Kinh Viên Giác Lược Giảng
Ngài Phật Đà Đa La dịch
chữ Phạn ra chữ Hán.
H.T. Thích Thiện
Hoa dịch chữ Hán ra chữ Việt.
-o0o-
Kinh Viên Giác là một bộ
kinh thuộc đốn giáo Đại thừa, chỉ những người có đủ
căn tánh Đại thừa, hay đã nhiều kiếp tu theo Viên
Giác, thì mới lãnh thọ được. Nhưng may thay cho
chúng ta, chư Bồ Tát trong Pháp hội, phát đại bi tâm,
xin Phật nói pháp phương tiện và tiệm thứ, hầu mong
cho tất cả chúng sanh đều có thể theo kinh nầy mà tu
hành, tiến tới quả vị Phật.
Chúng tôi, một nhóm tín đồ, nhờ phước duyên
đời trước, nên nay mới được thường lui tới Phật học
đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang (Chợ Lớn) và
được
nghe quí vị giảng sư chỉ dạy Phật pháp trong sáu bảy
năm nay. Đi dần từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu, càng
theo học, chúng tôi càng thêm phấn khởi tinh tấn, vì
sung sướng nhận thấy một chân trời đạo lý rộng mở
trước mắt. Nay đến kinh Viên Giác, dưới sự giảng dạy
rõ ràng và tận tâm của Đại đức Thích Thiện Hoa, Giáo
sư Phật học đường Nam Việt và là Ủy viên Hoằng pháp
của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, chúng tôi càng nhận
được giáo lý thâm huyền của chư Phật và thêm say sưa
trên bước đường tu học.
Để đáp lại trong muôn một công ơn Đức Bổn Sư
Thích Ca đã hiện thân thuyết pháp trong 49 năm, chỉ
vẽ những phương pháp ra khỏi luân hồi sanh tử, và
để
khỏi phụ công phu giảng dạy của Đại đức Thích Thiện
Hoa, cùng quí vị Giảng sư trong Phật học đường Nam
Việt, chúng tôi vội vã tập trung các bài học về kinh
Viên Giác nầy, in thành bộ, hầu kính tặng quí đạo
hữu xa gần, với lòng mong ước rằng từ nay sự nghiên
cứu tu học của quí vị sẽ được dễ dàng và mỗi ngày
một tăng tiến.
Thưa quí đạo hữu, đức Phật có dạy: "Thân người
khó được, Phật pháp khó gặp." Chúng ta từ vô thỉ đến
nay, sống say chết ngủ trong trường giả danh huyễn
mộng, luân hồi đã nhiều đời nhiều kiếp, chúng sanh
vẫn lại hoàn chúng sanh, thế là chẳng phụ cái Tâm
thường còn không mất, cái Tánh Giác bình đẳng chân
như "Viên Giác" của chúng ta lắm sao? Chúng ta nhờ
thiện nhơn đời trước mới đặng cái quả làm người đời
nay, thì chúng ta quyết bồi bổ cái nhân lành kia
thêm phần mỹ mãn, quyết đoạn trừ các phiền não, tự
tin mình có tánh Viên Giác và sống theo tánh ấy,
đặng bước một bước dài trên đường giải thoát.
Kinh Viên Giác nầy là một ngọn đ
èn
soi sáng hướng dẫn chúng ta trên đường giải thoát,
cho nên chúng tôi thành tâm và trân trọng giới thiệu
cùng chư thiện tín.
Cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho những ai đọc bộ
kinh Viên Giác nầy, đều được nhập Viên Giác.
Chợ Lớn, ngày 17 - 11 Mậu Tuất (27 - 12 -
1958)
Phật tử: Minh Chánh (Bác sĩ Lê Văn Cầm)
LỜI CỦA DỊCH GIẢ
Đã ngót gần năm năm trường, một buổi chiều chủ
nhật, dưới mái chùa Ấn Quang, mỗi khi lên Giảng
đường là tôi trông thấy có rất nhiều Phật tử, từng
cặm cụi đeo đuổi lớp học Phật pháp của Phật học
đường Nam Việt. Chủ nhật nào cũng thế, các Phật tử
ấy, với một nhịp độ đều đều, với nét mặt chăm chú,
ngồi suốt gần ba tiếng đồng hồ, mà chẳng lộ dáng gì
mỏi mệt.
Cảnh tượng ấy làm cho tôi cảm động vô cùng!
Cảm động nhứt là trong những buổi giảng về kinh Đại
thừa, triết lý khô khan, cao siêu khó hiểu, mà các
Phật tử vẫn tỏ vẻ thích thú hân hoan, chăm chú nghe
không xao lảng. Tôi quên mệt, lòng hân hoan vô hạn!
Buổi giảng trở thành vô cùng hứng thú cho tôi.
Tôi thường mừng thầm: "Đời mạt pháp, mà vẫn có
nhiều người rất hâm mộ học kinh điển Đại thừa như
thế nầy, thì còn quí báu nào hơn!"
Sau khi nghe giảng xong Kinh Lăng Nghiêm, Kinh
Kim Cang và Bát Nhã Tâm Kinh, các Phật tử lại yêu
cầu giảng Kinh Viên Giác, tôi đã hoan hỉ nhận lời.
Đời mạt pháp mà có nhiều người rất hâm mộ học đạo
thì còn vui thú nào bằng!
Trước khi giảng Kinh Viên Giác, tôi có xem qua
các bản dịch kinh nầy, thấy có nhiều đoạn tôi chưa
thỏa mãn. E rằng đối với người học có phần khó hiểu
chăng, nên tôi cố gắng dịch lại, hầu mong giúp cho
người học dễ lãnh hội hơn. Sau những đoạn dịch, lại
còn phú chú, tóm tắt lại các ý nghĩa, nhấn mạnh
những điểm quan trọng trong chánh văn.
Vì muốn xuôi thuận theo văn Việt, tránh những
đoạn lập đi lập lại của văn Tàu, đơn giản hóa những
đoạn văn phiền toái, tránh những danh từ mới lạ khó
hiểu, nên tôi lược dịch và chọn dùng những danh từ
phổ thông dễ hiểu. Mặc dù các danh từ ấy so với
chính văn không cân xứng lắm, nhưng tôi thiết nghĩ
cũng không xa ý chính là bao.
Hiểu thế nào, tôi dịch ra như thế ấy. Tôi vẫn
biết rằng: "Thánh ý cao siêu, phàm tâm nan trắc",
nhưng ngòi bút tôi không cho phép tôi viết những gì
khác hơn sự hiểu biết của tôi được.
Dịch kinh nầy tôi chỉ có một ước nguyện là:
May ra trúng với Thánh ý đôi phần, người học
hiểu biết được phần nào, thì tôi nguyện đem công đức
nầy hồi hướng cho bốn trọng ân và Pháp giới chúng
sanh đều thành Phật đạo.
Viết tại Phật Học Đường Nam Việt
Mùa Thu năm Đinh Dậu
Nhằm 12 tháng 10 năm 1957
Thích Thiện Hoa
BÀI THỨ NHẤT
A. Phần Tự
B. Phần Chánh Tông
I. CHƯƠNG VĂN THÙ
1. Ngài Văn
Thù hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Vãn Thù.
3. Phật trả lời cho Ngài Văn Thù.
4. Phật chỉ "Vô minh".
5. Phật dạy "Vô minh" không có thật thể.
6. Phật dạy tu theo "Viên Giác".
7. Phật và Bồ Tát đều tu theo "Viên Giác".
8. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
A.
PHẦN TỰ
Chính tôi được nghe như vầy: Một hôm Phật nhập
Chánh định (Chơn tâm) là nơi an trụ của chư Phật,
cũng là chỗ thanh tịnh sáng suốt của chúng sanh.
Phật tùy thuận cảnh giới bất nhị (không hai)
là chỗ thể tánh bình đẳng của chúng sanh và chư Phật.
Thể tánh nầy thanh tịnh viên mãn khắp giáp cả mười
phương, tâm và cảnh đều vắng lặng (ngả, pháp đều
không).
Từ cảnh giới "bất nhị" nầy mà hiện ra có các
cõi Tịnh Độ và mười vạn vị đại Bồ Tát, như Ngài Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, Ngài Phổ
Nhãn Bồ Tát, Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát, Ngài Di Lặc
Bồ Tát, Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát, Ngài Uy Đức Tự
Tại Bồ Tát, Ngài Biện Âm Bồ Tát, Ngài Tịnh Chư
Nghiệp Chướng Bồ Tát, Ngài Phổ Giác Bồ Tát, Ngài
Viên Giác Bồ Tát, Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát v.v...
Những vị Bồ Tát nầy đều là bực Thượng Thủ trong
chúng hội, cùng với các quyến thuộc đều nhập chánh
định, đồng ở trong Pháp hội thanh tịnh bình đẳng của
Như Lai (ở trong Viên Giác).
Lược
Giải
"Viên Giác" tức là chỉ cho "Bản tâm thanh tịnh".
Vậy muốn nói và nghe cảnh giới thanh tịnh, cố nhiên
không ở nơi cảnh giới vọng tâm mà nói và nghe được,
nên Phật nhập Chánh định để nói kinh Viên Giác, thì
các Bồ Tát cũng phải nhập chánh định mới nghe và
hiểu được Kinh Viên Giác. Các Phật tử đọc kinh nầy,
trước phải định tâm chuyên chú mới hiểu được.
Đại ý đoạn nầy là Phật và Bồ Tát nhập chánh
định để nói và nghe kinh Viên Giác.
B.
PHẦN CHÁNH TÔNG
I.
CHƯƠNG VĂN THÙ
1.
Ngài Văn Thù hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở trong đại
chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng,
rồi chắp tay đảnh lễ và quì thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, xin Ngài vì thính
chúng trong Pháp hội hiện tại nầy và các chúng sanh
cầu Đại thừa đời sau, từ bi chỉ dạy:
1. Nói lại nhơn địa tu hành thanh tịnh của Như
Lai.
2. Các vị Bồ Tát đối với Đại thừa, đã phát tâm
thanh tịnh (Bồ Đề) rồi, làm sao xa lìa được các bịnh
(trừ vọng); khiến cho các chúng sanh khỏi đọa vào
đường tà (tà kiến).
Ngài Văn Thù Bồ Tát thưa thỉnh như vậy ba lần,
kính lạy rồi trở lui, cùng với đại chúng ngồi yên
lặng, để chờ nghe lời Phật chỉ giáo.
Lược
Giải
Đại ý đoạn nầy là Ngài Văn Thù hỏi Phật hai
điều:
1. Phật đã tu hành như thế nào mà
được
thành Phật.
2. Các vị Bồ Tát, khi đã phát tâm Bồ Đề rồi,
làm sao cho các vọng đừng sanh.
Câu hỏi thứ nhất giống như câu hỏi trong kinh
Lăng Nghiêm, Ngài A Nan hỏi Phật: "...Xin Phật chỉ
dạy cho con phương pháp nào mà tất cả các đức Phật
tu hành đều được thành đạo chứng quả..."
Câu hỏi thứ hai, giống như câu hỏi trong kinh
Kim Cang, Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật: "... Làm sao an
trụ Chơn tâm và làm sao hàng phục được vọng tâm..."
(Vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm).
2.
Phật khen Ngài Văn Thù.
Khi ấy đức Thế Tôn kêu Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát mà dạy rằng:
- Nầy Thiện nam, quý lắm! Ông vì các vị Bồ Tát
hiện tại và tất cả chúng sanh đời sau cầu pháp Đại
thừa mà thưa hỏi:
1. Nhơn địa tu hành của Như Lai;
2. Khi đã phát tâm thanh tịnh rồi, làm sao xa
lìa các bịnh, để khỏi đọa vào tà kiến. Vậy ông hãy
chăm chú nghe, tôi sẽ vì các ông chỉ giáo.
Khi đó Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát và
đại
chúng đều hoan hỷ, vừa kính cẩn và vừa chăm chú chờ
nghe lời Phật dạy bảo.
Lược
Giải
Phật trước khen ngợi, rồi sau dặn dò phải chăm
chú nghe, là vì "Viên Giác" là cảnh giới thanh tịnh,
phải định tâm chú thần mà nghe, không thể dùng tâm
sanh diệt, ý nghĩ xằng xiêng mà nghe hiểu được.
3.
Phật trả lời cho Ngài Văn Thù.
- Này Thiện nam! Như Lai có pháp "Đại Đà La Ni
(1) tên là Viên Giác". Từ tánh Viên Giác nầy mà sanh
ra tất cả các pháp thanh tịnh: Chơn Như, Bồ Đề (Trí
Giác), Niết Bàn (Viên Tịch) và Ba La Mật (Đáo Bỉ
Ngạn), nay ta sẽ dạy trao cho các ông.
Nầy Văn Thù! Nhơn địa tu hành của các đức
Phật, đều y Viên Giác nầy mà vĩnh viễn đoạn trừ Vô
minh, được sáng suốt thanh tịnh viên mãn, nên mới
được thành Phật. Vậy "Vô minh" là gì?
Lược
Giải
Ngài Văn Thù hỏi nguyên nhơn tu hành của các
đức Phật thế nào?- Đến đây Phật mới trả lời: Tất cả
chư Phật đều y "Viên Giác" để chiếu phá Vô minh và
được
thành Phật. Nào là: Chơn Như, Bồ Đề, Niết Bàn và Bát
Nhã Ba La Mật Đa v.v... cũng đều từ "Viên Giác" nầy
mà lưu xuất.
Vậy muốn ngộ được "Viên Giác" trước phải hiểu
rõ Vô minh và diệt trừ Vô minh là
điều
cần nhứt.
(1) Đà La Ni. Tàu dịch là "Tổng trì", nghĩa
là: Tóm giữ không mất. Đây nói tánh "Viên Giác" tóm
chứa hằng sa công đức, giữ gìn không mất.
4.
Phật chỉ "Vô minh".
- Nầy Thiện nam, tất cả chúng sanh từ hồi nào
đến giờ, bị nhiều món điên đảo làm mê mờ tánh "Viên
Giác", như người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Điên
đảo vọng hiện ra thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ
đại giả hợp nầy làm thân mình, chấp cái vọng niệm
sanh diệt duyên theo bóng dáng của sáu trần cho là
thật tâm mình.- Như người nhặm con mắt, thấy trong
hư không có các hoa đốm, hoặc mặt trăng thứ hai.
Thật ra trong hư không chẳng có hoa đốm hay mặt
trăng thứ hai, nhưng vì người nhặm con mắt vọng
chấp. Bởi vọng chấp, nên chẳng những không biết được
hư không, mà lại thêm mê lầm: chấp thật có hoa đốm
sanh. Vì mê lầm mà có sanh tử luân hồi, nên gọi là
"Vô minh".
Lược
Giải
Đoạn nầy Phật chỉ rõ cái "Vô minh". Vô minh là
những cái vọng tưởng điên đảo che mờ tánh "Viên
Giác" (bản tâm thanh tịnh).
Bởi Vô minh vọng hiện ra có thân có cảnh, rồi
chúng sanh trở lại chấp thật ngã, thật pháp, tạo ra
vô số nghiệp, mê mờ chồng chập, che đậy tánh Viên
Giác! Vì thế mà nhiều kiếp sanh tử luân hồi, trầm
luân trong biển khổ.
Cũng như người bị buồn ngủ (dụ cho Vô minh)
nổi lên, làm cho mê mờ tánh tỉnh táo (dụ cho Viên
Giác); nhơn đó hiện ra cảnh chiêm bao đủ cả người và
vật (hiện thế giới và chúng sanh), rồi cũng khóc
cũng cười, cũng mừng cũng giận, mỗi mỗi đều cho là
thiệt cả, nên luyến ái triền miên, từ giấc chiêm bao
nầy tiếp tục qua giấc chiêm bao khác, không biết
chừng nào thức tỉnh.
Đây là dụ cho Vô minh chồng chập che mờ tánh
"Viên Giác" (Chơn tâm).
5.
Phật dạy "Vô minh" không có thật thể.
- Nầy Thiện nam! Cái "Vô minh" này không có
thật thể (thật vật). Như người ngủ chiêm bao, thấy
các cảnh vật, đến khi thức rồi, thì cảnh vật kia
không còn; và như người hết nhặm, thì các hoa đốm
trong hư không tự tiêu diệt. Lúc bấy giờ không thể
nói "thật có chỗ hoa diệt", vì không thật có chỗ hoa
sanh vậy.
Tất cả chúng sanh ở trong cái "không sanh
diệt" (tánh Viên Giác) mà vọng thấy có sanh diệt,
cho nên mới bị trầm luân trong biển sanh tử luân
hồi.
Lược
Giải
Đoạn này Phật dạy: Tất cả chúng sanh vẫn ở
trong bản tánh Viên Giác thanh tịnh không sanh không
diệt, mà tự mình mê mờ (Vô minh) vọng thấy có sanh
diệt, nên vĩnh kiếp triền miên, luống chịu trôi lăn
trong biển sanh tử luân hồi, thật đáng thương!
Nhưng "Vô minh" là hư vọng, không có thật thể,
cho nên khi giác ngộ rồi, thì nó tự hết. Cũng như
các "Tối", vì nó không có thật thể, nên khi " Sáng"
đến, thì "Tối" tự mất. Nếu Vô minh là vật có thật,
như núi, như sông v.v... thì không dễ gì làm tiêu nó
được.
Phật lại tỷ dụ: Vô minh như chiêm bao, không
phải thật vật, nên khi thức rồi thì cảnh chiêm bao
tự mất. Vô minh như mắt người bị nhặm, thấy hoa đốm
lăng xăng giữa hư không khi hết nhặm rồi thì hoa đốm
liền tiêu.
6.
Phật dạy tu theo "Viên Giác".
- Nầy Thiện nam, nhơn địa tu hành của Như Lai
là tu theo Viên Giác. Nghĩa là: biết các pháp đều hư
huyễn, như hoa đốm giữa hư không có người chịu sanh
tử luân hồi.
Không phải phá hoại, làm cho các pháp mất đi
mà kêu là không, chính bản tính của các pháp nó tự
không. Cái "biết (năng biết) các pháp không" đó,
cũng như hư không. Cái "biết như hư không, cũng
không luôn. Nhưng không thể nói: "không có cái
biết". Phải dứt trừ hết cả "có" và "không", như thế
mới gọi là "tùy thuận tánh Viên Giác" (tu Viên
Giác).
Lược
Giải
Đoạn nầy Phật dạy tu theo "Viên Giác", có 5
từng bực:
1. Từng bực thứ nhất, là quán các pháp đều hư
huyễn, như hoa đốm giữa hư không, nên không sanh tâm
tham, sân, si. Ba độc không sanh, thì ba nghiệp
thân, khẩu, ý chẳng tạo nhiệp. Vì không tạo nhiệp,
nên không có cảnh luân hồi và người bị luân hồi.
2. Trên nói "cảnh bị biết" không, nói đến từng
thứ hai là "cái tâm hay biết" cũng như hư không.
3. Đến từng thứ ba, là cái biết "cái tâm hay
biết cũng như hư không" cũng không luôn.
4. Sợ người lầm chấp cảnh giới nầy không có
cái biết, nên đến từng thứ tư, Phật dạy tiếp: "không
phải là không có cái biết".
5. Đến từng thứ năm, Phật dạy phải rời các
vọng chấp "có" và "không", mới nhập được tánh Viên
Giác.
7.
Phật và Bồ Tát đều tu theo "Viên Giác".
Tại sao thế? Vì trong Như Lai Tạng (Viên Giác)
không có sanh diệt, không có thấy biết, như hư không
thường còn, chẳng lay động, như tánh của pháp giới
viên mãn khắp giáp cả mười phương.
Đây gọi là chỗ nhơn địa tu hành của Như Lai,
các vị Bồ Tát cũng nhơn nơi đây mà phát tâm thanh
tịnh tu theo Đại thừa. Chúng sanh đời sau cũng phải
y theo đâu tu hành, mới khỏi đọa vào tà kiến.
Lược
Giải
Như Lai Tạng là tánh Như Lai hàm chứa tất cả
các pháp; cũng gọi là "Viên Giác", cũng kêu là "Pháp
giới tánh" (bản tánh của các pháp). Nó viên mãn khắp
giáp cả mười phương, không có sanh diệt và cũng
không tri kiến, như hư không thường còn chẳng lay
động.
Phật dạy: Đây là chỗ tu hành của Như Lai. Các
vị Bồ Tát cũng nhơn nơi đây phát tâm thanh tịnh tu
Đại thừa. Chúng sanh đời sau cũng phải y nơi đây tu
hành mới khỏi lạc vào tà
đạo.
Ngài Văn Thù hỏi 2 câu:
1. Nhơn địa tu hành của Như Lai.
2. Các vị Bồ Tát phát tâm Bồ Đề tu theo Đại
thừa, làm sao phá trừ được các vọng? Đến đây Phật đã
dạy xong.
8.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
Khi đó Đức Thế Tôn, muốn tóm lại các nghĩa
trên, mà nói bài kệ rằng:
Văn Thù! Ông
phải biết:
Chỗ chơn địa tu hành,
Của các đức Như Lai,
Là dùng trí Viên Giác.
Phá trừ hết Vô minh:
Biết các pháp hư huyễn,
Thì khỏi bị luân hồi.
Cũng như người chiêm bao,
Thức rồi cảnh mộng hết.
Cái biết cũng không còn,
Sáng suốt khắp mười phương (Viên Giác),
Bình đẳng không chuyển động,
Tức thì thành Phật đạo.
Các huyễn diệt hết rồi,
Thành đạo cũng không thành:
Xưa nay tánh viện mãn.
Bồ Tát y nơi đây,
Phát tâm đại Bồ Đề,
Các chúng sanh đời sau,
Tu đây mới khỏi đọa.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ nầy: Các Đức Phật dùng trí Viên
Giác phá trừ Vô minh. Nghĩa là: biết muôn vật đều hư
huyễn, như hoa đốm giữa hư không, không sanh tâm
nhiễm trước, nên khỏi bị luân hồi.
Người được giác ngộ rồi cũng như người thức
giấc chiêm bao: các cảnh vật đều không còn - Cảnh
"bị biết" đã không, nên "cái biết" (năng biết) cũng
không. Vì năng và sở đều không nên tánh Viên Giác
mới hiện ra sáng suốt chiếu khắp cả mười phương,
bình đẳng không chuyển động, như thể là "thành
Phật".
Nói "thành Phật" là tạm nói mà thôi, thật ra
cũng không "thành". Vì tánh "Viên Giác" của mỗi
người đều sẵn có, chỉ trừ hết "Vô minh" rồi thì
"Viên Giác" tự hiện ra, chớ có gì đâu mà gọi là
"thành".
Cũng như người có sẵn hòn ngọc trong túi,
chẳng qua vì quên, nên in như mất. Đếu khi nhớ lại
thì ngọc vẫn ở sẵn trong túi áo, chớ đâu phải mới
"đặng". Bởi thế nên nói "thành đạo cũng không
thành".
Phật y theo Viên Giác nầy mà tu, Bồ Tát cũng y
theo Viên Giác nầy mà phát tâm Bồ Đề, cho đến chúng
sanh đời sau cũng phải y theo Viên Giác nầy tu hành
mới khỏi lạc vào tà
đạo.
BÀI THỨ HAI
II. CHƯƠNG PHỔ HIỀN
1. Ngài Phổ
Hiền hỏi Phật.
2. Phật Khen Ngài Phổ Hiền.
3. Phật trả lời cho Ngài Phổ Hiền.
4. Phật dạy pháp tu để nhập "Viên Giác".
5. Phật dạy pháp tu ly huyễn.
6. Phật dạy "Giác ngộ" không có tuần tự, "rời huyễn"
chẳng cần phương tiện.
7. Phật nói bài kệ tóm lại nghĩa trên.
II.
CHƯƠNG PHỔ HIỀN
1.
Ngài Phổ Hiền hỏi Phật:
Khi ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, ở trong đại chúng
đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật ba vòng rồi chắp
tay đảnh lễ và quỳ thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, xin Ngài vì các vị
Bồ Tát ở trong hội này và tất cả chúng sanh đời sau
tu Đại thừa, từ bi chỉ dạy phương pháp tu hành để
vào cảnh giới Viên Giác thanh tịnh.
Bạch Thế Tôn, nếu chúng sanh biết các pháp đều
như huyễn, thân và tâm này cũng huyễn, thì cần gì
phải tu? Tại sao còn dùng cái "huyễn" trợ lại tu
"pháp huyễn" làm gì?
Lại nữa, nếu các pháp hư huyễn đều diệt hết,
thì thân tâm này cũng diệt; nếu thân tâm đều diệt
thì lấy ai tu hành mà gọi là "tu pháp như huyễn"?
Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, nếu các chúng sanh
không tu hành, vẫn ở mãi trong cảnh sanh tử huyễn
hóa mà chẳng tự biết, thì làm sao dẹp trừ các tâm
vọng tưởng, để giải thoát được sanh tử luân hồi?
Xin Phât vì chúng sanh đời sau, chỉ dạy phương
tiện tu tập và thứ lớp tu hành như thế nào, để cho
chúng sanh khi nghe đến cảnh giới Viên Giác thanh
tịnh này, y theo đó tu hành, vĩnh viễn xa lìa được
các vọng huyễn.
Ngài Phổ Hiền Bồ Tát thưa thỉnh như vậy ba
lần, kính cẩn lạy Phật rồi trở lui.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này là Ngài Phổ Hiền Bồ Tát hỏi
Phật:
1. Nếu tất cả chúng sanh biết các pháp đều như
huyễn thì cần gì phải tu, vì nó là huyễn. Tại sao
còn dùng cái huyễn (thân tâm) tu pháp như huyễn làm
gì?
2. Nếu chúng sanh chấp là huyễn mà không tu,
thì vẫn ở mãi trong sanh tử luân hồi, làm sao được
giải thoát?
Xin Phật từ bi chỉ dạy phương tiện tu hành và
phải tu tuần tự như thế nào, mới nhập được cảnh giới
Viên Giác thanh tịnh?
2.
Phật khen Ngài Phổ Hiền.
Khi đó Đức Thế Tôn khen Ngài Phổ Hiền Bồ Tát
và dạy rằng:
- Này Thiện nam, quý lắm! Ông vì vị Bồ Tát
hiện tại và chúng sanh đời sau, hỏi về phương tiện
và thứ lớp tu tập pháp môn "Như Huyễn Tam Muội"(1)
của Bồ Tát, khiến cho chúng sanh xa lìa các huyễn.
Vậy các ông nên chăm chú nghe, ta sẽ vì các ông khai
thị.
Khi đó, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát và
đại
chúng đều hoan hỷ, kín cẩn và chăm chú nghe lời Phật
chỉ giáo.
(1) Chữ "Tam muội" Tàu dịch là "định" hay
"chánh thọ". Vi nhiếp tâm chuyên chú một chỗ, không
cho xao lãng, nên dọi là "định" – Ngài Tôn Mật nói:
"Rõ thấu thân và tâm đều như huyễn, thầm hiệp với
chơn như, như thế gọi là "chánh thọ".
Nghĩa bóng bóng của chữ "Tam muội", là chỉ cho công
việc làm đã quán thuần thục. Nhưng người niệm Phật,
có khi niệm mà có lục lại quên, còn bị các vọng niệm
xen tạp, như thế là chưa được tam muội. Bao giờ
người niệm Phật, chỉ ròng rặc một niệm Phật thôi (nhứt
tâm bất loạn) không có một niệm gì khác xen vào, đi
đứng nằm ngồi, bất luận chỗ nào hay lúc này, từ năm
này cho đến tháng nọ, cũng vẫn nhớ niệm Phật, như
thế gọi là
được
"niệm Phật tam muội".
Lược
Giải
Văn Thù và Phổ Hiền là hai vị Đại Bồ Tát, Ngài
Văn Thù tiêu biểu cho đại trí. Ngài Phổ Hiền tiêu
biểu cho đại hạnh. Có Đại trí (căn bản trí) mới phá
trừ được căn bản Vô minh. Có Đại hạnh mới hoàn thành
được công hạnh của Phật. Người tu hành lúc nào cũng
phải đủ cả Trí và Hạnh. Có "Trí" mới phá đưọc Vô
minh và thấu rõ chơn lý. Có "Hạnh" mới đạt được chơn
lý, hoàn thành quả Phật.
Đoạn này Phật khen Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, vì
chúng sanh mà hỏi pháp tu "Như Huyễn Tam Muội".
Chúng ta quán các vật đều hư huyễn; nhưng có
khi lại thấy là thiệt, như thế chưa được "như huyễn
tam muội". Bao giờ đi đứng nằm ngồi bất luận giờ
phút nào hay nơi nào cũng đều thấy các pháp hoàn
toàn hư huyễn, như thế là chúng ta được pháp "Như
Huyễn Tam Muội".
3.
Phật trả lời cho Ngài Phổ Hiền.
-Này Thiện nam! Tất cả các cảnh vật huyễn hóa
(thế giới, chúng sanh) của chúng sanh, đều sanh
trong tâm Viên Giác mầu nhiệm của Như Lai. Các pháp
hư huyễn có diệt, mà tánh Viên Giác vẫn không diệt.
Cũng như đốm sanh trong hư không, các hoa đốm hư
huyễn kia có hoại diệt, mà tánh hư không chẳng hề
hoại diệt.
Lược
Giải
Hoa đốm là dụ cảnh vật, hư không là dụ Viên
Giác. Đại ý đoạn này là nói các pháp giả dối hư
huyễn giữa này, đều sanh trong Viên Giác (chơn tâm).
Các pháp hư huyễn diệt mà tâm Viên Giác không diệt.
Cũng như cá choa đốm sanh trong hư không, các đốm có
diệt mà hư không không diệt.
4.
Phật dạy Pháp Tu để nhập Viên Giác.
Khi các huyễn cảnh diệt rồi, thì cái huyễn tâm
của hành giả cũng theo đó diệt luôn. Đến khi các
huyễn (năng và sở) đều diệt hết, thì cái tâm Viên
Giác không vọng động tự hiện.
Bởi đối với vọng huyễn mà nói "Viên Giác" nên
Viên Giác cũng trở thành vọng huyễn, vì còn ở trong
vòng đối đãi vậy. Đến cảnh giới này, nếu nói "có
Viên Giác" thì chưa rời vọng huyễn đã đ
ành,
mà nói là "không Viên Giác" thì cũng chẳng rời được
vọng huyễn.
Thế nên, các vọng huyễn (có và không) đều phải
bị diệt hết rồi, mới gọi là Viên Giác.
Lược
Giải
Đoạn này lý lẽ uyên thâm, có 5 từng:
1. Huyễn cảnh diệt.
2. Huyễn tâm cũng diệt.
3. Các huyễn (năng, sở) diệt hết, tâm "Viên
Giác" hiện bày.
4. Bởi đối vọng huyễn mà gọi "Viên Giác" nên
Viên Giác cũng trở thành hư huyễn. Vì còn ở trong
vòng đối đãi phân biệt, nên chưa phải là "Viên
Giác".
5. Nếu "chấp có Viên Giác" thì ở trong vòng
vọng huyễn mà "chấp không Viên Giác" cũng còn ở
trong vòng vọng huyễn. Các vọng huyễn: có, không
sanh, diệt, phải chẳng v..v.. đều phải diệt hết rồi,
thế mới đúng là "Viên Giác".
Đại ý đoạn này nói: "Tánh Viên Giác" (Chơn
tâm) không thể dùng lời nói mà luận bàn được, cũng
không dùng ý nghĩ mà suy nghĩ được. Nếu vừa móng tâm
động niệm, nghĩ Thánh nói phàm, cho thế này là vọng,
thế kia là chơn, như thế là hãy còn trong vòng đối
đãi, hễ còn đối đãi phân biệt, thì đều là vọng huyễn
cả: phải rời hết các vọng huyễn mới đúng là "Viên
Giác".
5.
Phật dạy Phương pháp ly huyễn.
Này Thiện nam! Tất cả các vị Bồ Tát và chúng
sanh đời sau, cần phải xa lìa các việc như sau:
1. Xa lìa các cảnh giới huyễn hóa hư vọng.
Nhưng còn cái "Tâm biết xa lìa".
2. Cái "Tâm biết xa lìa" đó cũng là huyễn, nên
cũng xa lìa luôn.
3. Cái "xa lìa" đó cũng là huyễn, nên cũng
phải xa lìa.
4. Cái "lìa cái xa lìa" cũng là huyễn nên cũng
phải xa lìa luôn.
5. Phải không còn cái gì để "xa lìa" nữa, như
thế mới gọi là trừ được các huyễn.
Tỷ như người kéo lấy lửa, dùng hai miếng củi
tre cọ xát nhau; cọ cho đến khi lửa phát ra, trở lại
cháy hai miếng tre; cháy đến lúc củi hết, lửa tàn
tro bay, bấy giờ chỉ còn đất trống.
Dùng "cái huyễn" tu các "pháp huyễn" cũng thế.
Khi các huyễn diệt hết rồi, không phải là
đoạn
diệt mà lúc bấy giờ tánh Viên Giác tự hiện bày.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: Người tu hành trước hết
phải lìa các huyễn cảnh, sau lìa huyễn tâm; lìa cho
đến không còn cái gì để lìa nữa, thế mới là lìa được
hết các huyễn. Lúc bấy giờ cái phi huyễn là "Viên
Giác Tánh" hiện ra. Như t hế thì "Viên Giác Tánh"
không phải là
đoạn
diệt.
Như người kéo lửa (dụ cho tu như huyễn) ban
đầu dùng hai miếng củi tre cọ nhau (dụ cho tâm và
cảnh), khi lửa phát ra trở lại cháy hết củi đến lúc
lửa tàn tro bay (tâm cảnh đều hết), bấy giờ chỉ còn
đất trống (dụ cho Viên Giác).
6.
Phật dạy: "Giác Ngộ" không có tuần tự, "rời huyễn"
chẳng cần phương tiện.
- Này Thiện nam! Khi biết được các pháp hư
huyễn, tức là lìa được các huyễn, chớ không cần phải
có phương tiện gì khác. Lìa được các huyễn tức là
"Giác" cũng không có lớp lang tuần tự gì.
Tất cả Bồ Tát và chúng sanh đời sau, y như thế
mà tu hành, mới xa lìa được các huyễn.
Lược
Giải
Phật dạy người biết được các pháp là hư huyễn
thì không còn cố chấp và tham luyến các pháp nữa,
tức là lìa được các huyễn rồi, chớ không có phương
pháp tu tập nào khác.
Câu này giống như câu trong Kinh Lăng Nghiêm:
"Giác mê, mê diệt" (Giác ngộ được cái mê, thì cái mê
ấy hết). Cũng như người khi biết mình là chiêm bao,
thì không còn chiêm bao nữa.
Lìa được các vọng huyễn, tức thì "Viên Giác"
hiện bày, thế nên không có lớp lang từng bực. Dụ như
khi ánh sáng đến, thì cái tối liền diệt; tối vừa
diệt thì sáng vừa hiện, không có lớp lang tuần tự
chi hết.
Đoạn trước Ngài Phổ Hiền có hỏi thức lớp tu
pháp môn như huyễn thế nào. Đến đoạn này Phật trả
lời đã xong.
7.
Phật Nói Bài Kệ Tóm Lại Các Nghĩa Trên.
Khi ấy Đức Thế Tôn muốn tóm lại nghĩa này, nên
nói bài kệ rằng:
Phổ Hiền! Ông
nên biết:
Các Vô minh huyễn hóa,
Của tất cả chúng sanh.
Từ vô thỉ đến giờ,
Đều sanh trong Viên Giác.
Của các Đức Như Lai,
Cũng như các hoa đốm.
Sanh trong thái hư không,
Hoa đốm diệt hết rồi.
Hư không vẫn trong tịnh,
Các huyễn từ "Giác" sanh.
Huyễn diệt, "Giác" viên mãn,
Viên Giác không vọng động.
Các Bồ Tát hiện tại,
Và chúng sanh đời sau.
Thường phải xa lia huyễn,
Xa lìa cho hết huyễn.
Như lửa từ cây sanh,
Trở lại cháy hết cây;
Lửa tàn tro bay tận.
"Giác ngộ" không tuần tự,
"Phương tiện" cũng không cần.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này Phật dạy: Các Vô minh vọng
huyễn của chúng sanh từ vô thỉ đến giờ, đều sanh
trong tâm Viên Giác của Như Lai. Đến khi các Vô minh
vọng huyễn diệt rồi, thì tâm "Viên Giác" hiện ra,
khôngc có tuần tự và cũng không cần có phương tiện
gì khác.
Dụ như hoa đốm sanh trong hư không, khi hoa
đốm diệt hết thì hư không tự trong tịnh. Và như lửa
từ trong cây sanh, trở lại đốt cháy cây, đến khi củi
hết lửa tàn, khói tan tro tận, lúc bấy giờ chỉ còn
bầu trời trong suốt.
Lưu
ý:
Trong chương Phổ Hiền này, chúng ta nên lưu ý
về câu hỏi của Ngài Phổ Hiền và lời đáp của Phật, vì
rất quan hệ đến đời tu hành của chúng ta.
Ngài Phổ Hiền hỏi rằng: "Đã là huyễn thì cần
gì phải tu? Tại sao còn dùng thân tâm như huyễn để
tu hành như huyễn?" - Đoạn này nếu chúng ta hiểu
lầm, thì không sao khỏi sanh ra những vọng chấp:
"Thân huyễn, cảnh huyễn, tu học cũng huyễn v.v..."
rồi trăm việc lành đều bỏ xuôi, thật là nguy hiểm vô
cùng.
Vậy ta cần phai xét kỹ về đoạn trả lời của
Phật. Đại ý Phật dạy rằng: Tuy biết các pháp là
"huyễn" nhưng cần phải tu mới đạt đến chỗ "phi
huyễn" (Chơn). Cũng như: vẫn biết "tiếng gõ bảng"
của thầy giáo cũng là ồn, nhưng nếu không có "tiếng
gõ bảng" của thầy giáo, thì không sao dẹp được hết
tiếng ồn ào của học trò. Đến khi hết tiếng ồn ào của
học trò thì tiếng gõ bảng cũng không cần nữa.
