và Vô
Lượng Thọ, so với đây mười phần chưa được một. Ngước
nhìn lên, nhiều lầu các lơ lửng giữa hư không, đẹp
huyền ảo giữa những vầng mây ráng. Trung Lang bảo:
"Chỗ em thấy là quang cảnh của hàng địa cư chúng
sanh ở Tịnh độ. Qua khỏi chốn này là nơi ở của chư
Pháp thân đại sĩ, cảnh trí còn đẹp mầu ngàn muôn
phần gấp bội hơn đây. Thần thông của các vị ấy cũng
ngàn muôn phần bội hơn. Anh nhờ huệ lực có thể đến
dạo chơi, mà không được ở. Khỏi nơi đó là chỗ cư trú
của bậc Thập địa cùng Đẳng giác Bồ tát, anh không
thể đi đến và hiểu được. Xa hơn nữa, là cảnh giới
của đấng Diệu giác, duy Phật cùng Phật mới có thể
thấy biết!".
Nói xong, lại cùng bay đến một chỗ, điện các chói
sáng khác thường, chẳng biết làm bằng chất gì. Cảm
thấy hoàng kim bạch ngọc sánh với thứ báu này, dường
như là sắc đất. Nơi đây không thành quách, chỉ có
lan can bao bọc. Hai người cùng ngồi dưới lầu trò
chuyện. Trung Lang nói: "Anh không ngờ cảnh đẹp lại
vui cùng cực như vầy! Giả sử khi ở Ta bà, anh giữ
giới luật thêm tinh nghiêm, thì sự thọ lạc chẳng
phải như thế mà thôi đâu! Đại để trước nhất, thừa
giới đều gấp, sanh phẩm rất cao. Thứ nữa, là giới
gấp, sanh phẩm rất ổn. (Thừa gấp: tâm giải ngộ sâu
sắc. Giới gấp: sự giữ giới tinh nghiêm). Nếu có thừa
mà không giới, phần nhiều bị sức nghiệp lôi kéo,
sanh vào hàng Bát bộ quỉ thần. Những bạn đồng tu lâm
vào cảnh này, anh đã trông thấy rất nhiều. Về phần
em, khí phần Bát nhã tuy sâu song sức giới định rất
kém. Nếu giải ngộ lý mầu mà không sanh giới định,
cũng thuộc về loại cuồng huệ mà thôi! Khi trở về Ta
bà, em phải nhân lúc còn mạnh khỏe mà thật ngộ thật
tu, giữ tịnh nguyện cho tha thiết, siêng làm phương
tiện giúp người, thương xót tất cả, chẳng bao lâu sẽ
có lúc cùng hội ngộ. Nếu lơ là để lạc vào đường
khác, thì thật là đáng kinh đáng sợ! Như chưa thể
giữ giới hoàn toàn, hãy tuân hành theo pháp Lục trai
của ngài Long Thọ cũng được. Trong các giới, sát
giới rất quan yếu. Xin gởi lời nhắn nhủ bạn đồng tu:
Chưa có ai mỗi ngày tay cầm dao giết, miệng tam vị
ngon, mà được sanh về cõi Cực lạc! Dù cho có tài
thuyết pháp như mưa sa mây cuốn, đối với sự tinh tu
nếu không thật hành, cũng là vô ích! Anh cùng em từ
thuở Phật Không Vương đã nhiều đời làm huynh đệ, cho
đến khi luân hồi sáu cõi cũng đều như thế! Nay may
mắn anh đã được về chỗ tốt, sợ em bị lạc vào ác đạo,
nên phải dùng sức thần thông phương tiện, đem đến
đây khuyên bảo. Bây giờ báo nghiệp giữa hai cõi tịnh
và uế khác nhau, em không thể ở lâu được!".
Tiểu Tu vội hỏi về chỗ sanh của Bá Tu cùng các đồng
bạn đã mãn phần. Trung Lang đáp: "Nơi sanh của anh
Tông Đạo và các bạn đều tốt, về sau em sẽ tự rõ!".
Nói xong, liền vượt lên hư không mà bay đi. Tiểu Tu
đứng lên bước chậm rãi theo bờ ao ngoạn cảnh, bỗng
như trượt té xuống nước, kinh hãi giựt mình tỉnh
lại. Lúc ấy cả thân xuất hạn, nhìn lại ngọn đèn tàn
còn trên giá, ánh trăng sáng vẫn chiếu song, thời
khắc đã sang canh tư. Liền vội lấy giấy bút ghi chép
thiên "Tịnh Quốc Du Ký" này.
Trước kia, Tông Đạo có con trai tên Viên Đăng mới
mười ba tuổi, bị bịnh uất hơi sắp mãn phần. Đứa bé
nói với Hoằng Đạo rằng: "Cháu sắp chết, chú làm sao
cứu cháu?". Trung Lang bảo: "Cháu chỉ chuyên niệm
Phật, tất sẽ được sanh về cõi Cực lạc. Nơi đây là
cảnh ngũ trược không đủ để luyến tiếc!". Đứa bé liền
chấp tay liên tiếp niệm Nam mô A Di Đà Phật, hàng
quyến thuộc cũng đồng thanh trợ niệm. Giây phút nó
cười nói: "Cháu thấy hoa sen sắc hơi đỏ". Niệm thêm
giây lát, lại bảo: "Hoa đã lần lần lớn, sắc tươi
sáng, đẹp không thể tả!". Trong khoảnh khắc, lại
nói: "Đức Phật đã đến, tướng tốt quang minh, thân
cao lớn chật cả nhà!". Giây phút, nó thở hơi gấp.
Tông Đạo bảo: "Để người nhà trợ niệm, con chỉ xưng
một chữ "Phật" sau chót cũng được". Viên Đăng xưng
Phật vài tiếng, chấp tay mà qua đời.
Cư
sĩ Vương Điền, tự Vô Công, người đời Tống, quê ở
Minh Châu, huyện Từ Khê. Ông rất thông tuệ, sức học
uẩn súc, nhưng thi Tiến sĩ hai lần đều không đỗ. Từ
đó, tâm danh lợi như tro tàn, ăn chay mặc áo vải,
nơi nào có giảng kinh đều đến tham học. Lúc lớn
tuổi, cư sĩ chuyên tu Niệm Phật tam muội, có trứ tác
quyển Tịnh Độ Tự Tính Lục, tự làm lời tựa rằng:
"Chỗ nhiệm mầu đặc biệt về pháp môn Tịnh độ, mà đức
Thế Tôn đã chỉ dạy, có thể dùng một lời để tổng quát
là: "Đưa chúng sanh từ địa vị phàm phu, vượt tắt lên
ngôi Bất thối chuyển!". Tại sao thế? - cõi này tu
hành khi chứng bậc Sơ tín của Viên giáo, hoặc ngôi
Sơ quả của Tiểu thừa, thì tà kiến là tam độc mới
vĩnh vin không sanh khởi. Đó là cảnh giới Đoạn hoặc
phát ngộ (Nghiệp mê lầm tiêu dứt, phát sanh sự tỉnh
sáng), thẳng vào dòng thánh, dù chuyển kiếp cũng
không mê lạc chỗ sở chứng. Địa vị này siêu khỏi bốn
ác thú (Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh, Tu la), chẳng
mất thân Trời, Người. Còn tất cả hàng phàm phu, dù
là bậc Sơ tâm Bồ tát tu đến địa vị Phục hoặc phát
ngộ (Nghiệp mê lầm chìm lắng xuống Tàng thức, phát
sanh sự tỉnh sáng), một phen trải qua cảnh biến
chuyển phi thường của sự sống chết, liền quên mất
chỗ sở chứng sở tu. Cho nên hạng người này, gặp cảnh
duyên có thể bị thối chuyển và đọa lạc tam đồ.
Riêng cõi Phàm thánh đồng cư Tịnh độ ở cõi Cực lạc,
tuy cũng đủ giai tầng của tam giới, song chỉ có hàng
Nhơn, Thiên. Thế nên tất cả loài hàm thức sanh về
đó, đều từ hẳn bốn thú, thoát khỏi luân hồi. Lại
thêm trợ duyên đầy đủ, thọ số vô cùng, nên dù là kẻ
độn căn, một kiếp tu hành, đều thành Thánh quả. Thế
thì làm sao lại có sự thối chuyển được? Bản ý
khuyên, khen của chư Phật, chẳng qua cũng chỉ như
thế. Nếu bậc thượng căn phát tâm chuyên niệm Phật,
đó là tịnh nghiệp tối thượng, sẽ dự vào phẩm cao.
Như hàng tối dốt quê mùa, nếu biết chí thành niệm
Phật phát nguyện, thì không ai chẳng được vãng sanh
cả.
Than ôi! Xét nghĩ qua môn Tịnh độ, thì biết Phật
không bỏ xót một chúng sanh nào! Những hạng giữ cái
không si mê, bắt chước hạnh vô ngại, rồi tự cao tự
đại muốn ngăn dứt sự niệm Phật của kẻ khác, há chẳng
đáng thương xót lắm ư?".
Vào đầu đêm ngày Đinh Mão, tháng tư, năm Thiệu Hưng
thứ mười sáu, hương lạ bỗng lan đầy nhà. Cư sĩ nhìn
hàng học pháp là Sa môn Tư Tề, bảo rằng: "Đây là
tịnh nghiệp của lão phu chiêu cảm vậy!". Nói xong,
tắm gội thay y phục, ngồi ngay hướng về Tây chấp tay
mà vãng sanh. Khi làm l thiêu hóa, được xá lợi bằng
hột lúa một trăm lẻ tám viên.
Cư
sĩ Vương Nhựt Hưu, tự Hư Trung, người ở Lư Châu.
Triều vua Cao Tôn đời Tống, ông thi đỗ quốc học tiến
sĩ, nhưng khước từ quan chức, về ở ẩn nơi quê nhà mà
dạy học trò. Kế đó lại xếp bỏ việc giáo huấn, ăn
chay trường, mặc áo vải, chuyên tu tịnh nghiệp. Mỗi
ngày cư sĩ khóa l Phật một ngàn lạy rồi niệm hồng
danh. Ông có trứ tác tập Long Thơ Tịnh Độ Văn, được
lưu hành rộng nơi đời. Trong ấy lời lẽ giản dị, bao
gồm nhiều thí dụ, khuyến hóa từ bậc vương công, quan
liêu, sĩ tử, cho đến hàng thứ dân, đồ tể, nô tỳ,
xướng kỹ, đều quy y niệm Phật. Cách lập luận của cư
sĩ rất rõ ràng, tâm ý rất thành khẩn, khiến cho
nhiều người cảm hóa tuân hành.
Năm Quý Tụ trong niên hiệu Càn Đạo, ông Lý Ngạn Bậc
ở Lư Lăng đau bịnh nguy ngập, mộng thấy một vị tự
xưng là Long Thơ cư sĩ, bảo rằng: "Khi thức dậy
ngươi nên dùng cháo trắng, sẽ được an lành. Ngươi
còn nhớ một thiện hữu là Khuyết Trọng Nhã đã khuyên
về lối tu thẳng tắt chăng?". Ngạn Bậc thưa: "Vãn bối
đã tuân hành theo, mỗi ngày đều có niệm Phật!". Sau
khi thức giấc, ông bảo nấu cháo trắng ăn, quả nhiên
bịnh thuyên giảm. Ngạn Bậc liền dạy dắt con đến tìm
Vương Nhựt Hưu để thọ huấn. Không bao lâu, các con
trở về thưa: "Long Thơ cư sĩ đã vãng sanh về Phật
quốc. Ba hôm trước khi mãn phần, cư sĩ đi từ biệt
khắp các thân hữu, khuyên họ tinh tấn tu hành, bảo
mình sắp đi xa, không còn gặp nhau nữa. Tới ngày ông
cho họp các môn sanh cũ lại giáo huấn, rồi khóa tụng
như lệ thường. Đến canh ba, cư sĩ bỗng to tiếng niệm
Phật vài câu, bảo: "Đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn
tôi!". Rồi đứng ngay thẳng mà hóa...". Lý Ngạn Bậc
thấy bức chơn dung của Vương Nhựt Hưu do các con
mượn đem về, giống tạc người mình đã gặp trong giấc
mộng, sanh lòng cảm kích, liền rước thợ khắc hình
tượng Long Thơ cư sĩ, lại đem việc ấy truyền bá xa
gần. Từ đó hàng thiện tín ở vùng Lư Lăng đều phát
tâm niệm Phật.
Trong năm Hàm Hựu, có ông Lữ Nguyên Ích khắc lại bản
Long Thơ Tịnh Độ Văn. Khi khắc đến thiên Chúc
Nguyện, nơi bản bỗng nỗi lên ba viên xá lợi. Chú của
ông là Lý Sư Thuyết có ghi chép việc ấy ở đầu thiên
này.
Viên Liệt Tinh người ở Côn Sơn, thường ngụ nơi vùng
Tây Khê tại Hàng Châu, nhân tự hiệu là Tây Khê cư
sĩ. Thuở thành đồng, ông học tập về nghiệp khoa cử,
một hôm nghe bà ngoại tụng kinh Kim Cang đến đoạn
"Vô tứ tướng", liền có chỗ khế nhập.
Sau cư sĩ gặp Duyệt Sơn thiền sư, mỗi ngày tinh tấn
tham cứu về đường lối hướng thượng. Vừa đâu Bạch
Tung lão nhơn từ Tuyết Phong đến Côn Sơn, Liệt Tinh
đôi ba phen tham khấu, ngộ suốt tánh bản lai, liền
được truyền tâm ấn. Từ đó đạo phong của cư sĩ mỗi
ngày một thạnh, tùy cơ tiếp dẫn, huệ biện không
ngại, vừa đề xướng Nhứt thừa, lại kiêm hoằng Tịnh
độ. Bấy giờ ông thấy các đồng bọn, thích mến khô
thiền, ưa tu tiên thuật, phần nhiều không tin Tịnh
độ, nên viết lời hiểu dụ rằng:
"Pháp môn Tịnh độ tròn thông rộng lớn, từ trước đến
nay tôi đă thầm tu mật chứng, nhưng không dám vội
đem nói với người. Đó là vì thời tiết chưa đến, nói
ra e vô ích, chớ không phải cố ý giấu kín chỗ tu.
