THAM THIỀN YẾU CHỈ
Hòa Thượng Hư Vân
Hòa Thượng Thích Thanh Từ Việt dịch
A. DẪN LỜI DẠY
Chư
vị hằng ngày đến thỉnh
tôi chỉ dạy khiến tôi
rất hổ thẹn. Chư vị ngày
ngày nhọc nhằn cuốc đất,
bửa củi, gánh gạch làm
việc quên cả sớm chiều,
mà vẫn không quên tâm
niệm cầu giải thoát. Hạt
giống thiết tha vì đạo
ấy khiến mọi người đều
cảm động. Hư Vân này hổ
thẹn không đạo không đức,
nói không đến đâu lấy gì
chỉ dạy, chỉ lượm lặt
những lời dạy của cổ
nhân để đáp lại lời khẩn
cầu của chư vị mà thôi.
B. PHƯƠNG PHÁP NHẬP MÔN
DỤNG CÔNG.Phương
pháp dụng công tu hành
rất nhiều, hiện tại chỉ
tóm lược chỉ bày:
1.
ĐIỀU KIỆN QUYẾT ĐỊNH
TRƯỚC KHI TU TẬP:
a)
Tin sâu nhân quả. –
Không luận người nào,
nếu muốn dụng công tu
tập trước cần phải tin
sâu nhân quả. Nếu không
tin nhân quả, thực hành
càn bướng, không những
tu hành chẳng thành công
mà tam đồ cũng khó tránh.
Cổ đức nói: “Muốn biết
nhân đời trước hãy xem
sự lãnh thọ của đời này,
muốn biết quả đời sau
hãy nhìn sự gây tạo hiện
tại”. Lại nói: “Giả sử
đã tạo nghiệp trăm ngàn
kiếp vẫn không mất, khi
nhân duyên hội ngộ quả
báo trở lại tự chịu”.
Kinh Lăng Nghiêm nói:
“Nhân địa không ngay,
quả báo cong vạy”. Cho
nên gieo nhân lành kết
quả lành, gieo nhân ác
gặt quả ác, trồng dưa
được dưa, trồng đậu được
đậu là đạo lý tất nhiên
vậy.Nói đến nhân quả tôi
xin thuật hai câu chuyện
xưa để chứng minh:
Chuyện vua Lưu Ly giết dòng họ Thích.
Trước đức Phật Thích-ca
ra đời, trong thành
Ca-tỳ-la-vệ có một làng
chài lưới, trong làng có
cái hồ to. Khi ấy, trời
hạn nước cạn, bao nhiêu
cá trong ao bị người
làng bắt ăn hết, sau
cùng còn lại một con cá
thật to cũng bị người
làm thịt luôn. Trong
làng chỉ có một đứa bé
lâu nay không ăn thịt
cá, hôm ấy đến thấy con
cá to lấy cây gõ trên
đầu nó ba cái rồi đi.
Sau này khi đức Thích-ca
ra đời, vua Ba-tư-nặc
rất kính tin Phật pháp,
cưới con gái dòng họ
Thích làm vợ, sanh được
một Thái tử đặt tên Lưu
Ly. Lúc thơ ấu, Lưu Ly ở
bên ngoại tại thành
Ca-tỳ-la-vệ học, một hôm
nhân giỡn chơi trèo lên
tòa của Phật ngồi, bị
người họ Thích rầy mắng
kéo lôi xuống, nên ôm
lòng uất hận. Đến khi
Lưu Ly lên làm vua, xuất
đại binh đánh thành
Ca-tỳ-la-vệ, bắt hết dân
cư trong thành giết
sạch, chính khi ấy đức
Thích-ca nhức đầu ba
ngày. Các vị đệ tử lớn
của Phật cầu xin Phật
tìm cách giải cứu dòng
họ Thích. Phật nói:
“Định nghiệp khó
chuyển”. Tôn giả Mục
Liên dùng sức thần thông
lấy bình bát đến thâu
năm trăm người dòng
Thích-ca đem để trên
không trung; khi giặc
qua, Ngài đem xuống thả
ra, không ngờ khi trút
bát thấy tất cả đều biến
thành máu. Các đệ tử lớn
đến thưa hỏi Phật, Phật
đem việc xưa dân trong
làng ăn cá thuật lại:
Con cá lớn ngày xưa là
vua Lưu Ly hiện nay,
quân đội của vua Lưu Ly
đều là những con cá nhỏ
trong hồ. Dân cư trong
thành Ca-tỳ-la-vệ bị
giết đều là người ăn cá
ngày xưa. Thân Phật
chính là đứa bé gõ đầu
cá ba cái ngày xưa, nên
hiện tại bị quả báo nhức
đầu ba ngày. Vì định
nghiệp khó tránh nên năm
trăm người dòng họ Thích
tuy được Tôn giả Mục
Liên cứu thoát, cũng
không bảo tồn được tánh
mạng. Sau này vua Lưu Ly
bị đọa địa ngục. Oan oan
tương báo không biết bao
giờ hết được. Nhân quả
thật đáng sợ vậy.