Tổ sư đã dạy: "Hữu vị tuy nguy, xả chi tắc
Phật đạo nan thành", nghĩa là các việc tu hành đều
thuộc về hữu vi pháp, tuy biết là vọng, nhưng nếu bỏ
đi không tu thi khó thành đạo Phật. Cổ nhơn dạy:
"Đạp gai lấy gai mà lể" hay là "phải dùng giặc để
dẹp giặc" cũng là lẽ ấy.
Vẫn biết "Viên Giác Tánh" không phải huyễn,
nhưng muốn nhập Viên Giác thì phải dùng huyễn để trừ
huyễn. Khi các huyễn diệt hết, thì tánh "Viên Giác"
mới hiện.
Cổ đức dạy: "Thật tế địa lý bất thọ nhứt trần,
vạn sự môn trung bất xả nhứt pháp", nghĩa là: về chỗ
lý tánh chơn thật (Viên Giác) thì không thọ một mảy
trần; nhưng về sự tướng tu hành, thì không bỏ một
việc nhỏ.
Đây là một quy tắc từ nghìn xưa. Những vị tu
hành được thành đạo quả, không một ai vượt ngoài qui
tắc nầy.
BÀI THỨ BA
III. CHƯƠNG PHỔ NHÃN
1. Ngài Phổ
Nhãn hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Phổ Nhãn.
3. Phật dạy phương pháp tu.
4. Phật dạy quán "Thân" như huyễn.
5. Phật dạy quán "Tâm" như huyễn.
6. Huyễn hết thì chơn hiện.
7. Dùng ngọc Ma Ni dụ tánh Viên Giác.
8. Vì có kẻ lìa huyễn và người chưa lìa được, nên
phân ra có Thánh và Phàm.
9. Viên Giác hiện, thì các pháp đều thanh tịnh.
10. Vì hiện tượng bình đẳng nên bàn thể bình đẳng.
11. Bàn thể và hiện tượng khắp cả mười phương.
12. Vì chứng Viên Giác nên thấy các Pháp bình đẳng.
13. Tu và chứng mà thật ra không có tu và chứng.
14. Sanh tử và Niết bàn đều như mộng.
15. Các pháp bình đẳng.
16. Tóm lại.
17. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
CHƯƠNG
PHỔ NHÃN
1.
Ngài Phổ Nhãn hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Phổ Nhãn Bồ Tát, ở trong đại chúng
đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật ba vòng, rồi chắp
tay đảnh lễ và quỳ thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài vì các vị Bồ Tát
ở trong hội này và tất cả chúng sanh đời sau, giảng
dạy thứ lớp tu hành của Bồ Tát.
Bạch Thế Tôn, như chúng sanh kia, khi nghe
Phật nói Pháp "Ly Huyễn Tam Muội" này, tâm sanh mê
muội, vì không biết làm sao để hạ thủ công phu. Vậy,
nếu không có phương tiện chơn chánh và suy nghĩ chơn
chánh, thì không thể ngộ nhập được Viên Giác.
Xin Ngài mở lòng từ bi, vì những người chưa
ngộ như chúng con hiện tại và các chúng sanh đời
sau, tạm lập ra các phương tiện: Phải tu hành thế
nào? Phải suy nghĩ (tư duy) làm sao? Phải an trụ và
giữ gìn (trụ trì) thế nào mới được ngộ nhập Viên
Giác?
Ngài Phổ Nhãn Bồ Tát thưa thỉnh như vậy ba
lần, kính cẩn lễ Phật rồi trở lui.
Lược
Giải
Đoạn trước Ngài Phổ Hiền Bồ Tát hỏi Phật, ý
hỏi rất u thâm. Phật xứng theo lý viên đốn mà trả
lời rằng:
"Giác ngộ, không có từng tự; biết huyễn là lìa
được huyễn, không cần phương tiện."
Ngài Phổ Nhãn Bồ Tát, vì thấy Phật nói Pháp
môn "Viên đốn" như thế, nghĩ rằng: duy có những
người trình độ cao thượng mới có thể làm được; trái
lại những kẻ căn cơ thấp kém, nếu không có tạm lập
phương tiện và chỉ dạy thứ lớp tu hành thì làm sao
ngộ nhập được. Vì vậy, nên qua chương này, Ngài PHổ
Nhãn Bồ Tát cầu Phật tạm lập phương tiện và chỉ dạy
thứ lớp tu hành, để cho chúng sanh có thể hạ thủ
công phu, nhập được Viên Giác.
Tóm lại các câu hỏi của Ngài Phổ Nhãn hỏi
Phật, gồm trong hai phần:
1. Hỏi về "Tư Huệ" tức là câu hỏi "phải suy
nghĩ thế nào cho chơn chánh?"
2. Hỏi về "Tu Hệ" tức là câu hỏi "phải an trụ
và giữ gìn thế nào? Tạm lập phương tiện tu hành và
thứ lớp tu làm sao, mới ngộ nhập được Viên Giác?"
2.
Phật Khen Ngài Phổ Nhãn.
Khi đó Đức Thế Tôn khen Ngài Phổ Nhãn Bồ Tát
và dạy rằng:
- Này Thiện nam, quý lắm! Ông vì các vị Bồ Tát
hiện tại và chúng sanh đời sau, cầu thỉnh Như Lai
tạm lập phương tiện tu hành và chỉ dạy thứ lớp tu
làm sao, phải suy nghĩ làm sao cho chơn chánh (tư
huệ), phải an trụ và giữ gìn thế nào (tu huệ). Vậy
các ông nên chăm chú nghe, ta sẽ vì các ông khai
thị.
Khi đó Ngài Phổ Nhãn Bồ Tát và
đại
chúng đều hoan hỷ, kính cẩn và chăm chú nghe lời
Phật chỉ giáo.
Lược
Giải
Đoạn này Phật khen Ngài Phổ Nhãn vì đại chúng
cầu Phật tạm lập phương tiện tu hành để nhập Viên
Giác. Trong câu hỏi gồm có hai phần: 1. Hỏi về Tư
huệ; 2. Hỏi về Tu Huệ.
3.
Phật dạy phương pháp tu.
- Này Thiện nam, những hàng sơ học Bồ Tát và
các chúng sanh đời sau, muôn ngộ nhập tâm Viên Giác
thanh tịnh của Như Lai, thì cần phải Chánh niệm(1),
và xa lìa các vọng huyễn. Vậy trước hết phải:
1. Y theo pháp "chỉ" của Như Lai (Đại thừa
định).
2. Giữ gìn giới cấm kiên cố.
3. Sắp xếp đồ chúng cho yên ổn (sắp xếp hoàn
cảnh xung quanh cho thuận tiện).
4. Ở chỗ thanh vắng.
5. Phải suy nghĩ như sau.
Lược
Giải
Tổ sư dạy: "Thật tế địa lý bất thọ nhứt trần,
Phật sự môn trung bất xả nhứt pháp". Nghĩa là: Về
chỗ lý tánh tuyệt đối thì không thọ một mảy may gì;
nhưng về sự tướng tu hành thì không bỏ một việc lành
nào cả.
Đành rằng, về cảnh giới Viên Giác, chúng ta
nói không trúng, suy nghĩ cũng nhằm; "giác ngộ"
không có tiêm thứ, "rời huyễn" chẳng cần phương
tiện; nhưng khi hạ thủ công phu (bắt tay vào việc tu
hành) thì không thể bỏ qua các sự tướng tu trì.
Đại ý đoạn này Phật dạy khi hạ thủ công phu,
trước phải dùng: 1. Giới, 2. Định (chỉ), 3. Huệ (tức
là câu "thường suy nghĩ như vậy" ở đoạn sau), 4. Sắp
xếp các ngoại duyên cho được yên ổn.
Trong chương Phổ Hiền, Phật dạy: "Biết huyễn
là lìa được huyễn, không cần phương tiện chẳng có
tiệm thứ." Đồng với trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy:
"bất tùy phân biệt" (không theo trần cảnh khởi vọng
niệm phân biệt).
Đoạn kinh này, Phật dạy phải dùng: "Giới,
Định, Huệ, và sắp xếp các ngoại duyên cho được thuận
tiện". Cũng như trong Đại Cương Lăng Nghiêm về bài
thứ 12, Phật dạy tu "Giới, Định, Huệ" và "ba món
tiệm thứ".
------------
(1)
Chữ "chánh niệm" là niệm chơn chánh. Trong Viên Giác
lược sở giải: Rời các vọng huyễn, dứt hết các vọng
niệm thế mới là: "chánh niệm".
4.
Phật dạy Quán thân này như huyễn.
- Phải thường nhớ nghĩ như vầy: Cái thân của
ta nay đây, là do bốn chất: đất, nước, gió, lửa hòa
hiệp. Như da, thịt, gân, xương, răng, tóc, móng tay,
tủy, não v.v… là thuộc về chất đất. Nước mắt, nước
mũi, mồ hôi, mỡ, máu, mủ, đờm, dãi, tiểu tiện v.v...
là thuộc về nước. Nhiệt độ trong người là thuộc về
lửa. Phổi hô hấp, tim đập, mạch nhảy, các chuyển
động trong người là thuộc về gió.
Đến khi bốn chất này rã rời, không còn hòa hợp
nữa, thì cái thân hư dối này (cái ta) ở chỗ nào?
Lược
Giải
Người đời, ai cũng chấp thân này là ta, rồi
thương yêu quý trọng nó, cho nên suốt đời lao tâm
nhọc trí, vật lộn với vật chất một cách vất vả, cũng
vì lo cho ta ăn, mặc và ở v.v… Lo cho ta rồi lo cho
bà con quyến thuộc của ta, lo cả cho đồng bào chủng
loại của ta.
Nếu ta được là người mất, đồng bào ta được thì
đồng bào người phải bị mất. Vì vậy thế giới cạnh
tranh, nhơn loại tương tàn tương sát. Chúng sanh tạo
không biết bao nhiêu điều tội lỗi, rồi vĩnh kiếp
luân hồi.
Bởi thế nên đoạn này Phật dạy, khi hạ thủ công
phu là quán than như huyễn (vô ngã). Khi đã thấy xác
thật thân này là hư huyễn rồi, thì không còn tham
lam luyến ái, vì nó mà tạo ra các tội lỗi, để rồi
thọ quả báo sanh tử luân hồi.
Muốn cho độc giả thưởng thức được lý thú ở
đoạn này, nên tôi dẫn một đoạn trong bài thơ "Nguyện
cầu" của một thi sĩ sau đây:
Ta còn để lại
gì không?
Kìa non nước chảy, nọ sông cát bồi!
Lang thang từ độ luân hồi,
U minh nẻo trước, xa khơi dặm về.
Trông ra bến thảm bờ mê,
Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương.
Ta van cát bụi trên đường,
Dù nhơ dù sạch, đừng vương gót này.
5.
Phật dạy quán tâm như huyễn.
- Này Thiện nam! Ông đã biết thân này rốt ráo
không thật có, chẳng qua do các duyên hòa hiệp làm
ra thân tướng giả tạm, đồng với loại huyễn hóa.
Do bốn duyên là
đất,
nước, gió, lửa hoà hợp, nên vọng có sáu căn là mắt,
tai , mũi, lưỡi, thân và ý. Nhơn bốn duyên và sáu
căn, trong ngoài hợp lại thành cái thân giả tạm, rồi
vọng khởi ra các vọng tưởng phân biệt. Các vọng
tưởng phân biệt tích tụ trong thân này in như có cái
hình tướng "năng duyên", duyên theo bóng dáng của
trần cảnh, nên giả gọi đó là "Tâm".
- Này Thiện nam! Cái tâm hư vọng phân biệt
này, nếu không có trần cảnh thì không còn phân biệt
được cái gì cả. Lại nữa, khi bốn duyên (tứ đại) rã
rời rồi, thì thân giả tạm này cũng không còn. Lúc
bấy giờ, cái vọng niệm phân biệt bị tích tụ trong
thân thường duyên theo bóng dáng của sáu trần đó,
cũng bị phân tán. Rốt cuộc rồi không còn thấy có cái
gì mà gọi là "Tâm" cả.
Lược
Giải
Về chương Văn Thù, Phổ Hiền, Phật dạy quán
"Cảnh như huyễn", đến chương Phổ Nhãn này, trước
Phật dạy quán "Thân như huyễn" rồi sau quán "Tâm như
huyễn" là vì lối tu hành phải bắt đầu từ dễ đến khó,
từ cạn đến sâu. Trước quán "cảnh như huyễn" tuy khó,
nhưng chưa khó lắm, đến quán "thân như huyễn" mới là
khó hơn. Đi sâu vô một từng nữa là quán "Tâm như
huyễn" lại càng khó hơn nữa.
Đại ý đoạn này, Phật dạy quán "Tâm như huyễn",
không có thật thể. Người đời thường chấp tâm này
(linh hồn) la ta, cái ta này thường còn không biến
đổi; nếu ta (linh hồn) là người thì khi chết rồi trở
lại làm người; còn ta là Thánh thì chết rồi trở lại
làm Thánh, không có thay đổi; người có tu không sợ
tội lỗi, chẳng ham phước lành, gây tạo nhiều tội ác
rồi nhiều kiếp trầm luân, chịu không biết bao nhiêu
khổ sở.
Vì thương kẻ mê lầm này, nên Phật dạy quán
"Tâm như huyễn". Khi hành giả quán thân và tâm (linh
hồn) đều như huyễn, không phải thật ngã (ta) một
cách xác thật rồi, thì không còn vì nó mà tạo các
tội lỗi. Tội lỗi không tạo, vọng niệm chẳng sanh,
huyễn thân và huyễn tâm đều dứt hết, thì tánh Viên
Giác, thanh tịnh không hư huyễn hiện ra, lúc bấy giờ
hành giả ra khỏi sanh tử luân hồi.
6.
Huyễn hết thì chơn hiện, như bụi sạch thì gương
sáng.
- Này Thiện nam! Vì "huyễn thân" của chúng
sanh kia diệt, cho nên "huyễn tâm" cũng diệt; do
"huyễn tâm" diệt, cho nên cái "huyễn trần" cũng
diệt; do "huyễn trần" diệt, nên cái "huyễn diệt" đó
cũng diệt luôn. Bởi thâm tâm là tướng trần cấu hư
huyễn đã hoàn toàn diệt, nên lúc bấy giờ tánh "Viên
Giác phi huyễn" hiện ra, thanh tịnh khắp cả mười
phương. Thí như lau gương khi bụi hết thì gương sáng
tự hiện bày.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật dạy các huyễn tuần tự
diệt. Có năm lớp:
1. Huyễn Thân
diệt.
2. Huyễn Tâm diệt.
3. Huyễn Trần (pháp) diệt.
4. Huyễn Trí diệt.
5. Phi Huyễn (Viên Giác) hiện.
Như lau gương sạch bụi thì ánh sáng hiện ra.
7.
Dùng ngọc Ma Ni dụ tánh Viên Giác.
- Này Thiện nam! Dụ như ngọc Ma Ni trong sáng,
tùy mỗi phương chiếu hiện ra năm màu; nhưng người
quê mùa không biết, cho năm màu (dụ cho ngũ uẩn) kia
là thật có.
Tánh Viên Giác thanh tịnh cũng thế, tùy các
loại mà ứng hiện ra mỗi thân tâm (ngũ uẩn) không
đồng. Những kẻ mê muội lại chấp cho thân tâm đó là
thật có, vì thế nên không thể xa lìa được các tướng
huyễn hóa hư vọng.
Lược
Giải
Luận về "bản tánh Viên Giác" thì sáng suốt
thanh tịnh không có một mảy trần, tức là nghĩa "chơn
không". Nhưng tùy theo nghiệp mà biến hiện, không
một loài vật nào chẳng có, tuy có mà không thật có,
tức là nghĩa "diệu hữu".
Tánh Viên Giác không hai, nhưng tùy theo vọng
nghiệp của mỗi loại mà biến hiện các vật ngàn sai
muôn khác. Người khéo dùng thì nó hiện ra Tứ Thánh
(Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật). Kẻ vụng dùng
thì nó hiện ra lục phàm (Thiên, Nhơn, A Tu La, Địa
Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh). Cũng như trong Kinh Lăng
Nghiêm Phật dùng giây đờn thí dụ: trong giây đờn
không có tiếng hay tiếng dở; tùy người biết sử dụng
thì nó phát ra tiếng hay, còn người không biết sử
dụng thì nó phát ra tiếng dở. Cũng một giây đờn đó,
hay dở chỉ tại người khéo hay vụng mà thôi.
Đoạn kinh trên nói: "Ngọc Ma Ni trong suốt là
dụ cho tánh "Viên Giác thanh tịnh"; nói "Ngọc Ma Ni
tùy mỗi phía hiện ra ngũ sắc" là dụ cho tánh "Viên
Giác tùy mỗi loại hiện thân ngũ uẩn".
Đại ý đoạn này nói "Trong ngọc Ma Ni trong
suốt không có ngũ sắc, nhưng vì tùy mỗi phương, ánh
chiếu in như có ngũ sắc. Trẻ con không biết, lầm
tưởng ngũ sắc kia là thật có, rồi sanh tâm tham muốn
khóc đòi v.v... chớ đâu biết rằng "ngũ sắc" kia
không thật. Cũng như trong tánh Viên Giác thanh tịnh
không có ngũ uẩn, nhưng tùy theo nghiệp chúng sanh
vọng thấy in như có năm uẩn. Chúng sanh mê muội
không biết hư huyễn, lại chấp cho là thật có, rồi
sanh tham mê ái luyến, tạo ra các nghiệp. Vì thế mà
bị triền miên trong sanh tử, không bao giờ ra khỏi
các vọng huyễn.
8.
Vì có kẻ lìa huyễn và người chưa lìa được, nên phân
có thánh và phàm.
- Này Thiện nam! Bởi đối với những kẻ mê muội
chấp thân tâm huyễn cấu này là thật có, không thể xa
lìa được, nên ta gọi đó là chúng sanh.
Đối với người đã xa lìa được thân tâm cấu
huyễn thì ta gọi đó là Bồ Tát. Đến khi các "huyễn
cấu" hết, "pháp đối trị" trừ, "trí đối trị" cũng
không, cho đến không còn danh từ để kêu gọi, và lời
nói để luận bàn (người không cảnh vắng, các vọng
hoàn toàn diệt, thì gạm gọi là Viên Giác hay Phật).
- Này Thiện nam! Các Bồ Tát và chúng sanh đời
sau, khi diệt hết các ảnh tượng vọng huyễn rồi thì
tánh "Viên Giác thanh tịnh" hiện ra, khắp cả vô biên
hư không, không có ngằng mé và phương hướng.
Lược
Giải
Những người mê muội, không biết các pháp đều
do tánh Viên Giác huyễn hiện, lại chấp cho là thật
có, rồi sanh ra ái luyến triền miên, nên Phật gọi là
"chúng sanh". Những người biết được các pháp hư
huyễn đều do Viên Giác sanh, đã dùng pháp đối trị và
xa lìa, thì Phật gọi đó là "Bồ Tát". Lên một từng
nữa là khi các "cảnh huyễn cấu" hết "pháp trừ huyễn"
không, "trí đối trị" chẳng còn, "danh từ kêu gọi" và
"lời nói luận bàn" cũng không, cho đến "người" cũng
chẳng còn: cảnh vắng người không. Như bệnh hết,
thuốc bỏ, ông thầy thuốc cũng không còn. Các vọng
huyễn hoàn toàn diệt hết, thì cảnh giới Viên Giác
thanh tịnh viên mãn hiện khắp ở mười phương, lúc bấy
giờ tạm gọi là "Phật".
9.
Viên Giác Hiện thì các pháp (căn, trần, thức) đều
thanh tịnh
- Này Thiện nam! Vì tánh Viên Giác thanh tịnh
sáng suốt đã hiện ra nên "tâm" thanh tịnh: do Tâm
thanh tịnh nên "6 thức" thanh tịnh; do 6 thức thanh
tịnh nên "6 căn" thanh tịnh; do 6 căn thanh tịnh nên
"6 trần" thanh tịnh; do 6 trần thanh tịnh nên 4 đại,
12 xứ, 18 giới và 25 loài đều thanh tịnh.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: vì tánh Viên Giác thanh
tịnh đã xuất hiện, nên các pháp thuộcv ề thế gian là
Căn, Trần, Thức cũng đều thanh tịnh. Dụ như trong
rừng cây y lan (loại cây hồi), một phen gỗ chiên đ
àn
xuất hiện, thì cả rừng đều thơm ngát.
Sáu thức: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt
thức, Thân thức và Ý thức.
Sáu căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn,
Thân căn và Ý căn.
Sáu trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp.
Bốn đại: Địa, Thủy, Hỏa và Phong.
Mười hai xứ: 6 căn và 6 trần
Mười tám giới: 6 Căn, 6 Trần và 6 Thức.
25 loài: Cõi Dục có 14 loài, là bốn châu (Đông
Thắng Thần Châu, Nam Thiêm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa
Châu, Bắc Cu Lô Châu); bốn ác thú (Tu la, Địa Ngục,
Ngạ Quỉû, Súc Sanh) và sáu cõi Dục (1. Tứ Thiên
vương, 2. Đao Lợi, 3. Dạ Ma, 4. Đâu Suất, 5. Hóa
Lạc, 6. Tha Hóa Tự Tại). Cõi Sắc có 7 loài, là bốn
cõi Thiền (từ Sơ thiền đến Tứ thiền), cõi Phạm
Vương, cõi Vô Tưởng và Ngũ Tịnh Cư. Cõi Vô Sắc có
bốn: 1. Không Vô Biên Xứ, 2. Thức Vô Biên Xứ, 3. Vô
Sở Hữu Xứ, 4. Phi Phi Tưởng Xứ.
- Này Thiện nam! Vì các pháp thế gian thanh
tịnh, nên các pháp xuất thế gian như: 10 lực, 4 món
Vô Úy, 4 món Vô Ngại Trí, 18 pháp Bất Cộïng, 37 phẩm
Trợ Đạo và 84000 pháp môn Đà La Ni, tất cả đều thanh
tịnh.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: Một pháp đã thanh tịnh,
nên tất cả các pháp đều thanh tịnh, vì tất cả đều
đồng tánh Viên Giác. Thí như một cục phèn bỏ vào
thau nước, một chỗ trong thì cả thau đều trong.
Đoạn trên nói các pháp thế gian thanh tịnh.
Đoạn này nói các pháp Xuất thế gian cũng thanh tịnh.
Mười lực: 1. Tri giác xứ phi xứ trí lực. 2.
Tri tam thế nghiệp báo trí lực; 3. Tri chư thiền
giải thoát tam muội trí lực; 4. Tri chư căn thẳng,
liệt trí lực; 5. Tri chủng chủng giải trí lực; 6.
Tri chủng chủng giới trí lực; 7. Tri nhứt thế chí sở
đạo trí lực; 8. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực; 9.
Tri túc mạng vô lậu trí lực; 10. Tri vĩnh đoạn tập
khí trí lực.
Bốn món Vô Úy:
1. Nhứt thế
trí vô sở úy.
2. Lậu tận vô sở úy.
3. Thuyết chướng đạo vô sở úy.
4. Thuyết tận khổ đạo vô sở úy.
Bốn món Vô Ngại Trí:
1. Pháp vô
ngại trí.
2. Nghĩa vô ngại trí.
3. Từ vô ngại trí.
4. Lạc thuyết vô ngại trí.
Mười tám pháp Bất Cộïng:
1. Thân vô
thất.
2. Khẩu vô thất.
3. Niệm vô thất.
4. Vô dị tưởng.
5. Vô bất định tâm.
6. Vô bất tri dĩ xả.
7. Dục vô diệt.
8. Tinh tấn vô diệt.
9. Niệm vô diệt.
10. Huệ vô diệt.
11. Giải thoáùt vô diệt.
12. Giải thoát tri kiến vô diệt.
13. Nhứt thế thân nghiệp tùng trí huệ hành.
14. Nhứt thế khẩu nghiệp tùng trí huệ hành.
15. Nhứt thế ý nghiệp tùng trí huệ hành.
16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại.
17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại.
18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại.
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo (xem Phật Học Phổ
Thông, khóa III bài Đạo Đế nói rõ).
Đà La Ni: Tàu dịch là "Tổng trì". Nghĩa là ở
trong mỗi một pháp môn tóm giữ được tất cả Pháp. Do
trừ 84000 phiền não mà
được
84000 pháp Đà La Ni.
Này Thiện nam! Vì các pháp thế gian và xuất
thế gain đều thanh tịnh, nên các nhân thanh tịnh; do
cá nhân đã thanh tịnh nên nhiều cá nhân thanh tịnh,
cho đến mười phương chúng sanh đều đặng Viên Giác
thanh tịnh.
Lược
Giải
Đoạn này nói Chánh báo chúng sanh thanh tịnh.
Vi đã đồng tánh Viên Giác, nên các pháp nói trên đã
thanh tịnh, thì thân chúng sanh cũng thanh tịnh.
Cũng một ý này, nhưng có kinh lại nói một cách khác:
"Còn một chúng sanh nào chưa thành Phật thì ta cũng
chưa thành Phật", vì đồng một bản thể vậy.
- Này Thiện nam! Vì một thế giới đã thanh
tịnh, nên nhiều thế giớ cũng thanh tịnh. Vì nhiều
thế giới thanh tịnh nên cùng tận 10 phương hư không
(không gian) trùm khắp 3 đời (thời gian), tất cả đều
thanh tịnh bình đẳng không động.
Lược
Giải
Đoạn này nói Y báo của chúng sanh thanh tịnh.
Vì đồng tánh Viên Giác, nên Chánh báo đã thanh tịnh
thì Y báo cũng thanh tịnh. Cũng như trong nhà tối
lâu đời, khi đốt lên một ngọn đ
èn,
ánh sáng được xuất hiện, một chỗ vừa sáng thì tất cả
chỗ trong nhà
đều
sáng.
10.
Vì thấy hiện tượng (các pháp) bình đẳng nên biết bản
thể (Viên Giác) bình đẳng.
- Này Thiện nam! Hư không đã bình đẳng không
động, nên biết tánh Viên Giác bình đẳng không động,
vì bốn đại bình đẳng không động, nên biết tánh Viên
Giác bình đẳng không động. Như thế, cho đến 84000
pháp môn Đà La Ni đều bình đẳng không động, nên biết
tánh Viên Giác bình đẳng không động.
Lược
Giải
Từ bản thể là tánh Viên Giác, sanh ra các pháp
hiện tượng là hư không, bốn đại và thiên hình vạn
trạng cho đến 84000 pháp Đà La Ni. Hiện tượng đã từ
bản thể sanh mà hiện tượng đã bình đẳng không động,
cố nhiên bản thể cũng bình đẳng không động.
11.
Bản thể (tánh) khắp cả 10 phương, nên hiện tượng
khắp cả 10 phương.
- Này Thiện nam! Vì tánh Viên Giác thanh tịnh
không động, viên mãn cùng khắp tất cả, không có bờ
bến, nên biết 6 căn, 6 trần, 4 đại, cho đến pháp môn
Đà La Ni cũng thanh tịnh và viên mãn khắp cả pháp
giớ.
Này Thiện nam! Vì tánh Viên Giác kia mầu nhiệm
viên mãn không hoại, nên bản thể của căn, bản thể
của trần, không có một pháp nào hoại diệt và lộn
lạo; cho đến pháp môn Đà La Ni, cũng không có hoại
diệt và lộn lạo. Thí như trăm ngàn ngọn đ
èn,
đồng đốt trong một căn nhà, ánh sáng của mỗi ngọn đ
èn
tuy đều chiếu khắp cả nhà, nhưng không có lộn lạo
hay lấn diệt nhau.
Lược
Giải
Đoạn này có hai phần. Phần trên nói: Vì bản
thể là tánh Viên Giác châu biến, nên hiện tượng là
các pháp cũng châu biến. Đại ý phần này giống đoạn
văn trong Kinh Hoa Nghiêm nói về "Sự, Lý vô ngại
pháp giới".
Phần dưới nói: Vì bản thể không hoại diệt nên
tất cả các pháp không có một pháp nào hoại diệt. Thí
như trăm ngàn ngọn đ
èn
chiếu trong một nhà, không có lộn lạo và hoại diệt
nhau. Ý đoạn này giống với đoạn văn trong Kinh Hoa
Nghiêm nói về "Sự, Sự vô ngại pháp giớ". Trong Kinh
Pháp Hoa chép: "Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng
thường trụ" (Pháp nào an trụ địa vị pháp ấy. Thế
gian tướng là thường trụ tướng). Và Kinh Lăng nghiêm
có chép" Tứ đại châu biến không có hoại diệt và tạp
loạn lẫn nhau".
12.
Vì chứng được viên giá nên thấy các pháp bình đẳng.
- Này Thiện nam! Vì các Bồ Tát thành tựu được
tánh Viên Giác rồi, nên không sợ pháp hữu vi ràng
buộc, không cầu pháp vô vi giải thoát, không nhàm
chán sanh tử, không ưa thích Niết Bàn, không kính
người trì giới, không ghét người phạm giớ, không tôn
trọng kẻ tu lâu, chẳng khinh người mới học. Tại sao
thế? Vì tất cả cá pháp đều là Viên Giác vậy.
Thí như con mắt xem thấy các cảnh vật hiện
tiền, cái "thấy" này trùm khắp tất cả, không thương,
ghét. Tại sao thế? Vì cái "thấy" này chỉ có một thể,
nên không có thương, ghét vậy.
Lược
Giải
Vì tất cả các pháp đã đồng một tánh Viên Giác,
nên Bồ Tát bình đẳng: không thương không ghét, không
khinh không trọng, không sợ sanh tử, chẳng cầu Niết
Bàn. Đoạn này lý rất cao thâm, chúng ta không nên
đem phàm tình mà phán đoán.
Ông Thường Bất Khinh Bồ Tát nói: "Tôi không
dám khinh các Ngài, các Ngài sẽ thành Phật vì các
Ngài đều có tánh Phật" (Khả năng thành Phật). Và
trong Kinh Tứ thập Nhị chương chép . "Cúng dường cho
nhiều đức Phật, công đức không bằng cúng dường cho
người Vô niệm, Vô trụ, Vô tu, Vô chứng". Đại ý các
đoạn trên đều nói đến thể tánh bình đẳng này.
13.
Có tu và có chứng mà thật ra không tu và không
chứng.
- Này Thiện nam! Các Bồ Tát hiện tại và chúng
sanh đời sau, tuy tu tập Tâm này (Viên Giác) mà
được
thành tựu (quả Phật) rồi, nhưng thực ra thì không tu
và cũng không thành, vì tánh Viên Giác vừa tịch diệt
vừa phổ chiếu tất cả, đối với Phật hay chúng sanh,
không hai không khác.
Lược
Giải
Phật đã dạy "Nhứt thế chúng sanh giai hữu Phật
Tánh". Nghĩa là: Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật
(Viên Giác). Song chúng sanh vì bị mây Vô minh che
phủ mặt trăng Viên Giác (Phật) của mình, nên in
tuồng có mê; bởi in tuồng có mê nên cũng in tuồng có
Tu và có Chứng. Đến khi mây Vô minh tan hết, thì mặt
trăng Viên Giác hiện ra. Mặt trăng này đâu phải bấy
giờ mới có, và cũng không phải do dụng công tu hành
mới thành, vì nó có từ vô thỉ đến giờ. Bởi thế nên
nói "in tuồng có Tu và có Chứng" Trong Kinh Tứ Thập
Nhị Chương, cũng với ý này, Phật đã dạy: "Niệm đến
chỗ không niệm mới là chơn niệm, làm đến chỗ không
làm mới là thật làm, nói đến chỗ không nói mới là
thật nói, tu đến chỗ không tu mới là tu, chứng đến
chỗ không chứng mới là thật chứng..."
Tuy biết như vậy, nhưng lúc đầu tiên hạ thủ
công phu, phải có Tu có Chứng, rồi mới có thể đạt
đến chỗ rốt ráo là Vô tu, Vô chứng. Cũng như ông
thầy giáo muốn cho cả lớp học được yên lặng thì phải
dùng tiếng động là gõ thước trên bảng. Khi học trò
yên lặng thì tiếng gõ bảng hết, lúc bấy giờ mới đổi
lại cảnh yên tịnh được.
Cũng vì ngộ lý này, nên người xưa có làm bài
thơ rằng:
Bách xích can
đầu trực hạ thủy,
Nhứt ba tài động vạn ba tùy.
Dạ tịnh thủy hàn ngư bất thực,
Mãn thuyền không tải nguyệt minh qui.
Ý nghĩa bài thơ này, câu thứ nhất nói: "Nhợ
100 thước trên đầu cần câu, thả thẳng xuống mặt
nước". Câu thứ hai nói: "Một lượn sóng vừa gợn
(động) thì liền có muôn ngàn lượn sóng nhấp nhô nổi
theo". (Hai câu này ý nói: Khi hạ thủ công phu, lúc
đầu tiên thuộc về hữu tướng Tu, còn phải dụng công
có Tu có Chứng.)
Câu thứ ba nói: "Đến khuya các tiếng động hết,
một bầu tịch mịch thanh vắng mặt nước đong lạnh,
bằng phẳng như tờ; cá cũng không ăn mồi". Ý nói hành
giả lúc bấy giờ đã đi sâu vào chỗ "Tâm cảnh như như,
ngả pháp đều không" thuộc về Vô tướng tu. Vô cung
dung hạnh.
Câu thứ tư nói: "Chỉ còn thuyền trống chở ánh
sáng mặt trăng về..." Đại ý câu này nói: "Không tâm
tải đạo". (tâm trống không, chứa đạo). Hành giả lúc
bấy giờ, tâm thể sáng suốt hiện khắp cả 10 phương
(Viên Giác); in tuồng có chứng có đắc... mà thật ra
không chứng và không đắc.
14.
Sanh tử và niết bàn đều như mộng, vì chúng sanh vốn
đã thành Phật.
Các thế giới của chư Phật, nhiều như số cát
sông Hằng, đều ở trong tánh "Viên Giác" này. Cũgn
như hoa đốm ở trong hư không, mặc tình lăng xăng
khởi lên và lăng xăng diệt mất. Nó không phải "tức"
là tánh Viên Giác, mà cũng không phải "ly" tánh Viên
Giác; không triền phược và giải thoát. Bởi thế nên
biết "Sanh tử và Niết Bàn" cũng đều như giấc mộng
hôm qua, vì chúng sanh vốn đã thành Phật từ xưa đến
giờ.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói tánh Viên Giác thanh tịnh
vắng lặng như hư không nên mặc tinh cho các pháp
lăng xăng khởi diệt như hoa đốm.
Niết Bàn là
đối
với sanh tử mà có, trong tánh Viên Giác, sanh tử đã
không, cho nên Niết Bàn cũng như mộng.
Đứng về phương diện lý tánh mà luận, thì tất
cả chúng sanh đều sẵn có tánh Phật (Viên Giác) nên
nói: "chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến nay" .
Song chúng sanh vì bị mây Vô minh che mờ, nên mặt
trăng Phật (Viên Giác) của mình chẳng hiện. Đến khi
được gió Bát Nhã thổi tan mây Vô minh rồi, thì trăng
Viên Giác (Phật) của mình tự hiện.
Cũng vì ngộ lý này, nên cổ nhơn có làm bài thơ
rằng:
Tòng hạ vấn
đồng tử...
Ngôn: Sư thê
được
khứ,
Chỉ tại thử sơn trung,
Vân thâm bất kiến xứ.
Dịch nghĩa: Dưới cây tòng, hỏi Đồng tử... Đồng
tử thưa rằng: "Thầy đi hái thuốc, chỉ ở trong núi
này thôi, nhưng vì mây đen nên chẳng thấy được."
Trong bài thơ này, tác giả mượn người khách
hỏi Đồng tử để nói về lý đạo.
Đại ý: Chúng sanh đi tìm Đạo. Thật ra đạo
(Phật) không đâu xa, chỉ ở trước mắt. Nhưng vì chúng
sanh bị mây Vô minh che mờ, nên chẳng thấy được Đạo
(Phật).
Trong kinh có câu: "Tâm, Phật, chúng sanh, tam
vô sai biệt": Tâm, Phật và chúng sanh cả ba không
sai khác. Hay là câu: "Phật pháp tại thế gian, bất
ly thế gian giác". Phật pháp tại thế gian, giác ngộ
không rời thế gian; cũng là chỉ cho ý này. Bởi chúng
sanh và Phật đồng một thể tánh Viên Giác, nên Phật
với chúng sanh không hai, triền phược và giải thoát
không khác sanh tử với Niết Bàn như mộng.
15.
Các Pháp bình đẳng.
- Này Thiện nam! Phải biết sanh tử và Niết Bàn
đều như giấc mộng hôm qua, cho nên không có sanh
diệt và cũng không có khứ lai. Ở nơi quả vị sở
chứng, không có "được’ và "mất" hay "thủ" và "xả". Ở
nơi người năng chứng cũng không có "tạo tác" và
"đình chỉ" hay "sanh (nhậm) và "diệt".
Trong tánh Viên Giác, tất cả các pháp đều bình
đẳng, không có hoại diệt. Rốt ráo không có người
năng chứng và quả sở chứng.
Lược
Giải
Trong kinh nói: "Chư pháp tùng bổn lai, thường
tự tịch diệt tướng". Nghĩa là: Các pháp từ xưa đến
nay, tướng nó thường vắng lặng. Bởi đồng tánh Viên
Giác, nên tất cả các pháp bình đẳng, không sanh
diệt, không khứ lai, không đắc thất, không thủ xả,
không làm, không thôi, không sanh, không diệt, rốt
ráo không có người năng chứng và quả sở chứng, vì
tất cả đều là tánh Viên Giác vậy.
16.
Tóm Lại.
Này Thiện nam! Các vị Bồ Tát kia phải y lời ta
dạy trên mà suy nghĩ như vậy, dùng phương tiện như
vậy, y theo lớp lang và tuần tự tu hành như vậy,
phải cầu pháp như vậy và khai ngộ như vậy, mới khỏi
mê muội.
