LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
A. Dẫn nhập
Chư vị đồng tu!
Hôm nay chúng tôi có
nhân duyên thù thắng phi thường được báo cáo cùng
quý vị những lời khải thị trong phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện của kinh Hoa Nghiêm. Tuy vậy, do thời gian
không đủ, chẳng thể giảng chi tiết, nhưng bằng
phương thức nghiên cứu, học tập rồi báo cáo này, tôi
tin tưởng các đồng tu nhất định sẽ thâu hoạch nhiều
hơn là nghe giảng kinh bình thường. Hiện tại, con
người bận rộn công việc, dù kinh điển nhà Phật rất
hay, rốt cuộc vẫn chẳng thể hoàn toàn phù hợp nhu
cầu con người hiện đại. Bởi thế, nghiên cứu, học tập
để báo cáo có mối quan hệ thân thiết đối với cuộc
sống, đức hạnh, tu trì, gia đình mỹ mãn, xã hội yên
ổn, tốt đẹp. Nêu ra cách nghiên cứu, tu tập, gạn lấy
những tinh hoa, khiến cho những ý nghĩa trọng yếu
trong kinh được phô bày rõ ràng, chúng ta nghe xong
chắc chắn sẽ đạt được lợi ích chân thật.
Trước khi báo cáo,
trước hết hãy giới thiệu kinh Hoa Nghiêm.
Đại Tạng Kinh là hết
thảy những pháp Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong
bốn mươi chín năm; rốt cục, đức Phật giảng cho chúng
ta những gì?
Trong kinh Vô Lượng
Thọ, đức Phật nói đến ba thứ chân thật:
1) Chân thật tế.
2) Chân thật trí huệ.
3) Chân thật lợi ích.
Trong bốn mươi chín
năm, đức Phật giảng cho chúng ta hết thảy kinh là
giảng
"Thật Tướng của các pháp".
Nói theo ngôn ngữ hiện đại, Thật Tướng của các pháp
chính là chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Nhân sanh
chính là bản thân con người chúng ta; vũ trụ là hoàn
cảnh sanh sống của chúng ta. Đức Thế Tôn xuất hiện
trong thế gian, những điều Ngài giảng trong bốn mươi
chín năm chính là chân tướng và hoàn cảnh chúng ta
đang sống. Phật giáo về bản chất chính là những điều
răn dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật đối với hết thảy
chúng sanh trong mười pháp giới; Phật giáo không
phải là tôn giáo, mà là giáo dục. Giáo dục Phật giáo
cứu cánh viên mãn, giúp chúng ta phá mê khai ngộ,
lìa khổ được vui. Phá mê khai ngộ là chân thật trí
huệ, lìa khổ được vui là chân thật lợi ích. Lão Hòa
Thượng Hư Vân dạy chúng ta:
"Học Phật phải tin sâu nhân quả, nghiêm trì giới
luật, tín tâm kiên cố, quyết định hành môn".
Giáo dục Phật giáo
bác đại tinh thâm, bất cứ học thuật hay tôn giáo nào
cũng đều chẳng thể sánh bằng được. Chúng ta thời
gian, tinh lực một đời hữu hạn, làm sao tu học được?
Vì thế phải tinh tuyển (chọn lấy những tinh hoa).
Phải chọn lựa, phải hiểu nghĩa. Những đạo lý Phật
dạy, những phương pháp đức Phật đã trao, chúng ta
phải hiểu rõ ràng để ứng dụng vào cuộc sống thường
nhật. Nền giáo học nhà Phật nhằm đem lại cho chúng
ta lợi ích chân thật, nói cụ thể là cả một đời hạnh
phúc, sung sướng, gia đình mỹ mãn, sự nghiệp thuận
lợi, xã hội yên ổn, tốt đẹp, quốc gia giàu mạnh, thế
giới hòa bình, nền giáo dục của Phật Đà
đều
thực hiện được hết. Đó chỉ là Hoa Báo, tức là quả
báo trong đời này; quả trong đời sau gọi là Quả Báo,
càng thù thắng hơn nữa. Đặc biệt là Hoa Nghiêm quả
báo thù thắng, chúng ta không cách gì tưởng tượng
nổi đâu!