Chuyện ngài Bá Trượng độ Hồ Ly.
Bá Trượng Lão nhân một hôm vào nhà giảng, giảng xong các thính giả ra hết, chỉ còn lại một ông già không lui đi. Ngài Bá Trượng hỏi: “Ông còn muốn hỏi gì?”. Ông ấy thưa: “Con là Dã hồ tinh không phải là người, đời trước con vốn làm Đường đầu (Trụ trì) ở đây, nhân có người học, hỏi con: ‘Bậc đại tu hành lại rơi vào luật nhân quả chăng?’. Con đáp: ‘Không rơi nhân quả’. Do đó con bị đọa lạc làm Dã hồ tinh đã năm trăm năm, không có cách nào thoát thân, mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy cho!”. Ngài Bá Trượng bảo: “Ngươi hỏi lại ta”. Ông ấy bèn hỏi: “Bạch Hòa thượng! Bậc đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng?”. Tổ Bá Trượng đáp: “Không lầm nhân quả”. Ông già nghe câu này liền đại ngộ. Ông lễ tạ thưa: “Nay nương lời đáp thay của Hòa thượng khiến con siêu thoát thân Dã hồ, con ở hang sau núi, mong Hòa thượng lấy lễ tống táng theo nhà sư cho con”. Hôm sau, Tổ Bá Trượng lại hang sau núi, lấy gậy bới ra có xác con hồ tinh, bèn dùng lễ theo nhà sư mà an táng. Chúng ta nghe hai câu chuyện xưa này càng biết rõ nhân quả đáng sợ, tuy thành Phật vẫn khó khỏi quả báo nhức đầu. Sự báo ứng một mảy may không sai lạc, định nghiệp thật khó trốn tránh. Chúng ta gắng cẩn thận, gắng dè dặt chớ có gây nhân.
b) Nghiêm trì giới luật. – Dụng công tu hành trước nhất phải trì giới. Giới là cội gốc quả vô thượng Bồ-đề, nhân giới sanh định, nhân định phát tuệ, nếu không trì giới mà tu hành thì không thể được. Trong kinh Lăng Nghiêm dạy rõ bốn món thanh tịnh, dạy chúng ta rằng: “Không trì giới mà tu chánh định không thể thoát khỏi trần lao, dù hiện tiền có nhiều trí tuệ, nhiều thiền định cũng rơi vào tà ma ngoại đạo”. Đó nên biết, trì giới là trọng yếu, người trì giới Long Thiên ủng hộ, ma ngoại kính sợ. Người phá giới, bọn quỉ gọi là giặc lớn, nó quét dấu chân của người ấy. Ngày xưa tại nước Kế Tân, gần bên đất già lam có một con độc long thường khi ra nhiễu hại dân chúng địa phương. Có năm trăm vị A-la-hán nhóm họp một chỗ dùng sức thiền định đuổi nó đi, rốt cuộc không hiệu quả gì cả. Sau có một vị Tăng, không cần nhập thiền định chỉ đến gần con độc long nói một câu: “Hiền thiện ! Hãy tránh xa chỗ này đi”. Con độc long liền đi mất. Các vị A-la-hán hỏi vị Tăng ấy: “Ông dùng thần thông gì đuổi được con độc long?”. Vị Tăng đáp: “Tôi không dùng sức thiền định, chỉ do cẩn thận đối với giới, gìn giữ giới khinh cũng như giới trọng”. Chúng ta tưởng tượng sức thiền định của năm trăm vị La-hán mà không bằng một vị Tăng nghiêm trì giới luật.Hoặc có người bảo: “Lục Tổ nói tâm bình đâu cần trì giới, hạnh thẳng nào dụng tham thiền”. Tôi xin hỏi ông: Tâm ông đã bình, hạnh ông đã thẳng chưa? Giả sử có người con gái đẹp lõa thể đến ôm ông, ông có thể không động tâm chăng? Có người vô lý mạ nhục đánh đập ông, ông có thể không sanh tâm sân hận chăng? Ông đã đạt được chỗ không phân biệt oán thân, thương ghét, nhân ngã, phải quấy chưa? Cẩn thận khi làm được mới nói những lời to ấy, nếu làm không được mà nói chỉ là nói suông.