Bởi môn Niệm Phật là pháp tạng rất sâu của chư Phật,
hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật thuộc Nhị thừa còn có
những kẻ không tin. Đó là do các vị ấy đã trụ cảnh
Niết bàn thanh tịnh, đã chứng thần thông diệu dụng,
nhưng chỉ thấy biết trong phạm vi một cõi Đại thiên,
nên không rõ biển đại trang nghiêm của Tịnh độ hiện
thành ở khắp mười phương. Cho nên chư Phật đã quở
các vị cố chấp theo cảnh giới Nhị thừa là tà, là đọa
vào hầm hố vô vi, là say men rượu tam muội! Rất đáng
than thở cho người tu thiền đời nay, còn chưa đến
được cảnh giới Niết bàn thanh tịnh của Nhị thừa, mà
vội bụng trống lòng cao, chưa đắc cho rằng đắc, chưa
chứng cho là chứng. Trong lúc nọ ngồi yên tĩnh đến
chỗ sáu căn chưa động, lộ bày một chút quang cảnh,
liền vội cho rằng mình đã tỏ ngộ. Rồi từ đó nghênh
nghênh ngang ngang, chê bai Tịnh độ, thật đáng
thương xót!
Giả sử các vị ấy quả thật đại triệt đại ngộ, đã rờ
được chót mũi của bà mẹ bản lai, thử hỏi có đứng
ngoài được bốn cảnh Tịnh độ từ cõi Phàm Thành đồng
cư đến cõi Thường tịch quang tịnh độ chăng? Nếu họ
lập luận: "Dù biết được bốn cõi ấy, cũng gác bỏ qua
một bên!". Nói như thế, chư vị ấy há không nhớ lời
của bậc tôn túc là Mật Vân thiền sư đã bảo: "Các ông
muốn gác bỏ qua một bên, quả thật là điều: đối trước
người si lại càng không thể tỏ ra việc mộng!". Cổ
đức nói: "Kẻ tham thiền đời nay lấy sự thấu suốt
pháp thân làm điều tất yếu, mà không biết thấu suốt
rồi lại phải làm thế nào? Giả sử sau khi thấu suốt,
còn thấy có một bóng dáng chi, cũng là cái bịnh!".
Đại khái người tham thiền đời nay đều không thoát
khỏi cảnh ma chướng sở tri nhỏ nhiệm, trở lại bác
các hành giả Tịnh độ là ngu dốt, chẳng cũng lầm lạc
lắm ư!
Vả chăng khắp cõi hư không có mười pháp giới, mà
Tịnh độ của chư Phật là pháp giới bậc nhứt, nên chín
giới kia đều nương về. Tu Tịnh độ ở cõi người rất d,
còn các cõi địa ngục, ngạ quỉ do nỗi khổ bức bách,
hoặc không biết danh hiệu Phật, nên khó thật hành.
Chư Phật thương xót hằng dùng sức oai thần phóng ánh
sáng thanh tịnh đến cứu độ, nhưng các chúng sanh ấy
bị sức nghiệp che chấp, nên không nhìn thấy. Phải
chờ đến khi nghiệp hết tâm khai, nghe biết và niệm
được một câu Phật, thì cảnh địa ngục, ngạ quỉ mới
liền biến thành cảnh thanh lương được. Còn loài Bàng
sanh thì si mê tăm tối, hàng Tu la lại sân hận lẫy
lừng, cũng khó trông thấy từ quang. Riêng hàng chư
Thiên do thọ hưởng sự dục lạc rất thắng diệu, nên
cũng khó tu môn Niệm Phật.
Nhưng xét kỹ lại, chẳng chịu tu môn Tịnh độ, không
chi hơn hàng Thiên tiên. Các vị ấy chẳng phải không
biết Tịnh độ là đẹp mầu, nhưng họ đã được thần thông
diệu dụng, biến hóa bay đi, cùng tự tại ẩn hiện ra
vào cảnh có hoặc không. Họ có thể phóng ra các thứ
ánh sáng, huyn hiện các hình tượng chư Phật, Bồ tát
cùng các cảnh vật trang nghiêm. Do đó hàng thiên
tiên cho rằng sự vui ở Tịnh độ chẳng qua cũng chỉ
như thế nên không chịu hướng về. Họ đâu biết rằng
mình bị đọa vào huyn thức các cảnh giới giả hiện đều
do tinh khí thần hòa hợp biến thành! Đức Phật đã
bảo: Hàng thiên tiên không tu theo chánh giác, chưa
phải là vô vi, khi quả báo hết phải tùy nghiệp đọa
vào các nẻo! Cảnh thiên chân vốn tự hiện thành,
chẳng phải luyện mà được. Nếu tu luyện mà thành tức
là có sanh, tất sẽ không tránh khỏi sự biến diệt.
Nguyên tinh, nguyên khí chẳng ngoài nguyên thần, mà
nguyên thần chính là tên riêng của nghiệp thức. Bậc
đại trượng phu phải trở về tánh bản lai, dứt trừ
thần thức, chém đứt mạng căn, tại sao lại tu luyện
thành một thứ nguyên thần không ngoài vòng nghiệp
thức? Có kẻ tuy luyện thành, đến nửa chùng năng lực
suy kém, có khi chưa tới kiếp hỏa mà đã hoại trước.
Dù có thể củng cố nguyên thần được bền lâu, nhưng
lúc đại kiếp hỏa chẳng những phá thể hữu hình, mà
cũng đốt cháy luôn thể vô hình. Đừng tự an ủi rằng:
đạo ta như hư không cũng là nghiệp thức huyn hiện,
bậc chứng được đạo nhãn vô thượng mới soi thấu. Chư
thiên tiên dù có thể hóa hiện các thứ thắng cảnh,
nhưng kết cuộc chẳng được mười phần sáng suốt, và
mười phần chánh đại. Đâu bằng chư Phật, Bồ tát và
tất cả chánh báo y báo ở Tịnh độ đồng ở trong cảnh
quang minh rực rỡ thấu suốt còn hơn trăm ngàn mặt
trời? Những bậc tu theo Phật giáo khi đắc quả, thấy
thời gian không gian đều như huyn, nên có thể hiện
cõi Bảo vương nơi một đầu lông, ngồi chuyển pháp
luân ở trong điểm bụi. Cảnh giới ấy chẳng phải hàng
thiên tiên có thể sánh được trong muôn một. Cho nên
người tin sâu môn Tịnh độ mà chuyên tu, tức đã vượt
hơn hàng thiên tiên trăm ngàn ức lần. Nếu chưa thể
dứt trừ quan niệm học tiên, chính là chưa phân biệt
rõ sự chân giả lớn nhỏ giữa Phật và Tiên vậy.
Pháp môn Tịnh độ là chỗ quy hướng của tất cả thánh
hiền. Khi được sanh về Cực lạc, tu phước huệ đầy đủ,
rồi trở lại Ta bà, gặp tiên độ tiên, gặp người độ
người, gặp ma quỉ độ ma quỉ, cho đến gặp duyên ân
oán đều có thể tế độ. Đó mới thật là năng sự của bậc
đại trượng phu! Nếu các vị tin chắc môn Tịnh độ mà
quyết chí thật hành, thì hoa sen nơi ao báu ở Cực
lạc sẽ tươi nở ghi tên. Ngay trong hiện tại khi niệm
Phật được thanh tịnh, thì tất cả cảnh đẹp, tiếng
pháp, hương mầu, vi diệu, ánh sáng, lý chân, đều
tràn ngập cả mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của các
vị. Chừng ấy ngay chính bản thân của chư vị đã thành
một đấng Cổ Phật rồi đấy!".
Vào tháng hai, niên hiệu Khang Hy thứ năm mươi đời
Thanh, cư sĩ niệm Phật rồi an lành vãng sanh ở Bảo
Thọ, hưởng được sáu mươi hai tuổi. Hàng môn nhơn kết
hợp những di ngôn làm thành quyển Tây Khê Cư Sĩ Tập.
Việt quốc phu nhơn Vương thị, nguyên là vợ của Kinh
Vương. Kinh Vương lại là chú của Triết Tôn hoàng đế
đời Tống. Phu nhơn chuyên niệm Phật ngày đêm không
gián đoạn, lại hướng dẫn các hàng tỳ thiếp đều tu
Tịnh độ cầu sanh Cực lạc. Trong hàng tỳ thiếp ấy, có
một cô thường hay biếng tr. Phu nhơn gọi lên bảo:
"Không thể vì một mình ngươi, mà phá hoại quy củ của
ta!". Rồi liền đuổi ra khỏi đoàn thể.
Người thiếp sợ hãi ăn năn, phát tâm tinh tấn niệm
Phật không nài mỏi nhọc. Một hôm, cô bảo bạn đồng sự
rằng: "Em sắp đi xa!". Đêm lại mùi hương lạ bay đầy
phòng, cô không bịnh chi mà qua đời. Cách vài hôm
sau, cô bạn đồng sự thưa với phu nhơn rằng: "Đêm vừa
rồi, con mơ thấy người thiếp mãn phần nhờ chuyển lời
kính xin cảm tạ ân đức vô lượng của phu nhơn. Bởi
nhờ phu nhơn răn trách, mà cô đã được sanh về Cực
lạc!'. Phu nhơn bảo: "Nếu nó có thể ứng mộng cho ta
biết thì ta mới tin!". Đêm ấy, phu nhơn nằm mộng
thấy người thiếp quá cố đến tạ ân như lời đã nói,
liền hỏi: "Cõi Tây phương có thể đến được chăng?".
Cô đáp rằng được, rồi dẫn phu nhơn bay đi. Độ giây
phút, đến một bảo trì to rộng mênh mang, ánh sáng
giao hòa chói suốt. Trong ao báu, hoa sen lớn nhỏ
xen lẫn gồm nhiều màu sắc và quang minh, có đóa hoặc
tươi màu sắc và quang minh, có đóa hoặc tươi hoặc
héo. Phu nhơn hỏi duyên cớ, người thiếp thưa: "Chúng
sanh ở Ta bà vừa phát tâm niệm Phật cầu về Cực lạc,
thì nơi đây liền hóa sanh một hoa sen. Nếu đương
nhơn mỗi ngày tinh tấn tu niệm, thì hoa càng thêm
lớn và tươi đẹp. Trái lại nửa chừng lần lần biếng
tr, tất hoa sẽ héo. Như không tiếp tục tu hành, hoa
liền tàn rồi ẩn mất. Còn phát tâm tinh tấn niệm Phật
trở lại, thì một hoa sen khác mọc lên. Nếu công tu
lâu ngày vẫn không thối chuyển, tất tịnh quả sẽ
thành thục. Khi đương nhơn bỏ báo thân ở Ta bà, thần
thức sẽ nương gởi vào thai sen ấy, đợi đến khi hoa
nở thấy Phật". Nhìn ra xa, trên một đài hoa có vị
đầu đội mão ngọc, cổ đeo chuỗi anh lạc, phục sức và
thân tướng trang nghiêm, phu nhơn hỏi: "Ai đấy
thế?". Người thiếp thưa: "Đó là Vô vi cư sĩ Dương
Kiệt. Vị ấy vừa mới vãng sanh về đây". Phu nhơn thấy
một người khác mặc triều phục, ngồi trên đóa sen hơi
kém hơn, lại hỏi thăm. Cô thiếp đáp: "Đó là cư sĩ Mã
Vu, chờ khi công thành quả mãn, cũng lại sắp vãng
sanh về đây". Phu nhơn hỏi: "Còn ta sẽ sanh về chỗ
nào?". Người thiếp liền dẫn bà bay đi độ vài dặm.
Nơi ấy có một hoa tòa to lớn, cánh bích ngọc, đài
hoàng kim, phóng ánh sáng rực rỡ. Người thiếp chỉ
đóa hoa nói: "Đây là chỗ sanh của phu nhơn, thuộc về
kim đài thượng phẩm!".
Khi thức dậy, phu nhơn ghi nhớ rõ điềm mộng, nỗi vui
mừng bi cảm lẫn lộn, càng tinh tấn tu hành. Đến hơn
tám mươi tuổi, nhằm ngày sanh nhựt, sáng sớm bà thức
dậy, hai tay bưng lò trầm hương nhỏ, khói thơm bay
tỏa, nghiêm kính đứng hướng về phía Quan Âm Các. Tất
cả tỳ thiếp y phục chỉnh tề, sắp thành hàng bước đến
định làm l chúc thọ. Nhưng khi nhìn xem lại, thì phu
nhơn đã thoát hóa.
Lời bình: Ấn Quang pháp sư nói: "Tác dụng của thần
thức và nghiệp lành dữ đều không thể nghĩ bàn! Có kẻ
tạo ác, tuy còn sống ở trên dương thế, mà một phần
hình thần đã thọ khổ nơi địa ngục. Lại có hành giả
tu Tịnh độ, tuy hiện đang ở cõi trược, mà một phần
thần thức đã sanh về Liên bang". Trường hợp của Mã
Vu trên đây cũng như thế.
Người nữ sinh về Cực lạc, đều chuyển thành thân nam
đủ ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm. Nhưng cô
thiếp lại hiện ra thân nữ cho đồng bạn và Kinh Vương
phu nhơn trông thấy cũng chỉ là phương tiện hóa
hiện, để người quen d được nhận thức đó thôi. Điều
này độc giả nên thông hiểu và đừng lấy làm nghi
hoặc.
Cư
sĩ Mã Vinh Tổ, tự Trử Lương, quê ở Tú Thủy tỉnh
Triết Giang. Lúc bé ông tỏ ra có văn tài, lên mười
lăm tuổi được bổ vào hàng chư sanh. Cha mẹ mất sớm,
Vinh Tổ thờ kế mẫu rất hiếu cẩn. Đến ba mươi tuổi,
ông mang bịnh lạc huyết. Trải năm năm bịnh càng thêm
nặng, ăn vào liền mửa ra.