Lược
Giải
Nguyên trước Ngài Phổ Nhãn hỏi Phật: "Phải suy
nghĩ làm sao? Lập phương tiện thế nào? Và thứ lớp tu
hành ra sao? v.v...
Phật đã giải thích rành rẽ rồi, nên đoạn này
Phật dạy: "Phải suy nghĩ như vậy, dùng phương tiện
như vậy v.v... thì mới khỏi mê muội và ngộ nhập được
tánh Viên Giác".
17.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên. Khi
ấy Đức Thế Tôn muốn tóm lại các nghĩa trên, nên nói
bài kệ rằng:
Phổ Nhãn! Ông
phải biết:
Thân, Tâm của chúng sanh,
Tất cả đều như huyễn.
Thân này thuộc bốn đại,
Thân này trả sáu trần;
Bốn đại tan rã rồi,
Cái gì gọi là "Ta"?
Tuần tự tu như vậy,
Tất cả đều thanh tịnh.
Viên Giác khắp Pháp giơiù,
Không làm, thôi, sanh, diệt.
Không năng chứng, sở chứng.
Tất cả thế giới Phật,
Như hoa đốm hư không.
Ba đời đều bình đẳng,
Rốt ráo không qua lại.
Bồ tất mới phát tâm,
VÀ chúng sanh đời sau.
Muốn cầu nhập Phật đạo,
Phải như thế tu hành.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này là tóm lại các nghĩa trên.
Phật dạy quán sát Thân này và Tâm này đều như
huyễn, không có thật "Ngã". Cứ như thế mà tu hành
thì lần lần sẽ được thanh tịnh. Lúc bấy giờ tánh
Viên Giác hiện ra khắp cả pháp giới, không còn "làm"
hay "thôi", "sanh" hay "diệt", và cũng không có
"năng chứng" và "sở chứng". Các thế giới nhiều như
số cát sông Hằng, đều ở trong tánh Viên Giác, mặc
tình nó sanh diệt như hoa đốm giữa hư không. Ba đời
đều bình đẳng, rốt ráo không qua lại. Các Bồ Tát và
chúng sanh đời sau, phải như thế tu hành, mới vào
được Đạo Phật.
BÀI THỨ TƯ
IV. CHƯƠNG KIM CANG TẠNG
1. Ngài Kim
Cang Tạng Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát.
3. Phật dạy: Người mê nói ngộ, ngộ ấy thành mê.
4. Phật dùng thí dụ để giải thích nghĩa trên.
5. Các Pháp hư huyễn không có thật sanh và diệt.
6. Thành Phật rồi không trở lại làm chúng sanh.
7. Tánh Viên Giác phi tất cả tưởng.
8. Tánh Viên Giác không thể nghĩ bàn.
9. Không thể dùng tâm chúng sanh phân biệt được cảnh
Phật.
10. Phật nói bài kệ tóm lại các ý nghĩa trên.
IV.
CHƯƠNG KIM CANG TẠNG 1.
Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát ở trong đại
chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng,
và kính cẩn chắp tay, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi
quỳ thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, Ngài đã vì các vị
Bồ Tát nói rõ tánh "Viên Giác thanh tịnh" của Như
Lai, và chỉ dạy những phương tiện, tuần tự tu hành
để nhập tánh Viên Giác. Ngài đã vén mở mây Vô minh
mờ ám cho các chúng sanh. Thỉnh chúng trong pháp hội
này, nhờ lòng từ bi của Phật khai hóa, mà mắt trí
huệ được sáng tỏ.
Bạch đức Thế Tôn:
1. Nếu các chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến
nay, thì tại làm sao lại có tất cả Vô minh để trở
lại làm chúng sanh nữa?
2. Nếu chúng sanh sẵn có các Vô minh, thì do
nhơn duyên gì mà
đức
Như Lai lại nói: "Chúng sanh đã thành Phật từ xưa
đến nay?"
3. Nếu 10 phương chúng sanh đã thành Phật từ
xưa, về sau lại sanh ra Vô minh; vậy thì các đức Như
Lai hiện nay đã thành Phật rồi, chừng nào các Ngài
sanh trở lại phiền não nữa?
Cúi xin đức Đại Bi Thế Tôn, vì các vị Bồ Tát
hiện tại và tất cả chúng sanh đời sau, nhổ sạch gốc
rễ nghi lầm, khiến cho chúng sanh được ngộ nhập đạo
vô thượng.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này, Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát
nghi: Có Vô minh thì gọi là chúng sanh, không Vô
minh mới kêu là Phật. Thế mà Đức Như Lai lại nói:
"Chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến nay."
Nếu chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến nay,
thì phải không còn Vô minh. Nếu không còn Vô minh,
thì không còn gọi là chúng sanh nữa. Tại làm sao
Phật còn gọi: "Chúng sanh?"
Lại nữa, nếu chúng sanh sẵn có Vô minh thì
không thể nói "nguyên lai thành Phật". Tại sao Phật
lại nói: "chúng sanh nguyên lai đã thành Phật."
Chúng sanh tu hành phải trải qua ba vô số kiếp
mới thành Phật. Nếu khi được thành Phật rồi, Vô minh
trở lại khởi lên làm chúng sanh nữa, thì tu biết
chừng nào cho rồi! Lại nữa, chư Phật hiện nay đã
thành Phật, vậy chừng nào các Ngài nổi vô minh trở
lại làm chúng sanh nữa?
Đoạn này giống như trong Kinh Lăng Nghiêm, khi
Ngài Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử hỏi Phật: "chơn tâm
vốn đã thanh tịnh tại sao thoạt sanh ra sơn hà
đại
địa và các chúng sanh?"
2.
Phật khen Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Khi đó đức Thế Tôn khen Ngài Kim Cang Tạng Bồ
Tát và dạy rằng:
- Này Thiện nam, quý lắm! Ông vì các vị Bồ Tát
hiện tại và chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai
những đạo lý diệu huyền.
Nay ta vì các ông nói giáo pháp Đại thừa,
nghĩa lý rốt ráo và cao thượng, khiến cho các vị Bồ
Tát tu học trong mười phương, và tất cả chúng sanh
đời sau, đều đoạn trừ hết các điều nghi ngờ, đặng
tín tâm chắc chắn. Vậy các ông nên chăm chú nghe lời
ta chỉ dạy.
Khi đó Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát và
đại
chúng đều vui mừng, kính cẩn vâng nghe lời Phật chỉ
giáo.
Lược
Giải
Kim Cang là chất ngọc quý, cứng rắng nhứt
trong loại ngọc. Nó đã cứng mà lại bén (sắc), hay
phá hoại các vật, mà các vật không phá hoại được nó.
Đoạn này Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát đứng lên
thưa hỏi những chỗ khó khăn, là tiêu biểu phải dùng
Kim Cang trí mới phá trừ nổi những mê lầm(Vô minh)
sâu sắc.
Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát cũng là một vị
Thượng thủ trong hàng Bồ Tát.
3.
Phật dạy: Người mê nói ngộ, Ngộ ấy thành mê.
- Này Thiện nam! Tất cả các pháp, có thủy
chung, sanh diệt, tiền hậu, hữu vô, nào tụ tán, khởi
dừng, xoay vần, qua lại, các món thủ xả, mỗi niệm
nối luôn. Những loại kể trên đều là luân hồi cả.
Người chưa ra khỏi luân hồi mà nghĩ bàn đến Viên
Giác, thì tánh "Viên Giác" đó cũng trở thành luân
hồi (Vị xuất luân hồi nhi biện Viên Giác, bĩ Viên
Giác tánh tức đồng lưu chuyển). Nếu người ra khỏi
luân hồi (hết mê vọng rồi) thì không còn thấy có các
việc hư vọng ấy nữa.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật nói: Người còn ở trong
vòng "mê" mà nói việc "ngộ" thì cái "ngộ" ấy cũng
thành "mê". Dùng tâm chúng sanh nghĩ bàn đến cảnh
giới Phật, thì cảnh giới Phật cũng thành chúng sanh.
Dùng tâm luân hồi mà nghĩ bàn đến tánh Viên Giác,
thì tánh "Viên Giác" cũng trở thành luân hồi.
Phật bảo Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát: Nếu ông
đứng trong vòng hư vọng, tương đối, có Thánh có
phàm, có chúng sanh, có Phật v.v... mà luận đến cảnh
giới tuyệt đối, bất tư nghị của chư Phật thì không
thể được. Bởi thế nên người muốn hiểu chỗ cao siêu
của đạo Phật thì cần phải tu, chớ không thể nói
suông mà hiểu được.
4.
Phật dùng thí dụ để giải thích nghĩa trên.
- Này Thiện nam! Thí như: vì con mắt nháy mà
thấy nước dợn sóng; vì mắt xem không kịp mà thấy
thành vòng lửa; nhơn mây bay mà thấy mặt trăng chạy;
vì thuyền đi mà thấy bờ trôi. Trong lúc các vật đây
động, như mắt nháy, mây bay, thuyền chạy v.v... mà
các vật yên tịnh kia như nước đứng, lửa đốm, trăng
dừng, còn thấy c huyển động thay, huống chi ông dùng
tâm cấu nhiễm sanh tử luân hồi mà quan sát tánh Viên
Giác thanh tịnh của Như Lai, thì tánh Viên Giác này
làm sao chẳng cấu nhiễm. Thế nên ông mới sanh ra ba
điều nghi vấn trên.
Lược
Giải
Trong đoạn này, Phật dùng những việc tầm
thường trong đời làm thí dụ, như mắt nháy, may bay,
thuyền đi v.v... mà thấy nước dợn, trăng bay, bờ
chạy v..v... để chỉ rõ. Vì dùng tâm cấu nhiễm mê
vọng của chúng sanh mà quan sát nghĩ ngợi đến cảnh
giới của Phật, nên cảnh Phật trở thành tương đối mê
vọng.
Vì Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát dùng tâm phân
biệt đối đãi có không, sanh diệt, thánh phàm v.v...
nên thấy có chúng sanh chưa thành Phật và có Phật đã
thành. Bởi thế nên Ngài sanh ra ba điều nghi ngờ
trên. Nếu Ngài nhập được tánh Viên Giác thanh tịnh
rồi thì những tướng tốt đối đãi như thánh phàm nhiễm
tịnh, sanh tử và Niết Bàn, chúng sanh và Phật đều
không còn. Lúc bấy giờ Nnài không còn nghi ngờ như
trên nữa. Vì vậy nên đoạn sau Phật quở: "... những
lời ông thưa hỏi đó, chẳng có đúng đắn..."
5.
Phật dạy: các Pháp hư huyễn, không có thật sanh và
thật diệt.
- Này Thiện nam! Thí như người bịnh lòa mắt,
trông nơi hư không vọng thấy có các hoa đốm lăng
xăng. Đến khi bịnh lòa nhặm hết rồi, thì hoa đốm kia
tự diệt. Lúc bấy giờ, người ấy không nên hỏi: "Cái
bịnh lòa nhặm này đã diệt rồi, vậy chừng nào sanh
trở lại nữa?" Tại sao thế? Vì cái lòa nhặm nó vọng
huyễn không có thật thể vậy.
Và, cũng không nên hỏi: "Những chỗ hoa đốm
diệt ở nơi hư không kia, vậy chừng nào hoa đốm ấy
sanh trở lại nữa?" - Tại sao thế? Vì trong hư không
vốn không có hoa đốm, cho nên nó không có sanh ra
hoa đốm hay diệt hoa đốm vậy.
Sanh tử và Niết Bàn đối với tánh Viên Giác,
cũng đồng như hoa đốm sanh diệt trong hư không. Tánh
Viên Giác vẫn nhiệm mầu viên mãn, yên lặng chiếu
soi, lìa cái nhặm Vô minh và cảnh giới hoa đốm.
Này Thiện nam! Nên biết hư không kia còn không
phải tạm có và tạm không, huống chi tánh Viên Giác
của Như Lai là bản tánh của hư không, nó bình đẳng
tùy thuận các duyên, mà lại tạm có và tạm không hay
sao.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: Vô minh và các vọng cảnh,
đều hư huyễn không thật, cũng như hoa đốm và mắt
nhặm. Vì hoa đốm với nhặm, đều không phải thật vật,
cho nên nó không thật có sanh và diêt. Bởi thế, khi
hết nhặm rồi, không nên hỏi: "chừng nào nhặm trở lại
nữa?" Hay hoa đốm đã diệt rồi, cũng không nên hỏi:
"chừng nào nó sanh trở lại nữa?"
Hoa đốm và bịnh nhặm, mặc tình nó vọng sanh
vọng diệt, mà hư không lúc nào cũng vẫn thanh tịnh
và yên lặng. Cũng như Vô minh và vọng cảnh, mặc tình
vọng khởi và vọng diệt, mà tánh Viên Giác vẫn thanh
tịnh viên mãn và xa lìa các Vô minh cùng vọng cảnh.
Tánh hư không bình đẳng tùy thuận các đồ vật,
mà hiện ra có tướng vuông và tròn. Cũng như tánh
Viên Giác bình đẳng, tùy thuận các duyên mà hiện ra
tất cả pháp.
Hư không, không phải nhơn lúc hoa đốm diệt mà
nó tạm có, cũng không phải nhơn lúc hoa đốm sanh mà
nó tạm không; bởi tánh hư không thường có và bình
đẳng, tùy hoa đốm mặc tình sanh diệt, nhưng hư không
vẫn không thay đổi.
Cũng thế, tánh Viên Giác thanh tịnh của Như
Lai, thường còn bình đẳng và tùy thuận các pháp.
Không phải nhơn lúc Vô minh diệt mà nó tạm có, hay
Vô minh sanh mà nó tạm không, nó tùy thuận tất cả,
không có chướng ngại.
6.
Phật dùng thí dụ, để chỉ rõ khi thành Phật rồi,
không trở lại làm chúng sanh.
- Này Thiện nam! Thí như chất kim khoáng, sau
khi được nấu lọc, bỏ hết quặng rồi, thì chỉ còn vàng
y. Chất vàng này không phải do nấu lọc mới sanh, vì
nó có sẵn từ trước kia rồi, và khi đã thành vàng y,
cũng không bao giờ trở lại thành quặng nữa, dầu trải
qua bao nhiêu năm, nó cũng không hư hoại.
Tánh Viên Giác thanh tịnh của Như Lai cũng
thế.
Lược
Giải
Phật dùng vàng để thí dụ tánh Viên Giác, dùng
khaỏng dụ chúng sanh. Khi vàng còn ở trong khoáng,
cũng như Phật tánh (Viên Giác) ở trong cái vỏ chúng
sanh. Vì y nơi Phật tánh sẵn có, nên Phật nói:
"chúng sanh đã thành Phật."
Khi chất kim khoáng được đem ra nấu luyện, lọc
bỏ hết quặng chỉ còn vàng y, thì vàng này không còn
trở lại làm khoáng nữa.
Cũng như chúng sanh, sau khi trải qua thời
gian tu luyện, gạn lọc hết Vô minh, phiền não, tánh
Viên Giác hiện ra, được thành Phật rồi; lúc bấy giờ
không còn khởi Vô minh phiền não trở lại làm chúng
sanh nữa.
Dầu chưa được nấu luyện, lọc bỏ quặng ra, lúc
ấy chất vàng vẫn sẵn có. Đến khi nấu luyện, lọc bỏ
hết quặng thành vàng y rồi, không phải lúc bấy giờ
vàng mới có. Tánh Viên Giác cũng thế, khi làm chúng
sanh, nó vẫn sẵn có, nên nói: "chúng sanh đã thành
Phật". Trải qua thời gian tu luyện trừ hết Vô minh
phiền não, tánh Viên Giác hiện ra, không phải lúc
bấy giờ nó mới sanh.
Khi tánh Viên Giác đã hoàn toàn hiện rồi, thì
Vô minh phiền não không còn sanh trở lại nữa, nên
nói: "Thành Phật rồi, không còn trở lại làm chúng
sanh."
7.
Tánh Viên Giác phi tất cả tướng.
- Này Thiện nam! Tánh Viên Giác mầu nhiệm của
Như Lai vốn không có Bồ Đề, và Niết Bàn, không có
thành Phật và chẳng thành Phật, cũng không có luân
hồi và phi luân hồi.
Lược
Giải
Đứng về phương diện tương đối mà nói: Vì có
phiền não nên có Bồ Đề, có sanh tử nên có Niết Bàn,
có luân hồi nên mới có giải thoát, có chúng sanh mới
có Phật.
Song đứng về phương diện lý tánh tuyệt đối,
tức là tâm Viên Giác mầu nhiệm của Như Lai mà nói,
thì phiền não đã không, nên Bồ Đề chẳng có, sanh tử
đã không, nên Niết Bàn chẳng có, cho đến chúng sanh
đã không, nên Phật cũng chẳng có.
Đến cảnh giới này, thì nói năng không trúng,
suy nghĩ cũng chẳng nhằm. Hành giả phải tự chứng
nhập.
8.
Tánh Viên Giác không thể nghĩ bàn.
- Này Thiệân nam! Rất dỗi như cảnh giới Niết
Bàn thân tâm đoạn diệt của Thinh Văn (1) Tiểu thừa
kia, còn không thể dùng tâm phân biệt mà thân chứng
được, huống chi cảnh giới Viên Giác thanh tịnh của
Như Lai mà lại dùng tâm suy nghĩ so đo của chúng
sanh, làm sao nhập được.
Cũng như người dùng lửa đom đốm, để đốt núi Tu
Di, làm sao đốt được. Người dùng tâm luân hồi, sanh
vọng chấp luân hồi, mà muốn vào biển Niết Bàn tịch
tịnh của Như Lai thì không thể được.
Thế nên ta dạy: Tất cả các vị Bồ Tát và chúng
sanh đời sau, trước phải đoạn hết căn bản sanh tử
luân hồi từ vô thỉ.
Lược
Giải
Cảnh giới Niết Bàn của Thinh Văn là cảnh giới
Tiểu thừa (trầm không thú tịch khôi thân diệt trí)
mà còn không thể nghĩ ngợi được, huống chi cảnh giới
của Phật cao siêu tột bực, mà lại dùng cái vọng tâm
sanh tử luân hồi của phàm phu và trí của Tiểu thừa
để suy nghĩ phân biệt cảnh giới Viên Giác của Như
Lai, thì quyết không thể hiểu được (Dĩ luân hồi tâm,
sanh luân hồi kiến, nhập ư Như Lai đại tịch diệt
hải, chung bất năng chí) cũng như người dùng lửa của
con đom đốm để đốt núi Tu Di thì không thể được.
Bởi thế nên Phật dạy: "trước phải đoạn hết căn
bản sanh tử luân hồi từ vô thỉ", tức là diệt vọng
tâm phân biệt. Cũng như trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật
dạy rành rõ hai món căn bản là:
1. Phải đoạn căn bản của sanh tử luân hồi là
vọng tâm.
2. Phải y trụ nơi căn bản.
_________
(1) Thân tâm đoạn diệt của Thinh Văn – Hàng
Thinh Văn Tiểu thừa rất sợ việc hoá đạo độ sanh, vì
sợ gặp những nghịch cảnh rồi Vô minh phiền não nổi
lên, mà phải bị thối chuyển. Bởi thế nên các Ngài cứ
lo tu giải thoát một mình. Từ đời này cho đến kiếp
nọ, ưa ở chỗ thanh vắng tịch mịch, say đắm cảnh Niết
Bàn của Tiểu thừa, giữ tâm yên tịnh luôn không dám
khởi niệm, say mê với cảnh thiền, thân không lay
động cũng như tro nguội, nên nói: "Thân tâm đoạn
diệt". Chỗ khác gọi rằng: "Trầm không thú tịch khôi
thân diệt trí", nghĩa là: say sưa với cảnh không,
thích thú nơi tịch mịch, thân yên lặng như tro
nguội, tâm trí diêt, không móng niệm.
Bởi thế nên Phật quở hàng Tiểu thừa là loại
giống khô, mộng héo (tiêu nha bại chủng), nghĩa là
thứ giống khô rụi, không thể nứt mộng sanh chồi nữa
được.
Phật lại dạy rằng: Không ai đem giống gieo
trồng trên hư không được, mà phải gieo trồng trên
mặt đất. Giống Bồ Đề cũng thế, không thể gieo trồng
nơi chỗ trống không được, mà phải gieo trồng nơi đất
chúng sanh. Bởi thế nên muốn thành quả Phật Bồ Đề
thì phải hóa độ chúng sanh.
9.
Không thể dùng tâm chúng sanh, phân biệt được cảnh
Phật
- Này Thiện nam! Nếu có suy nghĩ phân biệt là
từ vọng tâm (thức) khởi, nên tất cả suy nghĩ, đều là
cái vọng tưởng phân biệt duyên theo bóng dáng của
sáu trần. Nó hư vọng như hoa đốm trong hư không,
chẳng phải là chơn tâm. Nếu ông dùng cái vọng tâm
suy nghĩ này, mà suy nghĩ cảnh giới của chư Phật,
thì cảnh giới ấy cũng lẩn quẩn trong vòng vọng tưởng
của chúng sanh mà thôi. Cũng như người ngồi trong
đợi cho hoa đốm giữa hư không kết thành ra quả, thì
không có thể được.
Này Thiện nam! Ông dùng tâm hư vọng thô phù,
sanh ra các lối chấp xảo quyệt, (chấp càng) cho nên
ông không thể nhập được cảnh Viên Giác chơn thật của
Như Lai. Bởi thế, nên những lời ông hỏi trên, đều là
hư vọng phân biệt, không phải lời hỏi đúng đắn chơn
thật.
Lược
Giải
Đức Thế Tôn, sau khi trải qua thời gian ba vô
số kiếp tu hành, được thành Phật hiệu là Thích Ca
Mâu Ni rồi, Ngài dạy rằng: "Nói thành Phật thật ra
không thành cái chi khác, mà chỉ trở lại với tánh
Phật sẵn có đó thôi". Trong kinh nói: "Thành mà vẫn
không thành", hay câu: "Ngộ liễu đồng vị ngộ, vô
pháp diệc vô tâm". (Giác ngộ rồi cũng đồng như khi
chưa giác ngộ, vì không có pháp và cũng không có tâm
gì khác).
Tánh Phật này, không riêng gì một mình Ngài
có, mà tất cả chúng sanh đều có sẵn có. Vì căn cứ
theo Phật tánh sẵn có này, nên Ngài nói: "Tất cả
chúng sanh đều có tánh Phật" hay trong Kinh Hoa
Nghiêm nói: "Tất cả chúng sanh đều sẵn có đầy đủ trí
huệ đức tướng của Như Lai." (Nhứt thế chúng sanh cụ
hữu Như Lai trí huệ đức tướng). Bởi thế nên Ngài
nói: "Chúng sanh đã thành Phật từ lâu."
Vậy, người muốn hiểu đến lý này, phải nhập
cảnh giới Phật, trình độ phải gần như Phật mới hiểu
được. Nếu chỉ dùng tâm cấu nhiễm thô phù phân biệt
của chúng sanh, mà so tính đến cảnh giới Phật, thì
làm sao hiểu được. Cũng như người muốn hiểu câu nói
của cụ già tám muơi, ít nhất trình độ cũng gần như
cụ già mới hiểu. Nếu dùng trí non nớt của trẻ con
năm, mười tuổi, mà suy nghĩ câu nói của cụ già thì
làm sao hiểu được. Bởi thế nên Phật nói: "những lời
ông hỏi trên đ
êù
là hư vọng phân biệt, không phải lời hỏi chơn thật."
10.
Phật nói bài kệ để tóm lại các nghĩa trên
Khi ấy Đức Thế Tôn, muốn tóm lại các nghĩa
trên, nên nói kệ rằng:
Kim Cang
Tạng! Nên biết,
Như Lai tánh vắng lặng.
Chưa từng có chung thỉ,
Nếu dùng tâm luân hồi.
Suy nghĩ cảnh giới Phật,
Cảnh Phật thành luân hồi.
Người ở bờ luân hồi,
Không thể vào biển Phật.
Phật tánh tuy sẵn có,
Phải tu mới hiển nhiên.
Cũng như vàng sẵn có,
Phải lọc quặng mới thành.
Khi đã thành vàng y,
Không trở lại làm quặng.
Sanh tử và Niết Bàn,
Phàm phu cùng chư Phật,
Thảy đều như hoa đốm.
Tâm suy nghĩ đã huyễn,
Làm sao nhập được chơn.
Nếu rõ được tâm nầy,
Mới cầu được Viên Giác.
Lược
Giải
Bài kệ này tóm lại các nghĩa trên. Đại ý nói:
Tánh Viên Giác của Phật thanh tịnh vắng lặng, không
có thánh phàm, chúng sanh và Phật v.v... Nếu dùng
tâm phân biệt của chúng sanh mà phân biệt cảnh giới
Phật, thì cảnh Phật cũng thành cảnh chúng sanh.
Chúng sanh tuy sẵn có Phật tánh, nhưng phải
nhờ có tu mới hiển. Cũng như chất vàng tuy sẵn có
trong khoáng, nhưng phải nhờ lọc hết quặng mới thành
vàng y. Khi đã thành vàng y rồi thì không còn trở
lại làm quặng nữa. Cũng như khi đã thành Phật rồi
không còn trở lại làm chúng sanh.
Bởi đứng trong vòng vọng nhiễm tương đối, nên
thấy có sanh tử và Niết Bàn, chúng sanh và Phật; chớ
đứng về tánh Viên Giác thanh tịnh của Như Lai, thì
các pháp trên đây đều như hoa đốm giữa hư không.
Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát vì muốn đại diện cho
phàm phu, nên đã dùng tâm vọng nhiễm của chúng sanh
mà suy nghĩ so đo, thấy có chúng sanh và Phật, và
giả thốt ra các lời hỏi hư vọng ấy. Những lời hỏi
này, đối với cảnh Viên Giác chơn thật của Như Lai,
thì chẳng nhằm chi cả. Bởi thế nên Phật quở rằng:
"Những lời ông hỏi đều không chơn chánh."
Vậy nên, hành giả phải rời các vọng niệm phân
biệt, mới hiểu được tánh Viên Giác.
BÀI THỨ NĂM
V. CHƯƠNG DI LẶC Bồ Tát
1. Ngài Di
Lặc Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Di Lặc Bồ Tát.
3. Phật dạy: Ái và Dục là gốc rễ của sanh tử luân
hồi.
4. Phật trả lời câu hỏi: "Có mấy loại chúng sanh
luân hồi?"
5. Bồ Tát hiện thân, không phải do Ái dục, mà do
lòng Đại bi và Nguyện lực.
6. Phật nói: có năm chủng tánh.
7. Bồ Tát thị hiện các hình tướng và cảnh thuận
nghịch để nhập thế độ sanh.
8. Chỉ nguyện thành Phật, không ở Nhị thừa và chớ
gặp ngoại đạo tà sư.
9. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
V.
CHƯƠNG DI LẶC Bồ Tát
1.
Ngài Di Lặc Bồ Tát hỏi Phật.
Khi đó Ngài Di Lặc Bồ Tát ở trong đại chúng
đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng và chấp
tay kính cẩn, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi qùy thẳng
bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, Ngài đã vì các vị
Bồ Tát và
đại
chúng, mở kho báu bí mật của Như Lai (Viên Giác cảnh
giới) và làm cho đại chúng hiện tại cùng chúng sanh
đời sau, được con mắt đạo sáng suốt không lo sợ,
phân biệt được việc tà chánh, hiểu sâu lý luân hồi,
đối với cảnh Đại Niết Bàn (Niết Bàn Đại thừa) sanh
lòng tin chắc chắn, không còn khởi các vọng chấp,
trở lại cảnh giới luân hồi nữa.
Bạch Đức Thế Tôn:
1. Các vị Bồ Tát và chúng sanh đời sau, làm
sao đoạn được gốc rễ luân hồi, để vào biển Đại Tịch
Diệt của Như Lai?
2. Có mấy loại chúng sanh luân hồi?
3. Có mấy hạng người tu theo đạo Bồ Đề của
Phật?
4. Khi Bồ Tát nhập thế độ sanh, phải dùng
những phương tiện gì để giáo hóa chúng sanh?
Cúi xin Đức Thế Tôn, rủ lòng đại bi cứu thế,
chỉ dạy cho các vị Bồ Tát hiện tại và chúng sanh đời
sau, khiến cho chúng sanh, gương lòng được sáng tỏ,
mắt trí huệ trong xanh, viên ngộ được "Tri kiến vô
thượng" của Như Lai.
Ngài Di Lặc Bồ Tát thưa thỉnh như vậy ba lần,
và kính cẩn lạy Phật rồi trở lui.
Lược
Giải
Vì trong chương Kim Cang Tạng, Phật dạy:
"Trước phải đoạn gốc rễ của luân hồi từ vô thỉ", nên
chương này Ngài Di Lặc Bồ Tát hỏi: "... Làm sao đoạn
được gốc rễ luân hồi? Và có mấy loại chúng sanh luân
hồi?"
Đại ý đoạn này Ngài Di Lặc Bồ Tát hỏi:
1. Làm sao đoạn được gốc rễ luân hồi để vào
biển Đại Niết Bàn của Như Lai?
2. Có mấy loại chúng sanh luân hồi?
3. Có mấy hạng người tu đạo Bồ Đề của Phật?
4. Khi Bồ Tát nhập thế độ sanh, phải dùng
những phương tiện gì thể giáo hóa chúng sanh?
Biển Đại Tịch Diệt. Tức là Niết Bàn của Đại
thừa, rộng rãi bao la như biển cả, đã thanh tịnh mà
yên lặng nên gọi rằng "Tịch diệt". Đủ cả bốn đức là:
Chơn thường, Chơn lạc, Chơn ngã và Chơn tịnh. Cũng
là một cái tên khác Viên Giác hay chơn tâm.
Đức Di Lặc Bồ Tát. -Tiền thân: Trong vô số
kiếp về trước, có Phật ra đời hiệu là Đại Thông Trí
Thắng Như Lai, lúc bấy giờ Ngài (đức Di Lặc) và
đức
Phật Thích Ca (tiền thân) đồng phát tâm Bồ Đề. Đến
khi đức Phật Nhựt Nguyệt Đăng Minh ra đời, thì Ngài
mới phát tâm xuất gia nhưng tánh hay giải đãi, quen
theo lối phong lưu đ
ài
các, phóng túng, chẳng chịu thúc liểm tu hành, nên
thành Phật trễ sau đức Thích Ca, vào tiểu kiếp thứ
mười.
Về sau nhờ đức Phật Thích Ca dạy cho pháp tu
Duy Thức, Ngài quán thấy "Tam giới duy tâm, vạn pháp
duy thức."
Vì nhận thấy giàu sang phú quý, danh vọng
quyền tước... đều như bóng trong gương như trăng
dưới nước, do thức tâm biến hiện, nên Ngài tảo trừ
hết vọng tưởng say mê về hư vọng giả cảnh, trừ tánh
"biến kế sở chấp" trên "y tha", ngộ được tánh "viên
thành thật" nên được Phật Thích Ca thọ ký cho Ngài
sau sẽ thành Phật ở thế giới Ta Bà này.
Thân hiện tại của đức Di Lặc: Cách đây 2500
năm (544, trước T.L), khi Phật Thích Ca giáng sanh
tại Ấn Độ, thì Ngài hiện thân vào nhà của Bà La Môn
trên là Ba Bà Lợi ở về Nam Thiên Trúc, nhằm ngày
mùng một tháng giêng âm lịch. Họ của Ngài là A Dật
Đa (không ai hơn), tên Di Lặc (Từ Thị). Tên họ này
tiêu biểu lòng từ bi, hỷ xả vô biên của Ngài. Từ bao
nhiêu kiếp cho đến ngày thành Phật, Ngài cũng vẫn
lấy hiệu là Di Lặc.
Kinh Di Lặc thượng sanh có nói: Ngày rằm tháng
2 (tháng tư ta) sau khi nói kinh này 12 năm, thì
Ngài nhập diệt tại chỗ bản sanh, rồi Ngài sanh lên
nội viện cõi trời Đâu Suất để chờ khi thế giới này
giảm rồi tăn trở lại trong khoảng kiếp tăng, loài
người hưởng thọ tám vạn tuổi, lúc bấy giờ Ngài mới
giáng xuống cõi này, rồi sau đến ngồi gốc cây Long
Hoa tu thành ngôi Chánh Giác. Ngài thành Phật rồi
hóa độ chúng sanh vô lượng đến sáu vạn năm mới nhập
diệt.
Hóa thân của đức Di Lặc. Kinh chép "Bồ Tát dĩ
lợi sanh vi bổn hoài". Bồ Tát lấy việc cứu độ làm
lợi ích cho chúng sanh làm bổn phận của mình. Ngài
hiện ra nhiều thân để lẫn lộn với từng lớp người
đặng hóa độ chúng sanh. Trong các hóa thân của Ngài,
các Phật tử ở Tàu cùng ở Việt nam hiểu nhiều và thờ
nhiều hơn hết là thân Ngài Bố Đại Hòa Thượng. Ngài
hiện thân làm một vị hòa thượng tại đất Minh Châu
huyện Phụng Hóa bên Tàu. Ngài thường quảy cái đãy
bằng vải đi khắp chợ búa xóm làng, ai cho vật chi
Ngài đều bỏ hết vào đãy mang đi. Ngài tụ họp các trẻ
con lại, rồi phân phát cho chúng bánh kẹo, giảng dạy
Phật pháp, trò chuyện rất vui thú, nên Ngài đi đến
đâu thì các em tụ họp đông đảo đến đó.
Ngài thường giảng kinh cho người nghèo, làm
nhiều điều mầu nhiệm lạ thường. Lúc bấy giờ thiên hạ
không ai hiểu đặng Ngài là người như thế nào cả, chỉ
cùng nhau kêu là vị Bố Đại Hòa Thượng (ông hòa
thượng mang đãy bằng vải). Đến đời Lương niên hiệu
Trịnh Minh năm thứ ba, tháng ba, Ngài nhóm chúng lại
tại chùa Nhạc Lâm, rồi Ngài ngồi ngay thẳng nói bài
kệ:
Di Lặc chơn
Di Lặc,
Hóa thân thiên bách ức.
Thời thời thị thời nhơn,
Thời nhơn giai bất thức.
(Di Lặc thật là Di Lặc, biến hóa trăm ngàn ức
thân, thường hiện trong đời, mà người đời chẳng ai
biết.) Nói xong kệ rồi, Ngài an nhiên nhập diệt. Kẻ
tăng người tục đều cùng nhau đến lễ bái cúng dường
và dựng tượng Ngài thờ tại điện ở phía Đông chùa
Nhạc Lâm bên Tàu.
Vì căn cứ theo ứng thân này, nên trong các
chùa ở Tàu hay Việt Nam thường thờ tượng Ngài Bố Đại
Hòa Thượng với vẻ mặt hiền từ hân hoan, miệng cười
vui vẻ, tượng trưng cho đức hoan hỷ. Người béo bụng
to, hay cầm cái đãy. Chung quanh có sáu em bé đang
leo trèo lên mình Ngài, là tượng trưng cho lục tặc
(sáu giặc) khi đã bị Ngài hàng phục. Đây là hóa thân
trong trăm ngàn hóa thân của đức Di Lặc Bồ Tát.
Tương lai của đức Di Lặc. Hiện nay đức Di Lặc
là một vị Bổ Xứ Bồ Tát đang ở nội viện cung trời Đâu
Suất, đợi đến khi thế giới này hết kiếp giảm thứ 9
rổi, đến kiếp tăng thứ 10, trong lúc nhơn loại hưởng
thọ được trên tám vạn tuổi, lúc bấy giờ Ngài mới
gián sanh xuống cõi này, trong nhà của một vị Bà La
Môn tên là Tu Phạm Ma, thân mẫu của Ngài tên Phạm Ma
Bạt Đề. Khi sanh ra Ngài có nhiều tướng tốt, đức
hạnh vẹn toàn, thông minh quán chúng. Lớn lên Ngài
xuất gia tu hành đến núi Kê Túc để nhận lãnh y bát
của Đức Phật Thích Ca, do Ngài Ma Ha Ca Diếp trao
lại, rồi sau Ngài đến ngồi dưới gốc cây Long Hoa
dùng Kim Cang trí trừ sạch vi tế Vô minh, chứng đạo
Vô Thượng Bồ Đề.
Ngài thuyết pháp tại giảng đường Hoa Lâm dưới
cây Long Hoa. Hội thứ nhất độ được chính mươi sáu ức
người thành A La Hán, hội thứ hai độ chín mươi bốn
ức người thành A La Hán, hội thứ ba độ chính mươi
hai ức người thành A La Hán. Thế nên gọi là "Long
Hoa Tam Hội". Ngài thuyết pháp đến sáu vạn năm, hóa
độ vô số chúng sanh.
2.
Phật khen Ngài Di Lặc Bồ Tát.
Khi ấy đức Thế Tôn khen Ngài Di Lặc Bồ Tát và
dạy rằng:
- Này Thiện nam, quý lắm! Ông vì các vị Bồ Tát
hiện tại và chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai
những nghĩa lý cao siêu huyền diệu, khiến cho các vị
Bồ Tát đều được con mắt trí huệ thanh khiết và tất
cả chúng sanh đời sau đoạn tuyệt được sanh tử luân
hồi, tâm ngộ thật tướng(1) và chứng được vô sanh
nhẫn(2). Các ông nên chăm chú nghe, ta sẽ vì các ông
chỉ dạy.
Khi ấy Ngài Di Lặc Bồ Tát và
đại
chúng đều vui mừng kính cẩn, vâng nghe lời Phật khai
thị.
Lược
Giải
Đoạn này Phật khen Ngài Di Lặc Bồ Tát: Nhở lời
ông hỏi, để Phật chỉ giáo, nên khiến các vị Bồ Tát
hiện tại, mắt trí huệ được sáng tỏ và chúng sanh đời
sau cũng nhờ câu hỏi này mà vĩnh viễn ra khỏi luân
hồi.