c) Tín tâm kiên cố. – Có ý dụng công tu tập trước cần phải có lòng tin bền chặt. Lòng tin là đầu của Đạo, là mẹ các công đức. Bất luận làm việc gì không có lòng tin thì làm không xong. Chúng ta cốt liễu thoát sanh tử, điều cần thiết phải có lòng tin bền chặt. Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có đức tướng trí tuệ Như Lai, chỉ do vọng tưởng chấp trước không thể chứng được”. Phật lại dạy các thứ pháp môn để đối trị tâm bệnh của chúng sanh. Chúng ta nên tin lời Phật nói không hư dối, tin chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Sở dĩ chúng ta chưa được thành Phật, đều do chưa triệt để dụng công đúng như pháp mà thôi. Ví như chúng ta tin đậu nành làm đậu hũ được, nếu ta không ra công nấu đậu hũ thì đậu nành tự nó không thể biến thành đậu hũ. Nếu chúng ta đi nấu đậu hũ mà để thạch cao không đúng lượng, đậu hũ cũng không thể thành. Nếu ta nấu đúng pháp, để thạch cao đúng lượng quyết định sẽ thành đậu hũ. Người tu hành cũng như thế, không dụng công tu tập cố nhiên không thành Phật, dụng công không đúng pháp Phật cũng không thể thành. Nếu người tu tập đúng pháp, không lui không hối, quyết định người này sẽ thành Phật. Cho nên, chúng ta phải tin sâu chính mình xưa nay là Phật; lại tin sâu y giáo pháp Phật dạy tu hành quyết định thành Phật. Vĩnh Gia Thiền sư nói: “Chứng thật tướng không nhân pháp, sát-na diệt hết nghiệp A-tỳ, nếu dùng lời vọng dối chúng sanh, tự chuốc địa ngục (Bạt Thiệt) trần sa kiếp”. Ngài Vĩnh Gia vì lòng từ bi, cốt định chắc lòng tin cho người đời sau, nên phát lời thệ rộng lớn như vậy.
d) Quyết định pháp môn tu hành.- Lòng tin đã đủ, lại nên chọn một pháp môn để tu trì, cần phải không được sớm Tần chiều Sở. Bất luận niệm Phật cũng tốt, trì chú cũng tốt, tham thiền cũng tốt, điều cần thiết là nhận định một pháp môn thẳng đó tiến tu hằng không lui sụt. Ngày nay chưa thành công, ngày mai vẫn tiến hành như thế; năm nay chưa thành công, năm tới vẫn tiến hành như thế; đời này chưa thành công, đời sau vẫn tiến hành như thế. Qui Sơn Lão nhân nói: “Đời đời nếu không lui sụt, quả Phật quyết định có ngày”. Có một số người làm mà không chú ý quyết định, ngày nay nghe vị thiện tri thức này nói niệm Phật hay, liền niệm Phật được vài ngày; ngày mai nghe vị thiện tri thức kia nói tham thiền hay, lại tham thiền vài ngày, sang đông tìm tây, một đời kiếm tìm đến chết mà không được một chút kết quả, rất uổng thay!
2. PHƯƠNG PHÁP THAM
THIỀN:
Pháp
môn dụng công tuy nhiều
mà chư Phật, Tổ sư đều
cho tham thiền là vô
thượng diệu môn. Trên
hội Lăng Nghiêm Phật dạy
Bồ-tát Văn Thù chọn môn
viên thông, ngài Văn Thù
chọn môn nhĩ căn viên
thông của Bồ-tát Quán
Thế Âm là bậc nhất hơn
cả. Chúng ta cần “Phản
văn văn tự tánh” (xoay
cái nghe nghe tự tánh)
chính là tham thiền.
Trong thiền đường này
cũng nên giảng một pháp
tham thiền.
a) Tọa thiền nên biết. – Bình thường nhật dụng đều là hành đạo, như vậy chỗ nào không phải là đạo tràng, cần gì thiết lập thiền đường, cũng không phải tọa thiền mới là thiền. Nói thiền đường, nói tọa thiền chẳng qua vì chúng ta là chúng sanh trong thời mạt pháp chướng sâu, tuệ cạn mà tạm thiết lập.Tọa thiền cần hiểu rõ cách điều dưỡng thân tâm. Nếu không khéo điều, hại nhỏ là sanh bệnh, hại to là bị ma, thật đáng tiếc vậy. Trong thiền đường đi kinh hành, hoặc tọa thiền chỗ dụng ý chính là điều thân tâm. Phương pháp điều thân tâm rất nhiều, nay chọn lọc những điều cần yếu lược nói:Khi ngồi kiết già phải theo thứ tự, giữ tự nhiên và ngồi ngay thẳng. Không được để ý ễnh lưng thẳng lên, nếu ễnh thẳng lưng hơi nóng xông lên tụ lại lâu ngày, con mắt sanh nhiều ghèn, miệng hôi, đầu nóng, không muốn ăn uống, quá lắm đến thổ huyết. Lại không được để lưng cong đầu cúi nhiều, nếu vậy dễ sanh hôn trầm. Như biết khi hôn trầm tới, mở mắt to ra, ễnh lưng một cái và động nhẹ nhẹ hai bên hông, hôn trầm tự nhiên tiêu diệt. Nếu dụng công cấp bách quá, khi nghe trong lòng bứt rứt nên bỏ hết mọi việc và xả luôn cả dụng công, dừng nghỉ độ năm mười phút, dần dần thư thái, nhiên hậu đề khởi dụng công. Nếu không như vậy, dồn chứa lâu ngày biến thành tánh nóng nảy dễ sân, thậm chí phát cuồng bị ma.Tọa thiền khi có chút thọ dụng (thấy cảnh giới lạ) cảnh giới phát hiện rất nhiều nói không thể hết, chỉ ta không chấp trước cảnh giới ấy thì nó không làm ngại ta được. Lời tục nói: “Thấy quái ta không quái, quái tự mất”. Trông thấy yêu ma quỉ quái đến nhiễu hại ta, ta không cần quan tâm đến nó, cũng không sợ nó hại. Chính thấy đức Phật Thích-ca đến rờ đầu thọ ký, ta cũng không quan tâm đến, chẳng nên sanh vui mừng. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Không khởi tâm cho mình chứng Thánh, là cảnh giới lành, khởi tâm cho mình chứng Thánh, tức lạc quần tà”.