Có Tăng sĩ Tường Phong, khi chưa xuất gia là bạn
quen với Vinh Tổ ghé viếng thăm. Lúc ấy vừa đi tham
học trở về, túc huệ mở sáng, tín giải thông suốt.
Vinh tổ nghe lời sư luận giảng lấy làm lạ, nhân hỏi
đến phương pháp trừ bịnh. Tường Phong đáp: "Bịnh của
đạo hữu là do túc nghiệp, không phải thuốc thang
chữa trị được. Nếu đạo hữu có thể buông bỏ muôn
duyên chuyên lòng niệm Phật, lâu ngày công sâu, thì
vô minh nghiệp chướng từ vô lượng kiếp đến nay lần
lần dứt sạch. Chừng ấy căn bịnh luân hồi sống chết
còn giải thoát được, huống nữa là thân bịnh nào đáng
lo gì!". Vinh Tổ nghe nói giật mình tỉnh ngộ, bèn
thường trai tu tịnh nghiệp. Từ đó bịnh cũng lần lần
thuyên giảm.
Trước thời gian ấy, Mã Vinh Tổ nằm mộng thấy giữa hư
không nổi lên vô số chữ Thọ, phóng ánh sáng rực rỡ.
Ông duyệt xem sách Phật thấy nói: A Di Đà dịch là Vô
Lượng Thọ, cũng gọi là Vô Lượng Quang. Bây giờ nghĩ
lại thấy điềm mộng ứng hợp, càng tự mừng thầm, cho
là mình có túc duyên với môn Tịnh độ. kế tiếp ông
đọc qua kinh Pháp Bảo Đàn, khế hội được nguồn tâm,
càng thêm nỗi vui mừng cảm hối. Sau Vinh Tổ quy ngũ
giới, mỗi ngày đều tụng kinh Kim Cang, Di Đà, niệm
Phật ba muôn câu, lại tu tịnh quán. Lúc rảnh rỗi, cư
sĩ lại mời các liên hữu tập hợp tại nhà, tổ chức
niệm Phật suốt ngày đêm.
Niên hiệu Càn Long thứ năm mươi sáu, vào hạ tuần
tháng giêng. Vinh Tổ từ Tô Châu trở về vừa đúng một
tháng thì cảm bịnh. Đến đầu tháng ba cư sĩ đau nằm
nơi giường không chổi dậy được, bảo bạn thân rằng:
"Tôi từ ba mươi lăm tuổi phát lòng Bồ đề, chỉ cầu
nghiêm tịnh cõi Phật, lợi ích chúng sanh, sự vinh
hoa của ngôi khanh tướng xem đồng như đôi dép rách.
Nay thân tuy mang chứng trầm kha, song một tâm niệm
an vui chưa từng biến cải. Hiện tại chỉ chuyên giữ
chánh niệm, chờ khi mạng chung sanh thẳng về Tây
phương mà thôi!". Một ông bạn hỏi: "Anh mất đi rồi,
trong nhà nheo nhóc vài miệng ăn, lấy ai giúp đỡ?".
Cư sĩ đáp: "Đó đều thuộc về duyên phước của mỗi
người, sức tôi không thể kham được!". Tới chiều ngày
mười tám, ông bảo: "Ngày mai phải đại sám hối!".
Sáng hôm sau, cư sĩ gắng gượng chổi dậy mặc áo tràng
l Phật sám hối, rồi ngồi hướng về phương Tây niệm
Phật vài trăm câu, kế quỳ đọc bài văn phát nguyện
của ngài Liên Trì, mới trở về giường nằm. Ba hôm
nữa, lại nói: "Tây phương Tam thánh hiện thân ở
trước, vì tôi nói pháp. Tôi thường ở trong ánh sáng
chói suốt rực rỡ!". Qua ngày sau lại bảo: "Bồ tát
dùng tịnh thủy rưới nơi thân gội rửa túc khiên,
khiến cho tôi được mát mẻ, sự an vui không thể tả!".
Tới chiều, một liên hữu là Trầm Hồng Điều viếng
thăm, hỏi có niệm Phật không, và nhắc bảo đừng nên
trước tướng. Cư sĩ đáp: "Vẫn niệm, tức tâm tức Phật
có chi là trước tướng!". Kế đó lại tuyệt thực, mỗi
ngày chỉ uống vài chén nước trà, hai hôm sau rốt duy
nhất nước trong mát mà thôi. Ngày hai mươi chín
tháng ba, vào giờ Ngọ, cư sĩ bảo người nhà rằng:
"Đức Phật đã đến tiếp dẫn!". Nói xong liên tiếp niệm
hồng danh, rồi nằm nghiêng bên hữu mà văng sanh,
hưởng dương được bốn mươi tám tuổi. Ông không con,
di chúc cho lập hậu.
Bấy giờ Hòa thượng Tường Phong bế quan tại Văn Tinh
Các ở Tô châu, đang tu môn niệm Phật tam muội. Mùa
đông năm ấy, một đêm Ngài nằm mộng thấy ba vị vào
thất, ngồi ở hướng nam day mặt lại. Trong đó, chính
giữa một vị xuất gia, hai bên là cư sĩ, phong nghi
thần thái trang nghiêm, nơi đầu đều có viên quang
bao phủ. Tường Phong đảnh lể rồi hỏi: "Ba tôn đức ở
đâu lại đây?". Vị mặc tang phục nói: "Chúng ta từ
cõi Tây phương đến!". Hòa thượng lại hỏi: "Có phải
chư vị là người ở thế giới Cực lạc của Phật A Di Đà
chăng?". Vị Tăng đáp: "Phải!". Tường Phong thưa hỏi
danh tánh ba vị không đáp chỉ hỏi lại: "Ngươi pháp
danh là chi?". Hòa thượng đáp: "Đệ tử pháp danh Đạt
Văn". Vị Tăng bảo: "Sao lại vọng ngữ?". Tường Phong
thưa: "Quả đúng như thế không phải vọng!". Vị Tăng
hỏi lại như trước. Hòa thượng cũng đáp y như vậy.
Tăng sĩ cũng bảo: "Vẫn còn vọng ngữ!" Tường Phong
thưa: "Đệ tử nói thật chẳng vọng ngữ?" Vị Tăng nói:
"Tất cả chúng sanh lấy vọng làm chân, chấp giả làm
thật, nên mới bị luân hồi. Nếu bậc có trí, biết muôn
pháp đều là hư vọng giả danh, thì không còn luân
chuyển. Ngươi chớ tự mê muội để lạc mất chân tâm.
Nên hiểu chân tâm không tâm, chân tri không biết, có
hiểu biết tức là ma. Đức Phật là đấng linh tri vô
tri, ngươi nên tin nhận chớ đem lòng nghi hoặc!".
Sau lời ấy, Tường Phong bỗng khai ngộ liền thưa:
"Lời của tôn đức dạy, chính thật là pháp Phật không
thể nghĩ bàn! Tôn đức từ cõi Cực lạc đến, dám xin
hỏi: đã tường thấy Phật A Di Đà chăng?". Vị bên tả
đáp: "Nếu ta nói với ngươi, chưa chắc ngươi đã tin.
Phải tự mình trông thấy mới được!". Kế đó cả ba đồng
đứng dậy, mỗi vị đều vỗ nơi đầu Tường Phong một cái,
và lần lượt nói kệ rằng:
Gắng siêng năng tinh tấn
Tu tịnh nghiệp không nhơ.
Nhân sâu thì quả thật
Dè dặt chớ nghi ngờ!
Các pháp từ tâm sanh
Lại hoàn từ tâm diệt
Chân tánh nguyên vẫn không
Lấy, bỏ chẳng thể được!
Ngươi đã đôi phần thông
Phật, chúng sanh tâm đồng
Như huyn tam ma đề
Ví như cảnh trong mộng.
Thuyết kệ vừa xong, bỗng thấy Mã Vinh tổ nghiêm
chỉnh oai nghi, đảnh l ba vị. Cả ba liền vượt lên hư
không hướng về Tây bay đi. Lúc ấy không trung nổi
lên âm nhạc rền vang, tiếng niệm Phật bổng trầm
thanh thoát. Vinh Tổ lại hướng về Tường Phong l ba
lạy rồi thưa: "Nhờ đại đức khuyên tôi tu tịnh
nghiệp, quy y Tam bảo, nên đã hân hạnh được sanh về
Tây phương, thọ sự an vui lợi ích lớn. Vì thế tôi
thỉnh cầu Bồ tát đến đây din nói diệu pháp, để đền
đáp thâm ân!". Nói xong đảnh l giã từ ba lạy nữa,
rồi chấp tay niệm Phật bay về Tây phương. Vừa khi ấy
tiếng chuông khuya nổi lên, Tường Phong giật mình
thức giấc. Hòa thượng vội lấy giấy bút ghi lại điềm
ấy, gọi là Kỷ Mộng thiên.
Về sau Tường Phong Hòa thượng ẩn tu nơi viện Phước
Thành tại Lũ Giang. Khi lâm chung dự biết trước ngày
giờ, ngồi niệm Phật mà thoát hóa.
Lời bình: Trước Cận Đường mượn duyên giáng đàn để
khuyên đồng bạn. Nay Trử Lương lấy việc ứng mộng mà
đáp thâm ân. Như thế, ai gọi khi sanh về An dưỡng là
vắng bặt không tin tức đâu! Tuy nhiên, với kẻ cơ
duyên chưa thuần, thì chẳng thể nhất khái đều đồng
lệ được!
Cư
sĩ Ngô Doãn thăng, tự Thường Đạo người huyện Hấp ở
Huy Châu. Lúc tuổi trẻ ông thường đi lại mua bán nơi
vùng Tô, Hàng. Trong cuộc du ngoạn chùa núi Hổ Khâu,
một vị Tăng tình cờ gặp mặt ông nhìn kỹ đoạn bảo:
"Ngươi cũng có căn lành, song tiếc vì lúc hai mươi
chín tuổi bị nạn chết đắm, biết làm sao?". Doãn
Thăng nghe nói sợ hãi, cầu thỉnh phương pháp giải
cứu. Vị Tăng trầm ngâm giây lát rồi dạy: "Từ nay trở
đi, ngươi phải giới sát phóng sanh. Mỗi ngày đều nên
chí thành trì chú Đại Bi và niệm Phật, may ra có thể
thoát khỏi!". Doãn Thăng tin nhận thật hành, lại
thường đem điều này khuyên người.
Đến năm hai mươi chín tuổi, cư sĩ từ Hàng Châu nương
thuyền trở lại quê nhà. Bạn đồng hành được tất cả
mười bảy người. Khi thuyền trương buồm ra đi độ vài
mươi dặm, ngọn thủy triều chợt ầm ầm xô đến, sóng to
nổi dậy thế rất nguy cấp. Doãn Thăng chợt nhớ lời vị
Tăng nói khi trước, vội chấp tay niệm Phật. Giây
phút thuyền lật úp, ông và tất cả hành khách đều bị
cuốn lôi theo sóng nước. Trong cơn hoảng hốt mơ
màng, bỗng nghe tiếng nói: "Ngô Doãn Thăng khuyên
người niệm Phật có công, được thoát khỏi nạn này!".
Cư sĩ vội mở mắt nhìn xung quanh thì thân đã nằm
trên bờ, bên mình có những người chài lưới đang vực
tỉnh. Kiểm điểm lại, mũ giày hành lý đều bị nước
tuôn mất hết, duy có xâu chuỗi mười tám hạt bình
nhật thường trì niệm hãy còn nắm chắc nơi tay. Còn
mười sáu người kia đều bị trôi chìm không thấy tung
tích. Từ đó ông càng tin công đức niệm Phật chẳng
thể nghĩ bàn! Cư sĩ không trở về quê, ở lại mở ngôi
quán xem tướng, mượn nhân duyên này để nói lý nhân
quả, khuyên người tu niệm.
Sau cơn hoạn nạn, Doãn Thăng hành trì càng tinh tấn.
Ông đều liều hương nơi cánh tay thành bốn chữ "Cầu
sanh Tây phương" để nêu rõ hạnh nguyện của mình.
Người ở Hàng Châu theo di phong của Tổ Liên Trì,
phần nhiều đều tín hướng pháp môn niệm Phật. Song
những kẻ thật hành, lại là người già cả, không có
hạng thiếu niên. Mỗi tháng họ tập họp lại chùa niệm
Phật, gọi là Lão Nhi Hội. Sự tập hợp cũng không dám
đi đông nhiều, vì sợ bị hiềm nghi là dị giáo mưu đồ
chánh trị. Doãn thăng khẳng khái tuyên bố với mọi
người: "Môn niệm Phật không phân biết nam nữ già trẻ
sang hèn. Đạo Phật là chánh giáo được triều đình mến
ưa công nhận, tại sao lại phải e sợ?". Lúc ấy Diên
Kiểm Điền, một quan chức quyền quý, đang chủ duyệt
kiểm tra về thuế muối ở Hàng Châu, cùng cư sĩ có
tình cựu hảo. Nhân cơ hội, ông mở cuộc lạc quyên,
trước tiên đến Diên công được ngài góp vào hai trăm
lượng vàng để làm thủ xướng. Với số tiền quyên được,
cư sĩ đặt thành quỹ phương tiện thâu lợi tức nhẹ mở
mang hội niệm Phật tại chùa Bảo Thành ở núi Tử Dương
và làm các việc từ thiện. Mỗi khi gặp ngày hội kỳ,
ông vì quần chúng giảng giải Phật pháp, nói lý nhân
quả. Kẻ chưa phát tâm khuyên tinh tấn tu niệm. Cư sĩ
lại mở thêm chi hội nơi chùa Tiên Lâm ở trong thành
cùng các chỗ khác để khuyến hóa. Kẻ tin tưởng niệm
Phật ngày càng đông có đến số ngàn. Mỗi khi tập hợp,
tất cả đều nghiêm trang kính cẩn, không buông lung
rộn ràng huyên náo. Tượng Tam Thánh cao một trượng
sáu nơi điện Tây phương tại chùa Tiên Lâm, cũng do
người trong hội kiến tạo. Một buổi sáng đang lúc tập
hợp niệm Phật, đại chúng thấy từ trong mũi tượng Đại
Thế Chí Bồ tát phóng ra một đạo bạch quang bay vòng
quanh nơi điện đình hơn vài khắc mới tan mất.