_________
(1) Thật tướng: Tướng chơn thật, không hư
vọng, không bị thời gian thay đổi, không gian chuyển
đổi, suốt xưa thấu nay, nó vẫn thường như; cũng một
biệt danh của "Viên Giác".
(2) Vô sanh nhẫn: Chữ "nhẫn" là an nhẫn, an
trụ hay là chứng. Chữ "vô sanh" là không sanh. Nghĩa
là: an trụ chỗ Ngã và Pháp không còn sanh khởi, tức
là an trụ "chơn tâm".
3.
Phật dạy: Ái và Dục là gốc rễ của sanh tử luân hồi.
- Này Thiện nam! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ
đến giờ, đều do món "ân ái và tham dục" cho nên mới
bị sanh tử luân hồi. Tất cả chúng sanh trong thế
giới tóm lại có bốn loài:
1. Loài sanh trứng.
2. Loài sanh con.
3. Loài sanh chỗ ẩm ướt.
4. Loài hóa sanh.
Các loại chúng sanh này, đều do "dâm dục" mà
tạo thành tánh mạng của nó (nhứt thế chúng sanh giai
dĩ dâm dục nhi chánh tánh mạng).
Bởi thế, nên các ông phải biết: gốc rễ của
sanh tử luân hồi là "Ái" và "Dục" vậy. Vì có "dục"
cho nên mới sanh ra ái luyến, do "luyến ái" nên mới
sanh tử tử sanh, nối luôn không dứt.
Lược
Giải
Đoạn này Phật chỉ ngay gốc rể của sanh tử luân
hồi là "ân ái và tham dục". Chính như thân mạng của
các chúng sanh đây, cũng đều do dâm dục tạo thành.
Bởi thân mạng đã do ái dục sanh, nên thân mạng
còn thì ái dục còn, ái dục còn thì thân mạng còn.
Trong kinh Phật danh chép: "Có ái dục thì
sanh, ái dục hết thì diệt; cho biết gốc rễ của sanh
tử là tham ái (hữu ái tắc sanh, ái tận tắc diệt, cố
tri sanh tử, tham ái vi bổn).
Trong kinh Niết Bàn cũng nói: "nhơn ái sanh
ưu, nhơn ưu sanh bố, nhược ly tham ái, hà ưu hà bố".
Nghĩa là: Vì tham ái nên mới sanh lo, nhơn lo mới
sanh sợ, nếu nguời lìa được ái dục rồi, thì có lo gì
và sợ gì?
Bốn loài:
1. Noãn sanh: loài sanh trứng, như loài chim,
cá v.v...
2. Thai sanh: loài sanh con, như loài người và
thú v..v...
3. Thấp sanh: loài sanh chỗ ẩm ướt, như lăng
quăng, vi trùng v.v...
4. Hóa sanh: như loài nhộng hóa làm bướm, hoặc
như loài địa ngục, ngạ quỷ và chư Thiên v.v...
- Này Thiện nam! Nhơn ái luyến nên sanh ra
"dục", do dục nên mới có thân mạng. Bởi thế, nên
truy tầm đến cội gốc của nói, thi chúng sanh ái
luyến thân mạng tức là ái luyến "dục". Ái luyến dục
là "nhơn", mà ái luyến thân mạng là "quả".
Lược
Giải
Ngài Tôn Mật nói: "Do cảnh dục trần bên ngoài
nó trêu ghẹo, làm cho tâm sanh ái luyến; do tấm ái
luyến, cho nên mới sanh ra tham dục. Vì tham dục nên
tạo nghiệp, do tạo nghiệp nên mới thọ quả. Khi thọ
quả khổ rồi trở lại tạo nghiệp nữa. Vì thế nên sanh
tử không cùng".
4.
Phật trả lời câu hỏi: "Có mấy loại chúng sanh luân
hồi?"
- Này Thiện nam! Cảnh hồng trần có lắm điều
xuôi ngược, nếu người khi gặp nghịch cảnh, sanh tâm
giận ghét, tạo ra các nghiệp dữ, thì đọa vào Địa
ngục, Ngạ quỉ và Súc sanh.
Nếu người biết nhàm cảnh dục, ưa tạo nghiệp
lành, chán chê ác nghiệp, thì lại sanh về cõi người
và cõi Trời Dục giới.
Còn những người nhàm chê cảnh trần lao, ô
nhiễm ở cõi Dục, tham ái cảnh Tứ Thiền và Bát Định
của hai cõi trên, như thế cũng còn tư dưỡng gốc tham
ái, cho nên sanh về hai cõi hữu vi là "Trời Sắc
giới" và "Vô Sắc giới".
Các loại chúng sanh trên đây, đều còn trong
vòng sanh tử luân hồi, vì còn các tham ái, nên chẳng
thành Thánh đạo. Thến nên, chúng sanh nào muốn thoát
ly sanh tử luân hồi, thì trước phải đoạn trừ các
tham dục và tâm ái luyến.
Lược
Giải
Đoạn trên là Ngài Di Lặc Bồ Tát hỏi: "Có mấy
loại chúng sanh luân hồi?" Đến đoạn này Phật trả lời
có ba loại chúng sanh luân hồi:
1. Ác nghiệp: Như Địa ngục, Ngạ quỉ và Súc
sanh (nghiệp ác bực thượng thì đọa vào địa ngục,
nghiệp ác bực trung thì đọa làm Ngạ quỉ, nghiệp ác
bực hạ thì đọa làm Súc sanh).
2. Thiện nghiệp: Đây là nói về hữu lậu thiện.
Như: Thiên, Nhơn và Thần A Tu La (Nghiệp lành bực
thượng thì sanh lên 6 cõi Trời về Dục giới, nghiệp
lành bực trung thì sanh về cõi Người, nghiệp lành
bực hạ thì sanh làm thần A Tu La).
3. Bất động nghiệp (Thiền định): – Như cõi
Trời Tứ Thiềân và Tứ Không. Do tu thiền định mà
được
sanh về bốn cõi Thiền ở Sắc giới (1. Ly, sanh hỷ lạc
địa; 2. Định, sanh hỷ lạc địa; 3. Ly hỷ, diệu lạc
địa; 4. Xả niệm, thanh tịnh địa). Và bốn cõi Không,
ở cõi Trời Vô sắc (1. Không vô xứ thiện; 2. Thức vô
biên xứ thiên; 3. Vô sở hữu xứ thiên; 4. Phi tưởng
phi phi tưởng xứ thiên).
Ba loại chúng sanh này (ác nghiệp, thiện
nghiệp và bất động nghiệp) tuy có cao thấy, sang hèn
khác nhau, nhưng cũng đều còn ái và dục, chẳng qua
thô hay tế đó thôi. Ái dục còn tức là phiền não hữu
lậu còn; vì phiền não hữu lậu còn nên phải còn sanh
tử luân hồi.
Tóm lại, vì chúng sanh trong ba cõi (Dục giới,
Sắc giới và Vô Sắc giới) còn ái nhiễm nên đều còn
luân hồi cả.
Kết thúc đoạn này, Phật dạy một câu: "...Thế
nên chúng sanh, muốn ra khỏi sanh tử luân hồi, thì
trưóc hết phải đoạn trừ ân ái và tham dục" (Thị cố
chúng sanh, dục thoát sanh tử, miễn chư luân hồi,
tiên đoạn tham dục, cập trừ ái khát).
Phật dạy Pháp tu ra khỏi sanh tử luân hồi, vỏn
vẹn chỉ có một câu thôi: "Phải đoạn ân ái và tham
dục."
Rất giản dị và rõ ràng vô cùng. Thật là "khuôn
vàng thước ngọc", đáng làm quy cũ cho muôn đời! Hành
giả chỉ thực hành đúng như lời Phật dạy đây, đó là
Tu, Tu là
đó
rồi.
Cũng như trong kinh Lăng Nghiêm Phật dạy rằng:
"...Dâm Tâm
bất trừ,
Trần bất khả xuất..."
Nghĩa là: Tâm nghĩ ngợi đến việc tham dục, nếu
không dứt trừ, thì cảnh hồng trần này không biết bao
giờ ra khỏi.
5.
Bồ Tát hiện thân, không phải do ái dục mà do lòng
đại bi và nguyện lực.
- Này Thiện nam! Các vị Bồ Tát hóa hiện thân
hình ở trong thế gian, không phải vì ái dục nhiễm ô
như chúng sanh, mà gốc do lòng từ bi và
đại
nguyện cứu thế, nên đã hiện ra thân tham dục để vào
sanh tử hóa độ chúng sanh, khiến cho chúng sanh xả
bỏ các ái dục.
Lược
Giải
Vì sợ có người hiểu lầm: Bồ Tát củng có phụ
mẫu, thê tử, v.v... tất nhiên phải có ái dục, nhiễm
ô và cũng thật sanh tử như chúng sanh, nên đoạn này
Phật giải thích: Bồ Tát do lòng từ bi và
đại
nguyện cứu thế, nên hiện ra thân tham dục, để vào
sanh tử, đặng hóa độ chúng sanh, chớ không phải thật
có tham dục và sanh tử.
6.
Phật dạy: Có năm chủng tánh.
- Này Thiện nam! Nếu tất cả chúng sanh đời
sau, bỏ được các tham dục, trừ tâm thương ghét, dứt
hẳn sanh tử luân hồi, nơi tâm được thanh tịnh, cầu
nhập cảnh giới Viên Giác của Như Lai thì sẽ được ngộ
nhập.
- Này Thiện nam! Tất cả chúng sanh gốc từ Vô
minh tham dục, nên sanh ra năm món tánh sai khác.
Năm món tánh này là căn cứ theo việc đoạn trừ hai
chưóng có cạn và sâu mà phân định.
Thế nào là hai chướng?
1. Lý chướng: làm chướng ngại chánh tri kiến.
2. Sự chướng: làm tiếp nối các sanh tử. Nếu
đối với hai món chướng này má hoàn toàn chưa đoạn
thì gọi là chúng sanh.
Lược
Giải
Đoạn trên Ngài Di Lặc Bồ Tát hỏi: "Có mấy hạng
người tu theo đạo Bồ Đề của Phật?" Đến đoạn này Phật
trả lời có năm hạng. Song năm hạng này là căn cứ
theo việc đoạn trừ hai chướng có cạn và sâu của hành
giả mà phân định.
Lý chướng: Chướng về Lý, cũng tên là "Sở tri
chướng", do chấp pháp mà sanh. Vì chấp pháp nên làm
cho chướng ngại "Chơn như lý tánh" không hiện bày;
vì thế, nên nói: "Lý chương là chướng ngại chánh tri
kiến của Phật."
Sự chướng: Chướng về sự, cũng gọi là "phiền
não chướng, do chấp ngã sanh. Do các phiền não nên
tạo ra các nghiệp vì tạo nghiệp nên mới thọ luân
hồi. Vì thế Phật nói: "Sự chướng làm tiếp nối sinh
tử luân hồi."
Bởi chấp ngã nên khởi ra các phiền não làm
chướng ngại Bồ Đề. Bởi chấp ngã nên sanh ra Sở tri
chướng, làm phát tâm tu hành, đối với hai món chướng
này chưa đoạn được món nào, cho nên chỉ kêu là
"chúng sanh" mà không liệt vào trong năm chủng tánh.
- Này Thiện nam! Thế nào là năm chủng tánh?
1. Thinh văn
chủng tánh.
2. Duyên giác chủng tánh.
3. Bồ Tát chủng tánh.
4. Bất định chủng tánh.
5. Ngoại đạo chủng tánh.
1 - 2. Thinh Văn và Duyên Giác chủng tánh.
Nếu chúng sanh nào đoạn tuyệt tham dục, trừ
được sự chướng (ngã chấp) nhưng lý chướng (pháp
chấp) chưa đoạn, thì chỉ chứng đặng quả Thinh Văn và
Duyên Giác chớ chưa được an trụ cảnh giới Bồ Tát.
Lược
Giải
Đoạn này nói về chủng tánh Thinh Văn và Duyên
Giác, chung gọi là "nhị thừa chủng tánh".
Đành rằng hai quả vị này đồng bỏ hẳn lòng tham
dục, đồng phá được ngã chấp, trừ sự chướng, đồng
đoạn được sanh tử và cũng đồng chưa trừ được lý
chướng (pháp chấp) nhưng pháp tu của hai bên khác
nhau.
- Một bên tu pháp Tứ Đế đoạn được sự chướng
(ngã chấp) thì gọi là "thinh văn chủng tánh".
- Một bên tu pháp Thập nhị nhơn duyên đoạn
được sự chướng (ngã chấp) thì gọi là "Duyên giác
chủng tánh".
Ngài Tôn Mật giải rằng: "Biết được khổ sanh
tử, dứt trừ tâm leo chuyền, thì gọi là trừ "sự
chướng", thật ra chưa có thể trừ được ba món Tế" (ba
món Tế, xem trong quyển Đại Thừa Khởi Tín luận).
3. Bồ Tát Chủng tánh.
- Này Thiện nam! Nếu các chúng sanh đời sau,
muốn vào biển Đại Viên Giác của Như Lai, thì trước
phải phát nguyện, siêng năng đoạn trừ hai món
chướng. Đến khi hai món chướng đã nép phục, thì ngộ
vào cảnh giới Bồ Tát.
Nếu như khi món chướng (ngã chấp, pháp chấp)
đã hoàn toàn diệt, thì vào được cảnh giới Viên Giác
mầu nhiệm của Như Lai, viên mãn quả Bồ Đề và
đạt
Niết Bàn.
Lược
Giải
Đoạn này nói về Bồ Tát chủng tánh. Có chia làm
hai thời kỳ:
1. Thời kỳ hai chướng mới nép phục.
2. Thời kỳ đoạn tuyệt hai chướng.
Hành giả từ khi còn địa vị phàm phu, đang bị
hai chướng (phiền não chướng và Sở tri chướng) hoành
hành, rồi trải qua giai đoạn giằng co, cho đến lúc
hai chướng bị nép phục, như thế mới vừa lên địa vị
Bồ Tát. Khi lên địa vị Bồ Tát, tiếp tục đoạn chướng,
đến lúc đoạn tuyệt được phiền não chướng (ngã chấp)
thì đặng Bồ Đề (trí đức), đoạn tuyệt được Sở tri
chướng (pháp chấp) thì đặng Đại Niết Bàn (đoạn đức).
Hai chướng bị đoạn vĩnh viễn rồi, thì đặng vào quả
"Phật".
Tại sao lập Bồ Tát tánh mà không lập Như Lai
tánh? Vì Bồ Tát tu hành đến lúc hoàn toàn rốt ráo,
thì chứng quả vị Phật, nên không lập thêm Như Lai
tánh.
4. Bất định chủng tánh.
- Này Thiệïn nam! Có loại chúng sanh có thể
chứng được Viên Giác. Song, nếu chúng gặp Thiện tri
thức là Thinh Văn hóa độ, thì chúng thành Tiểu thừa;
còn gặp Thiện tri thức là Bồ Tát hóa độ thì chúng
thành Đại thừa. Nếu gặp Như Lai dạy tu đạo Vô Thượng
Bồ Đề, thì chúng thành Phật thừa.
Lược
Giải
Đoạn này nói về "Bất định chủng tánh". Nghĩa
là chúng sanh này căn tánh không nhất định Đại thừa
hay Tiểu thừa. Nếu gặp Thiện tri thức thuộc vềø Đại
thừa giáo hóa, thì chúng thành Đại thừa; còn gặp
Thiện tri thức thuộc về Tiểu thừa giáo hóa thì chúng
thành Tiểu thừa.
5.
Ngoại đạo chủng tánh.
- Này Thiện nam! Có những chúng sanh đi tầm
Thiện tri thức chỉ dạy đường lối tu hành, nhưng lại
gặp ngoại đạo tà sư dạy bảo, nên chúng nó sanh ra tà
kiến, hiểu ngộ không chơn chánh, thế gọi là "Ngoại
đạo chủng tánh". Đây không phải lỗi tại chúng sanh
đó, mà lỗi tại tà sư.
Tóm lại, chúng sanh tu Bồ Đề, có năm món chủng
tánh sai khác, như ta vừa kể xong.
Lược
Giải
Đoạn này nói về "ngoại đạo chủng tánh". Tuy
chúng sanh này vẫn có tâm tu hành, nhưng không gặp
"thiện tri thức" giáo hóa, lại gặp tà sư chỉ dạy,
nên thành ngoại đạo.
Vì sự hiểu biết của chúng tà ngụy, không phải
là chánh đạo, nên gọi là "ngoại đạo". Ngoại đạo
chủng tánh, ở kinh khác gọi là "Xiễn đệ chủng tánh",
nghĩa là "đoạn giống Phật". Vì trong bốn chủng tánht
rên, tuy có Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau, nhưng
cũng đều "chánh ngộ", duy có Ngoại đạo chủng tánh,
sanh các tà kiến, đoạn diệt chánh kiến, trái ngược
với chánh nhơn thành Phật cho nên gọi là "chúng xiễn
đề" (đoạn giống Phật).
7.
Bồ Tát thị hiện các hình tướng và các cảnh thuận
nghịch để nhập thế độ sanh.
- Này Thiện nam! Các vị Bồ Tát đều y bổn
nguyện độ sanh của mình từ vô thỉ và do lòng đại bi
thanh tịnh (1) thúc đẩy nên nhập thế độ sanh. Bồ Tát
dùng phương tiện thị hiện ra nhiều hình tướng, khi
thì hiện cảnh thuận, khi thì hiện cảnh nghịch, có
lúc lại lân la ở chung với chúng sanh và
đồng
làm các nghề nghiệp như chúng sanh (đồng sự nhiếp)
để tiện bề hóa độ, khiến cho chúng sanh được thành
Phật.
Lược
Giải
Đoạn trên Ngài Di Lặc Bồ Tát hỏi Phật: "Khi Bồ
Tát nhập thế độ sanh, phải dùng những phương tiện gì
để giáo hóa chúng sanh?"
Đại ý đoạn này Phật trả lời: Bồ Tát do bản
nguyên độ sanh từ vô thỉ (Bồ Tát dĩ lợi sanh vì bổn
hoài), và lòng đại bi thanh tịnh thúc giục, nên mới
nhập thế độ sanh; không đồng như chúng sanh do ái
dục làm nhiễm ô và bị nghiệp lực lôi cuốn mà nhập
thế.
Bồ Tát dùng phương tiên, thị hiện ra nhiều
hình tướng để độ sanh. Như Ngài Quan Âm hiện 32 ứng
thân, Đức Di Lặc Bồ Tát hiện thân Bố Đại Hòa thượng,
hoặc có vị hiện thân Kim Cang, hiện thân Tiêu Diện,
Thập Diện, Thập Điện Minh Vương, Ngưu Đầu, Mã Viện
v.v... có lúc hiện "Từ", có lúc hiện "Oai" nên có
câu:
Kim Cang lộ
mục sở dĩ hàng phục tứ ma.
Bồ Tát đ
ê
mi do thị ai từ ư lục đạo.
Nghĩa là: Thần Kim Cang trợn mắt là
để
hàng phục bốn ma. Bồ Tát xủ mày là vì thương chúng
sanh trong 6 đạo. Bồ Tát khi thị hiện cảnh thuận:
giảng dạy Pháp lành khuyên người tu học v.v... có
lúc lại hiện cảnh nghịch như: hiện chảo dầu sôi, để
độ ông Nan Đà tôn giả, hoặc dùng gọng xiềng đánh đập
v.v... để cho người biết thức tỉnh hồi tâm. Cổ nhơn
nói: "Người không gặp tai nạn, thì chẳng biết hồi
tâm hướng thiện". (Nhơn vô vạn họa, bất hồi đầu).
Hay như Ngài Thiện Tài Đồng Tử đi tham học với Bà Tu
Mật Nữ v.v...
Bồ Tát có khi thị hiện lân la ở chung cùng với
chúng sanh và
đồng
làm các nghề nghiệp như chúng sanh (như Ngài Lục Tổ
khi ở chung với bọn thợ săn v.v... để lần hồi dẫn
dắt chúng sanh trở về Chánh Đạo).
Tóm lại, các Bồ Tát nhập thế độ sanh, đều do
tâm đại bi làm chủ động, lấy đại nguyện làm căn bản,
dùng phương tiện có nhiều môn, tuy không nhứt định,
nhưng đại khái không ngoài thuận và nghịch. Hoặc
dùng lời giảng dạy (khẩu giáo hóa) hoặc hiện thân
hóa độ (thân giáo hóa), hoặc dùng đồng sự nhiếp,
chung quy một mục đích là khiến cho chúng sanh được
giải thoát và thành Phật.
___________
(1) Đại bi thanh tịnh: Bồ Tát do lòng từ bi
rộng lớn thương xót chúng sanh mà hiện thân hóa đạo,
không phải vì danh và lợi v.v... cho nên nói là
"thanh tịnh".
8.
Chỉ nguyện thành Phật, không ở nhị thừa và chớ gặp
ngoại đạo.
- Này Thiện nam! Nếu chúng sanh đời sau, phát
đại nguyện thanh tịnh của Bồ Tát, khởi tâm tăng tấn
cầu nhập Viên Giác, thì phải phát nguyện như vầy:
- Con nguyện ngày nay, được gặp Thiện tri thức
dạy con tu hành để nhập Viên Giác của Phật, chớ gặp
tà sư ngoại đạo và Nhị thừa.
Con y theo bản nguyện tu hành, lần hồi dứt trừ
các chướng. Khi các chướng hết, nguyện viên mãn, thì
con sẽ được vào thành lớn Viên Giác, trang nghiêm
tốt đẹp và lên cung điện thanh tịnh giải thoát của
Như Lai.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật dạy các chúng sanh đời
sau, muốn cầu Viên Giác, thì phải phát lời thệ
nguyện: "Con nguyện chớ gặp tà sư ngoại đạo và Tiểu
thừa chỉ lo tu ích kỷ tiêu cực không chịu hoằng pháp
lợi sanh. Con nguyện gặp Thiện tri thức Đại thừa, tu
lợi tha tích cực, dạy bảo con tu hành được thành quả
Phật".
Ngài Như Sơn nói: "Lý, tuy đốn ngộ, nhưng về
phần sự tướng thì phải lần lần diệt trừ" (lý tuy đốn
ngộ, sự nải tiệm trừ).
Khi các chướng hết rồi, thì đi, đứng nằm ngồi
trong tất cả thời và tất cả chỗ, đều được giải
thoát. Đó là cung điện giải thoát thanh tịnh và
thành Viên Giác trang nghiêm của Như Lai.
9.
Phật nói bài kệ, tóm lại các nghĩa trên
Khi đó Đức Thế Tôn, muốn tóm lại các nghĩa
trên, nên nóibài kệ rằng:
Di Lặc! Ông
nên biết:
Tất cả các chúng sanh,
Đều do tham dục vậy,
Nên đoạ vào sanh tử.
Chẳng đặng đại giải thoát,
Nếu người đoạn thương ghét.
Cùng với tham, sân, si,
Không cần tu gì khác.
Cũng đều được thành Phật,
Cầu nguyện gặp Minh sư.
Khai ngộ được chơn chánh,
Y theo nguyện Bồ Tát.
Trừ tuyệt hai món chướng,
Được vào đại Niết Bàn.
Các Bồ Tát mười phương,
Đều bởi lòng Đại bi.
Phát nguyện vào sanh tử,
Tùy loại độ chúng sanh.
Người tu hành hiện tại,
Và chúng sanh đời sau.
Phải đoạn trừ ái hoặc,
Mới đặng vào Viên Giác.
Lược
Giải
Bài kệ này Phật gọi Ngài Di Lặc Bồ Tát mà dạy,
đại ý như vầy: Tất cả chúng sanh vì tham dục, nên bị
sanh tử luân hồi, không được giải thoát. Nếu người
đoạn tuyệt được tham, sân, si v.v... thì được thành
quả Phật. Thế nên người tu hành phải cầu minh sư
khai ngộ, rồi y theo hạnh nguyện của Bồ Tát mà
đoạn
trừ hai chướng và cầu chứng quả Niết Bàn của Phật.
Các vị Bồ Tát ở mười phương đều do lòng đại bi
thanh tịnh làm chủ động và chí nguyện lợi tha thúc
đẩy, nên không nỡ yên ở chỗ thanh tịnh tu giải thoát
một mình, thích thú nơi cảnh tịch tịnh lo phần ích
kỷ như hàng Tiểu thừa; mà Bồ Tát thệ nguyện nhập thế
độ sanh, lẫn lộn với trần lao để tùy duyên hóa độ.
Không sợ ô nhiễm, chẳng kể gian lao, không từ khó
nhọc.
Như Ngài Địa Tạng Bồ Tát nguyện rằng:
Chúng sanh độ
tận phương chứng Bồ Đề,
Địa ngục vị không thệ bất thành Phật.
Tổ A Nan cũng thệ rằng:
... Ngũ trược
ác thế thệ tiên nhập,
Như nhứt chúng sanh vị thành Phật,
Chung bất ư thử thủ Nê hoàn...
BÀI THỨ SÁU
VI. CHƯƠNG THANH TỊNH HUỆ
1. Ngài Thanh
Tịnh Huệ Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát.
3. Phật dạy: Trong Viên Giác không có Bồ Tát và
chúng sanh.
4. Phàm phu tùy thuận tánh Viên Giác.
5. Bồ Tát ở vị Tam hiền tùy thuận tánh Viên Giác.
6. Bồ Tát lên Thánh vị tùy thuận tánh Viên Giác.
7. Như Lai tùy thuận tánh Viên Giác.
8. Tóm tắt.
9. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
CHƯƠNG
THANH TỊNH HUỆ
1.
Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát ở trong đại
chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng,
rồi chắp tay kính cẩn, đảnh lễ dưới chân Phật và qùy
thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, Ngài đã vì chúng
con, khôn khéo rộng nói những việc không thể nghĩ
bàn. Những việc mà chúng con từ hồi nào đến giờ,
chưa từng thấy và chưa từng nghe, hôm nay nhờ Phật
khai thị khiến cho chúng con được hiểu ngộ, thân tâm
khoan khoái vui mừng, đặng lợi ích rất lớn.
Bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài vì các vị Bồ Tát và
tất cả chúng sanh trong pháp hội này, chỉ dạy thứ
lớp tu chứng của Như Lai như thế nào để cho chúng
sanh hiện tại và
đời
sau, nhơn nghe lời Phật dạy đây, mà
được
khai ngộ, lần lượt tùy thuận vào tánh Viên Giác của
đức Pháp Vương (Phật).
Ngài Thanh Tịnh Huệ thưa thỉnh như vậy ba lần,
kính cẩn lạy Phật rồi trở lui.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này, Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát hỏi
Phật: Trên đường lối tu hành, từ địa vị phàm phu đến
quả vị Phật, phải trải qua bao nhiêu địa vị? Thứ lớp
tu chứng sai khác thế nào? Cầu Phật chỉ dạy, khiến
cho chúng sanh được liễu ngộ, lần lượt nhập vào tánh
Viên Giác.
Thanh Tịnh Huệ là trí huệ thanh tịnh, tức là
Bát Nhã Huệ. Từ chương này đến 6 chương sau là chú
trọng về việc hạ thủ công phu. Trong khi tu hành bất
luận giờ phút này, cũng phải dùng Bát Nhã trí để
lãnh đạo; cho nên chương này Ngài Thanh Tịnh Huệ
đứng lên thưa hỏi, là tiêu biểu cho Bát nhã huệ vậy.
2.
Phật khen Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát.
Khi đó Đức Thế Tôn khen Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ
Tát và dạy rằng:
- Này Thiện nam, quý lắm! Ông vì các Bồ Tát
hiện tại và chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai về
thứ lớp tu chứng sai khác như thế nào. Vậy các ông
nên chăm chú nghe, ta sẽ vì các ông chỉ dạy.
Khi đó Ngài Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát và
đại
chúng đều hoan hỷ và kính cẩn vâng nghe lời Phật chỉ
giáo.
3.
Phật dạy: Trong Viên Giác không có Bồ Tát và chúng
sanh.
- Này Thiện nam! Trong tánh Viên Giác thanh
tịnh, không tất cả pháp, mà có đủ tất cả pháp. Nó
tùy thuận các duyên biến hiện ra đủ tất cả, mà không
thủ và không chứng. Thí như con mắt, thấy được tất
cả vật, mà không tự thấy mình. Nó vẫn bình đẳng mà
không tự thấy mình bình đẳng.
Này Thiện nam! Trong thật tướng (Viên Giác)
không có Bồ Tát và chúng sanh. Tại sao thế? Bởi Bồ
Tát và chúng sanh đều là huyễn hóa vậy. Khi các
tướng huyễn hóa diệt rồi, thì không có người năng
chứng và quả sở chứng.
Chúng sanh vì còn mê muội điên đảo nên chưa
diệt trừ được các tướng huyễn hóa. Vì chúng sanh
vọng khởi công dụng, để đối trị các tướng huyễn hóa,
bởi có những tướng huyễn hóa đã diệt và chưa diệt,
nên chúng mới thấy có thứ lớp tu chứng sai khác. Nếu
người đặng tùy thuận tánh Viên Giác tịch diệt của
Như lai rồi, thì không còn thấy có cảnh tịch diệt và
người tịch diệt nữa.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật nói: Trong tánh Viên Giác
vốn không có tất cả pháp, mà tùy duyên hiện ra đủ
tất cả các pháp sai khác. Đoạn này giống với đoạn
trong kinh Lăng Nghiêm. Phật thí dụ cây đờn, trong
cây đờn không có các bài bản hay và dỡ; song tùy
duyên nó hiện ra đủ các tiếng hay và dở.
Trong tánh Viên Giác không có năng thủ, sở thủ
và năng chứng sở chứng, không Bồ Tát và chúng sanh.
Vì chúng sanh chưa diệt trừ được các tướng huyễn
hóa, nên vọng khởi công dụng để dẹp trừ các tướng
vọng huyễn này. Vì thế mà thấy có chứng và có đắc,
bực lớp sai khác. Nếu tùy thuận được tánh Viên Giác
tịch diệt của Như Lai rồi, thì không còn thấy có một
pháp nào cả.
Trong đoạn này có cái ví dụ: "Như con mắt
không tự thấy con mắt". Cái ví dụ này chỉ cho tánh
bình đẳng và vô công dụng của Viên Giác. Tánh Viên
Giác tùy duyên hiện ra các pháp mà không thủ, không
chứng. Cũng như con mắt bình đẳng chiếu soi tất cả
vật, mà không thấy mình có chiếu soi và bình đẳng.
4.
Phàm phu tùy thuận tánh Viên Giác (địa vị thập tín.)
- Này Thiện nam! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ
đến giờ, do lầm tưởng có "thật ta và vật của ta" rôì
sanh lòng thương yêu cái ta và vật của ta, cho nên
gặp cảnh nghịch với ta thì giận ghét, còn thuậtn với
ta thì tham ái, say mê theo cảnh ngũ dục. Chúng chưa
từng biết thân tâm này là hư vọng, mỗi niệm sanh
diệt luôn luôn, không có thật ta.
Nếu gặp thiện hữu tri thức dạy bảo, chúng được
khai ngộ tánh Viên Giác thanh tịnh, hiểu rõ tah6n
tâm này là hư vọng mỗi niệm sanh diệt không thật có
cái ta; lúc bấy giờ chúng mới tự xác nhận rằng: thân
tâm này là "trần lao vọng lự."
Những người nào đoạn trừ được vĩnh viễn các
trần lao vọng lự này, thì ngộ pháp giới thanh tịnh,
nhưng đối với tánh Viên Giác chưa được tự tại, vì
còn bị cái "biết thanh tịnh" nó làm chướng ngại,
những người như thế thì gọi là kẻ phàm phu tùy thuận
tánh Viên Giác.
Lược
Giải
Đoạn trên (số 3) là
đứng
về tánh Viên Giác thanh tịnh bình đẳng mà nói, nên
không có Bồ Tát và chúng sanh sai khác. Nhưng đứng
về phương diện sự tướng tu hành mà luận thì có lớp
lang tu chứng rõ ràng. Bởi thế nên từ đoạn này (số
4) về sau là nói thức lớp nhập Viên Giác, bắt đầu từ
vị Thập Tín, Tam Hiền, Thập Thánh và
đến
quả Phật.
Đại ý đoạn này, nói hàng Thập Tín tùy thuận
tánh Viên Giác. Bởi tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến
giờ vì mê lầm chấp ta và cảnh vật của ta là chơn
thật, cho nên sanh ra tham, sân v.v... Nếu gặp Thiện
tri thức dạy bảo, chúng giác ngộ được cái "ta" và
"cảnh vật của ta" đều hư vọng, sanh diệt không thật,
thì lúc bấy giờ chúng mới trừ được ngã chấp, đặn
gpháp giới thanh tịnh. Nhưng, vì còn "biết thanh
tịnh", thế là còn pháp chấp chưa trừ, nên còn chướng
ngại tánh Viên Giác. Vì thế nên gọi là "chúng Phàm
phu (vị Thập tín) tùy thuận tánh Viên Giác."
5.
Bồ Tát ở vị Tam hiền, tùy thuận tánh Viên Giác.
Này Thiện nam! Tất cả các vị Bồ Tát, vì còn
chấp cái "biết thanh tịnh" (giác), nên chướng ngại
tánh Viên Giác. Nay tuy đoạn được cái chướng ngại đó
(cái biết thanh tịnh) nhưng còn trụ ở cái "giác".
Như thế cũng còn cố chấp ở nơi "giác", nên tánh Viên
Giác vẫn còn bị chướng ngại, không được tự tại. Bởi
thế nên gọi là bực Tam Hiền Bồ Tát, tùy thuận tánh
Viên Giác.
Lược
Giải
Các vị Bồ Tát này, tuy rời được cái "biết
thanh tịnh", nhưng còn cái "biết giác". Vì còn cái
"biết giác" làm chướng ngại, nên tánh Viên Giác
không được hiển hiện. Đại ý đoạn này nói: Bực tam
hiền Bồ Tát tùy thuận tánh Viên Giác, Tam hiền là:
Thập trụ, Thập hạnh và Thập hồi hướng.
6.
Bồ Tát lên thánh vị, tùy thuận tánh Viên Giác.
- Này Thiện nam! Nếu còn "biết" (chiếu) và còn
có "giác", thì đều còn chướng ngại (vì còn năng và
sở).
Thế nên Bồ Tát thường "giác" mà không trụ nơi
"giác", năng chiếu và sở chiếu đồng vắng lặng. Bồ
Tát tự dùng tâm chướng ngại diệt trừ các chướng ngại
(dĩ vọng diệt vọng), khi các chướng ngại diệt hết,
cũng không còn người năng diệt. Thí như có người tự
mình chặt lấy đầu mình, khi cái đầu đã rụng rồi, thì
cũng không có người chặt (năng đoạn).
- Này Thiện nam! Tất cả Kinh giáo của Như Lai
đều như ngóùn tay để chỉ mặt trăng Viên Giác (chơn
lý). Vậy các ông phải biết: đây là ngón tay kinh
giáo chớ không phải mặt trăng Viên Giác. Nếu các ông
chỉ cố chấp ngón tay, thì không bao giờ thấy được
mặt trăng. Những người biết nhơn ngón tay kinh giáo
này, mà nhận được mặt trăng Viên Giác, thì gọi là Bồ
Tát lên Thánh Địa, tùy thuận tánh Viên Giác.
Lược
Giải
Đoạn trên nói Bồ Tát ở vị Tam Hiền còn "biết"
và còn "giác". Đến đoạn này nói: Bồ Tát đã lên Thánh
Địa, tuy thường "giác" mà không trụ trước nơi
"giác", vì không còn năng và sở. Cũng như người ta
tự chặt cái đầu của minh khi cái đầu rụng rồi, thì
không có người chặt và kẻ bị chặt.
Tất cả Kinh giáo của Phật đều là phương tiện
để chỉ chơn lý (Viên Giác). Hành giả phải nương các
pháp phương tiện để đến chơn lý; nếu cố chấp nơi
phương tiện không bao giờ đến chơn lý.
Giáo pháp của Phật cũng như ngón tay chỉ mặt
trăng. Người muốn thấy mặt trăng thì phải nhơn ngón
tay mà xem, khi thấy mặt trăng (chơn lý) rồi thì
phải quên ngón tay (phương tiện). Nếu cố chấp nơi
ngón tay (phương tiện) thì người ấy không bao giờ
thấy mặt trăng chơn lý.
Cái thí dụ này giống như trong Kinh Lăng
Nghiêm, Phật thí dụ "ngón tay chỉ mặt trăng v.v..."
7.
Như Lai tùy thuận tánh Viên Giác.
- Này Thiện nam! Tất cả sự chướng ngại tức là
cứu kính giác, chánh niệm hay vọng niệm đều là giải
thoát, trì giới hay phá giới đều là Niết Bàn; trí
huệ hay ngu si cũng đều là Bát Nhã; Bồ Tát và ngoại
đạo đồng là Bồ Đề; Vô minh và chơn như đồng một cảnh
giới; giới, định, huệ và dâm, nộ (giận) si đều là
hạnh thanh tịnh; chúng sanh và quốc độ đồng một pháp
tánh; địa ngục và thiên đường đều làm Tịnh Độ; hữu
tình và vô tình đều thành Phật đạo; tất cả phiền não
là rốt ráo giải thoát, vì biển huệ pháp giới chiếu
soi cả tướng cũng như hư không. Đây gọi là Như Lai
tùy thuận tánh Viên Giác.
Lược
Giải
Các đoạn trên đã nói: từ vị Thập tín, thì bị
cái "biết tịnh" làm ngại; qua vị Tam Hiền, lại bị
cái "biết giác" làm ngại; đến vị Thập thánh, tuy đã
lìa hết các ngại, nhun ghãy còn cái "thường giác"
chưa được viên dung.
Đoạn này nói về quả vị Phật, đã hoàn toàn nhập
Viên Giác tánh, thấy tất cả pháp đồng một bản thể,
nên nói: "các chướng ngại tức là cứu kinh giác,
chánh niệm và tà niệm đều là giải thoát, phiền não
sanh tử tức là Bồ Đề, Niết Bàn, trí huệ, ngu si đều
là bát nhã v.v..."