b) Hạ thủ công phu - biết chủ khách.- Hạ thủ công phu thế nào ư? Trên hội Lăng Nghiêm ngài Kiều Trần Như nói hai chữ Khách Trần, chính là chỗ sơ tâm chúng ta hạ thủ công phu vậy. Ngài nói: “Ví như người hành khách dừng nghỉ nơi quán trọ, hoặc ngủ hoặc ăn, ăn ngủ xong gói hành lý ra đi, đi không trở về nghỉ lại. Nếu thật người chủ thì không đi đâu. Như thế suy xét, không ở lại gọi là khách, ở lại gọi là chủ. Bởi không ở lại nên nghĩa là khách. Lại như buổi sáng trời tạnh, mặt trời vượt lên, ánh sáng soi qua các kẽ hở, soi rõ các vi trần trong hư không, vi trần diêu động, hư không yên lặng. Yên lặng là Không, diêu động là nghĩa Trần”. Khách và trần dụ vọng tưởng, chủ và hư không dụ tự tánh. Người chủ thì thường ở, không phải như khách hoặc đi hoặc đến, đó là dụ tự tánh thường trụ vốn không theo vọng tưởng chợt sanh chợt diệt. Nên nói: “Chỉ tự vô tâm với vạn vật, ngại gì vạn vật thường nhiễu loạn”. Tính chất vi trần tự diêu động vẫn không làm ngại được cái yên lặng của hư không. Dụ vọng tưởng tánh nó sanh diệt vẫn không làm ngại được tự tánh như như bất động. Nên nói: “Một tâm không sanh, muôn pháp chẳng lỗi lầm”.Trong đây chữ Khách so phần thô, chữ Trần so phần tế. Người mới phát tâm trước nhận rõ Chủ và Khách, tự không bị nó kéo lôi; tiến lên nhận rõ ràng Không và Trần, vọng tưởng không thể làm chướng ngại. Nên nói: “Biết được, không phải oán”. Người hay xét kỹ lãnh hội được chỗ này, sự dụng công tu hành rất chóng tiến.
c)
Thoại đầu cùng nghi
tình.
- Thời xưa Tổ
sư chỉ thẳng tâm người
thấy tánh thành Phật.
Như cách an tâm của Tổ
Đạt-ma, lối bàn kiến
tánh của Lục Tổ, chỉ cần
thẳng đó thừa nhận là
xong, không có khán
thoại đầu. Đến các Tổ sư
sau này thấy tâm người
không bằng cổ nhân,
không thể tử tâm như
khối đất, mà luôn tráo
trở lăng xăng, mọi người
chỉ đếm của báu cho kẻ
khác mà lầm nhận là của
mình. Bởi thế nên các
Ngài riêng lập môn đình
(cảnh riêng) và mỗi vị
chỉ ra một phương pháp,
do đó mới dạy người học
khán thoại đầu.Thoại đầu
rất nhiều, như: “Muôn
pháp về một, một về chỗ
nào?” hay “Trước khi cha
mẹ chưa sanh, thế nào là
mặt thật của ta?” v.v...
nhưng phổ thông hơn cả
là câu “Niệm Phật là
gì?”.Thế nào là thoại
đầu? Thoại là lời nói,
trước lời nói là đầu.
Như niệm A Di Đà Phật là
thoại, trước khi chưa
niệm là thoại đầu. Nên
nói thoại đầu là cái mé
chưa sanh một niệm. Một
niệm vừa sanh đã thành
thoại vĩ (đuôi lời nói).
Cái mé chưa sanh một
niệm đó gọi là “không
sanh”; không loạn động,
không mê muội, không đắm
nơi tịnh, không rơi vào
không, gọi là “không
diệt”. Luôn luôn chăm
chú trở lại chiếu soi
cái “không sanh không
diệt” ấy, gọi là “khán
thoại đầu” hoặc “chiếu
cố thoại đầu”.Khán thoại
đầu trước cần phải khởi
nghi tình, đó là chỗ
nương nhờ của pháp khán
thoại đầu. Sao gọi là
nghi tình? Như hỏi niệm
Phật là gì? Người người
đều biết chính mình
niệm. Nhưng là miệng
niệm hay tâm niệm? Nếu
thật miệng niệm, khi ngủ
mê vẫn có miệng sao
không niệm? Nếu thật tâm
niệm, tâm hình dáng thế
nào, lại không có chỗ
nơi sờ mó? Nhân chỗ
không rõ này, trên chữ
gì phát khởi niệm
nghi nhẹ nhàng tế nhị,
không cho thô, càng tế
càng tốt. Tùy thời tùy
chỗ chăm chú chiếu cố
quyết chí nơi niệm nghi
này, giống như dòng nước
không có chỗ đoạn, không
sanh hai niệm. Nếu niệm
nghi còn thì không cần
để ý đến nó, niệm nghi
nếu mất lại nhẹ nhàng đề
khởi lên. Khi mới dụng
tâm thì trong tịnh,
trong động so sánh rất
đắc lực. Nhưng cốt không
sanh tâm phân biệt,
không quan tâm đến đắc
lực hay không đắc lực,
không chú ý trong động
hay trong tịnh, ta chỉ
nhất tâm, nhất ý dụng
công là tốt.