Từ đó ở thành Hàng Châu phong thái niệm Phật thạnh
hành. Các vùng xung quanh cũng được ảnh hưởng cảm
hóa, trẻ già trai gái tay cầm tràng, miệng niệm
Phật, là chuyện thông thường không còn xa lạ. Danh
hiệu Doãn Thăng đàn bà con trẻ đều biết. Mỗi kỳ hội,
các nơi thay phiên nhau thỉnh cư sĩ đến din giảng. -
Tây Hồ có chùa Linh Phong, nguyên là di tích của
Phục Hổ thiền sư, hư phế đã lâu. Trong niên hiệu Đạo
Quang năm đầu, Doãn Thăng phát nguyện trùng hưng, tu
tạo vài năm mới lạc thành. Cư sĩ mãn phần lúc sáu
mươi sáu tuổi. Khi lâm chung ông giữ chánh niệm phân
minh, tự nói: "Tôi thấy vô số Bồ tát đi kinh hành ở
trước mặt!". Rồi ngồi ngay lặng lẽ mà hóa. Bấy giờ
nhằm ngày mùng một tháng năm, niên hiệu Đạo Quang
thứ chín.
Lời Bình: Lộ Khôn niệm Phật vốn cầu vãng sanh, mà
kiêm thoát được bịnh khổ trong hiện tại. Doãn Thăng
niệm Phật chỉ mong khỏi nạn, nhưng lại cảm điềm lành
tốt lúc lâm chung. Thế thì ai bảo: "Công đức niệm
Phật duy có lợi ích sau khi mãn phần ư?". Xem gương
trên, hai vị đều gắng sức thật tu, tin chắc không
đổi. Người đời nay đem công phu chút ít, cầu lợi ích
quá phần, đến khi thấy vô hiệu, trở lại cho rằng
Phật pháp không linh nghiệm, rồi bỏ hết việc tu hành
há chẳng đáng ngậm ngùi thương tiếc lắm ru!
Cư
sĩ Phạm Nguơn L tự Dụng Hòa, người đời Thanh, quê ở
Tiền Đường. Thuở niên thiếu ông học Nho, tâm hạnh
thành thật, thờ song thân rất có hiếu. Một độ, người
cha đau, ông cắt thịt bắp vế sắc hòa với thuốc đem
dâng, bịnh được lành. Mẹ là Dư thị ốm nặng, ông lại
làm như thế một lần nữa, bịnh cũng thuyên giảm.
Không bao lâu, song thân đều quá vãng, vợ cũng kế
tiếp mãn phần. Bấy giờ đang lúc tráng niên. Nguơn L
cảm khái cuộc thế vô thường, dẹp bỏ duyên trần, theo
nhà dưỡng chân tu học đạo Tiên. Trải hơn mười năm
như thế, công phu đã có đôi phần hiệu nghiệm. Sau
nhân đọc sách của ngài Vân Thê xin thọ Tam quy ngũ
giới. Nguơn L giữ giới hạnh rất bền chắc, những thứ
phục dụng bằng tơ tằm lông thú đều không dùng, bỏ
hết lối tu cũ, chuyên về Tịnh độ. Đối với pháp quán
tưởng, cư sĩ lại càng tinh mật. Trước kia khi thân
mẫu sắp lâm chung tinh thần mờ loạn, cư sĩ khuyên
chuyên lòng quán tưởng đức Quán Thế Âm, bà mẹ y lời
làm theo. Vài hôm sau, bỗng nói: "Mẹ đã được Bồ tát
tiếp dẫn đến cảnh giới lạ mầu sáng đẹp!". Nói xong
vui vẻ mà qua đời. Bởi nguyên do đó, Nguơn L rất vui
sự hiệu nghiệm của môn quán tưởng.
Cư sĩ tánh hiền lành, ưa phóng sanh bố thí giúp đỡ
kẻ nghèo khổ hoạn nạn. Khi làm những việc từ thiện,
ông rất siêng cần chu đáo, không nài mỏi nhọc. Gặp
chư Tăng Ni, đều phát tâm tùy sức cúng dường, không
bỏ sót. Vì thế đương thời nghe tới tên Nguơn L, hàng
Tăng tục đều biết và mến trọng.
Mùa hạ năm Đạo Quang thứ tám, cư sĩ đóng cửa nhập
thất nơi Đại Động Các ở Thành Nam, định kỳ hạn trăm
ngày niệm Phật. Một hôm đang khi ngồi tịnh, huyền
công tu Tiên thuở trước bỗng phát hiện. Lúc ấy ông
cảm thấy thanh khí của trời đất từ giữa hư không kết
thành nhiều làn, liên tiếp đi vào đảnh, mũi, miệng,
rồi thẳng xuống đơn điền, cùng với nguơn khí của
mình hòa hợp. Bấy giờ thân tâm rất an ổn nhẹ nhàng
và điềm lạc không thể thí dụ. Giây phút có một đứa
anh nhi cao chừng vài tấc, từ đảnh môn xuất hiện.
Đứa bé ấy bay liệng xung quanh đùa giởn trải một
thời gian, rồi do đảnh đầu trở vào. Từ đó về sau,
mỗi khi tu đến mức cực tĩnh quên trần niệm, liền có
anh nhi ra vào như trước. Ban sơ Nguơn L tâm ý rất
mừng, sau đó chợt nghĩ: "Đây có phải là một trong
năm mươi thứ ấm ma của kinh Lăng Nghiêm nói chăng?
Nếu ta cho là kỳ đặc, tất sẽ lạc vào bầy tà. Vả lại
người niệm Phật chí ở Tây phương, thánh cảnh không
hiện, lại chuộng thứ này để làm gì?". Do đó thường
thường giác chiếu giữ chánh niệm, anh nhi mới không
còn xuất hiện. Nhờ duyên này, cư sĩ mới khế ngộ sâu
lý duy tâm, sức tín nguyện hạnh càng thêm thuần
chắc. Về sau ông thường bảo người rằng: "Cảnh giới
ấy là cửa ải nguy him nhứt thuở sanh bình. Nếu tôi
không sớm giác tỉnh, tất sẽ lạc vào bàng môn. Thế
nên biết sự tu hành cần phải tinh tường dè dặt!".
Mùa hạ năm Đạo Quang thứ mười một, Nguơn L tĩnh
dưỡng nơi chùa Tịch Chiếu ngoài cửa Thanh Thái. -
địa phương này có bà họ Trầm lòa cả đôi mắt. Bà có
chí niệm Phật, song bị con dâu thường ngăn trở. Cư
sĩ nghe biết, liền bảo: "Việc này có thể dàn xếp ổn
thỏa. Hành động của cô dâu kia là do vì gia cảnh
nghèo thiếu, nếu giúp cho sự sống tất mọi việc đều
yên". Nói đoạn ông vào thành quyên mộ, nhờ người
giúp cho Trầm bà mỗi tháng vài đấu gạo. Bà dùng có
dư chuyển giao cho người dâu, nên cô này hoan hỷ
không còn ngăn trở nữa. Nguơn L lại din nói sự lợi
ích về niệm Phật cho nghe, và dạy bảo cách sám hối
phát nguyện. Mấy tháng sau, một người hàng xóm của
Trầm thị tới nói với cư sĩ: "Bà lão niệm Phật hôm
trước, nay đã vãng sanh rồi!". Nguơn L hỏi nguyên
do, người ấy thuật lại từ việc: "Sau khi được sư
giúp đỡ, bà lão siêng năng niệm Phật thế nào? Sám
hối phát nguyện ra sao? Đến tháng vừa rồi, Trầm thị
biết trước ngày về Tây phương, bảo cho cô dâu hay.
Tới kỳ hạn, bà tắm gội thay y phục, ngồi chấp tay
niệm Phật mà vãng sanh. Trầm bà di chúc cho cô dâu
nhờ chuyển lời tạ ơn Phạm công. Hiện thời bà vừa mãn
phần chưa có quan quách và đồ tẩn liệm. Cô dâu định
bán đứa con gái lo sắm về việc ấy. Bây giờ phải làm
thế nào?".
Nguơn L nghe nói, liền bàn với các thiện hữu, góp
chung được một số tiền, giao cho người hàng xóm đem
đến giúp cô dâu. Hơn tuần sau, ông lại tới nhà hỏi
thăm. Đến nơi thì người dâu tay đang cầm tràng
chuỗi, miệng lâm râm niệm Phật. Thấy cư sĩ đến, cô
vui mừng đón rước kính lời tạ ơn. Vừa ngồi xong,
những người hàng xóm hay tin tề tựu, tranh nhau muốn
biết mặt Phạm công. Rồi hết kẻ nọ tới người kia
chuyền nhau thuật lại việc của bà họ Trầm, đại khái
y như ông hàng xóm đã nói hôm trước. Họ lại chỉ một
cô bé nói: "Đây là đứa trẻ đã mang ơn ngài, khỏi bị
đem đi bán!". Nguơn L hỏi linh cữu của Trầm bà để
đâu, cô dâu thưa: "Khi mua quan quách tẩn liệm xong,
hàng xóm đều bàn luận: Phạm công vốn người ở trong
thành, mà còn chịu từ xa làm việc thiện. Chúng ta là
tình lân lý, đâu nên làm khách bàng quan! Do đó tất
cả mới chung góp tiền mua đất, đem quan tài của mẹ
cháu và luôn linh cữu của chồng cháu đã quàn từ lâu,
đồng một ngày đem đi an táng!". Cư sĩ nghe nói vui
vẻ ra về.
Mùa đông năm ấy, Nguơn L đem những công việc từ
thiện của mình làm còn dở dang lo tính toán kết thúc
và chuyển giao trách vụ cho một liên hữu khác. Tháng
giêng năm sau, cư sĩ đến riêng từng nhà các đồng
bạn, ân cần khuyến khích tu hành, dường như kẻ sắp
đi xa. Người con trai của cư sĩ có việc đến miền
Tòng Giang, ông bảo: "Con đi ra ngoài, mọi việc nên
khéo xử sự. Cha nay tuổi già, thảng có điều chi biến
cố, cũng chớ nên kinh lo. Phải giữ bổn phận mình đối
với trách vụ của người giao phó!". Nghe nói, cậu
trai tuy hiểu biết, song chỉ cho đó là lời quá lo xa
của người lớn tuổi mà thôi.
Đến ngày hai mươi bốn tháng giêng, Nguơn L thức dậy
sớm bảo gia nhơn rằng: "Hôm nay ta thấy trong người
hơi mỏi nhọc!". Nói đoạn, vẫn dùng cháo sáng như
thường. Ăn xong, cư sĩ đi tản bộ đến trước nhà gần
bên đứng bàng hoàng một khắc, rồi trở về ngồi ngay
thẳng nơi giường niệm Phật. Con cháu trong nhà thấy
hơi lạ hỏi thăm, ông khoác tay ra dấu bảo im lặng.
Đến giờ Ngọ, tiếng niệm nhỏ lần rồi an ổn mà qua
đời. Giờ Dậu ngày hôm sau nhập liệm, đảnh đầu hãy
còn nóng. Bấy giờ nhằm năm Đạo Quang thứ mười hai,
cư sĩ hưởng thọ sáu mươi ba tuổi.
Lời Bình: Xem cách thức Dụng Hòa lo kết liu mọi
việc, từ biệt bạn, dặn dò con, chẳng thể gọi là
không dự biết trước kỳ lâm chung. Nhưng tại sao ông
lại không nói ra minh bạch? Theo thiển ý, sự biết
trước ngày giờ quí ở chỗ tự biết để cho tâm được yên
vững, không chủ đích nơi phô trương với mọi người.
Huống chi nếu giờ mà bạn lành đều họp, hoặc ra có sự
lợi ích trợ đạo. Thảng như quyến thuộc không nén
được thế tình, vây quanh ngậm ngùi thương khóc, há
chẳng phải muốn thành mà trở lại bại ư? Việc cư sĩ
Dụng Hòa không nói ra, tất cũng bởi lý do đó.
Châu phu nhơn, người đời Thanh, nguyên là vợ của
Vương Sở Thần ở huyện Sơn Âm tỉnh Triết Giang, và mẹ
của Vương Tâm Tam, một cư sĩ hữu danh thuở ấy. Năm
hai mươi sáu tuổi, bà về với họ Vương. Bên chồng nhà
giàu, lại rất tin Phật pháp, phu nhơn cũng sùng tín
ngôi Tam bảo, từng xuất của lập chùa thờ đức Quán Âm
đại sĩ và cất miếu thờ thần Thiên Y. Ngoài ra, lại
còn bố thí giúp đỡ kẻ nghèo bịnh, phóng sanh, tiếc
giấy chữ, tóm lại tất cả việc lành đều hết sức đề
xướng và thật hành. Những thiện cử trên tuy do Vương
quân nắm phần cương lãnh, song kỳ thật nhờ phu nhơn
âm thầm khuyến khích và giúp đỡ rất nhiều.
Từ khi về nhà chồng, phu nhơn liền ăn chay trường,
mặc áo vải, ban ngày thì thêu dệt may vá, ban đêm
lại l phật tụng kinh. Công việc cứ giữ điều hòa như
thế, suốt cả năm không bước chân ra ngoài cửa ngõ.