Bởi thế nên Cổ đức có dạy rằng: "Mê thời chơn
như thành vọng tưởng, ngộ thời vọng tưởng, tức chơn
như".
8.
Tóm lại
- Này Thiện nam! Các vị Bồ Tát và chúng sanh
đời sau, chỉ trong tất cả thì giờ không khởi vọng
niệm phân biệt, đối với các vọng tâm cũng chẳng cần
diệt trừ, ở cảnh vọng tưởng, chẳng gia thêm phân
biệt, ở nơi cảnh không rõ biết, chẳng cần phân biệt
chơn thật, khi nghe đến pháp môn này, không lấy làm
lạ lùng và kinh hãi, lại sanh tâm tin chắc, hiểu
biết rõ ràng, lãnh thọ và phụng trì, thì ta gọi
chúng sanh này là người tùy thuận tánh Viên Giác.
- Này Thiện nam! Các ông phải biết. Những
chúng sanh tùy thuận như thế, là
đã
nhiều đời tu hành, từng trồng rất nhiều công đức:
"Cúng dường các đức Phật và các vị Bồ Tát nhiều như
số cát sông Hằng. Ta ấn chứng cho những người này sẽ
thành tựu "Nhứt thế chủng trí" (Phật trí).
Lược
Giải
Đoạn này Phật dạy cốt yếu có một câu: "chỉ
trong tất cả thì giờ, không khởi vọng niệm, v.v...
đó là tùy thuận tánh Viên Giác". Nghĩa là: nếu trong
tất cả thời mà vọng niệm không sanh khởi, thì tham,
sân, si không sanh; 3 độc không sanh thì 3 nghiệp
chẳng tạo, các nghiệp không tạo thì chẳng còn sanh
tử luân hồi; sanh tử đã không thời chơn tâm tư hiện,
như thế là tùy thuận tánh Viên Giác. Tỷ như ly nước
đục để trên bàn, nếu trong tất cả thì giờ đều được
yên lặng, không bị chao động, thì tánh nước trong tự
hiện.
Đoạn này giống như trong Kinh Lăng Nghiêm Phật
dạy: "Bất tùy phân biệt" (không theo trần cảnh khởi
vọng niệm phân biệt). Thật là một pháp tu mau chóng
(viên đốn), nếu không phải người nhiều kiếp tu hành,
đã từng trồng căn lành từ nhiều đời đức Phật, thì
không thể lãnh thọ nỗi pháp môn này.
Tóm lại, Phật dạy: Nếu các Bồ Tát và chúng
sanh đời sau, chỉ trong tất cả thời không khởi vọng
niệm, cũng không cần để tâm diệt trừ vọng niệm
v.v... những chúng sanh thật hành được như thế là
căn lành của chúng đã trồng sâu từ nhiều đức Phật,
và chúng đã nhập được tánh Viên Giác, sẽ thành quả
Phật.
Ngài Thanh Tịnh Huệ hỏi thứ lớp tu chứng của
Như Lai, đến đây Phật trả lời xong hết.
9.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
Khi ấy đức Thế Tôn, muốn tóm lại các nghĩa
trên, nên nói bài kệ rằng:
Thanh Tịnh
Huệ! Phải biết,
Viên mãn tánh Bồ Đề.
Không còn thủ và chứng,
Không Bồ Tát, chúng sanh.
Giác và khi chưa giác,
Thứ lớp có sai khác.
Chúng sanh bị "biết" ngại (Thập Tín),
Bồ Tát bị "giác" ngại (Tam Hiền).
Thánh Địa hằng vắng lặng (Thập Thánh),
Vì không trụ các tướng.
Viên mãn quả Đại giác,
Nên gọi "khắp tùy thuận" (Phật).
Các chúng sanh đời sau,
Tâm chẳng sanh hư vọng.
Ta nói chúng sanh này,
Hiện đời là Bồ Tát.
Vì cúng dường chư Phật,
Công đức đã viên mãn.
Tuy có nhiều phương tiện,
Cũng đều tùy thuận Giác.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này Phật dạy: Tánh Viên Giác
không có thủ và chứng, không Bồ Tát và chúng sanh.
Nhưng về thứ lớp tu hành thì có phân biệt ra Tín vị,
Hiền vị, Thánh vị, và Phật vị. Nếu như chúng sanh
nào tâm chẳng sanh vọng tưởng, là Bồ Tát hiện tại,
vì chúng sanh này đã trồng công đức từ hằng sa chư
Phật.
Pháp môn tu tuy có nhiều và thứ lớp chứng đạo
có sai khác nhưng cũng đều về tánh Viên Giác.
Trong chương Thanh Tịnh Huệ này, Ngài Thanh
Tịnh Huể hỏi Phật thứ lớp tu chứng như thế nào? Phật
trả lời có hai phần:
1. Đứng về lý tánh Viên Giác mà nói, thì không
có Bồ Tát và chúng sanh, không thủ và không chứng.
2. Về sự tướng tu hành, thì có thứ lớp sai
khác. Như về Tín vị thì bị cái "biết" (giả) làm
ngại; ở về Hiền vị thì còn bị cái "giác" làm ngại;
vào Thánh vị tuy được tịch diệt nhưng chưa được viên
mãn.
Tóm lại, Phật dạy một câu "nếu người đối với
tất cả thời, không khởi vọng niệm, thì được tùy
thuận tánh Viên Giác".
BÀI THỨ BẢY
VII. CHƯƠNG OAI ĐỨC TỰ TẠI
1. Ngài Oai
Đức Tự Tại Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát.
3. Phật dạy: Cảnh "Viên Giác" không hai, nhưng
phương tiện vào có nhiều đường.
4. Tu pháp "Xa Ma Tha".
5. Tu pháp "Tam Ma Bát Đề".
6. Tu pháp "Thiền Na".
7. Tu pháp phương tiện này lợi ích rất lớn.
8. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
VII.
CHƯƠNG OAI ĐỨC TỰ TẠI
1.
Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát ở trong đại
chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng
rồi chắp tay kính cẩn, đảnh lễ dưới chân Phật và quỳ
thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, xin Ngài vì chúng
con, phân biệt chỉ dạy phương tiện để nhập Viên Giác
tánh. Khiến các vị Bồ Tát nhờ nghe viên âm (1) của
Phật mà giác tâm được quang minh, chẳng nhơn tu hành
mà vẫn được lợi ích lớn.
Bạch Đức Thế Tôn, thí như cái thành lớn (Viên
Giác) có bốn cửa (các phương tiện), hành giả muốn
vào cửa nào cũng được, đâu phải chỉ có một con
đường.
Cũng thế, các vị Bồ Tát tu hành, làm trang
nghiêm cõi Phật và thành đạo Bồ Đề, đâu phải chỉ có
một phương tiện. Cúi xin Đức Thế Tôn vì chúng con
chỉ dạy các phương tiện tu hành và thứ lớp làm sao,
để các vị Bồ Tát trong pháp hội nầy và chúng sanh
đời sau cầu pháp Đại thừa, đều được khai ngộ và mau
vào biển Đại Tịch Diệt (Viên Giác) của Như Lai.
Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát thưa thỉnh như vậy
3 lần, chắp tay kính cẩn, lễ Phật rồi trở lui.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: Thành Viên Giác không hai,
nhưng cửa phương tiện đi vào rất nhiều. Xin Phật vì
các vị Bồ Tát hiện tại và chúng sanh đời sau tu Đại
thừa, chỉ dạy các phương tiện và thứ lớp tu hành như
thế nào, để hành giả mau được vào thành Viên Giác.
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Quy nguyện tánh vô nhị,
phương tiện hữu đa môn." (Trở về tánh "bản nguyên"
thì không hai, nhưng phương tiện đi vào lại có nhiều
cửa).
(1) Viên âm (là tiếng tròn): Tiếng nói của
Phật đầy đủ ý nghĩa, tùy theo trình độ của người cao
thấp đều được hiểu ngộ.
2.
Phật khen Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát.
Khi đó Đức Thế Tôn khen Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ
Tát và dạy rằng:
- Này Thiện nam, quý lắm! Ông vì các vị Bồ Tát
hiện tại và chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai về
các phương t iện tu hành. ông nên chăm chú nghe, ta
sẽ vì các ông chỉ dạy.
Khi đó Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát cùng với đại
chúng đồng yên lặng, chăm chú và hoan hỷ nghe lời
Phật chỉ dạy.
3.
Phật dạy: Cảnh "Viên Giác" không hai, nhưng phương
tiện vào có nhiều đường.
- Này Thiện nam! Tánh Viên Giác nhiệm mầu vô
thượng nầy, nó trùm khắp cả mười phương và sanh ra
chư Phật cùng tất cả các pháp. Bởi tất cả chúng sanh
cùng với chư Phật đồng một bản thể bình đẳng không
khác, nên người tu hành khi đã trở về tánh Viên
Giác, thì thật ra không có hai nơi; song những
phương tiện để nhập Viên Giác lại có vô lượng.
Vì trình độ của chúng sanh không đồng, nên các
phương tiện trở về tánh Viên Giác có sai khác, nhưng
không ngoài ba phương tiện sau này.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: "Viên Giác không hai, song
phương tiện tu hành để nhập Viên Giác thì có nhiều
pháp. Nhưng không ngoài ba pháp môn là: Chỉ, Quán và
Chỉ Quán song tu ở đây.
4.
Tu pháp "Xa Ma Tha" (tức là tu chỉ hoặc gọi là tu
định).
- Này Thiện nam! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên
Giác thanh tịnh rồi, thì y theo tâm Viên Giác thanh
tịnh này mà giữ cái hạnh yên lặng và lóng các vọng
niệm. Khi các giác quan vọng thức phiền động đã lặng
rồi, thì trí huệ thanh tịnh phát sanh. Lúc bấy giờ
cái thân tâm hư vọng sanh diệt như khách và nhiễm ô
như bụi này, từ đây diệt hết. Khi đó trong nội tâm
của hành giả sanh ra vắng lặng và nhẹ nhàng thư thới
(tịch tịnh khinh an) nên chư Phật trong mười phương
thế giới đều hiện ra trong tâm của hành giả, rất rõ
ràng như bóng hiện trong gương. Phương tiện tu hành
như thế, gọi là "Xa Ma Tha".
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật nói: "Bồ Tát khi ngộ được
tánh Viên Giác thanh tịnh rồi, thì dùng tâm thanh
tịnh này để lóng các phiền não vọng thức. Khi các
căn cáu phiền não đã lóng đứng rồi, thì trí huệ
thanh tịnh phát sanh. Lúc bấy giờ hành giả quan sát
lại thân tâm hư vọng như khách, huyễn hóa lăng xăng
như bụi đều diệt hết (ngã, pháp không còn).
Bởi các vọng hoặc nhiễm ô đã diệt hết, tâm
được thanh tịnh, nên mười phương chư Phật hiện ra
trong tâm của hành giả. Cũng như ly nước được lóng
trong, thì các bóng ngoài hiện trung" (nếu tâm chúng
sanh được thanh tịnh, thì bóng Bồ Đề tự hiện vào).
Lưu ý: Trong kinh nhày nói: "Chỉ, Quán", không
đồng với "Chỉ, Quán" của Tiểu thừa. Vì "Chỉ, Quán"
của Tiểu thừa là phải dùng phương tiện của bên ngoài
để tu. Còn lối "Chỉ, Quán" của Đại thừa là xứng theo
bản thể của chơn tâm mà "Chỉ" và "Quán", nên có phần
cao siêu hơn.
5.
Tu pháp "Tam Ma Bát Đề" (tức là tu Quán, hoặc gọi tu
Huệ).
- Này Thiện nam! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên
Giác thanh tịnh rồi, thì y theo tâm Viên Giác thanh
tịnh mà quán sát tâm tánh, thân căn và trần cảnh này
đều là vật huyễn hóa. Lúc bấy giờ Bồ Tát khởi ra cái
trí như huyễn để trừ các pháp như huyễn; làm các
hạnh như huyễn để hóa độ chúng sanh như huyễn. Bởi
Bồ Tát tu pháp quán như huyễn này, nên phát đại bi
tâm (1) thương xót cứu khổ tất cả chúng sanh mà vẫn
nhẹ nhàng thư thới (đại bi khinh an) không tham
trước luyến ái nơi chúng sanh.
Tất cả Bồ Tát, đều y theo pháp quán như huyễn
này mà tu hành, lần lần tăng tiến. Ban đầu quán cảnh
là huyễn, nhưng người quán chưa phải huyễn; sau
người quán cũng là huyễn và cuối cùng hoàn toàn xa
lìa các tướng huyễn (lúc bấy giờ cái phi huyễn hiện
ra). Thế là Bồ Tát đã hoàn thành được pháp quán mầu
nhiệm này. Bồ tất lần lượt tiến tu, cũng như đất làm
cho mầm mộng lần hồi được sanh trưởng. Phương tiện
tu như thế, gọi là Tam Ma Bát Đề.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật dạy: "Khi Bồ Tát ngộ được
Viên Giác thanh tịnh rồi, y nơi tâm Viên Giác này mà
quán các pháp, nào căn, trần và thức đều là huyễn
hóa. Lúc bấy giờ Bồ Tát khởi cái trí như huyễn để
diệt các Vô minh phiền não như huyễn, tu các hạnh
như huyễn, để hóa độ chúng sanh như huyễn. Đến khi
các huyễn cảnh đã không, huyễn trí cũng hết, nào
tâm, cảnh, năng sở đều tiêu, hoàn toàn xa lìa các
huyễn tướng rồi, thì tánh Viên Giác phi huyễn hiện
ra. Như tiếng ồn của học trò hết tiếng, gõ bảng của
thầy giáo thôi, lúc bấy giờ cảnh yên tịnh hiện ra.
Thí như người ngủ, chiêm báo thấy giặc bao
vây, đem bệnh diệt trừ v.v... Khi giặc trong chiêm
bao tan (cảnh huyễn hết) binh lính hết (người quán
huyễn không) và tâm chiêm bao cũng không còn (huyễn
trí hết) thì tâm giác ngộ tự nhiên hiện vậy (Viên
Giác hiện).
Bồ Tát y theo tánh Viên Giác tu pháp quán như
huyễn này, từ chỗ cạn đến chỗ sâu, ly được một phần
huyễn tức là chứng được một phần giác. Cũng như cái
mầm chồi, y nơi đất mà lần hồi nảy nở.
Kinh này Phật dạy tu pháp quán như huyễn,
giống như Kinh Kim Cang Phật dạy:
Nhứt thế hữu
vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh.
Như lộ, diệc như điển,
Ưng tác như thị quán.
Nghĩa là:
Nên quán như
thế này,
Cái gì có làm ra.
Đều như mộng, huyễn, bọt,
Như bóng, sương và chớp.
Lưu ý: Nhờ pháp "Chỉ" mới dừng đứng các vọng
niệm đương khởi và sẽ khởi bên trong. Khi vọng niệm
không còn khởi, thì "chơn tánh" tự hiện bày.
Nhờ pháp "Quán" mới rõ các cảnh hiện tiền như
huyễn, để đối trị âm thanh luyến thân, cảnh và xa
lìa ngã chấp, pháp chấp. Khi ngã pháp hết thì Viên
Giác hiện ra.
Bồ Tát phát Đại Bi Tâm: Bồ Tát nhận thấy tất
cả chúng sanh cùng với mình đồng một bản thể chơn
như bình đẳng không hay không khác. Vì thế mà Bồ Tát
phát tâm thương xót tất cả chúng sanh, nên gọi là
Đại Bi Tâm.
Bồ Tát rộng độ chúng sanh, mà không thấy chấp
có mình năng độ và người được độ. Bởi không chấp
tướng "ngã, nhơn," như thế, nên Bồ Tát làm không
biết bao nhiêu việc lành, độ vô số chúng sanh mà tâm
vẫn nhẹ nhàng thư thái (kinh an).
6.
Tu pháp "Thiền Na" (tức là Chỉ, Quán đồng thời tu,
hay gọi là Định Huệ song tu).
- Này Thiện nam! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên
Giác thanh tịnh tâm rồi, thì y như tâm Viên Giác này
mà tu: Không chấp thủ pháp "Quán như huyễn", và pháp
"Chỉ tịch tịnh". Bồ tTát rõ biềt thân tâm này đều là
vật ngăn ngại, còn tánh Viên Giác (vô tri giác minh)
thì không bị các vật làm chướng ngại, lại còn siêu
vượt ra ngoài những cảnh chướng ngại (sanh tử) và
không chướng ngại (Niết Bàn); nó vẫn thọ giới dụng
thế giới và thân tâm ở trong cõi trần này, mà không
bị cảnh trần ràng buộc, mặc dù phiền não hay Niết
Bàn cũng không làm lưu ngại nó được. Thí như tiếng
"boong" của chuông, tuy ở nơi chuông mà vẫn thoát ra
ngoài chuông.
Bồ Tát lúc bấy giờ, ở nơi nội tâm được vắng
lặng. Rất nhẹ nhàng thư thái, nào ngã, nhơn chúng
sanh, thọ mạng, bốn tướng đều chẳng còn và
được
tùy thuận cảnh giới Viên Giác tịch tịnh mầu nhiệm.
Bồ Tát tu phương tiện này, gọi là tu Thiền Na.
Lược
Giải
Thiền Na Tàu dịch là "Tĩnh lự". Chữ "Tĩnh" tức
là "Chỉ" (Định). Chữ "Lự" tức là "Quán" (Huệ).
- Pháp Xa Ma Tha thì tu về Chỉ là Định
- Pháp Tam Ma Bát Đề tu về Quán là huệ.
- Pháp Thiền Na này Chỉ và Quán đều tu, khiến
cho Định và Huệ được quân bình.
Đại ý đoạn này nói: Bồ Tát khi ngộ được tâm
Viên Giác thanh tịnh rồi, y theo tâm này mà tu,
không dùng pháp "Chỉ" và "Quán". Bồ Tát rõ biết thân
tâm này đều là vật chướng ngại, mà tánh Viên Giác
không chướng ngại. Mặc dù thọ dụng thân này, tâm này
và thế giới trần cảnh này, mà tánh Viên Giác vẫn
hoàn toàn siêu vượt ra ngoài các cảnh chướng ngại và
không chướng ngại, cho đến phiền não hay Niết bàn
cũng không lưu ngại nó được. Cũng như tiếng "boong"
của chuông, vượt ra ngoài chuông.
Khi đó Bồ Tát diệt hết bốn tướng (ngã, nhơn,
chúng sanh, thọ mạng), nhập vào cảnh giới Viên Giác.
Bồ Tát tu phương tiện này gọi là tu Thiền Na.
7.
Tu pháp phương tiện này lợi ích rất lớn.
- Này Thiện nam! Ba pháp môn này, đều là
phương tiện để nhập Viên Giác tánh. Mười phương các
đức Phật đều nhơn phương tiện này mà
được
thành Phật. Mười phương các vị Bồ Tát, tu các phương
tiện hoặc đồng hay khác, nhưng cũng đều y ba pháp
môn này mà
được
chứng ngộ hay thành Viên Giác.
- Này Thiện nam! Giả sử có người tu theo đạo
Phật, hoá độ được muôn ức vị A La Hán và Bích Chi
Phật, nhưng lợi ích không bằng có người chỉ trong
giây phút tùy thuận và tu tập pháp môn Viên Giác vô
ngại này.
Lược
Giải
Ba pháp môn Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu nầøy
là cái phương tiện để nhập Viên Giác tánh . Tất cả
chư Phật và Bồ Tát cũng đều y theo ba pháp môn này
mà
được
thành đạo chứng quả.
Những người giáo hóa ngàn muôn ức Thinh Văn và
Duyên Giác tuy nhiều, nhưng thuộc về Tiểu t hừa quả,
nên sự lợi ích không bằng người trong giây phút, tùy
thuận tánh Viên Giác. Vì tùy thuận tánh Viên Giác
tức là vào cảnh giới Phật, nên lợi ích lớn hơn.
8.
Phật nói bài kệ tóm lại nghĩa trên.
Khi đó Đức Thế Tôn muốn tóm lại các nghĩa
trên, nên nói bài kệ rằng:
Oai Đức! Ông
nên biết,
Viên Giác tánh không hai.
Phương tiện tu có nhiều,
Như Lai tóm chỉ bày.
Không ngoài ba pháp này,
Tu pháp "Chỉ" vắng lặng.
Như bóng chiếu trong gương,
Tu pháp "Quán" như huyễn.
Như mộng (mầm, chồi) lần lần lớn,
Chỉ, Quán đồng thời tu.
Như tiếng "boong" của chuông,
Ba pháp môn mầu nhiệm.
Đều tùy thuận Viên Giác,
Mười phương các đức Phật.
Và các đại Bồ Tát,
Nhơn đây được thành đạo.
Ba pháp, chứng hoàn toàn,
Là rốt ráo Niết Bàn.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này Phật nói: Tánh Viên Giác
không hai, nhưng các phương tiện tu hành có vô số.
Song, không ngoài 3 pháp môn là: Chỉ, Quán và Chỉ
Quán song tu. Các Đức Phật và các vị Bồ Tát cũng đều
y ba pháp này mà
được
thành đạo. Chứng 3 pháp này được hoàn toàn thì rốt
ráo quả Niết bàn.
Ba pháp môn này cũng đều gọi là ba pháp Chỉ
hay ba pháp Quán.
1. Xa Ma Tha là: Thể Chơn Chỉ, tức là: Không
Quán, y theo Chơn Đế mà tu.
2. Ta Ma Bát Đề là: Phương tiện tùy duyên Chỉ,
tức là: Giả Quán, y theo Tục đế để mà tu.
3. Thiền Na là: Nhị biên phân biệt Chỉ, tức
là: Trung Quán, y theo Trung đế để mà tu.
Nếu phân tách mà nói, thì ba pháp Chỉ gọi là
Xa Ma Tha. Còn ba pháp Quán gọi là: Tam Ma Bát Đề.
Chỉ và Quán không hai gọi là Thiền Na.
BÀI THỨ TÁM
VIII. CHƯƠNG BIỆN ÂM
1. Ngài Biện
Âm Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Biện Âm Bồ Tát.
3. Phật dạy 25 pháp tu (25 luân).
4. Tóm lại.
5. Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
VIII.
CHƯƠNG BIỆN ÂM
1. Ngài Biện Âm Bồ Tát hỏi Phật
Khi đó Ngài Biện Âm Bồ Tát ở trong đại chúng
đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật ba vòng, rồi lạy
Phật và quỳ thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, vừa rồi Ngài dạy ba
pháp môn tu hành như thế, rất là hy hữu.
Nhưng các vị Bồ Tát, khi muốn nhập Viên Giác,
đối với ba pháp môn phương tiện này, có mấy cách tu
tập?
Cúi xin Đức Thế Tôn, vì cả đại chúng hiện tại
và chúng sanh đời sau, phương tiện mở bày, khiến cho
chúng con đều ngộ được tướng chơn thật (Viên Giác).
Thưa thỉnh như vậy 3 lần, rồi Ngài Biện Âm
kính cẩn lạy Phật và trở lui.
Lược
Giải
Vừa rồi ở chương Oai Đức Tự Tại, Phật dạy có 3
pháp môn tu là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu, rất rõ
ràng.
Đến chương này Ngài Biện Âm Bồ Tát lại hỏi
thêm ba pháp môn phương tiện trên, có mấy cách tu.
Nghĩa là mỗi người chỉ tu một pháp hay cả ba pháp?
Ba pháp này tu đồng thời hay có trước sau? Phải theo
thứ lớp tu hay vượt qua thứ lớp?
2.
Phật khen Ngài Biên Âm Bồ Tát.
Khi đó Đức Thế Tôn khen Ngài Biện Âm Bồ Tát và
dạy rằng:
- Này Thiện nam, quý lắm! Ông vì đại chúng
hiện tại và chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai có
bao nhiêu cách tu tập. Ông nên chăm chú nghe, Như
Lai sẽ vì các ông mà chỉ giáo.
Khi đó Ngài Biện Âm Bồ Tát, cùng với đại chúng
đồng yên lặng và hoan hỷ nghe lời Phật dạy bảo.
3.
Phật dạy 25 pháp tu.
- Này Thiện nam! Tánh Viên Giác thanh tịnh của
tất cả Như Lai, vốn không có pháp bị tu và người tu
tập. Song vì các vị Bồ Tát hiện tại và chúng sanh
đời sau, chưa nhập được Viên Giác, còn phải phương
tiện dùng huyễn pháp để tu tập; vì thế nên chia ra
có 25 cách tu như sau.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: Viên Giác thanh tịnh thì
không có người tu và pháp để tu. Song vì chúng sanh
chưa giác ngộ, còn phải dùng phương tiện tu tập, vì
thế nên Phật chia ra có 25 pháp môn tu.
Tuy chia ra 25 pháp môn tu, nhưng vẫn y theo 3
pháp là Chỉ Quán và Chỉ Quán song tu mà Phật đã dạy
ở chương trước. Có khi tu chung hai pháp, ba pháp,
mà có lúc lại riêng từng pháp một, hoặc tu trước,
hoặc tu sau, tùy theo trình độ của chúng sanh xây
qua trở lại thành 25 pháp. Song tu pháp nào cũng đều
chứng nhập được Viên Giác.
1. Riêng tu một pháp "Xa Ma Tha" (Tu Định).
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát giữ tâm rất
vắng lặng, nhờ sức vắng lặng này, mà
đoạn
các phiền não, được vĩnh viễn thành tựu rốt ráo tánh
Viên Giác, thì vị Bồ Tát ấy lúc bấy giờ chẳng rời
chỗ ngồi mà vẫn nhập được Niết Bàn, Bồ Tát tu như
thế, gọi là chỉ tu một pháp Xa Ma Tha (tu chỉ).
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát riêng tu một pháp "Chỉ".
Bồ Tát giữ gìn tâm trạng rất tinh tịch, nên phiền
não không sanh, đó là tu pháp "Chỉ". Nhờ thế mà Bồ
Tát được rốt ráo thành tựu tánh "Viên Giác", đặng
quả Niết Bàn của Chư Phật.
2. Riêng tu một pháp "Tam Ma Bát Đề" (Tu Huệ).
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát chỉ tu pháp
quán "như huyễn", và nhờ sức Phật gia hộ, nên Bồ Tát
ấy biến hóa ra được thế giới, thì mặc dù Bồ Tát làm
các diệu dụng độ sanh (tu Quán), đầy đủ công hạnh
mầu nhiệm của Bồ Tát; nhưng vẫn không mất niệm tịch
tịnh (Định) và Huệ yên lặng (Huệ) của Đà La Ni (Viên
Giác). Bồ Tát tu như thế, gọi là riêng tu một pháp
Tam Ma Bát Đề.
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát riêng tu một pháp "Quán".
Bồ Tát khi tu pháp quán như huyễn, và nhờ thần lực
của Phật, nên biến hiện thế giới uế độ thành Tịnh
Độ, biến địa ngục trở thành Thiên cung, vì các pháp
đều như huyễn như hóa. Tu như thế là tu "Quán". Bồ
Tát mặc dù làm đủ công hạnh lợi tha, mà không rời
bản thể thường tịch (Định) và thường chiếu (Huệ) của
tánh Viên Giác.
Chữ "Đà La Ni" ở chương này, đồng với chữ "Đà
La Ni" trong chương Văn Thù, tức là biệt danh của
tánh Viên Giác, như trong chương Văn thù chép: "Có
pháp Đại Đà La Ni gọi là Viên Giác".
3. Riêng tu pháp "Thiền Na" (Định, Huệ đồng
thời tu).
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát chỉ diệt các
huyễn, không chấp thủ tác dụng, riêng đoạn các phiền
não, khi phiền não đoạn hết rồi, thì chứng được thật
tướng, Bồ Tát tu như thế, gọi là riêng tu pháp Thiền
Na (Chỉ, Quán song tu).
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát đồng thời tu các "Chỉ" và
"Quán". Bồ Tát "chỉ diệc các huyễn", tức là không
dùng "Ta Ma Bát Đề" như đã nói ở trước (không tu
quán như huyễn); "không chấp thủ tác dụng" tức là
không tu "Xa Ma Tha" như dã nói ở trước (không tu
Chỉ); "riêng đoạn phiền não" tức là tu "Thiền Na"
(Chỉ, Quán song tu). Khi đoạn hết phiền não thì Bồ
Tát chứng đặng thật tướng, tức là tu Thiền Na mà
nhập Viên Giác tánh.
4.
Trước tu "Định" sau tu "Huệ".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát trước giữ gìn
nơi rất tịnh (Chỉ) sau dung tịnh huệ (huệ yên tịnh)
chiếu soi các pháp như huyễn như hóa, lúc bấy giờ
khởi ra hạnh Bồ Tát. Bồ Tát tu như thế, gọi là trước
tu Xa Ma Tha(Chỉ) sau tu Tam Ma Bát Đề (Quán).
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu "Chỉ" sau tu
"Quán" - Bồ Tát trước giữ tâm rất tịnh là tu "chỉ",
rồi dùng trí huệ yên tịnh mà chiếu soi các pháp như
huyễn là tu "Quán". Lúc bấy giờ Bồ Tát trên thì cầu
đạo Phật, dưới hóa độ chúng sanh, đó là thực hành Bồ
Tát hạnh.
5.
Trước tu "Định" sau "Định, Huệ đồng thời tu".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát, dùng, trí huệ
yên tịnh, chứng đặng htể tánh rất tịnh, rôì đoạn các
phiền não, vĩnh viễn ra khỏi sanh tử. Bồ Tát tu như
thế, gọi là trước tu Xa Ma Tha (Chỉ), sau tu Thiền
Na (Chỉ, Quán song tu). Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu Chỉ, sau Chỉ,
Quán song tu. Bồ Tát dùng trí huệ yên tịnh, chứng
được tánh rất tịnh là tu Chỉ.
Đoạn hết các phiền não, vĩnh viễn ra khỏi sanh
tử luân hồi là Chỉ, Quán song tu.
6.
Trước tu "Định", thứ tu "Huệ", sau "Định, Huệ song
tu".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát, dùng trí huệ
thanh tịnh, lấy sức huyễn hóa biến hiện ra các hình
thức, để hóa độ chúng sanh; sau đoạn các phiền não,
rồi nhập vào cảnh giới tịch diệt. Bồ Tát tu như thế,
gọi là trước tu "Xa Ma Tha" (Chỉ), thứ tu "Tam Ma
Bát Đề" (Quán), sau tu "Thiền Na" (Chỉ, Quán song
tu).
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu "Chỉ", thứ tu
(Quán), sau "Chỉ, Quán song tu". -Bồ Tát dùng trí
huệ thanh tịnh là tu "Chỉ", lấy sức như huyễn mà
biến hiện ra nhiều hình thức để độ chúng sanh là tu
"Quán". Sau Bồ Tát đoạn phiền não rồi vào tịch diệt
là "Chỉ, Quán song tu".
7.
Trước tu "Định" thứ "Định, Huệ song tu", sau tu
"Huệ".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức rất
tịnh, đoạn các phiền não rồi, sau khởi cái hạnh
thanh tịnh mầu nhiệm của Bồ Tát, để độ các chúng
sanh. Bồ Tát tu như thế, gọi là trước tu "Xa Ma
Tha", thứ tu "Thiền Na", sau tu "Tam Ma Bát Đề".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu "Chỉ", thứ "Chỉ,
Quán song tu", sau tu "Quán". Bồ Tát trước tu "Chỉ"
được rất tịnh, rồi tiến tu "Thiền Na" (Chỉ, Quán
song tu) để đoạn phiền não. Khi phiền não hết rồi
thì Bồ Tát vào trần lao độ sanh, đặng diệu hạnh tự
tại vô ngại, không còn lo sợ nhiễm trước.
8.
Trước tu "Định", sau đồng thời tu "Huệ" và "Định,
Huệ song tu".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức rất
tịnh của tâm, đoạn trừ phiền não và dựng lập thế
giới, hóa độ chúng sanh. Bồ Tát tu như thế, gọi là
trước tu "Xa Ma Tha" sau đồng thời tu "Tam Ma Bát
Đề" và "Thiền Na".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát truớc tu "Chỉ", sau đồng
thời tu "Quán" và "Chỉ, Quán song tu". Bồ Tát dùng
sức rất tịnh là tu "Chỉ", đoạn trừ các phiền não là
tu "Thiền Na", dụng lập thế giới và hóa độ chúng
sanh là tu "Quán".
9.
Trước đồng thời tu "Định" và "Huệ" sau "Định, Huệ
song tu".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức rất
tịnh, giúp cho việc biến hóa, sau đoạn các phiền
não. Bồ Tát tu như thế, gọi là trước đồng thời tu
"Xa Ma Tha" và "Tam Ma Bát Đề" sau tu "Thiền Na".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước đồng thời tu "Chỉ"
và "Quán" sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ Tát dùng sức
rất tịnh là tu "Chỉ" giúp việc biến hóa là tu
"Quán", sau đoạn phiền não là "Chỉ, Quán song tu".
10.
Trước đồng thời tu "Định" và "Định, Huệ song tu" sau
tu "Huệ".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức rất
tịnh, giúp cho tịch diệt; sau rồi khởi tác dụng,
biến hóa thế giới. Bồ Tát tu như thế, gọi là trước
đồng thời tu "Xa Ma Tha" và "Thiền Na", sau tu "Tam
Ma Bát Đề".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước đồng thời tu "Chỉ"
và "Chỉ, Quán song tu", sau tu "Quán". Bồ Tát dùng
sức rất tịnh, để đoạn phiền não, mà vẫn giữ tịch
diệt, tức là
đồng
thời tu "Chỉ" và tu "Thiền Na". Sau dùng diệu hạnh
của Bồ Tát ra thế giới hóa độ chúng sanh, tức là tu
"Quán". Từ pháp tu thứ tư, đến pháp tu thứ mười này
cộng 7 pháp đều là trước tu "Chỉ".
11.
Trước tu "Huệ" sau tu "Định"
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức biến
hóa tùy thuận theo các chúng sanh để hóa độ, mà vẫn
giữ tánh rất tịnh Bồ Tát tu như thế, gọi là trước tu
"Tam Ma Bát Đề", sau tu "Xa Ma Tha".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu "Quán". Sau tu
"Chỉ". – Bồ Tát dùng sức biến hóa, tùy thuận theo
các chúng sanh để hóa độ là tu "Quán", mà vẫn giữ
tánh rất tịnh là tu "Chỉ".
12.
Trước tu "Huệ" sau "Định, Huệ song tu".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát, dùng sức biến
hóa, hoá hiện ra các cảnh giới mà vẫn giữ tịch diệt
(vắng lặng). Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu "Tam
Ma Bát Đề" sau tu "Thiền Na".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát tu trước "Quán" sau "Chỉ,
quán song tu". Bồ Tát dùng sức biến hóa là tu
"Quán", biến ra các cảnh giới, để hóa độ chúng sanh
mà vẫn giữ tịch diệt, thế là "Chỉ, Quán song tu".
13.
Trước tu "Huệ" thứ tu "Định" sau "Định, Huệ song
tu".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức biến
hóa, làm các Phật sự mà vẫn ở yên nơi tịch tịnh,
đoạn các phiền não, Bồ Tát tu như thế, gọi là trước
tu "Tam Ma Bát Đề", thứ tu "Xa Ma Tha" sau tu "Thiền
Na".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu "Quán" thứ tu
"Chỉ", sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ Tát dùng sức biến
hóa làm các Phật sự là tu "Quán", yên ở chỗ vắng
lặng là tu "Chỉ", đoạn phiền não là "Chỉ, Quán song
tu".
14.
Trước tu "Huệ", thứ "Định, Huệ đồng thời tu" sau tu
"Định".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức biến
hóa, làm các việc không ngại, đoạn các phiền não và
an trụ nơi rất tịnh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước
tu "Tam Ma Bát Đề", thứ tu "Thiền Na", sau tu "Xa Ma
Tha".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu "Quán", thứ "Chỉ,
Quán song tu", sau tu "Chỉ". Bồ Tát dùng sức biến
hóa làm các việc vô ngại là tu "Quán", đoạn các
phiền não là "Chỉ, Quán song tu", an trụ nơi rất
tịnh là tu "Chỉ".
15.
Trước tu "Huệ", sau đồng thời tu "Định" và "Định,
Huệ song tu".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức biến
hóa làm các phương tiện và tùy thuận hai pháp: rất
tịnh (Chỉ) và tịch diệt (Thiền Na). Bồ Tát tu như
thế, gọi là trước tu "Tam Ma Bát Đề" sau đồng thời
tu "Xa Ma Tha" và "Thiền Na".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước tu "Quán", sau đồng
thời tu "Chỉ" và "Chỉ, Quán song tu". Bồ Tát dùng
sức biến hóa làm các phương tiện là tu "Quán", tùy
thuận tánh rất tịnh là tu "Chỉ", và tùy thuận tịch
diệt là "Chỉ, Quán song tu".
16.
Trước đồng thời tu "Huệ" và "Định" sau tu "Thiền Na"
(Định, Huệ song tu).
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức biến
hóa, khởi ra các công dụng, giúp cho tánh rất tịnh,
sau đoạn các phiền não. Bồ Tát tu như thế, gọi là
trước đồng thời tu "Tam Ma Bát Đề" và "Xa Ma Tha",
sau tu "Thiền Na".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước đồng thời tu "Quán"
và "Chỉ", sau "Chỉ, Quán song tu". Bồ Tát dùng sức
biến hóa, khởi ra các công dụng là tu "Quán", giúp
cho tánh rất tịnh là tu "Chỉ", sau đoạn các phiền
não là "Chỉ, Quán song tu".
17.
