Phẩm mười hai
Trang nghiêm
phúc đức, trí tuệ
H3. Liệt cử hai sự trang nghiêm
phước đức, trí tuệ để khuyến khích
I1. Hỏi đáp phần trên
Thiện Sinh bạch Phật: "Kính bạch Đức Thế
Tôn, Bồ tát làm thế nào để trang nghiêm cho
mình và người?"
Đức Phật bảo Thiện Sinh: "Thiện nam tử! Bồ
tát có hai pháp, có thể trang nghiêm cho
mình và người: Một là phúc đức, hai là trí
tuệ."
[Giải] Ở đây tiếp tục câu
hỏi trên "như thế nào có thể trang nghiêm
cho mình và người?" Đức Phật được xưng là
Lưỡng túc tôn, do đó Ngài trả lời rằng cần
phải có đầy đủ phước đức và trí tuệ, mới có
thể trang nghiêm cho mình và người.
I2. Hỏi đáp để cứu xét nguyên
nhân
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên nào
mà được hai pháp trang nghiêm này?
- Thiện nam tử! Bồ tát tu tập sáu pháp Ba la
mật, sẽ được hai pháp trang nghiêm: bố thí,
trì giới, tinh tiến, được gọi là phúc đức
trang nghiêm; nhẫn nhục, thiền định, trí
tuệ, được gọi là trí tuệ trang nghiêm. Lại
có sáu pháp làm nhân cho hai pháp trang
nghiêm này, tức là pháp lục niệm: niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng, gọi là trí tuệ trang
nghiêm; niệm giới, niệm thí, niệm thiên, gọi
là phúc đức trang nghiêm.
[Giải] Trong sáu Ba la
mật, cũng có người phân biệt: bố thí, nhẫn
nhục, trì giới là phước đức, bát nhã là trí
tuệ, còn tinh tiến và thiền định là chung
cho cả hai phần phước trí; lại có người cho
rằng: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tiến, thiền định đều là phước đức, chỉ có
bát nhã là trí tuệ. Còn bổn kinh thì lại là
một trường hợp khác.
I3. Nói rõ hành tướng của hai sự
trang nghiêm
J1. Dùng thành quả để biện minh
Thiện nam tử! Bồ tát đầy đủ hai pháp trang
nghiêm này, có thể lợi mình lợi người. Vì
chúng sinh chịu khổ trong ba đường ác, mà
trong tâm vẫn không sinh sầu khổ, hối hận.
Nếu có thể đầy đủ hai pháp trang nghiêm này,
sẽ được phương tiện thiện xảo vi diệu, thấu
rõ pháp thế gian và xuất thế gian.
Thiện nam tử! Phúc đức trang nghiêm tức là
trí tuệ trang nghiêm, trí tuệ trang nghiêm
tức là phúc đức trang nghiêm. Vì sao? Vì kẻ
có trí tuệ, có thể tu pháp lành, đầy đủ mười
điều thiện, thu hoạch được sự giàu có cùng
sự tự tại. Vì được hai việc này, nên có thể
làm việc lợi mình lợi người.
Kẻ có trí tuệ, tất cả những sự học hỏi đều
hơn người khác, do nhân duyên này, được sự
giàu có và tự tại. Bồ tát đầy đủ hai pháp
như vậy, có thể trong đời này và đời sau làm
lợi cho mình và người. Người trí có thể phân
biệt pháp thế gian và pháp xuất thế gian.
Pháp thế gian tức là tất cả học thuyết cùng
thiền định của phàm phu; pháp xuất thế gian
là sự hiểu biết về năm ấm, mười hai nhập,
mười tám giới. Bồ tát hiểu rõ nhân duyên của
hai pháp, nên có thể lợi mình và người.
Thiện nam tử! Bồ tát tuy biết rõ những sự
vui sướng thế gian chỉ là huyễn dối không
thực, nhưng lại có thể tạo những nhân duyên
cho những sự vui trên đời. Vì sao? Vì muốn
lợi ích cho các chúng sinh.
[Giải] Năm ấm, tức là
sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Mười hai nhập, tức là nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt,
thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Mười tám giới, tức là mười hai nhập và sáu
thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt
thức, thân thức và ý thức.
