LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác: Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
B. Giải thích kinh văn
III. Kết Quy
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ
Tát Ma Ha Tát ư Như Lai tiền, thuyết thử Phổ Hiền
quảng đại nguyện vương thanh tịnh kệ dĩ. Thiện Tài
đồng tử dũng dược vô lượng, nhất thiết Bồ Tát giai
đại hoan hỷ. Như Lai tán ngôn:
"Thiện tai! Thiện tai!"
Nhĩ thời, Thế Tôn dữ
chư thánh giả Bồ Tát Ma Ha Tát, diễn thuyết như thị
bất khả tư nghị giải thoát cảnh giới thắng pháp môn
thời, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nhi vi thượng thủ chư
đại Bồ Tát cập sở thành thục lục thiên tỳ kheo. Di
Lặc Bồ Tát nhi vi thượng thủ Hiền kiếp nhất thiết
chư đại Bồ Tát. Vô Cấu Phổ Hiền Bồ Tát nhi vi thượng
thủ nhất sanh bổ xứ, trụ quán đảnh vị chư đại Bồ
Tát, cập dư thập phương chủng chủng thế giới phổ lai
tập hội nhất thiết sát hải cực vi trần số chư Bồ Tát
Ma Ha Tát chúng. Đại Trí Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền
Liên đẳng nhi vi thượng thủ chư đại Thanh Văn. Tịnh
chư nhân thiên, nhất thiết thế chủ, thiên, long, Dạ
Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma
Hầu La Già, nhân phi nhân đẳng, nhất thiết đại
chúng, văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ, tín thọ
phụng hành.
Lúc bấy giờ, Phổ Hiền
Bồ Tát Ma Ha Tát nói bài kệ thanh tịnh mười nguyện
vương Phổ Hiền rộng lớn này xong, Thiện Tài đồng tử
hớn hở vô lượng, hết thảy Bồ Tát đều đại hoan hỷ.
Như Lai khen rằng:
"Lành thay! Lành thay!"
Lúc bấy giờ, khi đức
Thế Tôn cùng các thánh giả Bồ Tát Ma Ha Tát diễn
thuyết pháp môn thù thắng cảnh giới giải thoát chẳng
thể nghĩ bàn như thế, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm
thượng thủ (4) của các đại Bồ Tát và sáu ngàn thầy
tỳ kheo do Ngài thành thục; Di Lặc Bồ Tát làm thượng
thủ của hết thảy các đại Bồ Tát trong Hiền kiếp (5);
Vô Cấu Phổ Hiền Bồ Tát làm thượng thủ của các đại Bồ
Tát Nhất Sanh Bổ Xứ trụ địa vị Quán Đảnh (6), và các
vị Bồ Tát Ma Ha Tát khác nhiều như số cực vi trần
của hết thảy biển cõi nước trong mười phương đủ mọi
thế giới khắp nhóm đến hội. Đại Trí Xá Lợi Phất, Đại
Mục Kiền Liên v.v… là thượng thủ của các đại Thanh
Văn, và các trời người, hết thảy chúa thế gian,
Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La,
Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, nhân phi nhân v.v… hết
thảy đại chúng nghe lời Phật dạy, đều đại hoan hỷ,
tin nhận vâng làm.
Pháp hội giảng kinh
lần này đến đây viên mãn, đem hạnh nguyện Phổ Hiền
báo cáo đại lược. Kinh văn đem lại cho chúng ta rất
nhiều chỉ dạy quý báu, hy vọng các vị đồng tu thường
nhớ kỹ, tu hành đúng như lời dạy, nhất tâm xưng niệm
A Di Đà Phật, chẳng phụ lòng kỳ vọng của Phổ Hiền Bồ
Tát đối với chúng ta.