Bốn
chữ Niệm Phật là
gì, rất quan
trọng tại chữgì,
ngoài ra ba chữ
kia chẳng qua là để nói
cho to mà thôi. Như “mặc
áo, ăn cơm là gì?”,
“đại tiểu tiện là
gì?”, “phá vô
minh là gì?”,
“hay hiểu biết là
gì?”, bất luận
đi đứng ngồi nằm một khi
đề chữ gì
lên là dễ phát niệm
nghi, không cần suy nghĩ
xét nét để ý mới có. Cho
nên chữ
gì trong câu
thoại đầu thật tại là
một diệu pháp của tham
thiền. Nhưng không phải
đem một chữ gì,
hoặc bốn chữ niệm
Phật là gì coi
như danh hiệu Phật mà
niệm; cũng không phải
suy nghĩ xét nét câu
niệm Phật là gì
mà cho là nghi tình. Có
một số người đem bốn chữ
niệm Phật là gì
ra niệm suốt ngày không
dừng miệng, như thế chi
bằng niệm A Di Đà Phật
công đức còn hơn. Có một
số người nghĩ quanh tính
quẩn, tìm đông kiếm tây
cho đó là nghi tình, đâu
biết rằng càng nghĩ càng
tính vọng tưởng càng
nhiều, giống như người
muốn lên lại bị rơi
xuống, cần phải biết
vậy.
Người sơ tâm phát niệm nghi rất thô, chợt dứt chợt nối, chợt chín chợt sống, đều không được nghi tình, chỉ gọi là Tưởng. Lần lần thu nhiếp được tâm cuồng loạn, niệm đầu cũng kềm giữ được chút ít, mới gọi là Tham. Lại tiến dần dần công phu thuần thục không nghi mà tự nghi, không biết mình đang ngồi ở chỗ nào, cũng không biết có thân tâm thế giới, chỉ riêng niệm nghi hiện tiền không gián đoạn, đó gọi là nghi tình. Thật tế mà nói, lúc đầu chưa kể là dụng công chỉ đả phá vọng tưởng, đến khi chân nghi hiện tiền mới là giai đoạn chân chánh dụng công. Giai đoạn này như qua cửa ải lớn rất dễ vào đường tẽ.Giai đoạn này rất thanh tịnh và vô hạn khinh an, nếu mất một ít giác chiếu bèn rơi vào trạng thái mê muội nhẹ nhàng. Nếu khi ấy có bậc sáng suốt ở bên, một phen nhìn qua liền biết người ấy đang mắc tại cảnh giới này, lấy một hương bản đập xuống, lập tức đầy trời mây mù tan hết, rất nhiều người nhân đây được ngộ đạo.
Chính khi rất thanh tịnh rỗng rang ấy, nếu nghi tình không còn bèn rơi vào vô ký, ngồi như cây như đá, hoặc gọi hòn đá ngâm nước lạnh. Đến khi đó cần phải đề khởi, đề khởi tức là giác chiếu (giác là không mê, tức là tuệ; chiếu là không loạn, tức là định) chăm chú một niệm ấy, lặng lẽ chiếu soi, như như không động, sáng sủa không mê, rành rõ thường biết, như lạnh nóng rút hơi, một mạch liên tục không dứt.
Dụng
công đến chỗ này cần có
con mắt Kim cang không
đề khởi thêm, nếu đề
khởi thì đã đầu lại thêm
đầu. Xưa có vị tăng hỏi
Triệu Châu Lão nhân
rằng: “Một vật khi không
đem đến làm thế nào?”.
Châu đáp: “Buông hết
đi!”. Tăng thưa: “Một
vật không đem đến, buông
hết cái gì?”. Châu bảo:
“Buông không xuống thì
gánh lên!”. Chính là nói
giai đoạn này vậy. Trong
cảnh sáng sủa mát mẻ này
như người uống nước lạnh
nóng tự biết, không phải
nói năng có thể đến
được. Người đến chỗ này
tự nhiên sáng suốt,
người chưa đến được có
nói cũng vô ích. Nên
nói: “Trên đường gặp
kiếm khách nên trình
kiếm, không phải nhà thơ
chớ tặng thơ”.
d)
Chiếu cố thoại đầu cùng
phản văn văn tự tánh.-
Hoặc có người hỏi: “Câu
phản văn văn tự tánh của
Bồ-tát Quán Thế Âm sao
được gọi là tham thiền?”