J2. Dùng nhân hạnh để biện minh
Thiện nam tử! Hai pháp trang nghiêm này, có
hai nguyên nhân chính: Một là tâm từ, hai là
tâm bi. Tu hai nhân này, tuy vẫn tiếp tục
lăn lộn trong sinh tử, song tâm không sinh
hối tiếc. Lại nữa, Bồ tát đầy đủ hai pháp,
có thể làm trang nghiêm Vô Thượng Bồ Đề: Một
là không tham luyến sinh tử, hai là quán sát
thâm sâu pháp giải thoát, thế nên có thể làm
lợi ích trong hai đời. Hiểu rõ pháp tướng,
được trí tuệ rộng lớn, làm cho của cải cùng
thọ mệnh của mình và người đều được tăng
trưởng.
Thiện nam tử! Bậc Đại Bồ tát đầy đủ hai pháp
như vậy, bất cứ khi nào làm việc bố thí, đều
không sinh sự hối tiếc. Thấy những sự ác,
cũng đều nhẫn nhịn được. Bồ tát lúc bố thí,
quán sát hai loại ruộng: Một là ruộng phúc,
hai là ruộng bần cùng. Bồ tát vì muốn tăng
trưởng phúc đức, thế nên bố thí cho kẻ bần
khổ; vì muốn tăng trưởng trí tuệ vô thượng,
thế nên cúng dường phúc điền Tam Bảo; vì
muốn tăng trưởng nhân duyên cho tất cả sự
phúc lạc, thế nên cúng dường Tam Bảo; vì
muốn xa lìa nhân duyên của tất cả sự nghèo
khổ, thế nên bố thí kẻ bần cùng. Bồ tát nếu
bố thí cho kẻ thân quyến, chính là vì muốn
trả ơn cho họ. Bồ tát nếu bố thí cho kẻ oán
thù, chính là vì muốn tiêu trừ sự thù hận.
Bậc Đại Bồ tát thấy người đến xin, xem như
con một của mình, vì thế tùy sức mình nhiều
ít đều đem bố thí, thế nên gọi là Bố thí Ba
la mật. Bồ tát lúc bố thí, rời bỏ tâm sẻn
tiếc, thế nên gọi là Trì giới Ba la mật. Có
thể nhẫn chịu những lời cay nghiệt của kẻ
đến xin, thế nên gọi là Nhẫn nhục Ba la mật.
Tự tay mình đem bố thí cho kẻ đến xin, thế
nên gọi là Tinh tiến Ba la mật. Chuyên tâm
nhất ý, quán sát sự giải thoát, thế nên gọi
là Thiền định Ba la mật. Không còn phân biệt
người thân kẻ thù, thế nên gọi là Bát nhã Ba
la mật.
Thiện nam tử! Như những chúng sinh, lúc khởi
tâm tham giết hại, trong một niệm đầy đủ
mười hai nhân duyên; Bồ tát, lúc bố thí cũng
thế, trong một niệm đầy đủ sáu Ba la mật,
thế nên gọi là trang nghiêm công đức và trí
tuệ.
[Giải] "Không tham
luyến sinh tử", tức là ở trong dòng sinh tử
độ chúng sinh mà không tham luyến.
Ruộng bần cùng, tức là những chúng sinh
nghèo khổ, thiếu thốn.
Bố thí kẻ oán thù, tức có thể giải trừ sự
thù hận.
Từ phương diện "dung thông quán nhiếp" mà
nói, bố thí ba la mật có thể đầy đủ sáu ba
la mật, năm ba la mật khác cũng thế.
Mười hai nhân duyên, có người từ quan điểm
"một đời" mà giải thích, có người từ "hai
đời", "ba đời" mà giải thích. Lại có người
từ "một niệm" mà giải thích.
Nếu như có thể niệm niệm không thoái chuyển,
thì tức là cảnh giới của Bồ tát Bát địa.
J3. Dùng hành tướng khác biệt để
biện minh
Lại nữa, bậc Đại Bồ tát tạo tác nhân duyên
cho những pháp "bất cộng" với bậc Tiểu thừa,
gọi là phúc đức trang nghiêm; dạy dỗ chúng
sinh làm cho họ được ba loại Bồ đề, gọi là
trí tuệ trang nghiêm.