Kinh Hoa Nghiêm là
kinh bậc nhất trong nhà Phật, là pháp luân viên mãn
của đức Phật. Bộ kinh này chính là cương lãnh của
toàn bộ Phật pháp, là khái luận của toàn bộ Phật
học. Hết thảy kinh đều là quyến thuộc của kinh Hoa
Nghiêm, đều là một bộ phận nào đó của kinh Hoa
Nghiêm. Bộ kinh này giảng toàn thể nhân sanh vũ trụ;
kinh này viên mãn như thế nào? Đến tối hậu, mười đại
nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc thì
kinh này mới là viên mãn rốt ráo. Cổ nhân nói:
"So trong hết thảy kinh, kinh Hoa Nghiêm là bậc
nhất. Đem kinh Hoa Nghiêm so với Vô Lượng Thọ, kinh
Vô Lượng Thọ bậc nhất. Hoa Nghiêm đến tối hậu, Phổ
Hiền dùng mười nguyện dẫn về Cực Lạc mới là viên
mãn, kinh Vô Lượng Thọ từ đầu đến cuối chữ nào câu
nào cũng giảng về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bởi
thế, kinh Vô Lượng Thọ là chỗ quy túc của kinh Hoa
Nghiêm". Đại sư Thiện Đạo đời Đường nói:
"Hết thảy chư Phật Như Lai thị hiện trong nhân gian
thuyết pháp chỉ nhằm giới thiệu công đức lợi ích của
Tây Phương Cực Lạc thế giới cho mọi người".
Kinh Hoa Nghiêm có ba bản dịch (1): bản dịch đời Tấn
gồm sáu mươi quyển, bản dịch đời Đường gồm tám mươi
quyển, bản dịch bốn mươi quyển thuộc niên hiệu Trinh
Nguyên đời Đường Đức Tông (thường gọi là Tứ Thập Hoa
Nghiêm). Tứ Thập Hoa Nghiêm bao gồm toàn văn phẩm
Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện. Đại sư Thanh Lương phán
định kinh Hoa Nghiêm gồm "thất
xứ cửu hội" (chín pháp hội giảng kinh ở bảy
nơi) (2).
Nội dung kinh này
theo đại sư Thanh Lương phán định gồm bốn khoa lớn
"tín, giải, hạnh, chứng" (3), chúng ta cần
phải hiểu rõ. Nội dung kinh này ngoài bốn phần trên
ra, còn có năm tầng nhân quả (ngũ châu nhân quả):
Mười một quyển đầu là Sở Tín Nhân Quả; bốn mươi mốt
quyển giữa trước hết giảng về Nhân Quả Sai Biệt,
phần sau giảng về Nhân Quả Bình Đẳng; bảy quyển
giảng về Thành Hạnh Nhân Quả, tức là phẩm Ly Thế
Gian, hoàn toàn giảng về phương pháp tu hành; hai
mươi mốt quyển sau cùng giảng về Chứng Nhập Nhân Quả
(trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, phần này thuộc quyển bốn
mươi).
Ngoài ra, còn nói đến
Lục Tướng, Thập Huyền Môn, Tứ Pháp Giới (4), đấy
chính là chân tướng nhân sanh vũ trụ, tức là chân
tướng của chúng ta và hoàn cảnh sanh hoạt. Nói đến
đại thế giới, nói đến vũ trụ thì trong kinh này đức
Phật giảng hai mươi tầng Hoa Tạng thế giới; nói như
bây giờ là Vũ Trụ Quan. Về phương diện hành môn,
kinh này đặc biệt chú trọng
"trải sự để luyện tâm".