Trước đồng thời tu "Huệ" và "Định, Huệ song tu", sau
tu "Định".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức biến
hóa, giúp với tịch diệt, sau an trụ nơi tánh định
thanh tịnh, không do tạo tác. Bồ Tát tu như thế, gọi
là trước đồng thời tu "Tam Ma Bát Đề" và "Thiền Na",
sau tu "Xa Ma Tha".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước đồng thời tu "Quán"
và "Chỉ, Quán song tu", sau tu "Chỉ". Bồ Tát dùng
sức biến hóa là tu "Quán", giúp với tịch diện là
"Chỉ, Quán song tu", sau an trụ nơi tánh định thanh
tịnh sẵn có, không do tạo tác, là tu "Chỉ".
Câu: "Tánh Định thanh tịnh không do tạo tác"
là chỉ cho "tu tánh chơn định" sẵn có và thanh tịnh,
không do tạo tác mà thành, cũng không phải dụng công
tu tập mà
được,
xưa nay nó vẫn thanh tịnh.
18.
Trước "Định, Huệ song tu" sau tu "Định".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức tịch
diệt (vắng lặng) khởi hạnh rất ịnh, rồi an trụ nơi
thanh tịnh. Bồ Tát tu như thế, gọi là trước tu
"Thiền Na", sau tu "Xa Ma Tha".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước "Chỉ, Quán song tu"
sau tu "Chỉ". Bồ Tát dùng sức tịch diệt, khởi tánh
rất ịnh là "Chỉ Quán song tu" rồi an trụ nơi thanh
tịnh là tu "Chỉ".
19.
Trước "Định, Huệ song tu" sau tu "Huệ".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức tịch
diệt, khởi ra tác dụng, tuy đối các cảnh, mà vẫn tùy
thuận nơi tịch tịnh. Bồ Tát tu như thế, gọi là trước
tu "Thiền Na", sau tu "Tam Ma Bát Đề".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước "Chỉ, Quán song tu",
sau tu "Quán". Bồ Tát dùng sức tịch diệt khởi ra tác
dụng độ sanh là "Chỉ, Quán song tu". Mặc dù Bồ Tát
làm các hạnh lợi sanh mà vẫn tùy thuận nơi tịch tịnh
là tu "Quán".
20.
Trước "Định, Huệ song tu" thư tu "Định", sau tu
"Huệ".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức tịch
diệt, quán tự tánh các chúng sanh, an trụ nơi Định,
mà vẫn biến hóa các pháp để độ sanh. Bồ Tát tu như
thế, gọi là trước tu "Thiền Na", thứ tu "Xa Ma Tha"
sau tu "Tam Ma Bát Đề".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước "Chỉ, Quán song tu",
thứ tu "Chỉ", sau tu "Quán". Bồ Tát dùng sức tịch
diệt, quán tự tánh các chúng sanh để hóa độ là "Chỉ,
Quán song tu", an trụ nơi Định là tu "Chỉ", biến hóa
các pháp để độ sanh là tu "Quán".
21.
Trước "Định, Huệ song tu" thứ tu "Huệ", sau tu
"Định".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức tịch
diệt của tự tánh vô tác, để khởi ra tác dụng độ
sanh, rồi y nơi cảnh giới thanh tịnh mà trở về nơi
Định. Bồ Tát tu như thế, thì gọi là trước tu "Thiền
Na", thứ tu "Tam Ma Bát Đề", sau tu "Xa Ma Tha".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước "Chỉ, Quán song tu"
thứ tu "Quán" sau tu "Chỉ". Bồ Tát dùng sức tịch
diệt của tự tánh vô tác, để khởi ra tác dụng độ
sanh, là "Chỉ, Quán song tu". Bồ Tát y nơi cảnh giới
thanh tịnh là tu "Quán", sau trở về nơi Định là tu
"Chỉ".
Chữ "Tự tánh vô tác", nghĩa là: tự tánh sẵn có
không do tạo tác mà thành.
22.
Trước tu "Thiền Na" (Định, Huệ song tu) sau đồng
thời tu "Định và Huệ".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức tịch
diệt, mỗì mỗi thanh tịnh, an trụ ở nơi Định, mà khởi
ra các món biến hóa. Bồ Tát tu như thế, gọi là trước
tu "Thiền Na", đồng thời tu "Xa Ma Tha" và "Tam Ma
Bát Đề".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước "Chỉ, Quán song tu"
sau đồng thời tu "Chỉ" và "Quán". - Bồ Tát dùng sức
tịch diệt, mỗi mỗi thanh tịnh là "Chỉ, Quán song tu"
an trụ ở nơi Định là tu "Chỉ" khởi ra các món biến
hóa là tu "Quán".
23.
Trước đồng thời tu "Thiền Na" và tu "Định" sau tu
"Huệ".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức tịch
diệt, giúp cho tan1h rất tịnh, sau khởi ra việc biến
hóa. Bồ Tát tu như thế, gọi là
đồng
thời tu "Thiền Na" và "Xa Ma Tha" sau tu "Tam Ma Bát
Đề".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước đồng thời "Chỉ, Quán
song tu" và tu "Chỉ", sau tu "Quán". - Bồ Tát dùng
sức tịch diệt là "Chỉ, Quán song tu", giúp cho tánh
tất tịnh là tu "Chỉ", khởi ra các việc biến hóa là
tu "Quán".
24.
Trước đồng thời tu "Thiền Na" và tu "Huệ", sau tu
"Định".
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng sức tịch
diệt giúp việc biến hóa, sau khởi tánh rất tịnh, ở
cảnh giới trí huệ trong sáng. Bồ Tát như thế, gọi là
đồng
thời tu "Thiền Na" và "Tam Ma Bát Đề" sau tu "Xa Ma
Tha".
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát trước đồng thời "Chỉ, Quán
song tu" và tu "Quán", sau tu "Chỉ". Bồ Tát dùng sức
tịch diệt là "Chỉ, Quán song tu", giúp việc biến hóa
là tu "Quán", sau khởi tánh rất tịnh v.v... là tu
"Chỉ".
25.
Bồ Tát viên tu ba pháp.
- Này Thiện nam! Nếu có Bồ Tát dùng Huệ Viên
Giác, viên hiệp các pháp, nào tánh, nào tướng của
các pháp đều không rời tánh Viên Giác, Bồ Tát tu như
thế, gọi là viên tu ba pháp, tùy thuận tánh Viên
Giác thanh tịnh.
Lược
Giải
Đoạn này nói Bồ Tát viên tu ba pháp. Bồ Tát
dùng Viên Giác Huệ, viên hiệp tất cả các pháp. Nào
Định, Huệ và Định Huệ song tu, nào tánh, tướng của
các pháp đều không rời tánh Viên Giác.
4.
Tóm lại.
- Này Thiện nam! Đây là 25 pháp tu của Bồ Tát.
VẬy các Bồ Tát phải y theo đây mà tu hành.
Nếu các Bồ Tát hiện tại và chúng sanh đời sau,
muốn y theo 25 pháp môn này mà tu hành , thì phải
giữ giới thanh tịnh, tâm suy nghĩ vắng lặng và phải
trải qua 21 ngày thành tâm sám hối, rồi viết 25 pháp
môn này vào mỗi miếng giấy, niệâm lại kỹ, đem để
trên bàn Phật và chí tâm cầu khẩn, rồi tùy tay hành
giả rút một miếng giấy, khi mở ra xem thì hành giả
sẽ biết trình độ của mình tu pháp Đốn hay Tiệm. Song
nếu hành giả một niệm nghi ngờ, thì chẳng thành tựu.
Lược
Giải
Đoạn này Phật kết thúc lại và dạy rằng: Đây là
25 pháp tu của Bồ Tát. Nếu có người muốn tu theo 25
pháp này, thì điều cần yếu là phải giữ giới cho thân
tâm được thanh tịnh và chí thành cầu sám hối 21
ngày. Rồi hành giả viết tên 25 pháp tu này vào 25
miếng giấy, xép gói riêng từng miếng, để chung lại
trên bàn Phật. Hành giả phải chí thành cầu nguyện,
rồi tùy ý rút một miếng giấy, sau khi mở ra xem thì
hành giả sẽ tự biết căn cơ của mình Đốn hay Tiệm và
phải y theo đó mà tu hành. Nhưng nếu hành giả có một
niệm nghi ngờ, thì chẳng thành tựu.
Tóm lại, 25 pháp tu này không ngoài định, Huệ
và Định Huệ song tu. Chẳng qua tùy theo trình độ của
hành giả có sâu cạn, cao thấp không đồng, nên có khi
phải tu Định trớc rồi Quán sau; có khi phải tu Quán
trước rồi Định sau; lắm lúc phải tu đồng thời v.v...
Vì tùy theo trình độ của hành giả, mà thay đổi trước
sau, xây qua trở lại nên thành ra 25 pháp. Vậy hành
giả nên tùy theo trình độ của mình mà tu tập.
5.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
Khi đó Đức Thế Tôn muốn tóm lại nghĩa này, nên
nói bài kệ rằng:
Biện Âm! Ông
nên biết:
Các trí huệ thanh tịnh,
Của tất cả Bồ Tát.
Đều do Thiền định sanh,
Thiền định là "Chỉ, Quán".
Và "Chỉ, Quán song tu",
Ba pháp, phân Đốn, Tiệm.
Thành ra hai mươi lăm,
Mười phương các Như Lai.
Và hành giả ba đời,
Đều y pháp môn này.
Mà
đặng
thành Bồ Đề,
Chỉ trừ người đốn ngộ.
Và những người không tin,
Mới chẳng theo pháp này.
Còn tất cả Bồ Tát,
Và chúng sanh đời sau.
Phải như thế tu hành,
Nhờ Đại bi của Phật.
Các ông siêng tu,
Sẽ mau chứng Niết Bàn.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này nói: Trí huệ thanh tịnh vô
ngại của các Bồ Tát đều do Thiền định sanh. Thiền
định là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu. Bởi theo căn
cơ của hành giả có Đốn và Tiệm không đồng, nên ba
pháp này lại chia ra đến 25 pháp.
Chỉ trừ những bực đốn ngộ và những người không
tin, còn chư Phật và các vị Bồ Tát cùng chúng sanh
đời sau đều tu theo các pháp môn này mà
được
thành Bồ Đề.
Vậy hành giả nên y theo đây, siêng năng tu tập
và nhờ lòng đại bi của Phật gia hộ, sẽ mau chứng
Niết Bàn.
BÀI THỨ CHÍN
IX. CHƯƠNG TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG
1. Ngài Tịnh
Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát.
3. Phật trả lời: Do chúng sanh vọng chấp bốn tướng.
4. Đem Vô minh cầu Đạo, không thể thành Đạo được.
5. Phật nói bốn tướng.
6. Vì không rời được bốn tướng nên tu chẳng thành
Phật.
7. Thương, Ghét là gốc của sanh tử luân hồi.
8. Phật chỉ ngã tướng núp ẩn trong tàng thức.
9. Không thấy người hủy nhục, không thấy mình thuyết
pháp độ sanh, lúc bấy giờ ngã tướng không còn.
10. Vì còn ngã tướng nên không nhập được Viên Giác.
11. Phật dạy phương pháp nhập Viên Giác.
12. Phật nói bài kệ tóm tắt lại các nghĩa trên.
IX.
CHƯƠNG TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG
1.
Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát (1)
ở trong đại chúng đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật
ba vòng, rồi lạy Phật và quỳ thẳng chắp tay, bạch
rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, Ngài đã vì chúng
con rộng nói "nhơn địa tu hành" (2) của các đức Như
Lai, toàn những việc cao siêu mầu nhiệm, không thể
suy nghĩ và luận bàn được, khiến cho đại chúng đặng
lợi ích chưa từng có.
Chúng con là hàng Bồ Tát rất vui mừng, vì tất
cả cảnh giới tu hành cần khổ của Đức Điều Ngự (3)
trải qua vô số kiếp, nhiều như cát sông Hằng, mà
chúng con chỉ thấy như trong một niệm.
- Bạch Đức Thế Tôn, nếu cái tâm Viên Giác này
tánh nó vốn thanh tịnh, vậy nhơn cái gì mà nhiễm ô
và vì sao khiến cho chúng sanh mê muội, chẳng nhập
được tánh Viên Giác?
Cúi xin Đức Như Lai, rộng vì chúng con, khai
ngộ Pháp tánh (4) , làm cho đại chúng hiện tại và
chúng sanh đời sau, đều được con mắt trí huệ.
Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát thưa thỉnh
như vậy ba lần, cúi đầu kính lạy rồi trở lui.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ
Tát hỏi Phật: "... tánh Viên Giác đã thanh tịnh, vậy
nhơn cái gì mà nhiễm ô? Và vì sao làm cho chúng sanh
mê muội không nhập được tánh Viên Giác..." Đoạn này
giống như trong Kinh Lăng Nghiêm, Ông Phú Lâu Na hỏi
Phật: "Tất cả chúng sanh vì sao có vọng, tự che lấy
chơn tâm mà phải chịu trầm luân?..."
_________
(1) Câu: "Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát", Cổ
đức dạy: "Phật cao nhứt xích, ma thắng nhứt trượng",
nghĩa là Phật cao 1 thước thì ma hơn 10 thước. Khi
chưa tu, vì thuận theo phiền não nghiệp chướng, nên
chẳng thấy phiền não nghiệp chướng làm chướng ngại.
Đến khi hạ thủ công phu, đi ngược dòng phiền não,
lúc bấy giờ mới thấy phiền não nghiệp chướng các
bịnh hiện ra vô số. Các phiền não nghiệp chướng này
do bốn tướng Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ giả mà
sanh ra. Vì thế nên chương này, Ngài Tịnh Chư Nghiệp
Chướng Bồ Tát đứng lên thưa hỏi, cầu Phật chỉ dạy
phương pháp dẹp trừ các nghiệp chướng về Tâm bệnh.
Đến chương dưới Phật sẽ nói rõ về bệnh tà sư.
(2) Nhơn địa tu hành tức là ba pháp môn Phật
dạy ở chương trên (Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề và Thiền
Na). Nhơn nghe thấy Phật dạy pháp môn tu, cũng như
thấy tất cả công dụng tu hành của các đức Phật trải
qua bao nhiêu kiếp lao khổ, như trong một niệm, cho
nên nói là "việc không thể nghĩ bàn".
(3) Điều ngự: Điều phục ngự trị các phiền não
ma quân. Đây là một hiệu trong 10 hiệu của Phật (Như
Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, v.v...)
(4) Pháp tánh: Tánh các pháp. Các pháp tuy
ngàn sai muôn khác, nhưng đồng một bản tánh nên gọi
là "Pháp tánh", tức là biệt danh của Viên Giác.
2.
Phật khen Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát
Khi ấy Đức Thế Tôn bảo Ngài Tịnh Chư Nghiệp
Chướng Bồ Tát mà dạy rằng:
- Này Thiện nam! Hay lắm và quý lắm! Ông vì
các vị Bồ Tát hiện tại và chúng sanh đời sau, thưa
hỏi Như Lai, phương tiện như vậy. Các ông nên chăm
chú nghe, ta sẽ vì các ông chỉ giáo.
Khi ấy Ngài Tịnh Chưa Nghiệp Chướng Bồ Tát
cùng đại chúng đều hoan hỷ và yên lặng vâng nghe lời
Phật chỉ dạy
Lược
Giải
Đoạn này Phật khen Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng
Bồ Tát, vì đại chúng hiện tại và chúng sanh đời sau,
thưa hỏi những lời rất hữu ích.
3.
Phật trả lời: Do chúng sanh vọng chấp bốn tướng.
- Này Thiện nam! Tất cả chúng sanh từ hồi nào
đến giờ, do vọng tưởng điên đảo, chắp bốn tướng:
Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ mạng, cho là thật thể
của ta; rồi sanh ra hai cảnh: thương và ghét. Thế là
ở nơi thân thể này đả hư vọng, lại chấp them cái hư
vọng nữa.
Bởi hai lớp vọng nương nhau, sanh ra các vọng
nghiệp. Vì có vọng nghiệp nên vọng thấy có sanh tử
luân hồi. Những người nhàm chán sanh tử luân hồi thì
lại vọng thấy có Niết Bàn.
Bởi thế nên không thể nhập được Viên Giác
thanh tịnh; chớ không phải tánh Viên Giác này chống
cản không cho chúng sanh nhập. Và những người nhập
được, cũng không phải tại tánh Viên Giác chấp thuận
hay cho họ nhập vậy. Thế nên kẻ khởi niệm hay người
dứt niệm cũng đều là mê muội. Tại sao thế? - Bởi vì
Vô minh đã khởi sẵn (bổn khởi Vô minh) và làm chủ tể
từ vô thỉ vậy.
Lược
Giải
Đoạn thứ nhứt, Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ
Tát hỏi Phật: "... Cái tâm Viên Giác này vốn đã
thanh tịnh, vậy nhơn cái gì mà nhiễm ô? Và vì sao
khiến cho chúng ta sanh mê muội chẳng nhập được Viên
Giác?..."
Đến đoạn này Phật trà lời, đại ý nói: Bởi tất
cả chúng sanh từ hồi nào đến giờ, do vọng tưởng điên
đảo, chấp bốn tướng (Ngã, Nhơ, Chúng sanh, Thọ mạng)
là thật thể của Ta, là lớp hư vọng thứ nhứt. Rồi khi
gặp cảnh thuận với ta thời thương, cảnh nghịch với
Ta lại ghét, là lớp hư vọng thứ hai. Vì thế mà nhiễm
ô. Đây là Phật trả lời về câu hỏi thứ nhứt: Nhơn gì
mà nhiễm ô?
Nhơn cố chấp thật có Ta, cho nên mới sanh ra
thương ghét, vì thương ghét nên trở lại chấp thật có
Ta. Bởi hai lớp vọng này nương nhau, nên sanh ra các
vọng nghiệp. Vì thế mà chúng phàm phu vọng thấy có
sanh tử luân hồi trong sáu đạo. Hàng Tiểu thừa nhằm
chán sanh tử luân hồi thì lại vọng thấy có Niết Bàn;
rồi trầm không thú tịch tham luyến nơi cảnh Niết
bàn. Bởi thế nên không nhập được tánh Viên Giác
thanh tịnh, chớ chẳng phải tánh Viên Giác không cho
họ nhập vậy. Đây là Phật trả lời câu hỏi thứ hai: Vì
sao khhiến cho chúng sanh mê muội, chẳng nhập được
Viên Giác?
Phật lại dạy tiếp: Những người nhập được, cũng
không phải do tánh Viên Giác chấp thuận cho họ nhập.
Bởi thế nên chúng phàm phu khởi niệm, hay hàng Nhị
thừa dứt niệm, đều là Vô minh mê muội cả, chớ không
dính líu gì đến tánh Viên Giác vậy.
4.
Đem Vô minh (ngã, tướng v.v...) mà cầu đạo, thì
không thể thành đạo được.
- Này Thiện nam! Tất cả chúng sanh, sống không
có con mắt trí huệ, nên không tự thấy cả thân tâm
này (ngã tướng) đều là Vô minh. Vì ngã tướng (thân
tâm) do Vô minh sanh, nên chúng sanh không đủ can
đảm tự tiêu diệt ngã tướng, cũng như người không thể
tự sát lấy mình được.
Bởi chấp thân này là Ta, nên cảnh nào thuận
với ta thì sanh ra thương yêu; còn cảnh nào nghịch
với Ta thì lại sanh ra oán ghét. Do tâm thương ghét
này, trở lại tiếp tục nuôi dưỡng Vô minh. Vì thế nên
chúng sanh cầu Đạo, đều không thành được Đạo.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật dạy rằng: Tất cả thân tâm
của chúng sanh đều do Vô minh sanh; song vì chúng
sanh (ngã tướng) đã từ Vô minh sanh, nên không đủ
can đảm tiêu diệt Vô minh (ngã tướng) của mình. Cũng
như người không thể tự sát mình được.
Vô minh đã sanh ra ngã tướng, rồi từ ngã tướng
sanh ra thương ghét, rồi trở lại làm tăng thế lực
cho nước. Bởi Vô minh huân tập và tu dưỡng lẫn nhau,
tiếp nối không ngừng, nên chúng sanh dầu có cần khổ
tu đạo mà bốn tướng (ngã, Nhơn, v.v...) không rời,
thì quyết định chẳng thành Đạo.
Giống như trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy:
"... Nếu dùng gốc rễ của vọng tâm làm tu nhơn, thì
không thể nào thành được Đạo). Đem tâm đời mà làm
Đạo, thì Đạo cũng trở thành đời!
Trong Kinh Viên Giác lược sớ chép: "Dùng tâm
mê muội (Vô minh) mà cầu đạo, dầu cho siêng năng khổ
hạnh tu đủ các pháp môn, cũng chỉ giúp thêm lực
lượng cho Vô minh mà thôi, chớ không thành được quả
vị Phật.
Phải biết: Gốc từ Vô minh sanh ra thương ghét,
rồi do thương ghét trở lại huân tập thành Vô minh.
Từ chủng tử sanh hiện hành, rồi hiện hành huân làm
chủng tử nối nhau không dứt. Chúng sanh đem cái Vô
minh này mà cầu Đạo thì trọn đời không thể thành
tựu.
Kinh Bảo Tích chép: Đối với thân này, sanh yêu
quý, thế là không rời tướng Ngã, Nhơ; dùng cái tướng
Ngã, Nhơn này mà tu hành thì trở lại đọa ác thú.
5.
Phật nói bốn tướng:
A.
Ngã Tướng.
- Này Thiện nam! Thế nào là "Ngã tướng"? - Tất
cả chúng sanh tự tâm chứng nhận biết có Ta (ngã
tướng) vậy. Thí như có người thân thể điều hòa không
có chút gì trái ý, tợ hồ như quên mình (lúc ấy không
thấy ngã tướng hiện). Đến khi điều dưỡng bị thất
thường, thân thể mất thăng bằng, hoặc gặp phải những
cảnh trái nghịch, như gai đâm hay lửa đốt v.v... lúc
bấy giờ mới thấy cái Ta (ngã tướng) hiện ra rất rõ
rệt. Vì thế mà chứng biết có cái Ta.
Này Thiện nam! Sâu thêm một từng nữa, cái Ngã
tướng có phần vi tế hơn trước, là người tu hành,
trong lúc thấy mình có chứng quả, có đắc đạo. Cho
đến khi chứng quả Như Lai, hay đặng Niết Bàn thanh
tịnh của Phật, mà nếu còn cái tâm biết mình có chứng
và có đặng, như thế cũng đều còn "Ngã tướng".
Lược
Giải
Đoạn này Phật chỉ rõ cái Ngã tướng (ta) có thô
và tế.
1. Trong lúc bình thường thì cái Ta hiện ra
không rõ rệt, đến khi nghịch cảnh, bị người đánh đập
hoặc hủy nhục v.v... lúc bấy giờ cái Ngã tướng hiện
ra mới rõ ràng. Đâylà cái Ngã tướng thô.
2. Người tu hành, một mình ở trong núi sâu
rừng thẳm, không gặp các cảnh thuận nghịch, tâm
không phân biệt mình với người, lúc bấy giờ tưởng
mình đã chứng được "vô ngã" rồi. Đến khi gặp cảnh
buồn vui thử thách, tâm mừng giận nổi lên, lúc bấy
giờ Ngã tướng hiện ra y nguyên. Cho đến lúc tự thấy
mình đắc Đạo hay chứng Niết Bàn tịch tịnh của Như
Lai cũng đều còn Ngã tướng, song có phần vi tế hơn
trước. Bởi vì còn biết có Niết Bàn hay quả Phật sở
chứng (được chứng), tất nhiên phải có cái Ta "năng
chứng". Nếu năng chứng và sở chứng chưa hết (bỉ, thử
chưa trừ) tức là còn Ngã tướng.
B.
Nhơn Tướng
- Này Thiện nam! Thế nào là Nhơn tướng? -Tất
cả chúng sanh, tự tâm hiểu ngộ Ta đây là người vậy
(nhơn tướng), nghĩa là hiểu ngộ Ta là người và các
ngươi cũng là người (nhơn tướng). Nói rộng ra, hiểu
ngộ ngoài Ta (ngã) thì tất cả đều là người vậy.
Này Thiện nam! Đi sâu vào một từng nữa, cái
"nhơn tướng" có phần vi tế hơn, là cái tâm này, cho
đến hiểu ngộ rắng: "còn biết mình viên ngộ Niết
Bàn", cũng dều còn Ngã tướng; nghĩa là ở nơi tâm,
nếu còn một chút ngộ rắng : "Chứng lý đầy đủ", thì
đều gọi là "Nhơn tướng".
Lược
Giải
Đoạn này Phật chỉ rõ cái "nhơn tướng" có thô
và tế.
1. Chúng sanh tự công nhận mình là người
(nhơn) và các người cũng là người (nhơn). Nói rộng
ra, ngoài mình (Ta) thì tất cả kẻ khác đều là người
(nhơn). Đây là cái nhơn tướng thô thiển.
2. Đi sâu vào một từng nữa, cái Nhơn tướng có
phần vi tế hơn, là cái "tâm hiểu biết" này, cho đến
nếu còn hiểu biết: "mình có viên ngộ Niết Bàn", cũng
còn Ngã tướng. Nghĩa là: hễ còn có một chút hiểu
biết, thế là con "nhơn tướng". Cái nhơn tướng này
rất là vi tế.
Tóm lại, nếu còn có một chút hiểu ngộ rằng:
"Mình viên ngộ Niết Bàn", thế là cái "hiểu ngộ" và
có cái "mình viên ngộ" khác nhau. Vậy thời ngoài
mình (mình viên ngộ) còn có Nhơn tướng (cái hiểu
ngộ) vậy.
Nói lại cho dễ hiểu: còn có Ta viên ngộ Niết
Bàn, tức là Ngã tướng, cái "biết ta viên ngộ" đó là
nhơn tướng.
C.
Chúng Sanh Tướng
- Này Thiện nam! Thế nào là Chúng Sanh tướng?
- Tất cả chúng sanh ở nơi tự tâm không còn chấp mình
là Ngã và Nhơn mà lại chấp là chúng sanh. Tỷ như có
người nói như thế này: "Tôi đây là chúng sanh". Bởi
thế nên biết: Người kia nói "Tôi là chúng sanh" thì
biết không phải Ngã và Nhơn.
Này Thiện nam! Những chúng sanh rõ biết hai
món tướng trước (sở chứng, sở ngộ) là thuộc về Ngã
và Nhơn, nay không còn chấp Ngã, Nhơn nữa; nhưng còn
cái "tâm rõ biết", đó là Chúng Sanh tướng.
Lược
Giải
Đoạn này Phật nói chúng sanh tướng có hai phần
thô và tế.
1. Không còn chấp ta đây là Ngã hay Nhơn mà
lại chấp là chúng sanh. Như thế là chấp về phần thô.
2. Rõ biết hai tướng Ngã và Nhơn là phi, nên
không còn chấp; thế là
đã
cao hơn trước một từng, nhưng còn cái "rõ biết hai
tướng Ngã, Nhơn là phi". Đó cũng là cái vi tế Ngã
tướng còn ẩn phục bên trong, gọi là chúng sanh
tướng.
D.
Thọ Mạng Tướng
- Này Thiện nam! Thế nào là Thọ Mạng tướng? –
Các chúng sanh tâm chiếu soi (phân biệt) đã thanh
tịnh. Nhưng còn cái trí giác ngộ tưởng chúng sanh
trước (giác sở liễu giả). Bởi còn có cái "trí giác
ngộ", tương tục tu tập các nghiệp vô lậu, chưa có
thể tự trừ đưọc; cũng như mạng căn tương tục, không
tự đoạn được, nên gọi là "Thọ Mạng tướng".
Này Thiện nam! Nếu còn tâm soi thấy (biết) tất
cả cái giác (biết) trước (3 tướng trên) đó thì cũng
còn ở trong vòng trần cấu (tâm chưa trong sạch). Bởi
còn năng giác và sở giác nên chưa rời trần cấu vậy.
Cũng như nước nóng làm tiêu băng, thì toàn
băng là nước, lúc bấy giờ không còn nước nóng năng
tiêu và băng bị tiêu nữa. Nếu còn chút nước nóng và
băng, thế là nước chưa thuần nhứt. Cũng thế, nếu còn
cái Ta để giác ngộ cái Ta trước, thì chưa rời được
bốn tướng.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: Người tu hành khi phá trừ
được Ngã, Nhơn, chúng sanh ba tướng trên rồi, tâm đã
được thanh tịnh, nhưng còn cái trí tiếp tục tu vô
lậu nghiệp, để phá trừ tướng trên. Vì cái trí này
còn tiếp tục trong một thời gian chưa có thể tự trừ
được. Cũng như mạng sống của người, sống tiếp tục
trong một thời gian, không thể tự đoạn được, nên gọi
là "Thọ Mạng tướng".
Phật dạy thêm, đại ý: Nếu còn tâm phân biệt để
phá trừ các tướng ( Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ mạng)
thế là còn vọng vì năng, sợ, bỉ, Thử đối đãi nhau,
nên tâm chưa trong sạch. Bởi còn vọng là còn nhiễm
ô, vì thế nên gọi là trần cấu. Nghĩa là: nếu còn một
chút biết rằng: "Ta trừ Ngã", thế là còn mắc trong
bốn tướng, chưa thoát ly được vọng – Cũng như nước
nóng làm tiêu băng, khi băng "tiêu rồi thì "nóng"
cũng không chỉ còn nước.
Ngài Tôn Mật giải: Nước là dụ cho "chơn tâm",
băng là dụ cho "bốn tướng". Nước nóng là dụ cho "trí
huệ". Nước vì lạnh mà
đóng
thành "băng"; cũng như Tâm vì mê nên thành "bốn
tướng’. Dùng nước nóng làm tiêu băng, cũng như dùng
trí huệ làm tiêu bốn tướng. Khi băng tiêu rồi thì
nóng (nước nóng) cũng không chỉ còn một tánh nước mà
thôi. Cũng như Ngã tướng hết, thì trí phá Ngã cũng
không chỉ còn một thể tánh chơn tâm.
Tóm lại, tướng "thọ mạng" cũng là tướng Ngã
rất vi tế đó thôi. Chúng sanh trước phân biệt chấp
Ta, tức là Ngã tưóng. Khi phá được Ngã tướng, nhưng
còn cái "trí biết mình phá Ngã" là nhơn tướng. Khi
phá được Nhơn tướng, nhưng còn cái "trí biết mình đã
phá nhơn tướng" gọi là chúng sanh tướng. Khi phá
được Chúng sanh tướng, nhưng vẫn còn cái "trí biết
mình đã phá Chúng sanh Tướng". Cái trí đó vẫn tiếp
tục tu các nghiệp vô lậu, chưa có thể tự đoạn được,
cũng như mạng căn tương tục sống trong một thời gian
và không thể tự đoạn được, nên gọi là "Thọ mạng
tướng".
VậÄy thì bốn tướng trên, cũng là một ngã
tướng, chẳng qua từ thô vào tế, từ thiển đến thâm mà
thôi. Theo trong văn Kinh chữ Hán, dùng bốn chữ
riêng biệt, chỉ rõ bốn tướng có thô và tế khác nhau.
1. Chứng là ngã tướng.
2. Ngộ là nhơn tướng.
3. Liễu là chúng sanh tướng.
4. Giác là thọ mạng tướng.
6.
Vì không rời được bốn tướng, nên tu chẳng thành
Phật.
- Này Thiện nam! Các chúng sanh đời sau, bởi
không rời được bốn tướng, nên tuy trải qua nhiều
kiếp, siêng năng tu hành khổ hạnh, nhưng chỉ thành
hữu vi mà thôi, chớ không thể chứng được Thánh quả.
Lược
Giải
Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật đã cặn kẽ căn dặn:
"Nếu các ông nhận lầm căn bản của sanh tử là vọng
tâm làm nhơn địa tu hành, thì không bao giờ thành
quả vị Phật. Cũng như người nấu cát làm cơm, dầu
trải qua bao nhiêu kiếp cũng chẳng thành cơm được,
vì nó gốc là cát."
Giống với đoạn kinh này, Phật dạy đại ý: Người
mang tâm nhơn, ngã v.v... thuộc về hữu vi hữu lậu
của chúng sanh, mà muốn cầu quả vô vi vô lậu của
Phật, dầu cho cực khổ tu hành, trải qua nhiều kiếp
cũng không thể được, vì gốc nó là Ngã tướng, là
chúng sanh và hữu lậu vậy.
- Tại sao thế? Bởi nhân các ngã tướng: có
chứng có ngộ, cho là thành tực quá Niết Bàn. Chẳng
khác nào người nhận giặc làm con, nó sẽ phá tan gia
tài quý báu vậy.
Lược
Giải
Ngài Như Sơn giải rằng: Tại sao siêng năng tu
hành trải lâu nhiều kiếp, mà không chứng được thánh
quả? - Bởi vì lầm nhận Ngã tướng làm Niết Bàn vậy.
Cũng như lầm nhận giặc làm con, đã không được nhờ,
trái lại còn bị nó phá hại chẳng ít.
Trên văn kinh, chữ "các ngã tướng" tức chỉ cho
bốn tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ mạng.
Trên văn kinh, chữ "có chứng có ngộ"; nghĩa là
biết mình có chứng quả Phật, có ngộ Đạo, thế là chưa
rời Ngã tướng. Bởi hành giả đem "ngã tướng" này, cho
là
đặng
thánh quả, nên nói "nhận giặc làm con vậy".
7.
Thương (tham) ghét (sân) là gốc của sanh tử luân hồi
- Này Thiện nam! Nếu hành giả còn ưa (thương)
Niết Bàn (pháp ái) tức là còn Ngã tướng (ta ưa);
chẳng qua cái Ngã tướng ấy bị ẩn phục, rồi lầm cho
đó là tướng Niết Bàn.
Còn ghét sanh tử, tức là còn Ngã tướng (ta
ghét). chúng sanh riêng ghét sanh tử, ưa Niết Bàn,
chớ đâu biết rằng: cái "ưa" đó chính là gốc sanh tử,
còn "ghét" là gốc triền phược (không giải thoát).
- Này Thiện nam! Làm sao biết "ưa" và "ghét"
là gốc của của sanh tử triền phược? Bởi các chúng
sanh tu đạo Bồ Đề, nếu còn đôi chút biết mình chứng
được Đạo quả thanh tịnh, thế là chưa diệt trừ được
tận gốc Ngã tướng, nên còn sanh tử triền phược.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói: "còn" thương ghét là còn
Ngã tướng; mà Ngã tướng là gốc rễ của sanh tử luân
hồi.
Chúng sanh đem tâm "thương ghét" này mà cầu
đạo Bồ Đề, thì không bao giờ được giải thoát, vì nó
là gốc của sanh tử luân hồi vậy.
Mặc dầu ghét sanh tử là việc phải, ưa cảnh
Niết Bàn tịch tịnh là một điều hay; nhưng cũng còn ở
trong vòng thương ghét, nên chẳng rời Ngã tướng.
Phải không "thương ghét", thì Ngã tướng mới
không; Ngã tướng không, mới nhập được Viên Giác. Vì
hiểu nghĩa này, nên cổ nhơn có làm bài kệ rằng:
Hán văn:
Thập phương
đồng tụ hội,
Cá cá học vô vi.
Thử thị tuyển Phật trường,
Tâm không cập đệ quy.
Dịch Ngĩa:
Mười phương
đồng tu hội,
Người học vô vi.
Đây là trường thi Phật,
"Tâm không" mới được đậu.
Bài kệ này quan trọng nhứt là hai chữ "Tâm
không". Người còn "ưa ghét" tức là còn tham sân;
thâm sân còn thì sanh tử luân hồi còn. Bởi thế nên
trường thì làm Phật này, nếu ai Tâm không còn tham
sân tật đố, Tâm không còn nhơn ngã bỉ thử, Tâm không
còn mừng giận thương ghét v.v... thì được "đậu".
8.
Phật chỉ "Ngã tướng" ẩn núp trong tạng thức.
- Này Thiện nam! Trong khi có người đến khen
ngợi kính phục, hành giả lại sanh vui mừng, muốn tế
độ người đó. Trái lại, nếu bị người chê bai hủy
báng, thì hành giả lại sân hận. Do đó mà biết cái
Ngã tướng vẫn còn kiên cố núp ẩn trong tạng thức; nó
thường lai vãng trong các căn của hành giả, không
gián đoạn vậy. Người tu hành bởi không đoạn trừ được
"Ngã tướng", cho nên không thể nhập được Viên Giác
thanh tịnh.
Lược
Giải
Người đời khi gặp cảnh thuận hay nghịch, cái
Ngả tướng thô trọng nổi lên rất dễ biết. Đến như
người tu hành cổi lột được Ngã tướng thô trọng bên
ngoài, nhưng còn cái Ngã tướng vi tế tiềm tàng trong
tạng thức. Nó thường xuất đầu lộ diện, lai vãng ở
nơi các căn: mắt, tai, mũi, lưỡi.
Bằng chứng: trong lúc được người khen kính thì
ta sanh tâm hoan hỷ, muốn độ người ấy. Trái lại, khi
bị người hủy báng chê bai, thì ta lại không vui. Đó
là cái Ngã tướng hiển lộ, có phần tế nhị hơn trước.
Bởi không trừ được tướng ngã, nên không nhập được
Viên Giác.
Thân ôi! Núi
không cao, trời không cao,
Ngã tướng mới cao.
Sông chẳng sâu, biển chẳng sâu,
Ngã tướng mới sâu.
9.
Không thấy người hủy nhục, không thấy mình thuyết
pháp độ sanh, lúc bấy giờ Ngã tướng mới không còn.
- Này Thiện nam! Nếu hành giả muốn biết mình
được vô ngã chưa, cứ xem trong lúc bị người hủy
nhục, mà không thấy có ngưòi hủy nhục như thế là
được
Vô ngã.
Trái lại, trong lúc thuyết pháp độ người mà
còn thấy có Ta thuyết pháp, thế là Ngã tướng chưa
đoạn. Còn nhơn tướng, chúng sanh tướng và thọ mạng
tướng cũng thế.
Lược
Giải
Được người khen không mừng bị người chê chẳn
buồn, cũng chưa chắc đã hết Ngã tướng. Trong khi
được khen bị chê, mà không thấy có người khen chê,
như t hế mới là vô ngã. Trái lại, nếu thấy có người
khen chê, cố nhiên phải có Ta được khen, bị chê, nên
Ngã tướng hãy còn rõ ràng.