- Tôi mới nói chiếu cố
thoại đầu chính là dạy
ông luôn luôn chăm chú
một niệm hồi quang phản
chiếu cái “không sanh
không diệt” (thoại đầu).
Phản văn văn tự tánh
cũng là dạy ông luôn
luôn chăm chú một niệm
phản văn văn tự tánh.
Hồi chính là Phản, không
sanh không diệt là Tự
tánh. Văn và chiếu, tuy
lúc xuôi dòng theo thinh
theo sắc, nghe không ra
ngoài tiếng, thấy không
vượt khỏi sắc, phân biệt
rõ ràng; nhưng khi ngược
dòng trở lại quán tự
tánh không chạy theo
thinh sắc, chính là một
cái tinh minh, Văn và
Chiếu đâu phải hai thứ.
Chúng ta cần biết, nói
rằng “Chiếu cố thoại
đầu”, “Phản văn tự tánh”
tuyệt đối không phải
dùng mắt xem, dùng tai
nghe. Nếu dùng mắt xem,
hoặc dùng tai nghe, ấy
là đã chạy theo thinh
sắc, bị vật chuyển gọi
là xuôi dòng. Nếu chăm
chú trong một niệm
“không sanh không diệt”,
không đuổi theo thinh
sắc, gọi là ngược dòng.
Ấy là “Chiếu cố thoại
đầu”, cũng là “Phản văn
tự tánh”.
e)
Tâm thiết tha vì sanh tử
cùng phát tâm lâu dài.
- Tham thiền rất
cần tâm thiết tha vì
sanh tử và phát tâm lâu
dài. Nếu đối với sự sanh
tử không thiết tha thì
nghi tình không phát,
công phu khó đạt. Nếu
không phát tâm lâu dài,
một nóng mười lạnh thì
công phu cũng không
thành phiến. Chỉ cần có
tâm thiết tha lâu dài
thì chân nghi mới phát.
Khi chân nghi phát thì
trần lao phiền não không
dứt cũng tự dứt. Khi
thời tiết nhân duyên đến
tự nhiên nước tụ thành
ngòi.
Tôi
xin thuật lại một việc
cũ chính mắt tôi thấy
cho các ông nghe. Lúc
trước, đời Thanh khoảng
năm Canh Tý, Liên quân
tám nước vào kinh đô,
tôi theo chân vua Quang
Tự và Từ Hy Thái hậu
chạy giặc. Giữa đường
gặp một đoạn phải chạy
bộ về Thiểm Tây, mỗi
ngày chạy mấy mươi cây
số, luôn mấy ngày không
có cơm. Trên đường gặp
một ông già đem dâng vua
Quang Tự một miếng khoai
rừng, ăn xong vua hỏi
người ấy: “Thứ gì ăn
ngon lắm vậy?” Các ông
thử tưởng, Hoàng đế ngày
thường rất kiểu cách,
rất oai phong, đâu từng
đi bộ hơn mấy bước, chưa
từng đói quá nửa bụng,
chưa từng ăn hết một
miếng khoai rừng. Đến
lúc này, kiểu cách chẳng
có, oai phong không còn,
lội bộ cũng được, bụng
đói cũng chịu, ăn rễ rau
cũng ngon. Vì sao mà ông
bỏ hết được? – Vì Liên
quân đuổi bắt ông, ông
nhất tâm chạy chết. Đến
sau được nghị hòa, ông
ngự giá về kinh, kiểu
cách lại khởi, oai phong
lại hiện, đi bộ không
nổi, bụng đói không
được, cái gì không ngon
thì nuốt không trôi. Sở
dĩ thế, tại khi này ông
buông không hết, vì Liên
quân không còn đuổi bắt
ông, ông không có tâm
chạy chết. Giả sử ông
thường đem cái tâm chạy
chết ấy mà tu hành thì
thế nào không thành
công; đáng tiếc ông
không có tâm lâu dài,
gặp thuận cảnh thái độ
cũ lại bộc khởi.
Các
vị đồng tham thiền! Bọn
quỉ vô thường luôn luôn
theo đuổi sanh mạng
chúng ta, không bao giờ
chúng chịu “nghị hòa”.
Chúng ta cần phải phát
tâm thiết tha lâu dài để
giải thoát vòng sanh tử.
Tổ Cao Phong Diệu nói:
“Người tham thiền cần
yếu khắc định ngày thành
công, giống như người
rơi xuống giếng sâu ngàn
trượng từ sáng đến
chiều, từ chiều đến sáng
muôn ngàn tư tưởng chỉ
chăm chăm một việc mong
ra khỏi giếng, trọn
không có niệm thứ hai.