Tu hành từ đâu? Tu hành ngay trong sanh hoạt thường
nhật, ngay trong những lúc mặc áo, ăn cơm, xử sự,
đãi người, tiếp vật mà luyện tập cái tâm thanh tịnh,
tâm quảng đại, tâm bình đẳng, tâm đại từ đại bi của
chính mình thì mới là thọ dụng chân thật.
Thiện Tài đồng tử
tham phỏng năm mươi ba lần là
điểm
đặc sắc của kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm chẳng những
có lý luận viên mãn, phương pháp châu đáo tường tận
mà còn có Thiện Tài và Văn Thù, Phổ Hiền…năm mươi ba
vị đại Bồ Tát biểu diễn cho chúng ta, dạy chúng ta
tu hành như thế nào. Năm mươi ba vị thiện tri thức
đại diện nam, nữ, già, trẻ, các hạng, các nghiệp
trong xã hội hiện tại. Đại Thừa Phật pháp ai cũng
học được, ai cũng tu được, ai cũng thành tựu được.
Hễ chân chánh phát tâm học Phật thì chỉ có mỗi một
mình ta là học trò. Thiện Tài đồng tử không có đồng
bạn, không có đồng học, gặp ai cũng đều là thiện tri
thức; nói như bây giờ: Ai cũng là thầy mình cả.
Khổng Tử nói: "Ba người cùng
đi, ắt có người là thầy ta". Người tốt lẫn kẻ
xấu đều là thầy mình.
Người tốt làm chuyện
tốt, chúng ta phải học theo; họ là thầy của mình. Kẻ
ác làm chuyện gì chúng ta phải cảnh tỉnh, chẳng được
học theo; họ cũng là thầy của ta. Khi tham phỏng bậc
Bồ Tát Cửu Trụ là Thắng Nhiệt Bà La Môn, ông ta ngu
si, Thiện Tài chẳng học theo cái ngu si đó. Khi tham
phỏng Đệ Thất Hạnh Vị Bồ Tát là Cam Lộ Hỏa Vương,
tâm sân khuể nặng nề; bậc Đệ Ngũ Hồi Hướng Bồ Tát là
Phạt Tô Mật Đa nữ là một cô gái điếm, đại biểu cho
tham ái. Ba vị đại Bồ Tát tượng trưng cho ba độc
phiền não Tham - Sân - Si. Trong xã hội hiện thời,
bậc tri thức có đủ Tham - Sân - Si chẳng ít, nếu
chúng ta có được trí huệ như Thiện Tài, có bản lãnh
như Thiện Tài, chúng ta hành xử giống như Ngài thì
sẽ thành được Vô Thượng Đạo chẳng trở ngại gì.
Kinh này cho thấy
hành Bố Thí chẳng trở ngại viên dung, viên dung
chẳng trở ngại việc hành Bố Thí. Đại Thừa Phật pháp
tu học siêu việt quốc giới, chủng tộc, tôn giáo, còn
siêu việt cả thiện ác, siêu việt mười pháp giới; đó
là những điều chúng ta phải nhận thức, thể hội từ
kinh Hoa Nghiêm. Mỗi một địa vị, giai cấp có một
thiện hữu đại biểu, chỉ mình Đức Sanh đồng tử và Hữu
Đức đồng nữ là cùng hiện diện trong một hội: Đức
Sanh đồng tử đại biểu trí huệ, Hữu Đức đồng nữ đại
biểu từ bi. Bi - Trí song vận mới hòng mau chóng đạt
đến cảnh giới rốt ráo viên mãn. Đây là dạy chúng ta
trong cuộc sống, đối người xử vật phải có trí huệ,
phải có phương tiện thiện xảo.