Phu nhơn tánh trầm lặng ít nói, khi hàng thân thích
đến thăm, sau ít lời hàn huyên, liền dẫn giải việc
tội phước nhân quả. Lúc Vương quân qua đời, hai trẻ
hãy còn nhỏ dại, phu nhơn phụng sự mẹ chồng, giáo
huấn con thơ, trải đủ nỗi gian nan, hiếu từ đều trọn
vẹn. Bà có hỏi con gái họ Lũ cho Tâm Tam, song chưa
kịp cưới thì cô ấy bị đau, mù cả đôi mắt. Hàng thân
tộc đều khuyên bảo nên thối hôn, nhưng phu nhơn cự
tuyệt không nghe theo, cưới đem về, lại dặn Tâm Tan
rằng: "Đang khi con sang làm l hỏi, thì vợ con đôi
mắt hãy còn sáng và tươi đẹp. Nhưng trước khi cưới,
nó lại bị mù lòa, đấy cũng là phần số của con. Nếu
mẹ và con chê bỏ, tất sẽ làm hư hỏng và tủi nhục đời
một người con gái. Vậy con phải săn sóc và thương
yêu vợ con, giữ trọn bổn phận làm chồng cho đến lúc
nó mãn phần!". Chỉ riêng một điều này, đủ thấy phu
nhơn là một người đầy lòng từ bi và ân hậu.
Trước kia cứ sáng sớm phu nhơn đều tụng Tâm kinh,
mỗi ngày có định số. Từ khi sương cư, bà chuyên tâm
niệm Phật, quyết định cầu sanh về Tây phương. Vào
tháng ba đầu niên hiệu Tuyên Thống, mẹ chồng mất,
phu nhơn lo việc tang l chôn cất rất chu đáo, nỗi
thương cảm nhọc nhằn khiến thành đau bịnh. Bà nằm
liệt nơi giường hơn bốn mươi ngày mới mãn phần. Ba
hôm trước khi lâm chung, phu nhơn dặn hai con lo các
hậu sự và bảo: "Ba ngày sau vào giờ Ngọ, mẹ sẽ về
Phật. Hai con nên tiến tu đức nghiệp, gắng làm người
hoàn thiện, và theo gương mẹ chuyên niệm Phật cầu
sanh Tây phương!". Đến thời khắc đã định, bà gượng
ngồi dậy nhắm mắt thầm niệm Phật, trạng thái rất an
lành. Tâm Tam hỏi có thấy chi không, phu nhơn đáp:
"Hãy đốt ngọn đèn lồng treo trước cửa và đừng hỏi
han làm loạn chánh niệm của ta!". Nói xong bà ngồi
yên một lúc rồi lặng lẽ thoát hóa. Mấy giờ sau, Tâm
Tam dò xem thấy hai tay phu nhơn đều mềm dịu, đảnh
đầu rất nóng.
Cư
sĩ Hạ Quốc Xương, người thời Trung Hoa Dân Quốc, quê
ở Bình Hương, tỉnh Giang Tây. Ông nội và cha đều
xuất thân chốn quan trường, có tiếng là liêm khiết.
Quốc Xương từng giữ chức Tri huyện, thuyên chuyển đi
vài nơi, sau thời cách mạng lại làm Dân chánh trưởng
ở bản tỉnh.
Mùa thu năm Dân quốc thứ hai, vì liên can vào việc
thảo trừ Viên Thế Khải, mưu sự không thành, nên ông
lánh nạn vào ẩn cư ở một ngôi chùa tại Nam Nhạc tỉnh
Hồ Nam. Từ đó Quốc Xương cải hiệu là Hoành Tiều, mỗi
ngày trì các chân ngôn: Lăng Nghiêm, Chuẩn Đề và
niệm Phật. Mùa xuân năm dân quốc thứ tư, ông được
người có thế lực tiến cử, song bị viên Ấp lịnh vu
cáo, phải tự đến Bắc Kinh trần bạch mới được trắng
án.
Bấy giờ có cư sĩ La Kiệt là bạn đồng cảnh ngộ với
Quốc Xương. Vì thế, sau cơn hoạn nạn, đôi bên thường
qua lại thân thiết nhau. Cả hai đều trường trai và
tập tham thiền. Một hôm trong cơn tĩnh định, Quốc
Xương bỗng nghe có người gọi mình là Liêu Không Tử.
Do đó ông cảm tác bài thi có hai câu như sau:
Liêu Không biết được đường lui tới
Phù thế phen này lại trải chơi!
Từ đó ông quy hướng Tịnh độ, mỗi ngày tụng kinh Hoa
Nghiêm vài quyển, l Phật một trăm lạy, niệm hồng
danh A Di Đà hai muôn câu. Cư sĩ lại soạn các quy
ước: Trì trai, Niệm Phật, Quán tâm, Giản suất, để tự
răn nhắc sách tấn.
Mùa xuân năm Dân Quốc thứ tám, Quốc Xương về thăm
viếng quê hương, gặp lúc trời hạn lâu, liền làm l
đảo vỏ, được mưa xuống dồi dào, đồng ruộng đầy dẫy
nước. Kế đó ông lại lập đàn thí thực tụng kinh cầu
siêu cho tiên linh và những nạn nhơn trong cuộc
chiến tranh Nam, Bắc. Trong khi cúng thí, người dự
hội đều thấy đức A Di Đà hiện thân giữa hư không, vô
số ngạ quỉ cô hồn cúi đầu đảnh l, rồi theo Phật bay
về Tây phương. Sau công việc ấy, cư sĩ giã từ hương
lữ, bảo mình không trở lại nữa. Ông lại dặn dò người
thân thuộc khi nghe tin mình mãn phần, không được
sát sanh cúng tế. Về tới Bắc Kinh, cư sĩ liền cảm
bịnh. Gia nhơn cùng bạn hữu muốn rước lương y điều
trị, ông liền từ khước bảo rằng: "Tâm tôi rất yên
ổn, nẻo đi về đã biết rõ ràng, cần chi dùng thang
thuốc!". Rồi ông vẫn cố gắng l niệm như lúc bình
thời, và nói: "Lúc này khi nhắm hay mở mắt, tôi đều
thấy Phật cùng Bồ tát hiện thân to lớn đầy khắp hư
không!". Kế đó bịnh ông có vẻ giảm bớt. Khi hàng
quyến thuộc hay tin đến viếng thăm đông đủ, cư sĩ
ngồi lên ngay thẳng, từ từ nhìn mọi người đứng xung
quanh qua một lượt, rồi mỉm cười chấp tay yên lặng
mà thoát hóa.
Lúc cư sĩ mới phát tâm niệm Phật, nằm mơ thấy đóa
hoa sen đầy khắp hư không, mỗi đóa hoa đều có người
ngồi, duy một tòa còn bỏ trống. Ông hỏi duyên cớ thì
một vị ngồi gần bên đáp rằng: "Tòa sen này để dành
chờ Liêu Không Tử!". Lại khi quốc Xương trở về tới
Bắc Kinh, cô con gái là Hạ Vinh nằm mơ thấy cha mình
ngồi trên hoa sen bay về Tây phương. Cư sĩ tuy kẻ
bạch y, song giữ giới rất mực nghiêm cẩn. Lúc sắp
mãn phần, hàng đệ tử là Bành Hiến Thỉnh huấn, ông
bảo: "Chúng ta ở sâu vào thời mạt pháp, túc nghiệp
đều rất nặng. Muốn dứt cội r sống chết luân hồi, cần
phải niệm Phật cầu sanh Cực lạc. Trong pháp môn Tịnh
độ: Sự phát nguyện phải chân thật. Sám hối phải chí
thiết. Giữ giới phải bền chắc. Niệm Phật phải chuyên
cần. Giới là vô thượng Bồ đề, là gốc muôn điều lành
là cội của chánh pháp, là chỗ vào của người học đạo,
là thầy tốt của con. Nếu con giữ ba nghiệp cho thanh
tịnh mà niệm Phật, quyết định sẽ thấy đức A Di Đà".
Lời trên đây cho thấy sự giữ giới tu hành của ông
rất nghiêm cẩn.
Đồng tử Phương Hải Sanh là con của cư sĩ Phương
Dưỡng Thu ở Hương Cảng. Dưỡng Thu ưa làm việc phước
thiện, sau tuổi trung niên lại chuyên tâm hướng về
Tịnh độ.
Hải Sanh mới bảy tuổi, cùng song thân cư ngụ ở Hương
Cảng, thường tập theo cha l Phật trì niệm. Em có thể
tụng được chú Chuẩn Đề cùng bài kệ Phá địa ngục
trong kinh Hoa Nghiêm. Đôi khi còn nhớ lời cha dạy,
đem cảnh Tịnh độ thuật lại với người quen thân và
bảo: "Phải chuyên cần niệm Phật. Niệm hồng danh A Di
Đà sẽ được sanh về thế giới Cực lạc".
Tháng hai năm Dân Quốc thứ chín, vào ngày vía đức
Quán Thế Âm. Hải sanh bỗng nằm bịnh. Dưỡng Thu ngồi
một bên xưng hồng danh hộ trợ, đồng tử cũng xướng
niệm theo cha. Lúc nhắm mắt hôn mê lại tụng chú
Chuẩn Đề rành rẽ không sót một chữ. Dưỡng Thu bồng
con đến trước bàn Phật, nhắc bảo chiêm ngưỡng chân
dung Tây phương Tam Thánh, Hải Sanh trông thấy tôn
tượng liền cao tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật hơn
vài mươi câu, tiếng to vang hơn lúc còn chưa bịnh.
Qua xế chiều ngày hai mươi mốt, đồng tử bỗng xuống
giường lần đi từng bước. Dưỡng Thu vội chạy lại đỡ,
hỏi muốn đi đâu thì đáp: "Con lên l Phật!". Bấy giờ
tiếng nói của em đã hơi khó khăn, song vẫn còn có
thể đốt hương l Phật. Đến mười giờ đêm, bà vú, đứa
em gái của Hải Sanh đang niệm Phật cầu cho đồng tử
mau khỏi bịnh, bỗng thấy tường vách đều biến mất
trống không, có kim quang ẩn hiện năm sắc chiếu rực
rỡ như đêm trăng sáng. Trong kim quang, một vị bồng
Hải sanh vượt lên khỏi nóc nhà bay về Tây phương. Bà
còn đang nghi lự, chợt như tỉnh mộng, tường vách đều
hiện lại như cũ. Nhũ mẫu vội chạy xuống hỏi thăm thì
Hải Sanh đã tắt thở.
Lúc em sắp măn phần thì tay chân lạnh trước, đôi mắt
chăm chú nhìn song thân. Dưỡng Thu đốc suất bảo xưng
hồng danh trợ niệm. Cư sĩ lại nói sự vui đẹp ở Liên
bang, khuyên con đừng luyến tưởng chi khác, hãy
chuyên tâm hướng về Cực lạc. Hải Sanh vâng lời, chí
tâm niệm Phật, cho đến lúc tắt hơi. Sau khi em mãn
phần, tay chân trở lại nóng ấm, sắc mặt tươi như
sống. Một ngày trước khi Hải Sanh vương bịnh, bà mẹ
trong cơn mơ màng, thấy tòa đại điện rất nguy nga
tráng lệ, kim quang chiếu rực rỡ, khoảng chiều sâu
chính giữa có đóa hoa sen lớn đẹp, một vị Phật thân
sắc vàng ngồi nơi trên. Từ xa trông vào chỉ thấy đôi
chân Như Lai ngồi kiết già. Hải Sanh kiếp trước đã
trồng căn lành sâu nên mới lên bảy tuổi liền biết
niệm Phật. Em lại được cha hiền hộ trợ, khi lâm
chung điềm lành ứng hiện, chánh niệm rõ ràng.
Đồng thời lại có Đàm Lạc Kiều, người quận Nam Hải,
làm khách sanh nhai ở Hương Cảng. Tánh ông rất chân
thật, tin sâu lý nhân quả, cùng với Dưỡng Thu có
quen biết nhau. Dưỡng Thu có trao cho quyển Tây Quy
Trực Chỉ, khuyến tấn về sự niệm Phật vãng sanh. Lạc
Kiều liền tin nhận thật hành, ngày đêm không biếng
tr. Ít lâu sau ông mang bịnh, tự biết mình khó qua
khỏi, liền thu xếp công việc trở lại quê hương. Dọc
đường ông vẫn cố gắng chuyên tâm niệm Phật, về tới
nhà bịnh khổ như tan mất, ông bảo vợ rằng: "Tôi sắp
vãng sanh Tịnh độ, bà chẳng cần rước lương y, nên
giúp tôi xưng niệm Phật!". Bà vợ trước nay vẫn tin
Tam Bảo, liền làm theo lời khuyên dạy. Đến lúc sắp
từ trần, Lạc Kiều còn có thể xuống giường bước di,
bảo vợ đem y phục mới sạch cho mình thay đổi. Xong
mọi việc, ông ngồi niệm Phật mà qua đời, dung mạo
rất an lành tươi tỉnh.
Cư
sĩ Dương Liên Hàng, người thời Trung Hoa Dân Quốc,
quê ở huyện Dư Diêu, tỉnh Triết Giang. Ông nhà
nghèo, từ nhỏ theo nghề buôn bán, tánh lịch thiệp
quán xuyến hơn người.
Năm Dân Quốc thứ mười một, Liên Hàng được biết người
bạn cùng xóm là Đồng Giác Hàng tu tịnh nghiệp, trong
lòng ưa thích, hằng qua lại, để nghe lời chỉ giáo.
Sau đó ông thọ quy giới làm hàng Phật tử tu tại gia.
Phần văn học tuy cư sĩ còn yếu kém, song về nghĩa lý
kinh Phật, sự giải ngộ lại hơn người. Tháng chín năm
Quý Hợi, các bạn ở liên xã ước hẹn cùng nhau thệ
nguyện, phát lòng Bồ đề. Liên Hàng cũng có dự trong
cuộc l ấy.
Cuối mùa xuân năm Giáp Tý, vì đau bịnh cư sĩ lén phá
giới sát sanh ăn mặn, nhân đó lần lần xa cách với
các liên hữu, đến tháng bảy, bịnh ông càng thêm
nặng, bạn đồng tu đến thăm, ai cũng bảo rằng tất sẽ
chết. Liên Hàng cũng xét biết mình khó sống, tự cảnh
giác ăn năn việc đã làm. Đầu tháng tám, ông gượng
đau đến trước bàn Phật, hết lòng phát lộ chí thành
sám hối, nguyện giữ lại năm giới thề không tái phạm.