Một thí dụ thứ hai: trong lúc thuyết pháp độ
người, không thấy có Ta thuyết pháp, có người nghe
pháp, không thấy có Ta tế độ, có người được độ; như
thế mới được vô ngã. Trái lại, nếu còn thấy có Ta
thuyết pháp, có Ta tế độ, thế là Ngã tướng chưa
đoạn.
Trong Kinh Kim Cang, Phật nói: "Bồ Tát độ vô
số chúng sanh mà không thấy chúng sanh có độ, nếu
còn thấy có Ta độ sanh tức không phải Bồ Tát"; vì
còn ngã tướng, nên không phải Bồ Tát vậy.
Kinh Kim Cang lại nói: "Bồ Tát thuyết pháp,
không thấy có mình thuyết, nếu còn thấy có Ta thuyết
pháp, tức không phải Bồ Tát"; vì còn ngã tướng, nên
không phải Bồ Tát vậy.
10.
Vì còn "ngã tướng" nên không nhập được Viên Giác.
- Này Thiện nam! Ngã tướng là cái trọng bịnh
của hành giả. Song, chúng sanh đời sau, lại nhận làm
cái trọng bịnh này, cho là mình chứng được pháp Niết
Bàn, thật đáng thương xót! Bởi thế nên chúng càng
tinh tấn tu hành chừng nào thì lại càng thêm cái
bịnh Ngã tướng chừng nấy; vì thê nên không nhập được
Viên Giác thanh tịnh.
Này Thiện nam! Chúng sanh đời sau chấp theo sự
kiến giải và hạnh của Như Lai, làm chỗ hiểu biết và
hạnh của mình, song vì không biết bốn tướng còn ẩn
núp bên trong, nên chẳng thành tựu được Thánh quả.
Hoặc có chúng sanh chưa đặng đạo mà nói mình
đã đặng Đạo, chưa chứng quả mà nói mình đã chứng
quả; thấy người tinh tấn tu hành lại sanh tật đố.
Bởi chúng sanh này chưa đoạn trừ được ngã ái nên
không nhập được Viên Giác thanh tịnh.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này nói vì có ba nguyên nhân, nên
hành giả không nhập được Viên Giác thanh tịnh.
1. Bởi hành giả không biết bốn tướng rất tế
nhị, lầm cho mình chứng được đạo quả, nên càng tu
chừng nào lại càng tăng trưởng bịnh Ngã tướng chừng
nấy. Vì vậy mà chẳng nhập được Viên Giác.
2. Hành giả chỉ bắt chước theo chỗ kiến giải
và hạnh của Như Lai làm của mình, không biết bốn
tướng vẫn còn tiềm tàng trong tạng thức của hành
giả, nên không được nhập Viên Giác. Thí như hành giả
thấy trong kinh Phật dạy bố thí v.v... rồi thực hành
theo. Nhưng không biết trong khi ấy, lại bị bốn
tướng thường theo dõi. Nhưng trong khi bố thí, thấy
có người thọ thí (nhơn tướng) và ta bố thí (ngã
tướng). Bố thí để cầu cho ta được giàu sang, Ta được
mạnh giỏi v.v... vì cái Ngã tướng còn nguyên hiện
như thế, nên không nhập được Viên Giác.
3. Cũng vì Ngã tướng chưa đoạn nên hành giả
trong lúc tu hành thấy kết quả được đôi phần, lúc
bấy giờ tánh kiêu căng nổi lên, chưa phải chứng ngộ
đắc đạo, mà tự cho mình đã chứng ngộ hoặc đắc đạo.
Hay thấy người hơn mình, lại sanh ra tật đố v.v...
Vì thế mà không thể nhập được Viên Giác.
11.
Phật dạy phương pháp nhập Viên Giác.
- Này Thiện nam! Chúng sanh đời sau trông mong
thành Đạo, mà không cầu cho ngộ đạo; chỉ ưa học
nhiều nói suông, để tăng trưởng Ngã tướng.
Hành giả phải phát tâm đại dõng mãnh, hàng
phục các phiền não. Những pháp lành chưa chứng được
phải tinh tấn tu cho chứng; các pháp ác chưa đoạn
cho đưọc; khi xúc ảnh không sanh tham, sân, si, mạn,
ái và tật đố v.v... nào nhơn, ngã, bỉ, thử, ân ái
v.v... đều vắng lặng. Như Lai ấn chứng cho người
này, lần lượt sẽ thành tựu được Viên Giác.
Trên đường tu hành, hành giả phải cầu thiện
hữu tri thức chỉ dẫn mới khỏi bị đọa tà kiến. Song,
nếu hành giả đối với Thiện tri thức, lại phân biệt
sang hèn, sanh tâm thương ghét, thì cũng không thể
nhập được biển Viên Giác thanh tịnh.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này, Phật chỉ đường lối tu hành để
nhập Viên Giác, có 3 đoạn.
Đoạn thứ nhất, đại ý Phật dạy: Muốn được đạo
thì phải tu hành mới ngộ được đạo. Nếu học nhiều nói
suông mà không tu, thì chỉ tăng trưởng Ngã tướng.
Đoạn này giống như trong Kinh Lăng Nghiêm,
Ngài A Nan tự trách: ".. Bạch Thế Tôn, vì con ỷ lai
con là em của Phật, có lẽ Phật thương yêu sẽ ban cho
con đạo quả, không cần phải tu hành cực khổ, chỉ lo
học nhiều nói suông nên không lợi ích cho mình..."
Đoạn thứ hai, đại ý Phật dạy: Phương pháp tu
hành để nhập Viên Giác, là phải phát tâm đại dõng
mãnh, đoạn trừ các phiền não, tức là bốn tướng nói
trên. Siêng năng đoạn các ác pháp, tu chứng các
thiện pháp. Tất cả thời, tâm đều vắng lặng, khi đối
cảnh không sanh các phiền não như tham, sân, si
v.v... Phật ấn chứng cho người ấy sẽ đặng nhập Viên
Giác.
Đoạn này giống như trong Kinh Lăng Nghiêm Phật
dạy bốn chữ "Bất tùy phân biệt", nghĩa là: khi đối
cảnh không khởi phân biệt thì vọng niệm chẳng sanh,
vọng niệm không sanh chơn tâm hiển lộ.
Đoạn thứ ba, đại ý Phật dạy: Trên đường tu
hành, hành giả phải cầu minh sư chỉ giáo, mới tránh
khỏi đoạ tà kiến. Song khi đối với minh sư không
được phân biệt giàu nghèo, sang hèn v.v... (y pháp
bất y nhơn) phải sanh tâm kính trọng. Nếu trại lại
thì không thể nhập được Viên Giác.
12.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
Khi ấy Đức Thế Tôn, muốn tóm lại nghĩa trên
nên nói bài kệ rằng:
Tịnh Nghiệp!
Ông nên biết:
Tất cả các chúng sanh.
Luân hồi từ vô thỉ,
Đều do chấp ngã vậy.
Nếu không trừ bốn tướng,
Chẳng chứng quả Bồ Đề.
Nếu tâm còn thương ghét,
Hoặc tật đố si mê.
Ấy là kẻ mê muội,
Không được nhập Viên Giác.
Người muốn được giác ngộ,
Trước phải trừ tham, sân.
Tâm hết chấp ngã, pháp,
Mới được nhập Viên Giác.
Thân này còn chẳng có,
Thương ghét do đâu sanh.
Hành giả phải cầu Thầy,
Mới khỏi đọa tà kiến.
Cầu thầy, mà phân biệt,
Thời không nhập Viên Giác.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này: Chúng sanh bị sanh tử luân
hồi từ hồi nào đến giờ, đều do chấp bốn tướng. Nếu
bốn tưóng không trừ thì không thể chứng Bồ Đề. Vì
các phiền não như tham, sân, si v.v... nó làm mê
muội, nên chúng sanh chẳng nhập được Viên Giác. Hành
giả muốn nhập Viên Giác trước phải đoạn tham, sân,
si v.v... Bao giờ tâm không còn ngã chấp và pháp
chấp, mới chứng đặng Viên Giác.
Song trên đường tu hành, hành giả phải cầu
minh sư chỉ giáo, mới khỏi lạc tà kiến. Khi cầu
thỉnh minh sư, nếu hành giả còn phân biệt sang hèn,
sanh tâm thương ghét, thời cũng không nhập được Viên
Giác.
BÀI THỨ MƯỜI
X. CHƯƠNG PHỔ GIÁC
1. Ngài Phổ
Giác Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Phổ Giác Bồ Tát.
3. Phật dạy Ngài Phổ Giác Bồ Tát.
4. Phật nói bốn bịnh.
5. Phật trả lời câu hỏi thứ ba: "phải làm những hạnh
gì?
6. Phật trả lời câu hỏi thứ tư: Phải trừ bỏ bịnh gì?
7. Phật trả lời câu hỏi thứ năm: Phải phát tâm như
thế nào?
8.Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
X.
CHƯƠNG PHỔ GIÁC
1.
Ngài Phổ Giác Bồ Tát hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Phổ Giác Bồ Tát ở trong đại chúng
đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng, kính
cẩn lạy Phật và quỳ thẳng chắp tay bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, Ngài đã vì chúng
sanh nói các bệnh (bốn tướng) của người tu thiền,
khiến cho đại chúng gội sạch các mê lầm nơi tâm và
được
an ổn. Đây là một việc lợi ích lớn chưa từng có.
Bạch Thế Tôn, chúng sanh đời sau các Phật lần
xa, các vị Thánh Hiền lại ẩn, tà sư ngoại đạo rất
thạnh hành; vậy trên đường tu hành:
1. Phải cầu
bực nào để dạy bảo?
2. Phải y phương pháp nào tu hành?
3. Phải làm theo hạnh nào?
4. Phải trừ những bịnh gì?
5. Phải phát tâm như thế nào?
Xin Phật từ bi chỉ dạy, khiến cho những chúng
sanh còn mê muội, khỏi bị đọa tà kiến.
Ngài Phổ Giác Bồ Tát thưa thỉnh như vậy ba
lần, cúi đầu kính lạy, rồi trở về chỗ cũ.
Lược
Giải
Chữ "Phổ Giác" là giác ngộ cùng khắp. Trên
đường tu hành, hành giả phải gặp nhiều chướng ngại.
Những chướng ngại ấy đều do chấp bốn tướng mà sanh
ra. Bởi thế nên chương thứ 9, Ngài Tịnh Chư Nghiệp
Chướng Bồ Tát đứng thưa hỏi, để Phật chỉ bày bốn
tướng cho hành giả biết rõ đặng trừ. Khi bốn tướng
trừ hết rồi thời các nghiệp chướng được thanh tịnh.
Song trên đường tu hành, hành giả còn bị mây
Vô minh rất vi tế, tức là bốn bịnh sau này che mặt
trăng Viên Giác của hành giả, làm cho trăng Viên
Giác chiếu soi không được phổ biến.
Vì thế nên đến chương thứ 10 này, Ngài Phổ
Giác Bồ Tát đứng lên thưa hỏi, cầu Phật chỉ dạy
thêm, để cho hành giả hiểu biết, đặng dẹp trừ hết
mây Vô minh, thời trăng Viên Giác kia mới được chiếu
soi phổ biến.
Tóm lại, đoạn này có 3 phần:
1. Trước Ngài Phổ Giác tán thán Phật đã chỉ rõ
những chứng bịnh của thiền giả là bốn tướng vừa nói
trên, để chúng sanh biết bịnh đặng trừ, sẽ được an
ổn.
2. Ngài Phổ Giác Bồ Tát thương xót chúng sanh
đời sau cách Phật xa pháp, các vị Hiền Thánh thì ở
ẩn, ngoại đạo tà sư lại thạnh hành làm cho người tu
hành dễ lạc vào tà kiến
3. Ngài Phổ Giác Bồ Tát, cầu Phật chỉ dạy 5
điều như sau:
A. Hàng giả
phải cầu ai làm minh sư để chỉ dẫn trên đường tu
hành?
B. Phải làm những hạnh gì?
C. Phải trừ những bịnh gì?
D. Phải àm sao để phát tâm?
2.
Phật khen Ngài Phổ Giác Bồ Tát.
Khi ấy đức Thế Tôn khen Ngài Phổ Giác Bồ Tát
và dạy rằng
- Này Thiện nam. Hay lắm và quý lắm! Ông vì
chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai đường lối tu
hành như thế. Đó là Ông bố thí cho chúng sanh đời
sau con mắt đạo không sợ (đạo nhãn vô úy), khiến cho
chúng sanh đặng thành Thánh Đạo. Vậy các công nên
chăm chú nghe, ta sẽ vì các ông chỉ giáo.
Khi ấy Ngài Phổ Giác Bồ Tát và
đại
chúng đều hoan hỷ và lẳng lặng vâng nghe lời Phật
chỉ giáo.
Lược
Giải
Đoạn này Phật khen Ngài Phổ Giác vì chúng
sanh, cầu Phật chỉ dạy đường lối tu hành để cho
chúng sanh đi thẳng đường đến nơi Thánh quả, không
còn lo sợ đọa vào tà kiến.
"Mắt đạo không sợ" .- Đối với đạo hiểu biết
được rõ ràng như con mắt thấy đường đi nên gọi là
"con mắt đạo" (đạo nhãn). Trên đường tu hành không
còn lo sợ đọa vào tà kiến, nên nói "không sợ" (vô
úy).
3.
Phật dạy Ngài Phổ Giác Bồ Tát.
- Này Thiện nam! Chúng sanh đời sau muốn phát
tâm tu Đại thừa thì phải cầu Thiện tri thức, tức là
nhữn gngười hiểu biết chơn chánh (chánh tri kiến).
Những vị ấy tâm chẳng trụ ở nơi tướng phàm phu và
cũng không dính mắc nơi cảnh của Thinh văn, Duyên
giác; tuy hiện ở nơi cảnh trần lao mà tâm vẫn thường
thanh tịnh. Có khi các vị ấy thị hiện đồng ăn đồng ở
với người tội lỗi (đồng sự nhiếp), mà thường khen
ngợi các hạnh thanh tịnh (phạm hạnh), không để cho
chúng sanh làm việc tội lỗi.
Hành giả phải cầu những người như vậy, dạy bảo
tu hành, để thành tựu quả Phật.
Lược
Giải
Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ nhứt của
Ngài Phổ Giác Bồ Tát hỏi: "Phải cầu những bực nào
dạy bảo?". - Đại ý Phật trả lời: Người tu hành muốn
được thành quả Phật, phải đủ hai điều kiện:
1. Bên trong, hành giả phải phát tâm Đại thừa
làm chánh nhơn.
2. Bên ngoài, phải nhờ các Thiện hữu tri thức,
huớng dẫn đường lối tu hành làm chánh duyên. Nếu có
nội nhơn mà thiếu ngoại duyên, hay có ngoại duyên mà
thiếu nội nhơn đều không thành tựu.
Song, cầu Thiện hữu tri thức, phải là người
"chánh tri kiến". – Làm sao biết người "chánh tri
kiến?" . – Hành giả phải dùng hai phương diện thuận
cảnh và nghịch cảnh sau đây quan sát, sẽ phân biệt
được thế nào là "chánh tri kiến"
1. Thuận cảnh. – Vị Thiện tri thức này, tâm
không trụ nơi phước báo của phàm phu ở cõi người hay
cõi trời, vào cũng không trụ nơi phước báo của phàm
phu ở cõi người hay cõi Trời, vào cũng không trụ nơi
cảnh thanh nhàn yểm thế tu ích kỷ tiêu cực của Tiểu
thừa là Thanh Văn và Duyên Giác.
2. Nghịch cảnh. – Vì Thiện hữu trí thức này,
hiện thân ở trong cảnh nhiễm ô (trần lao) để hóa độ
chúng sanh, mà tâm chẳng ô nhiễm, thật hành theo
"đồng sự nhiếp" của Bồ Tát để hóa độ người.
Có khi vị này phải thị hiện làm việc lầm lỗi
như người nhưng không bao giờ dùng lý luận miễn
cưỡng để bào chữa lỗi mình, trái lại luôn luôn khen
ngợi hạnh thanh tịnh và tự chỉ trích lỗi lầm của
mình.
Ngài Như Sơn giải nghĩa chữ "Thiện tri thức"
như vậy: Thiện là hay, khéo. Tri là biết bịnh. Thức
là biết thuốc. Nghĩa là vị này có tài biết chơn
vọng, tà chánh, biết tâm bịnh của chúng sanh, biết
pháp dược của Phật để đối trị.
- Này Thiện nam! Chúng sanh đời sau nếu gặp vị
Thiện hữ tri thức như thế, phải hết lòng cung dường,
không tiếc thân mạng. Vị Thiện tri thức này khi giữ
bốn oai nghi thanh tịnh, hành giả cung kính đã đ
ành,
mà khi thị hiện lẫn lộn với chúng sanh làm các tội
lỗi để giáo hóa chúng sanh (đồng sự nhiếp), hành giả
cũng chớ nên sanh tâm khinh dễ.
Này Thiện nam! Đối với Thiện hữu tri thức này,
mà hành giả không khởi một niệm khinh thường, thì
hoa lòng (Tâm hoa) sẽ được rộng mở, chiếu sáng khắp
cả mười phương thế giới và thành tựu qủa Phật.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật dạy: "y pháp bất y nhơn".
Trong Trí Độ Luận nói: "nếu vị Thiện tri thức kia,
có thể giải thích các nghĩa lý sâu xa của Phật, dẫn
dắt hành giả tu theo chánh Đạo, được lợi ích, thì
hànhg giả phải hết lòng cung kính, như tôn kính
Phật, chẳng nên nghĩ những việc lỗi lầm của Thiện
hữu tri thức. Thí như cái đãy xấu đựng ngọc, chớ nên
vì đãy xấu mà bỏ vật báu. Người có ghẻ lát cầm đuốc
đưa hành giả qua con đường nguy hiểm trong lúc ban đ
êm,
chớ nên chê người lát mà không dùng đuốc sáng. Người
cầu đạo cũng thế: khi tìm được Thiện hữu tri thức có
thể dẫn dắt hành giả đi trên đưòng tu hành, thì hành
giả phải trước sau một lòng tôn kính. Khi Thiện tri
thức giữ giới thanh tịnh, hành giả cung kính đã đ
ành,
mà khi Ngài vì chúng sanh thực hành theo hạnh "đồng
sự nhiếp" của Bồ Tát, người cầu đạo không nên thấy
thế mà sanh tâm chấp nhứt và khinh thường. Được như
thế, mới chứng được Phật đạo.
4.
Phật nói bốn bịnh.
- Này Thiện nam! Vị Thiện tri thức kia, đã
chứng được diệu pháp và rời cả bốn bịnh sau đây:
A. Bịnh tác (làm các việc lành).
Như có người chấp như thế này: "Bản tâm của
tôi, vì muốn cầu Viên Giác, nên làm tất cả các
hạnh". Song tánh Viên Giác kia, không phải do làm mà
được.
Bởi hành giả lấy cái "làm" để cầu Viên Giác, nên gọi
là "bịnh tác" (bịnh làm).
Lược
Giải
Chữ "Tác", nghĩa là làm. Tánh Viên Giác đâu có
phải do "làm" mà
được.
Cũng như mặt trăng kia đâu phải do vẹt mây mới có.
Bởi thế nên hành giả chấp: "phải là các hạnh lành để
cầu nhập Viên Giác", thì không có thể được. Vì tánh
Viên Giác là thanh tịnh, vô vi và vô lậu mà hành giả
lại dùng pháp hữu vi để cầu cảnh giới vô vi thanh
tịnh, thì không thể được, nên gọi là "bịnh làm".
Đọc đến đoạn này, độc giả không sao khỏi thắc
mắc. Tại sao bài trước Phật dạy: " Muốn nhập Viên
Giác, phải tinh tấn bỏ các việc dữ, làm các việc
lành v.v..." Đến đoạn nầy Phật lại nói: "...Tánh
Viên Giác không phải do làm các hạnh lành mà
được,
nếu chấp do làm mà
được,
thì thành ra bệnh Tác v.v..." Lời của Phật nói trưóc
sao in tuồng mâu thuẫn. Nếu không suy nghĩa kỹ thì
độc giả sẽ không hiểu.
Chúng tôi đã thường ví dụ: muốn cho lớp học
được yên tịnh, thời phải làm sao trong lớp đừng có
tiếng động, nếu có tiếng động thi lớp học chẳng được
yên tịnh. Cũng như muốn đặng tánh Viên Giác vô vi
thanh tịnh, thì không thể dùng pháp hữu vi vọng động
mà cầu. Nếu dùng hữu vi vọng động mà cầu thì không
bao giờ đặng Viên Giác vô vi thanh tịnh.
Mặc dù như thế, song người muốn nhập Viên Giác
quyết định phải trải qua hai giai đoạn:
1. Gia đoạn đầu tiên, người muốn nhập Viên
Giác thanh tịnh, phải có học tu, bỏ các việc dữ, làm
các việc lành v.v... Cũng như các ông thầy giáo,
thấy học trò làm ồn, muốn cho lớp học được yên tịnh,
giai đoạn đầu tiên, phải dùng tiếng ồn để trị ồn.
Nghĩa là ông thầy giáo phải gõ thước trước trên bảng
cho lớn, thì các học trò mới hết làm ồn. Cũng như
người đời nói: dùng độc trị độc, trong Đạo nói : lấy
vọng để trừ vọng.
Đến khi học trò đã im lặng rồi, mà thầy giáo
vẫn gõ hoài trên bảng để mong cho lớp học được yên
tịnh, thì không thể được. Vì tiếng gõ là tiếng động,
rất trái với tịnh, làm sao lấy cái "động", để cầu
cái "tịnh" cho được. Cũng như người dùng cái tạo tác
hữu vi, để cầu Viên Giác vô vi thanh tịnh, không thể
được.
2. Vì thế nên bước qua giai đoạn thứ hai: Thầy
giáo phải thôi gõ bảng thì lớp học mới hoàn toàn yên
tịnh. Cũng như hành giả, phải trừ cái bịnh "làm",
mới đặng Viên Giác thanh tịnh.
Người muốn đến bờ giải thoát, trước hết phải
dùng cái bè tu học để qua sông mê. Song khi đã đến
bờ rồi, mà cứ ôm cái bè mãi thì làm sao lên bờ được.
Tóm lại, hành giả muốn nhập Viên Giác thanh
tịnh, phải trải qua hai giai đoạn:
1. Giai đoạn đầu tiên, hành giả dùng cái bè tu
học, bỏ dữ làm lành để qua sông mê. Hay nói một cách
khác là dùng tiếng gõ bảng của thầy giáo, để trừ
tiếng ồn của học trò.
2. Đến giai đoạn tối hậu, hành giả phải bỏ cái
bè hữu vi tu học, mới mong lên bờ giải thoát vô vi
kia được. Hay đổi lại cách nói: ông thầy giáo phải
thôi gõ bảng thì trong lớp mới đặng yên tịnh.
Cũng ý này, trong kinh Tứ Thập Nhị Chương,
Phật dạy: "... Tu vô tu, tu. Chứng vô chứng,
chứng..." Nghĩa là: tu đến chỗ vô tu mới thật tu,
chứng đến chỗ vô chứng mới thật là chứng v.v...
Bởi thế nên Cổ nhơn có dạy rằng: "hữu vi tuy
ngụy, xả chi tắt Phật đạo nan thành": Các việc tu
hành về hữu vi tuy rằng hư nguy chẳng nhằm chi,
nhưng nếu hành giả bỏ đi, thì Đạo Phật vô vi khó
thành. Hay là câu: "thật tế địa lý bắt thọ nhứt
trần, vạn sự môn trung bất xả nhứt pháp": Đành rằng
chỗ lý tánh chơn thật (Viên Giác) không thọ một mảy
trần, nhưng về sự tướng tu hành thì muôn điều không
bỏ một việc lành nào.
B. Bịnh nhậm (mặc kệ, không tu hành).
- Này Thiện nam! như có ngưòi chấp như thế
này: "Tôi nay không cần đoạn sanh tử và cũng không
cầu Niết Bàn. Người muốn cầu Viên Giác, chớ nên móng
niệm diệt sanht ử hay cầu Niết Bàn, mặc tình cho
sanh tử hay Niết Bàn, tùy pháp tánh mà sanh hay
diệt. "
Hành giả chấp như thế, là bị bịnh nhậm (mặc
kệ); vì tánh Viên Giác kia, đâu có phải để mặc kệ
(nhậm) như vậy mà nhập được.
Lược
Giải
Chữ nhậm là mạc kệ. Bịnh này do hành giả chấp:
"Tánh Viên Giác không phải do tu hành, làm các hạnh
lành v.v... mà nhập được." Nên hành giả để mặc cho
nghiệp lực xoay chuyển, chẳng sợ tôị lỗi, không ham
phước lành, sanh tử không chê, niết bàn cũng chẳng
quý; vì thế nên không nhập được Viên Giác.
C. Bịnh Chỉ (dứt các vọng niệm).
- Này Thiện nam! Như có người chấp như thế
này: "Tôi nay muốn cầu Viên Giác, nên phải dứt hết
các vọng niệm, đặng tất cả pháp bình đẳng vắng
lặng."
Chấp như thế, là bị bịnh "Chỉ"; vì tánh Viên
Giác kia, đâu có phải do "dừng Chỉ" các vọng mà nhập
được.
Lược
Giải
Chữ "Chỉ" là dứt các vọng niệm. Bởi hành giả
thấy bịnh "Tác" làm cho tâm khởi động bịnh "Nhậm"
(mặc kệ) làm tâm phóng túng cả hai đều không nhập
Viên Giác được, nên hành giả xoay trở về nơi "Chỉ"
(dừng đứng).
Vì vọng niệm mà thấy các pháp sai khác, không
được bình đẳng, cho nên hành giả tu "Chỉ" để dứt
vọng niệm. Đâu biết rằng: tánh Viên Giác không có
"niệm", nếu khởi niệm thì trái, Viên Giác không có
"Chỉ", nếu hành giả lại "Chỉ", thì làm sao nhập được
Viên Giác.
D. Bịnh Diệt (diệt các phiền não).
- Này Thiện nam! Như có người chấp như thế
này: "Tôi nay muốn cầu Viên Giác, nên vĩnh viễn đoạn
các phiền não, nào thân tâm nào cảnh vật, tất cả đều
hư vọng không thật có, rốt ráo vắng lặng". Dùng cái
"diệt" (vắng lặng) mà cầu Viên Giác như thế là mắc
bịnh Diệt; vì tánh Viên Giác đâu có phải chỉ vắng
lặng.
Lược
Giải
Chữ "diệt" là dứt các phiền não, tâm và cảnh
đều vắng lặng. Song tánh Viên Giác vừa tịch (vắng
lặng) lại vừa chiếu (linh tri). Tịch và Chiếu không
hai. Hành giả chỉ chấp một bên "tịch" thì không hợp
với tánh Viên Giác.
- Tóm lại, người cầu đạo phải rời bốn bịnh
trên, mới được nhập Viên Giác thanh tịnh. Người quán
sát để trừ bốn bịnh như thế, là chánh quán; nếu trái
lại, là tà quán.
Lược
Giải
Đoạn này tóm lại bốn bịnh trên. Chữ "Tác" là
làm; "Nhậm" là không làm, để mặc kệ; "Chỉ" là dùng
chỉ các vọng niệm đương sanh và sẽ sanh; "diệt" là
dứt các phiền não đã sanh. Bởi tánh Viên Giác bất
sanh bất diệt, bất cầu bất tịnh, bất tăng bất giảm,
vô vi vô lậu, mà hànhg giả dùng Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt
v.v... để cầu, thì không hiệp với tánh Viên Giác.
Ngài Như Sơn nói: Đem bốn bịnh "Tác, Nhậm,
Chỉ, Diệt" mà chiêm nghiệm lại tâm tư của mình, nếu
còn một món nào thì cũng đều là bịnh cả; phải trừ
hết bốn bịnh này, mới được nhập Viên Giác thanh
tịnh.
5.
Phật trả lời câu hỏi thứ ba: "phải làm những hạnh
gì?"
- Này Thiện nam! CHúng sanh đời sau muốn tu
hành, suốt đời phải kính trọng cúng dường Thiện hữu
tri thức. Khi Thiện hữu tri thức ở gần gũi, hành giả
chớ nên khinh lờn. Khi Thiện hữu tri thức đi xa,
hànhg giả chớ nên hờn giận.
Khi Thiện hữu tri thức hiện ra cảnh thuận hay
nghịch, tâm hành giả phải như hư không, chớ nên thay
đổi. Hành giả phải rõ biết: thân tâm minh cùng thầy
bạn và các chúng sanh, đồng một bản thể bình đẳng
rốt ráo không khác. Hành giả phải tu hành như thế,
mới nhập được Viên Giác.
Lược
Giải
Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ ba: "phải
làm những hạnh gì?"
Hạnh Bồ Tát rất nhiều, nhưng việc thờ Thầy là
điều
rất cần thiết. Vì đời mạt pháp nhược ma cường, nếu
không có minh sư chỉ dẫn, thì hành giả không sao
khỏi bị lạc vào đường tà. Bởi thế nên hành giả phải
suốt đời cung kính phục sự Thầy. Dù cho Thiện tri
thức làm những điều thuận ý hay nghịch lòng, hành
giả cũng phải giữ một niềm tôn kính, tâm như hư
không chớ nên thay đổi.
Hành giả phải quán sát: Thầy bạn cùng chúng
sanh và mình đều đồng một thể Viên Giác, không riêng
khác. Do đó hành giả mới bỏ được tánh kiêu mạn của
mình để thờ Thầy, quên bản ngã để độ sanh. Phải tu
hạnh như thế, mới nhập được Viên Giác.
6.
Phật trả lời câu hỏi thứ tư: "Phải trừ bỏ bịnh gì?"
- Này Thiện nam! Chúng sanh đời sau, không
đuợc thành Đạo, đều do tất cả hạt gióng thương ghét,
nhơn ngã, từ vô thỉ đến giờ. Vì thế nên chẳng được
giải thoát.
Nếu người xem những kẻ oan gia cũng như cha mẹ
không khác, đối với các pháp tâm cũng không thương
ghét, phân biệt tự tha, thì người ấy sẽ trừ được các
bịnh.
Lược
Giải
Đoạn trước Ngài Phổ Giác Bồ Tát hỏi Phật:
"phải trừ những bịnh gì?" - Đoạn này Phật trả lời:
"phải trừ thương ghét."
Đành rằng trong bài số 9, Phật đã dạy trừ
thương ghét, nhưng chỉ nói về phần thô (hiện hành).
Đến đoạn này Phật dạy trừ về phần vi tế của thương
ghét tức là chủng tử. Nếu còn một chút ít thương
ghét ngấm ngầm bên torng làm chướng ngại, thì hành
gaỉ không thể nhập được Viên Giác thanh tịnh.
Bao giờ hành giả đối với kẻ oan gia, xem cũng
như cha mẹ, bình đẳng không khác, xem sanh tử và
Niết Bàn chẳng hai, thì hành giả mới đoạn được chủng
tử của thương ghét và mới có thể nhập Viên Giác
thanh tịnh.
7.
Phật trả lời câu hỏi thứ năm: "phải phát tâm thế
nào?"
- Này Thiện nam! Chúng sanh đời sau muốn cầu
Viên Giác thì phải phát tâm như thế này: "tôi nguyện
độ tất cả chúng sanh khắp cả hư không, đếu được rốt
ráo vào Viên Giác; người được Viên Giác không chấp ở
nơi Viên Giác; trừ hết các tướng Nhơn và Ngã v.v..."
- Phải phát tâm như vậy mới khỏi đọa vào tà kiến.
Lược
Giải
Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ 5 mà Ngài
Phổ Giác Bồ Tát đã hỏi Phật: "Phải phát tâm thế
nào?"
Phật trả lời phải phát tâm như vầy, mới khỏi
đoạ vào tà kiến:
1. Phát tâm quảng đại: nguyện độ tất cả chúng
sanh (noãn, thai, thấp, hóa) trong mười phương.
2. Phát tâm rốt ráo: độ chúng sanh nhập Viên Giác
cứu kính.
3. Phát tâm chơn thường: ở trong viên gaíc mà không
khởi vọng chấp nơi Viên Giác.
4. Phát tâm không điên đảo: Không khởi vọng tưởng
điên đảo chấp các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ
mạng và Tướng độ sanh.
Hai món phát tâm trước là
đại
bi, hai món phát tâm sau là
đại
trí. Bi và Trí được viên dung là do phát bốn món tâm
trên được tròn. Câu hỏi của Ngài Phổ Giác giống như
trong Kinh Kim Cang, câu hỏi của Ngài Tu Bồ Đề: "Vân
hà ưng trụ?" (Phải trụ tâm như thế nào?)
Đoạn này nói chữ "phát tâm", nghĩa là tâm phát
nguyện. Như nguời đời nói "lập chí". Nhờ phát nguyện
hay lập chí mà người đời tu hành vượt qua bao nhiêu
trở lực khó khăn và thúc đẩy sự tu hành mau được
thành công. Nếu "nguyện" rất thiết, thì hạnh mới
chuyên cần. Do đó mà mau đuợc kết quả. Các đức Phật
cũng nhờ phát nguyện rồi y theo nguyện đó tu hành mà
được
thành đạo chứng quả.
Hành giả nếu không có "nguyện lực" của mình
làm động cơ thúc đẩy trên trường tu hành, thì quả
Phật khó mà
đạt
được.
8.
Phật nói bài kệ, tóm lại các nghĩa trên.
Khi ấy đức Thế Tôn muốn tóm lại các nghĩa
trên, nên nói bài kệ rằng:
Phổ Giác! Ông
nên biết:
Các chúng sanh đời sau,
Muốn cầu Thiện tri thức.
Phải cầu người chánh kiến,
Tâm xa lìa Nhị thừa.
Và trừ bốn món bịnh,
Làm, Dừng, Mặc kệ, Diệt.
Gần Thầy chớ khinh lờn,
Cách Thầy chớ sầu hận.
Thấy những cảnh giới lạ,
Tâm phải sanh hy hữu.
Xem như Phật ra đời,
Chẳng phạm các tội lỗi.
Giới căn hằng thanh tịnh,
Độ tất cả chúng sanh.
Rốt ráo vào Viên Giác,
Không còn tướng Ngã, Nhơn.
Phải y chánh trí huệ,
Mới được khỏi tà kiến.
Chứng "Giác" vào "Niết Bàn".
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này nói tóm tắt lại các nghĩa
trên: Các chúng sanh đời sau muốn cầu Thiện tri
thức, phải tìm người chánh kiến. Làm sao biết chánh
kiến? – Là
đã
trừ bốn bịnh và xa lia tư tưởng Nhị thừa.
Cách đối xử với Thiện tri thức: khi thân cận
chớ nên khinh lờn, khi xa cách chớ nên sầu hận. Khi
thấy Thiện tri thức hiện ra, cảnh thuận hay nghịch,
hành giả chớ nên vì thấy thế mà
đổi
tâm, phải lấy làm hy hữu và kính như Phật ra đời.
Hành giả phải giữ giới hạnh thanh tịnh, không phạm
các tội lỗi và
độ
các chúng sanh, rốt ráo vào Viên Giác.
Hành giả phải y trí huệ chơn chánh, trừ các
tướng Ngã, Nhơn mới khỏi đọa tà kiến và
được
nhập Viên Giác hay chứng quả Niết Bàn.
BÀI THỨ MƯỜI MỘT
XI. Chương Viên Giác.
1. Ngài Viên
Giác hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Viên Giác.
3. Phật dạy pháp an cư.
4. Phật dạy 21 ngày đầu ở trong tịnh thất.
5. Phật dạy an cư 3 tháng theo Bồ Tát thừa.
6. Khi thấy thắng cảnh, hành giả chớ nên chấp trước.
7. Tu chỉ (Xa Ma Tha).
8. Tu quán (Tam Ma Bát Đề).
9. Chỉ Quán song tu (Thiền Na).
10.Tóm tắt.
11.Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
XI.
CHƯƠNG VIÊN GIÁC
1.
Ngài Viên Giác Bồ Tát hỏi Phật.
Khi ấy Ngài Viên Giác Bồ Tát ở trong đại chúng
đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật 3 vòng rồi lạy
Phật và chắp tay quỳ thẳng bạch rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn! Ngài đã vì chúng
con rộng nói các phương tiện để nhập Viên Giác thanh
tịnh, khiến cho chúng sanh đời sau đặng lợi ích lớn.
Bạch Thế Tôn! Chúng con ngày nay đã được khai
ngộ rồi. Nếu sau khi Phật nhập diệt, chúng sanh đời
sau chưa được khai ngộ, thì làm sao an cư để tu tập
cảnh giới Viên Giác thanh tịnh này? Và ba pháp quán
thanh tịnh trong Viên Giác đây, phải tu pháp nào
trước?
Cúi xin Đức Đại Bi vì đại chúng và chúng sanh
đời sau, bố thí cho chúng con được lợi ích lớn.
Ngài Viên Giác Bồ Tát thưa thỉnh như vậy 3
lần, kính lạy dưới chân Phật rồi trở lui.
Lược
Giải
Đoạn này Ngài Viên Giác Bồ Tát hỏi Phật có hai
câu:
1. Làm sao an cư tu Viên Giác thanh tịnh?
2. Ba môn quán thanh tịnh nên tu pháp nào
trước?
Chữ "Viên Giác Bồ Tát" – Viên Giác là Giác
viên mãn. Từ trước đến đây, Phật đã nhiều lần chỉ
dạy phương pháp tu hành để phá trừ Vô minh và chứng
nhập Viên Giác. Nhưng đứng về phương diện tu hành,
không phải tu nhứt thời mà chứng được Viên Giác;
phải lần lượt như người lau gương lau nhiều bụi mới
sạch. Bụi càng sạch thì gương càng sáng; sáng, sạch
đến chỗ hoàn toàn là dụ cho Viên Giác.