Lại nữa, thiện nam tử! Bồ tát có thể điều
phục chúng sinh, gọi là trí tuệ trang
nghiêm, cùng với chúng sinh nhẫn chịu sự khổ
não, gọi là phúc đức trang nghiêm. Bồ tát có
thể làm cho chúng sinh rời bỏ những ác kiến,
nên gọi là trí tuệ trang nghiêm; có thể giáo
hóa chúng sinh làm cho họ tăng trưởng lòng
tin, bố thí, trì giới, nghe nhiều Phật pháp,
trí tuệ, nên gọi là phúc đức trang nghiêm.
Lại nữa, thiện nam tử! Bậc Đại Bồ tát đầy đủ
năm pháp, có thể trang nghiêm Vô thượng Bồ
đề. Thế nào là năm pháp? Một là lòng tin,
hai là lòng bi, ba là can đảm, bốn là đọc
sách vở thế gian không biết nhàm chán, năm
là học tập nghề nghiệp thế gian không biết
mỏi nhọc.
Thiện nam tử! Bồ tát đầy đủ hai pháp trang
nghiêm, sẽ có được bảy tướng. Thế nào là bảy
tướng? Một là tự biết lỗi mình, hai là không
nói lỗi của kẻ khác, ba là ưa chăm sóc người
bệnh, bốn là ưa bố thí kẻ nghèo, năm là được
tâm Bồ đề, sáu là tâm không buông lung, bảy
là bất cứ lúc nào cũng thường chuyên tâm tu
tập sáu pháp Ba la mật.
Thiện nam tử! Lại có bảy tướng: Một là ưa
dạy dỗ kẻ oán thù, hai là dạy dỗ họ không hề
biết nhàm chán, ba là làm cho nhân duyên
giải thoát của chúng sinh được chín muồi,
bốn là đem hết tất cả những điều học hỏi dạy
cho kẻ khác, mà không tham cầu sự cung kính
cúng dường, năm là có thể nhẫn chịu tất cả
những sự ác, sáu là không bao giờ nói những
điều mà người khác không vui, bảy là thấy
những kẻ phá giới cùng những kẻ tệ ác, tâm
không hờn giận, mà thường sinh lòng thương
xót.
Thiện nam tử! Bậc Đại Bồ tát biết rõ bảy
tướng này, thì có thể lợi mình lợi người.
[Giải] Pháp bất cộng,
tức là phần trên đã giải thích mười tám pháp
bất cộng.
"Làm cho rời bỏ ác kiến", Bồ tát tạo các
loại luận thuyết, đều là vì phá trừ ác kiến
của chúng sinh.
Lòng tin, tức là tin thực, đức, năng. Tin
thực, nghĩa là tin sự lý chân thực; tin đức,
tức là tin công đức của Phật pháp tăng; tin
năng, nghĩa là tin nhân dẫn đến quả, cùng
tin mình có thể thành Phật.
"Đọc sách vở thế gian, học nghề nghiệp thế
gian", trên phương diện trí tuệ của Bồ tát,
các ngài đối với sách vở, nghề nghiệp thế
gian vốn có thể không cần phải đọc, phải
học, thế nhưng vì muốn giáo hóa chúng sinh,
các ngài cũng đọc cũng học. Nếu không, công
đức trí tuệ của Bồ tát vượt hơn tất cả chúng
sinh, nếu coi thường chúng sinh mà không
giáo hóa, thì chúng sinh làm sao được độ
thoát?
Những kẻ tệ ác, tức là những kẻ cực ác, Bồ
tát không thể giáo hóa họ, phải nên thường
cảm thấy hổ thẹn.
I4. Kết luận Bồ tát tại gia thù
thắng
Thiện nam tử! Bồ tát có hai hạng: một là tại
gia, hai là xuất gia. Bồ tát xuất gia tu tập
hai pháp trang nghiêm này không khó, Bồ tát
tại gia tu tập hai pháp trang nghiêm này mới
là khó. Vì sao? Vì kẻ tại gia bị nhiều ác
duyên ràng buộc.