Từ đó cư sĩ buông bỏ muôn duyên, dứt trừ ái dục, một
lòng thầm niệm hồng danh Phật, chờ đến lúc mạng
chung. Các liên hữu biết công phu trì niệm của cư sĩ
còn cạn, nên trước khi ông lâm chung sáu ngày, thỉnh
người đến trợ niệm. Mấy hôm rốt sau, những bạn đồng
tu cũng tự mình đến niệm Phật giúp duyên.
Cuộc trợ niệm khởi đầu từ ngày mười hai tháng tám.
Qua ngày rằm, Liên Hàng bỗng tự cảm biết thần khí
thanh nhẹ tươi tỉnh. Đến ngày mười bảy, cư sĩ bảo
trong giấc mơ thấy một vầng ánh sáng như năm sáu
ngọn đèn điện chói lòa. Vào chiều tối, xem thần sắc
của ông vẫn như thường, các liên hữu cho là chưa đến
giờ, tiếp tục niệm Phật tới sang canh hai, rồi sắp
sửa muốn ra về. Các vị ấy không ngờ rằng, lúc đó sự
trợ niệm đã đến hồi tinh thuần đắc lực.
Bấy giờ Liên Hàng nghe tiếng niệm Phật bỗng nhiên
ngưng bặt, liền nói: "Tôi hãy còn chưa đến Tây
phương, mong nhờ chư liên hữu trợ niệm cho suốt đêm
nay!". Nghe lời nói có vẻ khác lạ, các đồng bạn lại
cao tiếng niệm Phật. Không đầy nửa giờ sau, cư sĩ
bỗng cười bảo: "Tôi đã đến Tây phương. Ôi! Ao thất
bảo to rộng quá! Kìa! Hoa sen thật là màu đẹp! Ánh
quang minh cũng sáng đẹp vô cùng!". Rồi ông lại dặn
đại chúng cao tiếng trợ niệm đừng dừng nghỉ. Từ
trước Liên Hàng vẫn lặng lẽ nằm yên. Đến lúc bấy giờ
tay và đầu ông đều hoạt động, miệng liên tiếp nói
to: "Ôi! Hoa sen thật tươi lạ nhiệm mầu! Ao báu thật
sáng đẹp!". Lúc ấy mặt của cư sĩ tươi cười hớn hở,
trông như người bất chợt có việc vui mừng vượt quá
hy vọng. Như thế qua một giờ sau ông trở lại yên
không nói, tay chân cũng không động, chỉ nằm ngửa
mắt chăm chú nhìn tượng Phật trước giường. Kế tiếp
đôi tròng lần lần lờ lạc, hơi thở cũng lần yếu mòn.
Đến năm giờ sáng ngày mười tám, cư sĩ mới tắt hơi.
Đêm ấy liên hữu chỉ có bốn người, mà vừa thay phiên
nhau lớn tiếng trợ niệm suốt đêm, vừa thỉnh thoảng
lại xen đôi lời sách tấn. Như thế cứ tiếp tục niệm
cho đến sau khi cư sĩ tắt hơi một giờ rưỡi, mới đổi
phiên cho những vị khác vừa đến. Sự trợ niệm vẫn
tiếp tục cho tới lúc thân thể kẻ mãn phần lạnh hẳn,
người nhà đều bị ngăn không được khóc thương. Đến
mười giờ trưa, một liên hữu thăm dò thử, thì các nơi
khác đều lạnh, duy đảnh đầu còn nóng như nước sôi.
Như Liên Hàng cư sĩ, giới phẩm không tròn, công hạnh
tu trì lại còn non kém. Nhưng ông được vãng sanh,
xét ra toàn nhờ sức trợ niệm của các bạn đồng tu.
Xem đây, ta thấy sự trợ niệm Phật rất thiết yếu cho
hành giả lúc lâm chung. Bấy giờ nhằm ngày mười tám
tháng bảy năm Dân quốc thứ mười ba, cư sĩ mới được
ba mươi tuổi.
Bần
Phụ, huyện Từ Khê tỉnh Triết Giang có một bần phụ,
chưa được rõ tên họ. Nhà bà quá nghèo, con trai lại
bất hiếu, nên thường bị nó la rầy mắng chửi.
Một hôm sau khi bị con thét mắng, bà khổ sở khó nhẫn
nại, sang tỏ bày than khóc với vị Tăng ở chùa gần
bên. Vị Tăng bảo: "Bà đã biết khổ, sao không bán nó
đi!". Bần phụ đáp: "Ai mua sự khổ, làm sao mà bán!".
Tăng sĩ nói: "Nếu bà chí thành chuyên niệm hồng danh
đức A Di Đà, cầu sanh Tây phương, thì khi mãn phần
chắc chắn được Phật tiếp dẫn về cõi Cực lạc. Từ đó
sẽ vĩnh lìa khỏi các nỗi khổ, thuần hưởng những điều
vui. Đó gọi là cách bán khổ!". Bà thưa: "Mẹ con tôi
cùng ở chung một gian chòi lá, góc nhà là bếp nấu
ăn, dưới giường còn làm chuồng lợn. Cảnh hỗn tạp nhơ
uế như vậy, làm sao niệm Phật?". Vị Tăng đáp: "Không
ngại chi, đức Như Lai đại từ đại bi, tùy duyên phổ
độ, chỉ dụng tâm thành chớ không nệ hình thức. Vậy
lúc rảnh bà hãy tới chùa l bái, còn khi ở nhà chỉ
thường chuyên niệm Phật cầu nguyện vãng sanh cũng
được". Bần phụ vâng theo lời dạy, vì lòng tha thiết
mong thoát khổ nên niệm Phật không xen hở.
Ba năm sau, vài tháng trước khi qua đời, bà bảo con
rằng: "Đến ngày tháng ấy, mẹ sẽ sanh về Tây phương.
Vậy con chớ nên đi vắng, phải ở nhà lo hậu sự cho
tròn tình mẫu tử!". Đứa con tỏ vẻ không tin, bà liệu
biết nên sau lại dặn dò đôi ba phen nữa. Vài hôm
trước khi bần phụ mãn phần, đứa con bỗng nghe mùi
hương lạ, tỏa thơm bát ngát. Chạy tìm xem khắp xung
quanh chẳng thấy ai đốt hương, nó ngạc nhiên không
biết mùi thơm từ đâu đến. Bỗng nhớ tới lời mẹ dặn,
đứa con nghĩ biết đâu là sự thật, bèn ở nhà chờ. Đến
ngày kỳ hạn, nó thấy mẹ nấu nước tắm gội, thay y
phục sạch sẽ. Xong xuôi bà ngồi nơi giường, xây mặt
về phương Tây niệm Phật một lúc rồi tắt hơi. Lúc ấy
nhằm vào khoảng năm Dân Quốc thứ mười.
Phụ ký: Lúc ở chùa núi Phật Đảnh, chính tôi nghe
ngài Định Tây pháp sư thuật lại chuyện này. Tiếc vì
khi ấy bận việc, nên chưa kịp hỏi rõ tên họ và ngày
tháng vãng sanh của đương sự. Tăng sĩ Đức Sum ghi.
Lời bình: Than ôi! Biển trần lênh láng, ngất cao
sóng nghiệp dập dồn. Cõi tạm mong manh, chìm nối
kiếp người khổ lụy! Xét như bần phụ, tánh linh đã
sẵn, bởi mê nên lạc bước luân hồi. Vực khổ thẳm sâu,
duyên phước bỗng gặp môn huyền diệu. Niềm bi cảm ba
năm tinh tấn, ngày lâm chung ngát tỏa hương thơm.
Hướng Tây phương một dạ khẩn thành, rời huyn chất
bước lên lầu ngọc. Thế mới biết Di Đà nguyện lớn,
thuyền độ sanh chẳng bó một ai. Lại rõ thêm Tịnh độ
pháp mầu, sen thắng phẩm hiện đời tất được. Ao vàng
hoa sẵn đẹp, còn đợi kẻ quyết tâm.
Tiểu Vương nguyên là gia nô của cư sĩ Tôn Hậu Tại
quê quán tỉnh Hồ Bắc. Vì y vốn họ Vương, lại thuộc
thân phận thấp nhỏ của một đứa ở, nên mọi người đều
gọi là Tiểu Vương. Tôn cư sĩ gia thế thờ Phật, sau
dời về cư ngụ ở Thượng Hải. Tiểu Vương cũng đi theo
chủ.
Giúp việc lâu năm nơi nhà Tôn Hậu Tại, được ảnh
hưởng về sự tu hành, Tiểu Vương cũng lần lần thấm
nhuần, rồi phát tâm niệm Phật. Y vốn có tật cà lăm,
nói năng chậm chạp, khó khăn, nên ban sơ niệm Phật
không thành câu. Song với tâm chí thành, y vẫn cố
gắng trì tụng. Như thế được mấy năm, một đêm Tiểu
Vương mộng thấy có người nắm lưỡi của mình kéo ra
thật mạnh, tâm sảng sốt cảm giác rất đau. Khi tỉnh
giấc, tật cũ dứt trừ, nói năng lanh lẹ thông suốt,
câu niệm Phật cũng rõ ràng rành rẽ. Do đó lòng tin
nguyện của y rất sâu thiết, sự trì niệm càng chuyên
cần. Tiếp tục tu hơn hai năm, thì không thấy Tiểu
Vương niệm Phật nữa. Có người hỏi duyên cớ, y đáp:
"Tôi niệm Phật đã thành một khối, nay không niệm mà
vẫn tự niệm, nên không cần phát ra tiếng, chỉ khởi ý
giữ cho câu hồng danh thầm liên tục chẳng đứt đoạn
mà thôi. Mọi người nghe nói cũng không mấy lưu tâm,
để cho y tùy tiện. Tình trạng mặc niệm như thế, lại
tiếp tục thêm năm độ xuân thu nữa.
Một hôm Tiểu Vương gọi đứa con trai mười lăm tuổi,
đang ngụ cư ở học đường về nhà bảo: "Hôm nay cha sắp
đi, con nên giúp sức niệm Phật để tin đưa một lần
cuối!". Mọi người thấy y vẫn bình thường, chẳng tỏ
ra chút chi đau yếu, đều không tin, chỉ nhìn nhau
mỉm cười. Tiểu Vương biết ý, bảo: "Tôi nói thật đấy,
chẳng phải là lời đùa cợt bông lông đâu!". Có kẻ
hỏi: "Chú nói đi, mà đi về nơi nào?". Đáp: "Về
nhà!". Lại gạn hỏi: "Nhà nào, ở đâu?". Đáp: "Quê nhà
cũ, tức là thế giới Cực lạc ở Tây phương!". Trong ấy
có một vị sanh lòng tin bảo: "Con của chú hãy còn
nhỏ dại, nên lưu lại thêm ít năm nữa để chiếu cố, nó
mới có thể thành lập được!". Tiểu Vương nói: "Thời
tiết đã đến, tôi không thể lưu trụ, thôi mọi việc
đều phó cho nhân duyên!". Nói xong, bảo con đồng
thanh niệm Phật với mình. Mọi người đều đứng yên,
lặng lẽ nhìn xem sự thể din tiến ra sao? Lúc ấy Tiểu
Vương ngồi ngay thẳng trên giường niệm Phật. Kế đó
bỗng hắt hơi hai tiếng, hiện tướng ngọc trợ hạ thùy,
rồi nhắm mắt đi thẳng. (Tức là hai dòng nước mũi
trắng đặc thòng xuống, một biểu tượng của bậc xả
thân thăng hóa).
Hôm sau vào buổi chiều tối, cư sĩ Tôn Hậu Tại cho
đem di hài làm l thiêu hóa nơi chùa Lưu Vân. Lúc cử
hỏa, đống củi liền bừng cháy, khói trắng xông thẳng
lên hư không. Trên ngọn lửa hiện ra một đóa sen to
lớn sáng rỡ chập chờn, càng lúc càng đẹp rõ, cho đến
khi lửa tắt. Sáng ra kiểm lại, trên tro xương cũng
hiện nét tướng hoa sen rành rạnh in như vẽ. Bấy giờ
nhằm năm Dân Quốc thứ mười sáu.
Cư
sĩ Tào Vân Tôn pháp danh Liu Nghĩa, người ở huyện
Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Ông nhà nghèo, sanh nhai
bằng nghề buôn bán, tánh hiếu thuận, ưa bố thí làm
lành. Vì thuở bé mồ côi bị thất học, nên lúc gia tư
đã hơi khá, ông xuất tiền xây cất trường học, rước
thầy dạy dỗ để giúp trẻ em trong vùng.
Thân mẫu ông là Đàm thị tin Phật, từng phát nguyện
triều l chùa núi Phổ Đà và Cửu Hoa, song chưa kịp đi
mà đã tạ thế. Vì muốn làm tròn tâm nguyện của mẹ,
nên vào tháng hai năm Quý Mão thời Quang Chữ nhà
Thanh, Vân Tôn sắm cúng phẩm đi triều l thành tích
núi Cửu Hoa. Xong việc đó, kế tiếp lại triều l non
Phổ Đà. Khi đổ thuyền lên bộ, đến rừng Tử Trúc Lâm,
ông thấy mẫu thân ngồi nghim nhiên nơi trong, liền
mừng rở kêu gọi chạy vội đến, bỗng hình tượng chợt
tan biến, Ông bi cảm đứng thương khóc. Một vị Tăng ở
trong chùa, thấy thế làm lạ bước ra thăm hỏi. Sau
khi biết được nguyên do, Tăng sĩ bảo: "Đó là đức
Quán Thế Âm Bồ tát hóa thân để an ủi lòng hiếu cảm
của ông. Thế thì việc hoàn nguyện thay cho mẹ của
ông, đã được ngài chứng giám!". Sau khi l điện Lạc
Già xong xuống thuyền trở về, Vân Tôn thấy trên mặt
biển nổi hiện đóa hoa sen ngàn cánh. Trên hoa có đức
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ tát ngồi kiết
già, tướng tốt trang nghiêm kỳ diệu. Mục kích cảnh
tượng, ông mừng thương lẫn lộn, sanh lòng tin rất
thiết sâu.