Người thực hành được như
vậy, hoặc ba ngày, năm
ngày, bảy ngày, nếu
không triệt ngộ, Cao
Phong ngày nay phạm tội
đại vọng ngữ hằng đọa
trong địa ngục Bạt
Thiệt”. Cao Phong Lão
nhân vì lòng đại bi
thiết tha sợ e chúng ta
không phát tâm tha thiết
lâu dài, nên phát lời
thề nặng này để bảo
chứng cho chúng ta.
g)
Dụng công có hai thứ khó
và dễ. - Người dụng
công có hai thứ khó và
dễ:1.- Sơ dụng tâm khó
dễ2.- Lão dụng tâm khó
dễ
1.-
Sơ dụng tâm khó dễ.
Sơ dụng tâm khó - Tâm trộm không chết.
Cái thông bệnh của người
sơ dụng tâm là vọng
tưởng, tập khí buông
không hết, vô minh, cao
mạn, tật đố, chướng
ngại, tham, sân, si, ái,
lười biếng, ăn ngon,
phải quấy, nhân ngã đầy
dẫy trong bụng, làm sao
tương ưng với đạo? Hoặc
có người là công tử hay
ca sĩ xuất gia tập khí
không quên, một chút khổ
nhọc chịu không nổi, một
miếng không ngon nuốt
chẳng vô, làm sao dụng
công tu hành? Người này
không chịu tưởng nhớ đức
Bổn Sư Thích Ca là hạng
nào đi xuất gia mà chịu
khó khổ được như vậy?
Hoặc có người biết chút
ít văn tự bèn tầm chương
trích cú đem những lời
nói của cổ nhân ra phân
tích, rồi cho mình là
hiểu hoàn toàn sanh đại
ngã mạn; nhưng đến khi
bệnh nặng thì rên xiết
suốt ngày, hoặc đến lúc
sắp lâm chung thì tay co
chân rút, bình sanh chỗ
hiểu biết không thực
hành được một điểm, đến
khi hấp hối ăn năn sao
kịp?
Hoặc
người có chút đạo tâm
lại không hiểu rõ chỗ hạ
thủ công phu. Có người
sợ vọng tưởng cố trừ mà
trừ không được, trọn
ngày buồn rầu bực tức tự
hận nghiệp chướng nặng
nề, nhân đó thối thất
đạo tâm. Hoặc có người
quyết cùng vọng tưởng
chiến đấu, chăm bẳm
chống tay xông hơi, ưỡn
ngực trừng mắt giống vẻ
mặt hầm hầm của tên giám
sát, quyết cùng vọng
tưởng một còn một mất,
họ đâu biết như vậy,
vọng tưởng đã đuổi không
được, trở lại mang bệnh
thổ huyết, phát cuồng.
Hoặc có người sợ rơi vào
không, đâu ngờ trước đã
sanh ra quỉ; không vẫn
là không chẳng động, ngộ
lại ngộ chẳng đến. Hoặc
có người khởi tâm cầu
ngộ, ngờ đâu cầu ngộ đạo
mong thành Phật đều là
đại vọng tưởng; cát
không phải là cơm, cầu
đến bao nhiêu năm quyết
định cũng không ngộ.
Hoặc có người chợt được
yên tịnh một vài cây
hương bèn sanh vui mừng,
ấy chỉ là con rùa đen mù
tìm bọng cây, ngẫu nhiên
đụng nhằm chẳng phải là
công phu thật, ma vui
mừng sớm đã nhập vào tâm
vậy. Hoặc có người trong
chỗ yên tịnh biết được
thanh tịnh rất thích,
trong chỗ động thì mất
thanh tịnh, nhân đó
tránh chỗ ồn náo tìm chỗ
yên tịnh, ấy là đã sớm
làm quyến thuộc của hai
thứ ma vương động tịnh.
Các người như vậy thật
rất là nhiều. Kẻ sơ dụng
tâm không thấu rõ đường
lối tu tập thật là khó.
Có giác mà không chiếu
thì tán loạn không thể
“đến nhà”. Có chiếu mà
không giác lại “ngồi
chết chìm trong nước
chết”.
b-
Sơ dụng tâm dễ - Buông
xuống chỉ để một niệm.
Dụng công tuy nói khó,
nhưng hiểu rõ đường lối
lại rất dễ. Tại sao sơ
dụng tâm là dễ? – Không
có gì khéo, buông hết
liền được. Buông hết cái
gì? – Buông hết tất cả
vô minh phiền não. Làm
sao buông hết được? –
Chúng ta coi thân này
như chết vậy. Ông thử
chửi thây chết bao nhiêu
câu, nó cũng không phát
giận, đánh mấy gậy nó
cũng không chống cự, lúc
sống ưa phá vô minh bây
giờ cũng không phá, lúc
sống ưa danh lợi khi này
cũng không màng, lúc
sống nhiều thứ tập nhiễm
khi này không có, cái gì
cũng không phân biệt,
cái gì cũng bỏ hết. Chư
vị đồng tham thiền!