Lược Giảng Giáo Nghĩa
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện hết
(dịch xong ngày 25
tháng 11 năm 2004)
(1) Cõi (dịch từ chữ
Hữu): Hữu có nghĩa là hữu sanh tử, hữu nhân quả báo
ứng. Có tam hữu, tứ hữu, thất hữu, cửu hữu, nhị thập
ngũ hữu sai khác; nhưng kinh chỉ thường nói đến tam
hữu (Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới) và cửu hữu.
Cửu Hữu tức là từ tam hữu, phân ra thành chín cõi.
Hữu chính là y báo của chúng sanh trong thế giới.
Từ A Tỳ địa ngục lên
đến tầng trời Tha Hóa Tự Tại thuộc về Dục Giới, còn
gọi là Ngũ Thú Tạp Cư địa; tức là gồm năm đường:
trời, người, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục.
Mười tám tầng trời
thuộc Sắc Giới chia làm bốn loại:
A) Ba tầng trời thuộc
Sơ Thiền, gọi là Ly Sanh Hoan Hỷ Địa, bởi họ đã khỏi
phải tái sanh trong Dục Giới, tâm rất vui mừng, sung
sướng.
B) Ba tầng trời thuộc
Nhị Thiền, gọi là Định Sanh Hoan Hỷ Địa, bởi họ do
thiền định mà sanh về cõi này.
C) Ba tầng trời thuộc
Tam Thiền, gọi là Ly Hỷ Diệu Lạc Địa, bởi đã lìa
khỏi những tướng tâm hoan hỷ thô tháp, tâm niệm hoan
hỷ rất vi diệu.
D) Chín tầng trời
thuộc Tứ Thiền, gọi là Xả Niệm Thanh Tịnh Địa, đã bỏ
những tâm niệm vui sướng của ba tầng Thiền Thiên ở
dưới, tâm niệm rất thanh tịnh.
Bốn tầng trời thuộc
Vô Sắc Giới, chia thành bốn loại:
A) Không Vô Biên Xứ
Thiên, còn gọi là Không Biên Xứ Đọa.
B) Thức Vô Biên Xứ
Thiên.
C) Vô Sở Hữu Xứ
Thiên.
D) Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ Thiên.
Như vậy Dục Giới có
một hữu, Sắc Giới có bốn hữu, Vô Sắc Giới có bốn
hữu, tổng cộng là chín hữu.
(2) Địa thượng Bồ
Tát: Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên.
(3) Ở đây không rõ
bản in bị thiếu hay Hòa Thượng lướt qua hai câu kệ
không giảng.
(4) Thượng thủ: người
cầm đầu, người lãnh đạo một nhóm người đến nghe pháp
thì gọi là thượng thủ.
(5) Hiền kiếp: là tên
của trung kiếp hiện tại. Trung kiếp quá khứ gọi là
Trang Nghiêm Kiếp, trung kiếp tương lai gọi là Tinh
Tú Kiếp. Trong Hiền kiếp có một ngàn đức Phật ra
đời, vị đầu tiên là Câu Lưu Tôn Phật, vị cuối cùng
là Phật Lâu Chí. Thích Ca Mâu Ni Phật và Di Lặc Phật
đều là những vị Phật xuất thế trong Hiền kiếp.
(6) Quán đảnh: Quốc
vương xứ Thiên Trúc (Ấn Độ), lúc truyền trao vương
vị, dùng nước bốn biển rưới lên đầu vương tử, gọi là
"quán đảnh". Chữ Quán Đảnh ở đây chỉ hàng
Pháp Vân Địa Bồ Tát, được chư Như Lai dùng trí huệ
thủy tưới gội, sẽ kế tục làm Phật, giống như thái tử
sẽ kế tục ngôi vua cha, nên gọi là Quán Đảnh. Mật
Tông cũng có nghi lễ quán đảnh, dùng nước đã gia trì
mật chú rưới lên đảnh, chia thành nhiều loại: truyền
giáo quán đảnh, thọ giáo quán đảnh, diệt tội quán
đảnh, thành tựu quán đảnh, cầu quả quán đảnh