Về sau, khi được gần gũi Ấn Quang pháp sư, Vân Tôn
mới biết pháp môn Niệm Phật. Ông từng đến chùa Lô
Sơn ở huyện Cửu Giang, cùng các chùa khác tổ chức
những kỳ Phật thất và đề xướng pháp môn Tịnh độ. Mùa
hạ năm Quý Sửu ông xả cúng nhà ở cửa sang lại thành
ngôi Niệm Phật Lâm. Đến mùa hạ, năm Kỷ Tỵ, lại kết
lập hội Đông Lâm Liên Xã, lấy nơi đây làm trụ sở.
Vân Tôn cùng với vị sư trụ trì ký vào quy ước đem
trú xứ này cúng dường cho mười phương Tăng, mở đón
tiếp chúng các nơi, tự ông đảm nhiệm chịu phần kinh
phí. Qua cuối đông lại trù định cất ngôi điện các
thờ thánh tượng đức Vân Thù. Khi vật liệu xây cất
như ngói gạch, gỗ đá vừa đầy đủ, tượng cũng đã thỉnh
về, thì ông lâm bịnh.
Sang xuân Canh Ngọ, vào ngày mười chín tháng hai,
nhằm l vía đức Quán Thế Âm, Vân Tôn mời các vị cư sĩ
tập họp lại và nói: "Văn Thù Bồ tát đã hứa ba hôm
sau sẽ đến rước tôi về cõi cực lạc, xin mời chư vị
đúng kỳ hạn đến trợ niệm để đưa nhau lần cuối
cùng!". Các cư sĩ nghe nói lấy làm kinh lạ. Trước
khi lâm chung, ông gọi con trai lớn là Thiên Chương,
nấu nước cho mình tắm gội và thay y phục mới sạch.
Xong mọi việc, ông lại phú chúc bảo: "Thời kỳ vãng
sanh của cha đã đến không thể lưu lại được. Mọi sự
kiện nơi Đông Lâm Liên Xã cùng việc kiến tạo điện
các đức Văn Thù, con phải nối chí duy trì và hoàn
thành chớ nên tr sót!". Nói xong ngỏ lời giã biệt
các liên hữu, ngồi kiết già ngay ngắn và cầm chuổi
niệm Phật giây lát, rồi mãn phần giữa tiếng xưng
niệm hồng danh của đại chúng.
Bấy giờ nhằm tiết Xuân phân năm Dân Quốc thứ mười
chín (1930). Ông thọ được sáu mươi ba tuổi.
Cư
sĩ Diệp Cửu Thành pháp danh Huệ Cơ, người huyện Dư
Dao tỉnh Triết Giang, ông từng theo cha đi đó đây
tập nghề buôn bán từ thuở nhỏ. Sau khi thân phụ từ
trần, Cửu Thành thu dọn công việc trở về quê nhà an
dưỡng. Trong sự giao tế, ông được tiếng khen là
người tinh tường sáng lẹ.
Trên bước đường học Phật, trước tiên Cửu Thành được
cư sĩ Hà Mai Sơn trao tặng cho quyển Sơ Cơ Tịnh Chỉ
Nam. Sau khi xem xong, ông phát lòng tin, gia nhập
vào Phật học hội ở Dư Dao. Lâu ngày được Hà cư sĩ và
các bạn đồng tu nhắc nhở, lòng tín nguyện của ông
càng thêm bền chắc. Thời bấy giờ hàng phụ nữ địa
phương này còn tập quán mê tín, nghĩ rằng niệm một
câu Phật sẽ được phước báu một đồng tiền. Cửu Thành
cùng cháu là cư sĩ Chiếu Không thường giảng din hết
sức giải thích điều sai lầm ấy. Do đó nữ chúng ở Dư
Dao mới biết sự lợi ích niệm Phật được sanh về Tây
phương, nên tu Tịnh độ mỗi ngày càng thêm đông. Kế
tiếp nhân các cư sĩ thỉnh Tịnh Quyền pháp sư đến
Phật học hội giảng về kinh điển Đại thừa, Cửu Thành
hiểu biết càng sâu rộng thêm, tin chắc cõi Tây
phương quả thật có, cảnh ngũ trược d chìm mê, lòng
ưa chán lại thâm thiết hơn. Mỗi buổi sáng ông đều
thức dậy sớm trì niệm, sự tu tập hàng ngày đều có
định khóa. Đối với việc giới sát phóng sanh, ông
tuân hành rất cẩn mật.
Mùa hạ năm Đinh Mão thời Dân Quốc, Cửu Thành mới
chánh thức thọ Tam quy với Bảo Tịnh pháp sư. Đến năm
Canh Ngọ, nhằm ngày vía Địa Tạng lại thọ thêm Ngũ
giới. Sang tháng chín ông bị bịnh hạ ly thuốc thang
điều trị không công hiệu, liền quyết ý gác bỏ muôn
duyên, ở riêng trong một gian tịnh thất chuyên tâm
tinh tấn niệm Phật. Đêm mười chín tháng ấy, trong
khi tịnh niệm, Cửu Thành bỗng thấy cảnh giới Cực Lạc
mầu đẹp trang nghiêm, hiện ra tỏ rõ. Giây lâu thắng
tướng mới ẩn, song ánh sáng vẫn còn rạng rỡ trước
mắt. Cách vài đêm sau lại trông thấy nữa. Lúc đó
bịnh trở nặng, ông tự biết mình không qua khỏi. Các
liên hữu cùng Chiếu Không cư sĩ đến viếng thăm, an
ủi sách tấn. Cửu Thành nói: "Mỗi ngày tôi đều cầu
Quán Thế Âm Bồ tát gia bị cho nghiệp chướng mau tiêu
trừ, tịnh duyên sớm thành tựu!".
Vài hôm sau, ông gọi hai con trai lại dặn dò hậu sự,
dạy thỉnh các bạn đồng tu mỗi ngày đến trợ niệm. Lại
bảo vợ rằng: "Từ giờ phút này, tôi chỉ để tâm cầu
Phật tiếp dẫn. Khi tôi sắp mãn phần, đừng cho dâu
con lại gần, vì e chướng ngại đến sự vãng sanh!".
Đêm trước khi lâm chung, hai cư sĩ Hà và Lý hướng
dẫn đoàn liên hữu trợ niệm. Cửu Thành vẫn theo đại
chúng thầm trì danh niệm Phật. Bảy giờ sáng hôm sau,
Hà cư sĩ thấy sắc mặt ông hơi đổi khác, liền cảnh
giác rằng: "Thời khắc này rất khẩn yếu, phải nên
gắng sức!". Đại chúng đều đứng vây quanh to tiếng
niệm Phật, Cửu Thành sẽ động môi thầm niệm theo. Độ
mười lăm phút sau, thấy môi miệng chẳng còn máy
động, một liên hữu sẽ dò thăm, thì ông đã tắt hơi.
Bấy giờ nhằm ngày hai mươi mốt tháng mười một, năm
Dân Quốc thứ mười chín. Ông hưởng dương được năm
mươi lăm tuổi.
Lời bình: Kinh nói: "Đức A Di Đà thường phóng ánh
sáng đến khắp mười phương nhiếp lấy những chúng sanh
niệm Phật!". Cho nên nếu kẻ nào chí tâm thanh tịnh
niệm hồng danh A Di Đà, do duyên cơ cảm sẽ thấy ánh
sáng đó, và cũng nương theo quang minh ấy mà được
thấy Phật hoặc cõi tịnh độ. Sự mục kích ánh sáng và
cảnh Tây phương của Diệp Cửu Thành, chứng tỏ cõi Cực
lạc có thật, không phải là lời thí dụ, hoặc cõi
phương tiện giả lập để khuyến dẫn người tu.
Trần Tánh Lương tự Tích Châu, quê ở huyện Vô Vi,
tỉnh An Huy. Ông là người thuộc giới thương chánh,
tuổi trung niên mới sanh được một đứa con trai đặt
tên là Thiện Thọ, bẩm sinh tánh khá thông minh,
nhưng chẳng may lại yểu số vào lúc mười bốn tuổi.
Tánh Lương tự nghĩ mình xưa nay giữ lòng nhân hậu
thường làm điều phước đức, tại sao lại tuyệt tự, nên
đối với việc nhân quả báo ứng hoàn toàn không tin.
Bà bạn kế phối là Hồ phu nhơn tánh hiền lành rất tin
Phật pháp, biết mối chấp của chồng không thể giải
thích, chỉ gắng sức âm thầm tu trì, niệm thánh hiệu
Quán Thế Âm để cầu tự. Không bao lâu cô có thai,
nhưng lúc sắp sanh bỗng vương nạn. Trong vòng hai
mươi chín ngày, cô không thể ăn uống nói năng hoặc
day trở, mình nóng hực như lửa, thân gầy tợ củi khô.
Các hàng danh y Trung, Tây đều bó tay, tuyệt không
còn hy vọng cứu sống.
Một đêm Hồ thị nằm mơ thấy bà lão cầm cành hoa sen
cọng dài, phất từ đầu đến chân bảo: "Do túc nghiệp
ngươi mới vương trọng bịnh, song cũng may nhờ biết
tu niệm chí thành. Nay ta quét trừ nghiệp chướng và
cho ngươi một đứa con tốt!". Lúc đó cô cảm thấy thân
tâm mát mẻ, kinh lạ vui mừng chợt tỉnh, thì bịnh
dường như tan biến đâu mất, xuống giường đi lại như
thường. Sáng ra liền sanh được một đứa con trai nặng
cân khỏe mạnh, tướng mạo phương phi tốt đẹp. Sự kiện
khác thường này làm cho Tánh Lương rất kinh ngạc!
Nhưng sau khi hỏi han và nghe vợ thuật lại mọi chi
tiết, ông mới tin sự lý nhân quả trong ba đời đều
chân thật không phải hư vô. Nơi thâm tâm, ông rất
cảm ơn đức từ bi rộng lớn của chư Phật, Bồ Tát. Từ
đó vợ chồng cùng trường trai niệm Phật, quyết ý tu
trì, cứu giúp người nghèo khổ hoạn nạn, cất chùa
trai Tăng, tất cả việc lành đều gắng hết sức tu
hành. Biết việc Hồ thị dứt bịnh sanh con, chính do
đức Quán Thế Âm cứu độ, nên Tánh Lương thường đến
chùa núi Phổ Đà triều l Đại sĩ. Vợ chồng đều quy y
với Ấn Quang pháp sư, Trần Tánh Lương pháp danh là
Liu Viên, và vợ Hồ thị pháp danh là Liu Thường.
Khoảng Dân Quốc năm đầu, các chùa nơi núi Phổ Đà đều
khiếm lương thực, và toàn vùng bị chánh phủ trưng
dụng cho kiều dân người Đức ở. Tánh Lương bôn tẩu
nhờ các bạn trong hàng quan liêu giúp đỡ can thiệp,
nên kết cuộc khỏi tai qua. Cư sĩ lại tự xuất của
trùng tu tháp Đa Bảo và làm các Phật sự xây cất lại
bản sơn để báo ân Tam Bảo.
Niên hiệu Dân Quốc thứ chín, vợ chồng và con cái năm
người cùng thọ giới Bồ tát nơi chùa Pháp Nguyên tại
Bắc Kinh. Ba năm sau, Liu Thường bỗng lâm bịnh. Vào
ngày hai mươi tám tháng hai, đúng đang niệm Phật, cô
bỗng thấy hai vị đồng tử cầm tràng phan có bốn chữ:
"Tây Phương Tiếp Dẫn". Biết là điềm sắp vãng sanh,
có nhờ chồng mình thỉnh bốn vị Tăng đến nhà giúp sám
hối niệm Phật. Tới ngày hai mươi tám tháng sau, bịnh
được an lành. Nhưng sang thượng tuần tháng tư, Liu
Thường lại thấy trong người không khỏe, tự biết quy
kỳ sắp đến, liền một lòng niệm Phật cầu sớm vãng
sanh. Vào bữa mùng năm, Tánh Lương thỉnh chư Tăng
đến nhà, bảo người trong già thuộc hợp cùng đại
chúng luân phiên trợ niệm cho ngày đêm tiếng Phật
không dứt. Liu Thường cũng thầm trì niệm theo. Sáng
ngày mùng sáu cô bảo người nhà nấu nước cho mình tắm
gội thay y phục. Đoạn cố gắng đến trước bàn phật
niệm hương l bài, rồi nhờ xây giường để mình nằm
nghiêng bên hữu day mặt về hướng Tây. Khi nằm yên
xong, cô chuyên tâm niệm Phật cho đến giờ Hợi, bỗng
chợt ngồi dậy chấp tay nói: "Tây phương Tam Thánh đã
đến!". Lại bảo: "Còn thiếu ba ngàn câu Phật, niệm đủ
tôi sẽ đi!". Lúc đó hàng Tăng tục hơn ba mươi người
đều lớn tiếng niệm hồng danh. Liu Thường cũng cao
tiếng niệm theo được một lúc gương mặt lộ nét tươi
cười rạng rỡ mà qua đời. Khi ấy trong nhà bay thoảng
mùi hương lạ. Giờ Ngọ hôm sau nhập liệm, đảnh đầu cô
vẫn nóng, tay chân mềm dịu, hơi thơm hãy còn.