Xin nhắc lại, trước về chương "tịnh chư Nghiệp
chướng" là dạy hành giả chưa được phổ biến. Đến
chương "Phổ Giác", Bồ Tát cầu Phật chỉ dạy phương
pháp tu hành để cho Giác tánh được phổ biến, nhưng
chưa Viên. Đến chương "Viên Giác" là nói Giác tánh
viên mãn. Chương này Bồ Tát hỏi Phật về việc an cư
và tu 3 pháp quán, toàn chú trọng về sự tướng tu
trì. Cho biết: Sự chưa tròn là Lý chưa viên. Lý viên
là nhờ sự tròn. Thí như người tu đức từ bi, nếu chưa
phổ cập đến loài vi tế côn trùng (hộ mạng côn trùng)
thì lòng từ bi chưa tròn.
2.
Phật khen Ngài Viên Giác Bồ Tát.
Khi ấy Đức Thế Tôn khen Ngài Viên Giác Bồ Tát
và bảo rằng:
- Này Thiện nam. Hay lắm và quý lắm! Ông thưa
hỏi Như Lai những phương tiện tu hành, thế là Ông bố
thí cho chúng sanh lợi ích rất lớn. Vậy các ông nên
lóng nghe, ta sẽ vì các ông mà chỉ giáo.
Khi ấy Ngài Viên Giác Bồ Tát và
đại
chúng đều yên lặng và hoan hỷ nghe lời Phật chỉ
giáo.
3.
Phật dạy pháp an cư.
- Này Thiện nam! Khi Phật còn tại thế hoặc
nhập diệt rồi, hay đời mạt pháp (1) nếu chúng sanh
nào có đủ căn tính Đại Thừa, tin cái tâm Viên Giác
của Phật, phát tâm tu hành; như ở Già Lam (chùa) thì
phải lo xếp đặt chúng Tăng, hoặc có những duyên sự
khác không thể chuyên tu tập được, thì tùy phận của
hành giả, tư duy và quán các pháp môn mà ta đã dạy
trước.
Nếu không có nhơn duyên khác, thì hành giả
phải lập đạo tràng và
định
thời kỳ tu tập. Nếu thời gian dài thì 120 ngày, vừa
thì 100 ngày, ngắn thì 80 ngày.
Cách bài trí trong tịnh thất, phải treo tràng
phan và
đủ
cả hương hoa. Như Phật còn tại thế thì nên chánh suy
nghĩ. Nếu Phật nhập diệt rồi thì an trí hình tượng
Phật, mắt nhìn tâm tưởng nhớ, kính đồng như Phật còn
tại thế.
Lược
Giải
Đoạn này Phật dạy hai cách:
1. Người phát tâm tu hành, nếu vì bận rộn việc
chùa hoặc các duyên sự khác, không thể nhập đạo
tràng chuyên tu được, thì hành giả nên quán sát các
pháp môn của Phật dạy, như trong chương Phổ Nhãn
v.v...
2. Nếu không có duyên sự gì bận rộn, thì hành
giả nên lập đạo tràng và phân kỳ mà tu tập. Trường
kỳ là 120 ngày, trung kỳ là 100 ngày, đoản kỳ là 80
ngày.
Nếu Phật còn tại thế, thì hành giả chỉ chánh
tâm nhớ nghĩ đức Phật, khỏi cần có hình tượng. Nếu
Phật nhập diệt rồi, thì nên thờ tượng Phật để mắt
nhìn, tâm tưởng, kính như Phật còn tại thế.
______
(1) Chữ "Mạt pháp" – Giáo pháp của Phật có
chia làm 3 thời kỳ:
1. Chánh pháp, 1000 năm.
2. Tượng pháp (mường tượng như chánh pháp)
1000 năm.
3. Mạt pháp (rốt ngọn) 10000 năm. Hiện nay
(1992) Phật lịch 2536, thế là
đã
sang mạt pháp 536 năm.
4.
Phật dạy 21 ngày đầu, ở trong tịnh thất.
- Trải qua 21 ngày đầu, hành giả kính lạy danh
hiệu của các đức Phật trong 10 phương và chí thành
sám hối. Nếu gặp cảnh giới tốt, thì hành giả tâm
đuợc nhẹ nhàng thư thới (khinh an). Qua 21 ngày rồi,
hành giả phải chuyên nhiếp vọng niệm.
Lược
Giải
Người mới tu, giới đức chưa đủ, thân tâm chưa
được thanh tịnh, nên không có năng lực tu định huệ.
Vì thế nên lúc ban đầu phải lập đạo tràng. Hành giả
trải qua 21 ngày đầu lễ Phật và sám hối. Cũng như
cái chén cần rửa cho sạch mới có thể đựng Đề hồ
được. Hành giả phải nhứt tâm thật hành như vậy, thì
thân mới được thanh tịnh. Trong 21 ngày, hoặc căn
lành phát hiện, hay có cảm ứng: hành giả thấy được
điềm lành, thời thân tâm sẽ được khoan khoái.
"Cảnh giới tốt": Như ở trong chiêm bao thấy
Phật, hoặc khi làm lễ sám hối thấy hào quang v.v...
5.
Phật dạy an cư 3 tháng theo Bồ Tát thừa.
- Này Thiện nam! Nếu gặp đầu mùa Hạ 3 tháng an
cư, thì hành giả phải an trụ nơi hạnh thanh tịnh của
Bồ Tát, tâm lìa tư tưởng của Thinh Văn, không nhờ đồ
chúng.
Đến ngày an cư, hành giả phải đối trước Phật
phát nguyện như vầy: "Con là Tỳ Kheo (tên gì) hoặc
Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc hay Ưu Bà Bi, nguyện tu theo
hạnh tịnh diệt của Bồ Tát thừa, trụ trì nơi thật
tướng, lấy đại Viên Giác làm già lam (chùa). Thân
tâm con an cư nơi "Bình đẳng tánh trí" hay "Tự tánh
Niết bàn", không có hệ thuộc xứ sở.
Con năy chẳng y theo Thinh Văn, con kính thỉnh
mười phương chư Phật và các vị Bồ Tát cùng với con
đồng làm pháp an cư 3 tháng. Con vì một nhơn duyên
lớn là tu Bồ Tát hạnh, cầu chứng quả Vô Thượng Diệu
Giác, nên không hệ phược đồ chúng.
Tu như thế mãn 3 thời kỳ rồi, tùy ý hành giả
ra vào vô ngại. Đây gọi là Bồ Tát thị hiện an cư.
Lược
Giải
Đoạn này chia làm 3 phần:
1. Phật dạy hành giả lập thời kỳ tu tập như
vậy chưa đủ mà phải an cư 3 tháng, bắt đầu từ rằm
tháng tư đến rằm tháng bảy âm lịch. Người phát tâm
Bồ Đề tu theo Viên Giác, thì phải an cư theo Bồ Tát
hạnh. Nghĩa là không cần phải tập chúng an cư theo
luật Tiểu thừa, mà tâm của hành giả phải luôn luôn
an trụ nơi hạnh thanh tịnh của Bồ Tát. Bởi thế nên
trên nguyên văn kinh nói: "Tam rời tư tưởng của
Thinh Văn, không nhờ đồ chúng".
2. Đến ngày an cư, hành giả phải đối trước
Phật bạch như vầy:
"Con tên. thọ giới Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni, Ưu
Bà Tắc (Thiện nam) hay Ưu Bà Di (Tín nữ); nay y theo
pháp Đại thừa, tu theo hạnh tịch diệt của Bồ Tát,
lấy Viên Giác làm chùa, thân tâm con thường an trụ
nơi "tự tánh Niết Bàn" hay "Bình Đẳng Tánh Trí".
3. Hành giả đối trước Phật phát nguyện rằng:
"Con nay vì muốn tu hạnh Viên Giác, nên không
theo luật an cư của Thinh Văn (tiểu thừa) không tập
chúng tăng an cư, mà con chỉ cầu thỉnh 10 phương chư
Phật và Bồ Tát cùng với con làm pháp an cư trong 3
tháng. Hành giả an cư như thế 3 tháng, sau khi mãn
thời kỳ rồi, tùy ý đi tới lui không ngại.
Chữ "Tịch diệt": Diệt các phiền não, tâm được
tịch tịnh, tức là nói: ý theo tâm chơn như không
sanh diệt mà tu.
Chữ "thật tướng": Tướng chơn thật, tướng này
không sanh không diệt, không cấu không tịnh, không
tăng không giảm, không bị thời gian thay đổi, kkhông
gian chuyển dời, tức là chỉ cho "Chơn Như thật
tướng", cũng là cái biệt danh "Viên Giác".
"Viên Giác làm chùa" - Tiểu thừa an cư thì lấy
sự tướng là cảnh chùa (già lam) của mình ở, làm nơi
tu hành, Bồ Tát an cư thì lấy lý tánh là Viên Giác
làm chùa của mình ở tu, nên nói: "lấy Viên Giác làm
chùa".
"Bình đẳng tánh trí". – Hành giả đã an cư nơi
thật tướng, tức là tánh Viên Giác, nên 6 căn ở thân
không tạo nghiệp, sáu thức không dong ruỗi theo sáu
trần.
Lúc bấy giờ năm thức trước, chuyện lại làm
"Thành sở tác trí"; thức thứ sáu chuyển thành "Diệu
quan sát trí".
Khi hành giả chưa an trụ nơi Viên Giác thì
thức thứ bảy này chấp ngã, nhơn, bỉ thử. Đến khi
hành giả an trụ nơi Viên Giác, thì thức thứ bảy
chuyển thành "Bình đẳng tánh trí". Lúc bấy giờ thức
thứ tám không còn bị thức thứ bảy chấp làm "ngã"
nữa, nên thức thứ tám chuyển thành "Đại viên cảnh
trí".
Chữ "Niết Bàn tự tánh": cũng gọi là "Tánh tịnh
Niết Bàn", tức là biệt danh của Chơn Như hay Viên
Giác.
Chữ "không hệ thuộc xứ sở": Tiểu thừa an cư
phải có cảnh chùa để làm đạo tràng xứ sở. Đến như Bồ
Tát thì lấy "Niết Bàn tự tánh" làm đạo tràng, nên
nói: "không hệ thuộc xứ sở".
Chữ "Vô Thượng Diệu giác": quả vị Phật sáng
suốt (giác) mầu nhiệm (diệu) không có quả vị nào
trên (vô thượng)
6.
Khi thấy thắng cảnh, hành giả chớ nên chấp trước.
- Này Thiện nam! Như chúng sanh đời mạt pháp
muốn tu hành để cầu đạo Bồ Tát trong khi vào tu ba
thời kỳ này, nếu thấy có các thắng cảnh hiện ra, mà
không đúng như hành giả đã nghe thấy, thì quyết
không nên chấp thủ.
Lược
Giải
Đoạn này Phật dạy hành giả khi tu, nếu thấy
hiện ra cảnh giới thù thắng, không nên luyến trước.
Hành giả khi dụng côn tu hành, cố nhiên sẽ có
cảnh giới thù thắng lạ thường hiện ra. Song, nếu
sanh tâm chấp trước, không phân biệt chánh tà, thì
hành giả dễ mắc lưới ma. Cho nên hành giả phải thấy
các cảnh giới ấy đúng như sự nghe học của mình,
nghĩa là lời Phật dạy, hoặc Thiện tri thức bảo hay
trong kinh sách dạy như thế nào, thì khi các cảnh ấy
hiện ra phải đúng như thế ấy, mới gọi là chơn chính.
Trái lại là ngũ ấm ma hiện (nên xem đoạn Ngũ Ấm Ma,
trong Kinh Lăng Nghiêm).
Phàm người tu hành, không ai chẳng nhơn nghe
hiểu rồi sanh lòng tin, nhơn có tin mới tu, nhơn tu
mới có chứng, chứng là kết quả của nghe, tin và tu.
Thế nên tin, hiểu, tu và chứng trước sau phải hiệp
nhau. Nếu chõ chứng (cảnh giới hiện ra) không hiệp
với sự nghe thì bất luận hiện ra cảnh giới thiện hay
ác, cũng đều là Ma cả.
7.
Tu Chỉ (Xa Ma tha).
- Này Thiện nam! Như có các chúng sanh tu pháp
"Chỉ" (Xa Ma Tha) trước giữ chỗ chí tịnh (rất yên
lặng) không khởi vọng niệm nhớ nghĩ; do yên lặng tột
bực nên trí giác hiện ra. Như vậy từ khi mới bắt đầu
tịnh và ở một thân, cho đến khi khắp cả một thế giới
đều tịnh. Cũng thế, "trí giác" bắt đầu hiện ra ở một
thân cho đến khắp cả một thế giới đều "giác".
Này Thiện nam! Khi "trí giác" đã hiện khắp một
thế giới, thì trong thế giới ấy nếu có một chúng
sanh nào, móng lên một niệm, lúc bấy giờ hành giả
đều biết cả. Cho đến trăm ngàn thế giới cũng thế.
Các cảnh giới ấy, nếu không phải đúng như sự
nghe của hành giả, thì quyết chẳng nên chấp thủ.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật dạy hành giả khi tu Định,
đến chỗ tột bực, nên trí giác (Huệ) phát sinh. Bởi
từ một thân tịnh cho đến một thế giới tịnh, nên trí
giác phát ra cũng từ một thân cho đến khắp cả thế
giới. Vì cả thế giới đều là "trí giác" của hành giả,
nên co một chúng sanh nào vừa móng niệm, thì hành
giả đều biết hết.
Song những cảnh giới đã hiện ra, phải đúng như
sự thấy nghe mà hành giả đã từng nghe thiện tri thức
hay trong kinh chỉ dạy, như thế cảnh thấy mới chánh.
Nếu trái lại là Ngũ ấm Ma hiện.
Ngài Như Sơn nói: "Vì toàn cả thế giới đã
thành giác nên chúng sanh toàn ở trong giác tánh của
hành giả. Bởi thế nên khi chúng sanh khởi ra một
niệm gì, thì hành giả đều biết cả. Cũng như bóng đã
hiện trong gương, nên gương chiếu không sót."
Trong Kinh Viên Giác Lược Sớ chép: hành giả
tin, hiểu, tu, và chứng tuy thứ lớp không đồng,
nhưng phải không khác. Nghĩa là: "hiểu là hiểu theo
chỗ mình tin, tu là tu theo chỗ mình hiểu. Chứng là
chứng theo chỗ mình tu. Nay những cảnh giới của hành
giả chứng, nếu không phải đúng như chổ hiểu, tin và
tu, thì không nên chấp thu."
8.
Tu Quán (Tam Ma Bát Đề).
- Này Thiện nam! Nếu chúng sanh, tu pháp
"Quán", thì trước phải nhớ tưởng mười phương các đức
Phật và các vị Bồ Tát, rồi y theo các pháp môn của
Phật dạy đó mà siêng năng cần khổ tuần tự tu hành,
đặng thành tam muội và phát nguyện rộng lớn, tư huân
tập thành chủng tử. Trong lúc tu, nếu có hiện ra
những cảnh giới gì mà không dúng như chỗ nghe của
hành giả, thì chớ nên chấp thủ.
Lược
Giải
Phật dạy người tu "Quán", trước phải nhớ tưởng
các đức Phật và Bồ Tát rồi y theo các pháp môn của
Phật dạy mà siêng năng khổ hạnh tuần tự tu hành để
thành tam muội. Và phải phát đại nguyện huân tập vào
tâm thức của hành giả để thành chủng tử.
Trong khi tu, nếu có những cảnh giới gì hiện
ra mà không đúng như chỗ của hành giả đã nghe thầy
bạn dạy bảo, hay trong kinh luật chỉ giáo, thì không
nên chấp thủ; vì đó là Ma hiện.
"Tam muội" – Xem đoạn giải thứ hai trong
chương Phổ Hiền Bồ Tát.
9.
Chỉ Quán song tu (Thiền Na).
- Này Thiện nam! Nếu có chung sanh muốn tu
Thiền Na (Chỉ Quán song tu) thì trước phải tu pháp
môn sổ tức; trong tâm hành giả biết rõ được mỗi niệm
khi sanh, trụ, dị và diệt; phân biệt được ranh giới
và số mục của các niệm. Cho đến khắp cả bốn oai nghi
(đi, đứng, nằm, ngồi). Hành giả cũng đều biết; cũng
như con mắt thấy các vật dụng. Trong khi tu nếu thấy
có hiện ra cảnh giới gì không đúng như sự thấy nghe
của hành giả thì không nên chấp thủ.
Đây là phương tiện đầu tiên tu hành của hành
giả, tức là ba pháp Quán. Nếu các chúng sanh tinh
tấn siêng tu ba pháp quán này được hoàn toàn, tức là
Như Lai xuất hiện ở thế gian vậy.
Lược
Giải
Ngaì Viên Giác Bồ Tát hỏi Phật: Hành giả đối
với ba pháp Quán, tu pháp nào trước? - Phật dạy
trước tu pháp "Chỉ" giữa tu pháp "Quán", sau tu
"Chỉ, Quán song tu".
Đoạn này Phật dạy "Chỉ, Quán song tu". Người
tu pháp này, trước phải tu pháp sổ tức (đếm hơi
thở). Nhờ có điều hòa hơi thở, nên tâm được tịnh
(Chỉ); nhờ tâm được tịnh nên những vọng niệm thô tế,
khi sanh, trụ, dị và diệt, giới hạn của nó dài ngắn,
lâu mau, nhiều hay ít, hành giả đều biết được hết
(Quán).
Hành giả tịnh tọa, dụng tâm tu pháp Quán như
vậy, khi mới thành công, thời trong tất cả thời gian
động tịnh như đi, đứng, nằm ngồi v.v... hành giả đều
hiểu biết phân biệt được rõ ràng, mỗi niệm, khi
sanh, trụ, dị và diệt, giới hạn dài ngắn hay lâu mau
và ít nhiều v.v...
Đến lúc thành công hoàn bị, thì trong trăm
ngàn thế giới, có những vật gì, cho đến có bao nhiêu
hạt mưa, hành giả cũng đều biết được hết. Không phải
hành giả hiểu biết một cách lờ mờ, mà hiểu biết một
cách rõ ràng; cũng như mằt xem thấy các sự vật thụ
dụng vậy.
10.
Tóm tắt
- Này Thiện nam! Nếu chúng sanh đời mạt pháp,
tâm muốn cầu đạo, nhưng vì nghiệp chướng đời trưóc
nặng nề, căn tánh ám độn, nên tu hành khó thành tựu,
thì phải siêng năng sám hối; thường sanh tâm trông
mong đoạn trừ các phiền não: thương, ghét, tật đố,
dối nịnh v.v... và tìm cầu quả vị cao thượng thù
thắng.
Đối với ba pháp Quán thanh tịnh này, tùy hành
giả tu một pháp. Nếu tu pháp quán này không thành
tựu thì tu pháp Quán khác, phải lần hồi cầu chứng,
chớ nên thối tâm buông bỏ.
Lược
Giải
Đại ý đoạn này Phật dạy: Nếu chúng sanh đời
sau căn tánh ám độn, nghiệp chướng nặng nề, muốn cầu
Phật đạo, nhưng không thành tựu, thì phải siêng năng
sám hối, tâm thường trông mong đoạn các phiền não.
Đối với ba pháp Quán, nếu tu pháp này không thành
tựu thì tu pháp khác, dốc lòng cầu chứng Đạo, không
nên thối tâm.
11.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên.
Khi ấy đức Thế Tôn, muốn tóm lại các nghĩa
này, nên nói bài kệ rằng:
Viên Giác!
Ông nên biết:
Tất cả các chúng sanh,
Muốn cầu đạo Vô thượng.
Phải lập ba thời kỳ:
Hai mươi mốt ngày đầu,
Sám hối nghiệp vô thỉ.
Vậy sau chánh suy nghĩ,
Nếu phi cảnh đã nghe.
Thì chẳng nên chấp thủ,
Pháp "Chỉ" rất tịch tịnh.
Pháp "Quán" chánh nhớ nghĩ,
Thiền Na rõ đếm hơi.
Thế gọi là tịnh Quán,
Người siêng năng tu tập.
Thế gọi Phật hiện thế,
Kẻ độn căn chẳng thành.
Thì phải siêng sám hối,
Các tội từ vô thỉ.
Các tội chướng tiêu rồi,
Cảnh Phật liền hiện trước.
Lược
Giải
Đại ý bài kệ này Phật dạy các chúng sanh muốn
cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì phải phân ba thời kỳ tu
tập. Khi vào tịnh thất, trong 21 ngày đầu, hành giả
phải chí tâm sám hối các nghiệp chướng từ vô thỉ,
sau rồi chánh tâm suy nghĩ.
Trong lúc tu, như có hiện ra cho cảnh giới gì,
nếu không đúng với chỗ thấy nghe của hành giả, thì
chớ nên chấp thủ.
Nếu hành giả siêng năng tu tập ba phép Quán
thanh tịnh là: Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu thì gọi
là Phật hiện thế.
Nếu người nào căn tánh ám độn không thể tu ba
pháp môn này được thì nên siêng sám hối các tội từ
vô thỉ; khi các tội chướng tiêu diệt rồi, thì cảnh
Phật liền hiện ra trước mặt.
BÀI THỨ MƯỜI HAI
C. PHẦN LƯU THÔNG
XII. CHƯƠNG HIỀN THIỆN THỦ
1. Ngài Hiền
Thiện Thủ Bồ Tát hỏi Phật.
2. Phật khen Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát.
3. Phật nói tên kinh này.
4. Phật nói công đức trì kinh này.
5. Phật khuyên các Đệ tử phải bảo hộ người trì kinh
này.
6. Các vị Thiện thần phát nguyện bảo hộ người tu
hành.
XII.
CHƯƠNG HIỀN THIỆN THỦ
1.
Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát hỏi Phật
Khi Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát ở trong đại
chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng,
rồi quỳ thẳng chắp tay bạch Phật rằng:
- Bạch Đức Đại Bi Thế Tôn, Ngài đã vì chúng
con và các chúng sanh đời sau, rộng rãi giảng dạy
cho chúng con hiểu ngộ được những việc không thể
nghĩ bàn.
Bạch Thế Tôn:
- Kinh Đại
thừa này tên gì?
- Chúng con làm sao phụng trì?
- Chúng sanh tu theo kinh này sẽ được công đức gì?
- Chúng con làm sao bảo hộ những người thọ trì kinh
này?
- Phải truyền bá kinh giáo này ở địa vị nào?
Ngài Hiện Thiền Thủ Bồ Tát, thưa thỉnh như vậy
ba lần, kính cẩn lạy Phật rồi trở lui.
Lược
Giải
Đoạn kinh này có hai phần:
A. Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát tán thán Phật,
vì chúng sanh giảng giải những việc không thể nghĩ
bàn.
B. Bồ Tát hỏi Phât năm điều:
1. Kinh này
tên là kinh gì?
2. Làm sao phụng trì?
3. Chúng sanh tu theo kinh này sẽ được công đức gì?
4. Làm sao bảo hộ người thọ trì kinh này?
5. Truyền bá kinh này ở địa vị nào?
2.
Phật khen Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát.
Khi ấy Đức Thế Tôn khen Ngài Hiền Thiện Phủ Bồ
Tát và dạy rằng:
- Này Thiện nam! Hay lắm và quý lắm! Ông vì
các vị Bồ Tát và chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như
Lai tên kinh và công đức trì kinh này, các ông nên
chăm chú nghe lời ta chỉ giáo.
Lược
Giải
Vì muốn cho mưa Pháp gội nhuần chúng sanh đời
sau, nên Ngài Hiền Thiện Thủ Bồ Tát đứng lên hỏi
Phật về việc thọ trì và truyền bá kinh này. Đoạn này
Phật khen Ngài Hiền Thiện Thủ và bảo phải chăm chú
nghe lời Phật chỉ giáo.
3.
Phật nói tên kinh này.
- Này Thiện nam! Kinh này không phải chỉ mình
ta nói, mà các đức Phật trong mười phương nhiều như
trăm ngàn muôn ức lần số cát sông Hàng, cũng đều nói
kinh này. Các đức Phật trong ba đời đều bảo hộ kinh
này. Mười phương các vị Bồ Tát đều quy y kinh này.
Kinh này là tròng con mắt của 12 bộ kinh. Kinh này
có 5 tên:
1. Đại Phương
Quảng Viên Giác Đà La Ni Kinh.
2. Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh.
3. Bí Mật Vương Tam Muội Kinh.
4. Như Lai Quyết Định Cảnh Giới Kinh.
5. Như Lai Tạng Tự Tánh Sai Biệt Kinh.
Các ông phải hết lòng cung kính phụng trì kinh
này.
Lược
Giải
Kinh này nói về tánh "Viên Giác". Người ngộ
nhập được tánh Viên gaíc thì thành Phật, còn không
ngộ được thời làm chúng sanh.
Mục đích của Phật ra đời là
độ
chúng sanh thành Phật. Song chúng sanh có nhập Viên
Giác mới được thành Phật. Vì thế nên hằng sa đức
Phật ra đời, đều nói Kinh Viên Giác.
Vì Kinh Viên Giác rất quý báu như thế nên các
Đức Như Lai trong ba đời thường giữ gìn và bảo hộ
kinh này. Mười phương các vị Bồ Tát đều quy y kinh
này, vì quy y kinh này là quy ý tánh Viên Giác.
Giáo pháp của Phật tuy nhiều, nhưng tóm lại
chia ra có 12 bộ kinh, tức là 12 loại kinh. Kinh nào
cũng đều nhắm một mục đích là dạy chúng sanh tu hành
thành Phật, mà muốn thành Phật thì phải nhập Viên
Giác. Bởi thế nên kinh này "tròng con mắt" của 12 bộ
kinh.
"12 Bộ kinh" - Phật ra đời thuyết pháp 40 năm,
tóm lại có 3 tạng: Kinh, Luật, và Luận; phân ra 12
bộ, tức là 12 loại.
Có bài kệ tóm 12 bộ kinh:
Trường hàng,
Trùng tụng và Cô khởi,
Thí dụ, Nhơn duyên cùng Tự thuyết.
Bổn sanh, Bổn sự, Vị tằng hữu,
Phương quảng, Luận nghị và Ký biệt.
Kinh này có nhiều đức tính và nhiều công dụng
nên có nhiều tên:
A. Đại Phương Quảng Viên Giác Đà La Ni Kinh. -
Tánh Viên Giác Quảng đại phương viên bao trùm và gìn
giữ các Pháp.
"Đà La Ni". Tàu dịch là "Tổng Trì": bao trùm
và gìn giữ các pháp.
1. Pháp Đà La Ni. – Chỉ một chữ, một danh hiệu
hay một câu, mà bao trùm tất cả chữ, tất cả danh
hiệu và tất cả câu.
2. Nghĩa Đà La Ni. – Như nói Chơn như, Duy
tâm, Duy thức, Pháp giới v.v... đều đã tóm thâu sự
vật sai biệt.
3. Định Đà La Ni – Do sức Định mà tinh thần
thống nhất tập trung lại, nên phát huy được lực
lượng rất mạnh, nhờ đó mà thành tựu được nhiều môn
Định (Định Tổng trì).
4. Chú Đà La Ni. - Tức là thần chú. Do hành
giả tập trung tinh thần trì chú, nên có sức mạnh làm
cho hành giả được toại bản nguyện của mình.
B. "Tu Đa La Liễu Nghĩa". - Chữ "Tu Đa La",
tàu dịch là "Khế kinh". Nghĩa là kinh này hiệp với
chơn lý và căn cơ của chúng sanh.
Chữ "Liễu Nghĩa": Nghĩa lý rốt ráo đứng đắn.
Kinh của Phật có hai loại:
1. Bất Liễu Nghĩa Kinh là những bộ kinh Phật
tùy quốc độ, tùy thời đại và tùy căn cơ, mà phương
tiện nói ra, như các kinh về Tiểu thừa, nghĩa lý
chưa rốt ráo.
2. Liễu Nghĩa Kinh là những bộ kinh nghĩa lý
rốt ráo đúng đắn, Phật nói đúng chân lý không có tùy
thời tuỳ cơ v.v... Như các kinh Đại thừa. Kinh "Viên
Giác" đây thuộc về Kinh Liễu Nghĩa.
C. "Bí Mật Vương Tam Muội". - Chữ "Tam muội"
tức là "Tam Ma Địa", Tàu dịch:
1. Đẳng trì.
2. Chánh định.
3. Chánh thụ.
4. Chánh tư duy.
Viên Giác Tam Muội này cao cả hơn các pháp Tam
Muội cho nên gọi là "vương" (vua).
Chữ "Bí mật. – Pháp Viên Giác Tam Muội này,
duy có Phật mới hoàn toàn thấu rõ được; ngoài ra như
chúng sanh thời không biết, cho đến bực đẳng giác Bồ
Tát cũng chưa có thể thấu tột được, cho nên nói là
"bí mật".
D. "Như Lai Quyết Định Cảnh Giới Kinh". - Cảnh
giới Viên Giác này duy có đức Như Lai mới quyết định
chứng nhập được. Từ bực đẳng giác Bồ Tát trở xuống,
ở trong vòng cầu chứng nhập, nên chưa quyết định
được.
E. "Như Lai Tạng Tự Tánh Sai Biệt Kinh". - Chữ
"Như Lai tạng", nghĩa là "Như Lai" còn tại triền.
Bởi các vọng huyễn chưa viễn ly. Giác tánh chưa phát
hiện. Nghĩa là "quả đức Như Lai" còn bị tiềm tàng ẩn
phục trong tâm của chúng sanh; tức là tánh Viên Giác
còn bị triền phược vậy.
Chữ "Tự tánh": Tánh Viên Giác tùy duyên ứng
hiện ra các pháp sai khác, nên gọi là "sai biệt".
4.
Phật nói công đức trì kinh này.
- Này Thiện nam! Kinh này nói về cảnh giới của
Như Lai, nên duy có Phật mới hay biết còn các vị Bồ
Tát và chúng sanh đời sau, chỉ y theo đây tu hành
lần hồi tiến đến địa vị Phật.
Này Thiện nam! Kinh này tên "Đại thừa đốn
giáo". Những chúng sanh đốn cơ mới có thể do kinh
này được khai ngộ. Kinh này cũng tiếp độ các chúng
sanh về tiệm tu. Bởi thế nên kinh này cũng như biển
cả, không nhượng các dòng sông nhỏ. Lớn như Thần A
Tu La và nhỏ như loài mòng muỗi, uống nước biển đều
no bụng cả.
Này Thiện nam! Giả sử có người dùng toàn 7 món
báu, chứa đầy cả đại thiên thế giới, đem ra bố thí;
công đức của người ấy rất lớn, nhưng không bằng có
người nghe tên kinh này, cho đến chỉ nghe nghĩa một
câu, công đức người này nhiều hơn.
Này Thiện nam! Giả sử có người giáo hóa chúng
sanh tu hành chứng được quả A La Hán nhiều đến trăm
lần số cát sông Hằng, nhưng không bằng có người
giảng nói kinh này, cho đến rất ít là chỉ giảng nửa
bài kệ, công đức của người sau này nhiều hơn.
Này Thiện nam! Nếu có người nghe kinh này tin
tưởng không nghi ngờ, thì biết người đó đã trồng
phước huệ không những ở một đời Phật, hoặc hai đời P
hật, mà người này đã trồng căn lành từ nhiều đời
Phật, như số cát sông Hằng; cho nên nay nghe đến
kinh này mới hay tin thọ.
Lược
Giải
Đoạn này có 5 phần:
1. Kinh này nói về cảnh giới Viên Giác nên duy
có Phật mới hay thấu triệt, còn từ các vị Bồ Tát trở
xuống chỉ y theo đây tu hành mà thôi.
2. Kinh này thuộc về Đại thừa đốn giáo, nên
rất hợp với những người căn cơ Đại thừa đốn ngộ.
Song kinh này cũng tiếp độ các người căn cơ Tiểu
thừa tiệm tu; thí như biển cả không nhượng các dòng
sông. Tất cả chúng sanh lớn như A Tu La (dụ Đại
thừa) nhỏ như mòng muỗi (dụ Nhị thừa) uống nước biển
đều được no cả.
"Đốn giáo". – Ngài Phổ Hiền phân Tâm tạng kinh
giáo của Phật làm năm thời:
1. Tiểu (Tiểu
thừa).
2. Thỉ (Đại thừa thỉ giáo).
3. Chúng (Đại thừa rốt sau).
4. Đốn (Đại thừa đốn giáo - Chữ "Đốn" là mau lẹ,
nhanh chóng).
5. Viên (Đại thừa viên mãn).
Ngài Thiên Thai lại phân làm bốn thời:
1. Tạng (Tiểu
thừa tạng giáo).
2. Thông (Thông đến đại thừa).
3. Biệt (đặc biệt Đại thừa).
4. Viên (Đại thừa viên giáo).
3. Phật dạy người thọ trì kinh này, công đức
quý hơn người bố thí bảo vật. Người dùng bảy món báu
đụng đầy cả Đại thiên thế giới, đem bố thí cho chúng
sanh, công đức của người ấy tuy lớn, nhưng thuộc vè
phước hữu lậu, nên chỉ hưởng trong một thời gian rồi
hết. Không bằng người nghe tên kinh này, cho đến chỉ
nghe một câu nghĩa, tuy rằng ít, nhưng đã gieo được
hạt giống vô lậu thanh tịnh, không sớm thì muộn, thế
nào cũng được quả vô lậu, nên quý hơn tài thí.
4. Người giảng kinh này, công đức nhiều hơn
người giáo hoá vô số hàng Nhị thừa. Vì giáo hóa vô
số người chứng quả Nhị thừa, công đức tuy lớn, nhưng
chỉ thuộc về Tiểu thừa quả, nên không bằng người y
theo kinh liễu nghĩa Đại thừa nói một câu hay một
bài kệ, làm cho người ngộ được tánh Viên Giác, không
sớm thì chày người ấy quyết định sẽ được thành Phật.
Ví như các ngôi sao tuy nhiều, nhưng sáng không bằng
một mặt trăng.
5. Người nghe kinh này mà sanh tâm vui mừng,
ham mộ và tin tưởng, không nghi ngờ, thì biết người
này đã có trồng hạt giống Đại thừa, từ nhiều đời đức
Phật.
5.
Phật khuyên các đệ tử phải bảo hộ cho người trì kinh
này.
- Này Thiện nam! Các ông phải bảo hộ những
người tu hành đời mạt pháp, chớ để cho các loài ác
ma và ngoại đạo làm não loạn thân tâm của người tu
hành, khiến cho họ thối tâm.
Lược
Giải
Đời mạt pháp, chúng ngoại đạo tà sư rất thạnh
hành hay làm nhiễu loạn đến người tu hành. Nếu không
bảo vệ giữ gìn, thì hành giả sẽ bị chúng ma nhiễu
hại, rồi phải thối chí ngã lòng.
6.
Các vị Thiện thần phát nguyện bảo hộ người tu hành.
Khi ấy ở trong pháp hội có tám vạn Thần Kim
Cang như Ông Hỏa Đầu kim Cang, Tối Thoái Kim Cang,
Ni Lam Bà Kim Cang, cùng với quyến thuộc liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng,
rồi kính cẩn lạy Phật và thưa rằng:
- BaÏch Đức Thế Tôn! Nếu các chúng sanh đời
sau, có người nào thọ trì kinh Đaị thừa này, thì
chúng con nguyện bảo hộ người ấy giữ gìn tròng con
mắt; cho đến chỗ đạo tràng của người này tu hành,
chúng con cũng nguyện dẫn hết binh tướng đến đó, sớm
chiều bảo hộ, khiến cho họ chẳng thối chuyển. Chỗ
nhà cửa của người này ở, hằn không có tai chướng,
các tật bịnh đều tiêu hết, của báu giàu có, thường
chẳng thiếu thốn.
Khi ấy ông Đại Phạm Vương và 28 vị Thiên Vương,
cùng ông Tu Di Sơn Vương và Hộ Quốc Thiên Vương v.v...
đều đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật ba vòng rồi
kính cẩn lạy Phật và thưa rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện bảo
hộ người thọ trì kinh này, thường được an ổn, tâm
chẳng thối lui.
Khi ấy có Đại Lực Quỷ Vương, tên là Cát Bàn
Trà cùng với 10 vạn Quỷ Vương, đứng dậy đi quanh bên
hữu của Phật ba vòng, rồi lạy Phật và thưa rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện sớm
chiều hộ vệ người thọ trì kinh này, khiến cho họ
không thối lui. Chỗ của người trì kinh ở, trong
khoảng một do tuần (10 dặm) nếu có chúng quỷ thần
nào đến xâm phạm cảnh giới này, thì chúng con sẽ đập
nó nát như vi trần.
Khi ấy tất cả đại chúng như các vị Bồ Tát,
Thiên long, Quỷ thần, quyến thuộc của 8 bộ Quỷ thần
và chư thiên, Phạm vương v.v... nghe Phật nói kinh
này đều hoan hỷ, tín thọ và phụng hành.
Lược
Giải
Chương thứ 12 này là nói về việc truyền bá lưu
thông. Thính chúng trong pháp hội, trên từ các vị
đại Bồ Tát dưới cho đến chúng quỷ thần, nghe Phật
nói kinh này, từ chương thứ 11 là chương Viên Giác
rồi, tất cả đều lấy làm quý báu vô cùng, lợi lạc cho
chúng sanh vô tận, nên hớn hở vui mừng, tin thọ và
phụng hành. Bởi thế nên các vị Thiện thần đều phát
nguyện bảo hộ kinh và triệt để ủng hộ người thọ trì
đọc tụng kinh này.
Chúng ta chắc đã có trồng căn lành từ nhiều
đời trước, cho nên hôm nay mới có diễm phúc được
nghe kinh này. Ước mong quý vị mỗi ngày nên phát Bồ
Đề tâm tu hành và truyền bá kinh này được phổ cập
quần sanh. Thế là chúng ta đã đền đáp được ơn Phật
mà cũng thực hành theo hạnh Phật là "Tự giác giác
tha, giác hạnh viên mãn".
CHUNG