Chúng ta mang xác thân
này một phen hơi thở ra
không trở lại bèn thành
thây chết. Chúng ta sở
dĩ buông không hết, chỉ
do xem thân này là
trọng, sanh nhân ngã
phải quấy thương ghét
thủ xả. Nếu nhận định
thân này như thây chết,
không quý trọng nó,
không chấp nó là ngã thì
có cái gì buông không
hết? Chỉ cần buông được
hết, trong hai mươi bốn
giờ đi đứng ngồi nằm,
động tịnh rảnh rang bận
rộn, toàn thân trong
ngoài chỉ là một niệm
nghi, bình thản không
dứt niệm nghi, không
chen niệm nào khác. Một
câu thoại đầu như nương
Ỹ Thiên trường kiếm, ma
đến ma chết, Phật đến
Phật chết, không sợ vọng
tưởng thì có cái gì phá
hại ta được? Có cái gì
phân động phân tịnh, có
cái gì chấp hữu chấp
không? Như quả thật sợ
vọng tưởng, ấy là chồng
thêm một lớp vọng tưởng.
Biết mình thanh tịnh,
thế là đã không thanh
tịnh. Sợ rơi vào không,
chính đã rớt trong có.
Tưởng thành Phật, đã vào
đường ma. Nên nói: “Bửa
củi gánh nước đâu không
phải diệu đạo, cày ruộng
cuốc đất đều là thiền
cơ”. Không phải trong
khi ngồi kiết già mới
gọi là dụng công tu
hành.
2.-
Lão dụng tâm khó dễ.
Lão dụng tâm khó – Đầu sào trăm thước không thể tiến bước.
Thế nào là lão dụng tâm
khó? Lão dụng tâm đến
giai đoạn chân nghi hiện
tiền, có giác có chiếu
vẫn thuộc sanh tử, không
giác không chiếu lại rơi
vào không vong, đến cảnh
giới này thật là khó. Đa
số người đến chỗ này
vượt qua không khỏi,
đứng trên đầu sào trăm
thước không có cách nào
tiến bước. Có một số
người nhân đến cảnh giới
này, trong định phát
chút ít tuệ hiểu sơ lược
một ít công án của cổ
nhân, liền bỏ hết nghi
tình, tự cho là đại
triệt đại ngộ, ngâm thi
vịnh phú, nhướng mày
chớp mắt, xưng là thiện
tri thức, thật không
biết mình đã rơi vào bè
đảng của ma. Lại có
người hiểu lầm ý nghĩa
câu của Đạt-ma Lão nhân
nói: “Ngoài dứt các
duyên, trong tâm không
xao động, tâm như vách
tường có thể vào đạo” và
câu của Lục Tổ nói:
“Không nghĩ thiện, không
nghĩ ác chính khi ấy cái
gì là bản lai diện mục
của Thượng tọa”, bèn cho
ngồi như cây như đá là
hay tuyệt. Hạng người
này cho Hóa thành là Bảo
sở, nhận xứ người cho là
quê hương, thật là chỗ
Bà tử đốt am và mắng
“Các ngươi là người
chết”.
Lão dụng tâm dễ - Cứ miên mật đi !
Thế nào là lão dụng tâm
dễ? – Đến lúc này chỉ
cần không tự mãn, không
bỏ nửa chừng, thầm thầm
kín kín dụng công, trong
thầm kín lại thầm kín,
trong vi tế lại vi tế,
khi thời tiết đến đáy
thùng tự bể (đại ngộ).
Nếu không tự bể, nhờ
thiện hữu tri thức nhổ
đinh rút chốt cho.Đại sĩ
Hàn Sơn có bài tụng:
Chót vót trên đảnh núi,
Bốn phía không mé bờ.
Ngồi tịnh chả ai biết,
Suối lạnh vầng trăng soi.
Trong suối vốn không
trăng,
Trời xanh trăng xa thẳm.
Ngâm một bài ca này,Trong
ca thiền chẳng có.
Hai câu đầu nói cái chân
thường bày hiện, không
thuộc một cái gì, sáng
chiếu khắp đại địa không
một mảy chướng ngại. Bốn
câu kế nói chân như diệu
thể phàm phu hẳn không
thể biết, ba đời chư
Phật cũng tìm không được
chỗ nơi của ta, nên nói:
“chả ai biết”. Ba câu
“Suối lạnh vầng trăng
soi v.v...” là Lão nhân
dùng phương tiện thí dụ
cảnh giới ấy. Hai câu
rốt sau, sợ người nhận
lầm ngón tay là mặt
trăng, nên đặc biệt cảnh
giác chúng ta “phàm có
nói năng không phải là
thiền”.
3.-
KẾT LUẬN:
Chính
tôi mới nói ở trên cũng
là gỡ rối chỉ đường mà
thôi. Phàm có nói năng
đều không phải thật
nghĩa. Cổ đức tiếp độ
người, nếu không đánh
thì nạt, đâu có vẽ bày
lăng xăng vầy. Chẳng qua
người nay không thể sánh
với người xưa, miễn
cưỡng dùng tay chỉ mặt
trăng. Chư vị đồng tham
thiền! Cứu cánh ngón tay
là gì? Mặt trăng là gì?
Hãy tham đi!