Khi Thiên Thọ, đứa con trai đầu lòng yểu số, vì gấp
cầu tự, Tánh Lương cưới thêm cô thiếp là Sa thị mới
mười bảy tuổi. Về nhà chồng được mấy năm cô nhờ sự
huấn luyện, cũng khởi lòng tin chân chánh, quy y với
Ấn Quang pháp sư, pháp danh là Liu Từ. Từ đó Sa thị
giữ chắc năm giới, trường trai niệm Phật. Về sau Liu
Từ đau dây dưa mãi không lành, nằm trên giường bình
suốt hai năm. Song lòng tin nguyện bền chắc, cô vẫn
không rời câu niệm Phật. Ngày rằm tháng hai năm Dân
Quốc thứ mười chín, nhằm l vía đức Thế Tôn nhập Niết
bàn, cả gia đình cùng thỉnh chư Tăng tập họp tại
nhà, tu Đại Bi Sám Pháp. Vừa đến ngọ l sám xong, đứa
con gái bưng chén nước, tự nói thấy trong đó chao
động phóng ra ánh sáng. Tánh Lương đứng một bên vội
đỡ tay bưng chén giùm. Lúc đó cô lại bảo thấy tay
ông cầm hoa sen, e rằng thời khắc vãng sanh đã đến.
Tánh Lương nghe nói liền ra ngoài thỉnh chư Tăng vào
phòng trợ niệm. Liu Từ bổng quì nơi giường cúi lạy
nói: "Đức Quán Thế Âm Bồ tát từ cõi Cực lạc phóng
quang tới chiếu sáng khắp thân mình". Tánh Lương
khuyên cô nên xả bỏ tất cả, chỉ một lòng chuyên cầu
Đại sĩ tiếp dẫn. Liu Từ vâng lời chấp tay chúc
nguyện: "Con đau bịnh chịu sự thống khổ đã nhiều,
cầu cho người đời sớm được giải thoát, xa lìa bịnh
khổ. Xin Bồ tát xót thương tiếp dẫn con về cõi Cực
lạc!". Quá ngọ hai giờ, cô nói: "Bồ tát đã quang
lâm! Xin thỉnh chư Tăng ra ngoài, để con lau mình
thay y phục". Nhưng khi vừa thay áo, cô lại bảo:
"Đức A Di Đà đã đến từ xa, đang duỗi tay phóng quang
tiếp dẫn, có Vi Đà Kim cang theo hầu hạ, xin mau
thỉnh chư Tăng vào trợ niệm!". Lúc đó Liu Từ không
kịp mặc áo tràng vội ngồi kiết già chấp tay liên
tiếp niệm A Di Đà Phật rồi nói: "Tôi đi đây!". Đoạn
liền nhắm mắt lặng lẽ vãng sanh, hai tay vẫn còn
chấp nơi ngực. Khi ấy tất cả người trong nhà đều
nghe dị hương bát ngát. Đến trưa hôm sau đảnh đầu cô
còn nóng, sắc mặt tươi tắn sáng nhuần hơn lúc sanh
tiền.
Tánh Lương mục kích thê, thiếp do niệm Phật đều được
điềm lành và chứng nghiệm vãng sanh một cách hiện
thật, lòng tin càng thêm bền chắc. Sau khi ấy ông tu
chỉnh ngôi tiền đường thờ cúng trang nghiêm như cảnh
chùa am, để bảng hiệu Niệm Phật Cư Sĩ Lâm, thường
tập họp chư liên hữu lại cùng nhau tu trì sách tấn.
Mùa đông năm Tân Mùi cư sĩ vương vịnh, sắm l thỉnh
chư Tăng chùa thiên Phước đến lưu trụ tại Cư Sĩ Lâm,
mỗi ngày vào phòng xưng hồng danh, để được thường
nghe Phật hiệu thành tựu chánh niệm. Tới ngày mười
một tháng ba năm Nhâm Thân (1932), vào lúc chánh
ngọ, Tánh Lương nói: "Tôi thấy Phật, Bồ tát tướng
tốt trang nghiêm và hoa sen rất to đẹp!". Chư Tăng
cùng người nhà biết thời khắc Tây quy của ông đã
đến, đều họp lại phòng cao tiếng niệm Phật. Cư sĩ
cũng ngồi lần chuỗi sẽ niệm theo, tới quá ngọ hai
giờ yên lặng vãng sanh.
Chiều hôm ấy cư sĩ Từ Huất Như, bạn thân của Tánh
Lương, cũng là vị Lâm trưởng, nghe tin cáo phó vội
cho mời đoàn liên hữu cùng đến phúng điếu. Khi phái
đoàn tới nơi thì đã tám giờ tối. Chư liên hữu đều
thấy Tánh Lương vẫn còn ngồi kiết già ngay thẳng,
tay cầm chuỗi, gương mặt tươi tỉnh như sống. Thử dò
xem thì đảnh đầu còn nóng, tay chân mềm dịu.
Nhâm Cung nhơn là vợ của Châu Vận Tuyền tiên sanh ở
Hải Diêm. Từ trẻ bà đã tin Phật pháp, sau khi về nhà
họ Châu, sự giúp đỡ chồng nuôi dạy con đều tròn chức
phận. Tánh bà đoan trang nghiêm chánh, đối đãi với
người rất ân hậu. Mùa đông năm Giáp Thìn thời Quang
Chữ nhà Thanh, chồng mãn phần, lúc ấy Cung nhơn đã
năm mươi chín tuổi. Trải nhiều phen mục kích cảnh
tang thương biến đổi, nhân cảm việc chồng từ trần,
bà nghĩ cuộc đời như huyn, sanh mệnh vô thường, bỗng
sanh tâm tư thoát tục. Sau khi xét định kỹ, Cung
nhơn liền đem việc nhà giao cho con trai và dâu, rồi
buông hết muôn duyên trường trai niệm Phật. Sự tu
hành của bà rất tinh chuyên, không lúc nào dám tr
bỏ.
Mùa đông năm Đinh Tỵ thời Dân Quốc, Cung nhơn bỗng
vương chứng bán thân bất toại, tay chân tê nhứt, lúc
đi đứng phải có người dìu đỡ. Bà cho ngăn riêng một
gian nhà, phía trước thờ Phật, sau là chỗ nghỉ, ở
yên tịnh tu niệm, như người nhập thất. Nhân đó tâm
càng định, niệm lực càng được tinh chuyên.
Mùa hạ năm Tân Dậu, hai con là Điều Sanh, Cát Sanh
được nghe cư sĩ Phạm Cổ Nông giảng din về Phật pháp,
anh em mới phát tâm học Phật và đem những điều đã
hiểu biết về khuyên giải lại cho mẹ nghe. Nhân đây,
lòng tin nguyện cầu sanh của bà càng thêm chuyên
thiết. Tháng giêng năm Giáp Tý, Điều Sanh lại có
duyên dự cuộc hành trình với các vị cư sĩ đi nghe
giảng kinh, Cung nhơn bảo: "Mẹ đã cao tuổi, con chớ
nên đi xa lâu!". Đến ngày hai mươi bốn, bà lại vương
chứng thương phong, rồi kế ho suyn. Sang ngày hai
mươi tám, bịnh thêm nặng, người nhà mời các nữ liên
hữu đến niệm Phật để giúp sức cầu nguyện. Nghe tiếng
xưng hồng danh, Cung nhơn liền được tâm an, hơi thở
điều hòa, rồi chợp mắt thiếp đi một lúc. Đến lúc
tỉnh dậy, bà nói: "Vừa rồi ta mộng thấy một lão
nương mặt hồng hào, tóc bạc trắng đưa cho một chiếc
bánh in bảo ăn. Sau khi dùng xong, ta cảm thấy thanh
sảng nhẹ nhàng, nhân mới hỏi: "Tôi có được giải
thoát khỏi sự khổ chăng?". Lão nương đáp: "Sẽ được
giải thoát, hãy cố gắng niệm Phật!". Ta nghe nói
liền niệm Phật hơn một trăm câu rồi chợt tỉnh!".
Sau khi đó các chứng: thương phong, khí suyn và bán
thân bất toại của bà đều được khỏi hẳn. Đêm ấy Cung
nhơn ngủ một giấc yên lành. Sáng ra thức dậy, bà cảm
thấy thân tâm thơ thới nhẹ nhàng không còn bịnh khổ,
lại thoảng nghe có mùi hương. Đến ngày hai mươi
tháng hai, Cung nhơn sanh chứng uất muộn khó thở,
người nhà lại rước nữ chúng tới trợ niệm. Sang ngày
hai mươi hai, bà tự biết mình không qua khỏi, dặn
gia quyến chớ nên than khóc, phải luân phiên cao
tiếng trợ niệm để mình được nương sức niệm theo. Đến
canh ba, Cung nhơn an lành mà qua đời.
Ban sơ tay chân của bà đều lạnh trước, chỉ nơi ngực
còn nóng rất lâu. Mọi người vẫn để yên, cao tiếng
niệm Phật tiếp tục không dứt. Hơi nóng mới lần lần
chuyển lên tới miệng, mắt, sau cùng đạt thẳng lên
đảnh đầu. Sự trợ niệm vẫn kéo dài đến nửa đêm hôm
sau mới chấm dứt. Lúc tẩn liệm, tay chân Cung nhơn
còn dịu mềm, sắc mặt tươi như sống. An táng xong,
người nhà đem những tờ Tây phương công cứ của bà đã
ghi số câu niệm Phật lúc bình nhựt ra thiêu hóa. Khi
lửa tắt, trên tro hiện ra tướng một vị Tăng đứng
trên hoa sen, nét rõ ràng in như vẽ.
Lời bình: Ấn Quang pháp sư bảo: "Tất cả Lý của thế
gian và xuất thế gian đều không ngoài hai chữ TÂM
TÁNH. Tất cả Sự của thế gian và xuất thế gian, đều
không ngoài hai chữ NHÂN QUẢ. Nhâm cung nhơn bị
vương nhiều bịnh, là chịu quả của nghiệp sát kiếp
trước; cảm mộng lành được khỏi khổ, bởi nhờ nhân tu
niệm của kiếp này. Lúc lâm chung hơi nóng trụ nơi
ngực, đáng lẽ bà phải chuyển sanh làm người tu thêm
một kiếp nữa mới được giải thoát. Song nhờ công đức
của gia đình và các liên hữu luân phiên chí tâm trợ
niệm, nên kết cuộc bà lại được vãng sanh. Điểm này
cho thấy sự trợ niệm lúc lâm chung rất là thiết yếu.
Nhà
lan thanh vắng, giậu cúc lơ thơ, trời thu phân cảnh
vật tiêu sơ, người liên nữ bền lòng tín nguyện! Đó
là gia cảnh của Châu thị, và bà đang theo thời khóa
thành tâm niệm Phật.
Châu thị nguyên là vợ của họ Chương. Từ trẻ bà đã
biết thờ kính Quán Thế Âm đại sĩ, tin sâu nhân quả,
từ hòa hiếu thuận và ưa thích điều lành. Đến sáu
mươi tám tuổi, Châu thị mới được nghe biết sự lợi
ích của pháp môn Tịnh độ, liền trường trai niệm Phật
ra tiếng một muôn câu, ngoài số ấy đều tùy thời tùy
cảnh niệm thầm. Công phu hành trì như thế đã trải
hơn mười năm. Mấy năm sau cùng vì tránh sự phiền
nhiu, Châu thị thường tĩnh tọa nơi gian nhà riêng,
sự tu trì càng thêm mật thiết. Có đôi lúc bà ngồi
yên nhắm mắt hướng về Tây, luôn hai ba ngày không ăn
uống nơi cổ tay mạch không còn nhảy; duy có nét mặt
sáng tươi, toàn thân nóng ấm. Sau khi ấy, người nhà
hỏi về tình trạng lúc đương thời, bà đáp: "Ta thấy
mình ngồi niệm Phật trên tòa sen to đẹp, quên hẳn
thời khắc, lòng rất sáng nhẹ an vui!".
Đến năm Dân Quốc thứ hai mươi, vào khoảng tháng sáu,
Châu thị bỗng cảm bịnh. Đứa con trai suất lãnh người
nhà luân phiên trợ niệm. Vài hôm trước khi mãn phần,
bà nói với gia thuộc rằng: "Ta còn lưu trụ hai ngày
nữa, các con nên tâm nghỉ ngơi. Hãy chuẩn bị nấu
nước thơm cho ta tắm gội, và y phục giày dép đều
phải đổi thứ mới sạch!". Hai hôm sau, vào giờ Tỵ, bà
ngồi ngay thẳng hướng về Tây, nhắm mắt không nói
năng chi cả. Con trai thấy thế, lại gọi người nhà
vây quanh, đồng cao tiếng niệm Phật. Độ vài mươi
phút kế đó, Châu thị ngồi yên ổn mà tắt hơi gương
mặt lộ nét tươi vui hòa nhã. Hơn hai giờ sau, đảnh
đầu của bà hãy còn nóng.
Có điều đáng kỳ diệu là đang lúc làm lễ nhập liệm,
đứa cháu nội gái của bà, vì quá thương khóc nên ngã
xuống hôn mê. Mẹ đứa bé này tức là dâu của Châu thị,
cũng đã niệm Phật vãng sanh từ mấy năm về trước. Khi
được người nhà vực tỉnh dậy, bé gái nói: "Con thấy
từ phương Tây phóng tới ánh sáng to rộng rực rỡ. Đức
Quán Thế Âm thân tướng nghiêm đẹp, tay cầm cành
dương liu, theo sau có vô số Bồ tát nương giữa hư
không bay đến. Trong giây phút mẹ cùng bà nội thân
tướng cao lớn tươi tốt hơn lúc bình thường, theo sau
chư Bồ tát bay về phương Tây. Ngoài ra lại còn có vô
số hoa lạ, tràng phan bảo cái hiện giữa hư không,
tất cả cảnh vật đều trang nghiêm rực rỡ khác thường.
Trông thấy cảnh ấy lòng con chợt an vui, quên hẳn sự
xót xa thương khóc. Bây giờ con không còn lo buồn
nữa, vì biết rõ mẹ và bà nội đã về cảnh Phật!".
Lời bình: Phàm sanh về Cực lạc, không luận trai gái
già trẻ, đều hiện thành thân nam đủ ba mươi hai
tướng tốt. Đứa bé thấy mẹ cùng bà nội đều còn thân
người nữ, đó là phương tiện hiện ra tướng cũ, để cho
nó dễ nhận biết. Độc giả khi xem đến đoạn này, chớ
hoài nghi!