Thiện Tài đồng tử
tham phỏng Di Lặc Bồ Tát, thăm viếng lầu gác của
ngài Di Lặc - [lầu gác ấy] nói như bây giờ là thư
viện - chẳng những chứa sách phong phú mà băng ghi
âm, băng ghi hình cũng rất phong phú. Vì sao vậy? Vì
trong lầu gác đó có thể nhìn thấy vô lượng vô biên
các cõi nước Phật giống như hình ảnh xuất hiện trên
màn bạc. Bởi thế, thư viện đó chính là
"thị thính đồ thư quán" (thư viện có đủ
phương tiện, tài liệu âm thanh lẫn hình ảnh). Thiện
Tài đến đó đại khai viên giải, hiểu viên mãn. Cuối
cùng, vị thiện tri thức thứ năm mươi ba là Phổ Hiền
Bồ Tát, dạy đồng tử mười đại nguyện, mười đại nguyện
tiêu biểu cho hạnh môn viên mãn. Thư viện của ngài
Di Lặc là học vấn viên mãn, mười đại nguyện vương
của Phổ Hiền đại sĩ là
đức
hạnh viên mãn. Học vấn và
đức
hạnh đều viên mãn là thành Phật, đạt đến đó là thành
tựu vô thượng Phật đạo. Đấy chính là
điều
khải thị viên mãn rốt ráo vĩ đại của kinh Hoa
Nghiêm.
Trong kinh này, đức
Phật dạy chúng ta: Chẳng học theo hạnh nguyện Phổ
Hiền sẽ chẳng thể viên thành Phật đạo. Sau khi tham
phỏng Di Lặc Bồ Tát, Thiện Tài đồng tử bèn tiếp nhận
lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy răn. Do đây ta biết rằng:
hạnh nguyện Phổ Hiền là những việc phải tu tập của
bậc Đẳng Giác Bồ Tát, chẳng phải là chuyện để người
tầm thường tu tập. Nói rộng ra, hạnh nguyện ấy là
chuyện phải tu của bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại
sĩ. Trong bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, địa
vị thấp nhất là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo; trước
khi đạt đến Sơ Trụ vẫn có thể phát tâm tu học hạnh
nguyện Phổ Hiền nhưng nhất định chưa thể làm được.
"Phổ Hiền Bồ Tát sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
thì mười đại nguyện mới viên mãn". Câu này
rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Văn Thù và Phổ Hiền
đều phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới, Phổ Hiền là Pháp Vương Tử của đức Tỳ Lô Giá Na
Phật trong Hoa Tạng thế giới, là bậc Đẳng Giác Bồ
Tát trong Viên Giáo, Ngài sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới để làm gì? Do câu này ta tìm được đáp án,
Ngài về đó để tu cho viên mãn mười đại nguyện vương.
Mục đích duy nhất của
Tịnh Tông học nhân là cầu sanh Tịnh Độ. Sanh về Tịnh
Độ bất thoái thành Phật là lợi ích chân thật của
Tịnh tông. Giải môn (mặt lý luận, giáo nghĩa) của
Tịnh Tông y vào năm kinh một luận, hạnh môn (mặt tu
tập, thực hành, phương pháp tu tập cụ thể) là một
câu A Di Đà Phật. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối là Chánh Hạnh. Ngoài Chánh Hạnh, còn cần phải có
Trợ Hạnh, Chánh Trợ Song Tu. Trợ Hạnh của Tịnh Tông
gồm năm khoa mục: ba phước, sáu hòa kính, lục độ,
Phổ Hiền thập đại nguyện vương.
Cơ sở của Phổ Hiền
hạnh là ba phước. Phước thứ nhất trong ba phước là
tu phước báo nhân thiên. Muốn được thành Phật, thành
Bồ Tát thì trước hết phải làm người cho tốt. Bắt đầu
học từ đâu? Phước thứ nhất là
"hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự
sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện nghiệp",
học Phật bắt đầu từ đó. Toàn bộ Phật pháp chỉ là dạy
hai chữ Hiếu Kính mà thôi!
"Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng": Chỉ
có thành Phật mới có thể hiếu với cha mẹ, tôn kính
sư trưởng viên mãn được. Chẳng kính cha mẹ là bất
hiếu, chẳng kính sư trưởng cũng là bất hiếu. Anh em
bất hòa khiến cha mẹ đau lòng cũng là bất hiếu. Làm
việc không tròn trách nhiệm, chẳng có lòng thành đối
với người khác, làm việc chẳng nỗ lực, thân thể
không khỏe thường sanh bệnh, tự mình ngày ngày phiền
não, một câu A Di Đà Phật niệm không tròn, đều là
bất hiếu. Không có chuyện gì ra ngoài hiếu kính cả,
bởi thế Phật cặn kẽ dạy chúng ta đại căn đại bản là
"hiếu thân tôn sư"
(hiếu với cha mẹ, tôn kính thầy). Chúng ta tự mình
thành Phật chẳng những độ được cha mẹ trong đời này
mà còn độ được cha mẹ trong đời đời kiếp kiếp quá
khứ, đấy mới là tận hết đại hiếu.
"Từ bi bất sát": Từ cơ sở hiếu kính, phát
triển thành đại từ đại bi, từ tâm đối với hết thảy
chúng sanh. Bất sát là Từ, chẳng trộm cắp, chẳng tà
dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu cũng là Từ. Từ
tâm ấy bao gồm hết thảy Tam Học Giới - Định - Huệ.
Mở rộng ra, toàn bộ pháp giới đều bao gồm trong ấy;
Bất Sát chỉ là nêu lên một thí dụ. Phàm hễ làm cho
chúng sanh sanh phiền não thì tâm địa chúng ta chẳng
Từ, chính mình sanh phiền não cũng là chẳng Từ.
"Tu Thập Thiện nghiệp": Thập Thiện chẳng phải
là Giới mà là thiện nghiệp. Ba điều thiện nơi thân:
chẳng sát sanh, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm; bốn
điều thiện nơi miệng: không vọng ngữ (chẳng dối
người), không lưỡng thiệt (chẳng khêu gợi thị phi),
không ỷ ngữ (chẳng hoa ngôn xảo ngữ), không ác khẩu
(chẳng nói năng thô lỗ); ba điều thiện nơi ý: chẳng
tham, chẳng sân, chẳng si. Đức Phật dạy chúng ta tu
học mười loại thiện hạnh lớn nơi thân - ngữ - ý. Ai
thực hiện tốt những điều ấy mới gọi là hảo nhân.
Phước thứ nhất là cơ
sở, có hiếu thân, tôn sư, từ tâm, thập thiện thì mới
có tư cách vào cửa Phật học Phật, làm học trò của
Phật Thích Ca.
Phước thứ hai:
"Thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai
nghi". Phước thứ hai là chuyện phải tu của
người tu Nhị Thừa, chân chánh bước vào cửa Phật.
Người Nhị Thừa tu Tam Học Giới - Định - Huệ.
"Thọ trì Tam Quy": Quý vị bước vào cửa Phật,
trước hết đem phương pháp, lý luận tu học nhà Phật
truyền cho quý vị, đó gọi là
"truyền thọ Tam Quy".
Tam Quy Y: Quy là quay đầu, Y là nương tựa. Quy y
Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng); Tam Bảo trong tự tánh.
Lục Tổ nói: "Nào ngờ tự tánh
vốn sẵn có đủ". Tự tánh vốn sẵn đủ Tam Bảo,
nay ta quy y là quy y Tự Tánh Tam Bảo. Tam Quy:
1) Quy y Phật: Phật
là Tự Tánh Giác, giác chứ không mê. Từ hết thảy mê
hoặc điên đảo quay trở về nương dựa vào Tự Tánh
Giác, nên gọi là
"quy y Phật".
2) Quy y Pháp: Pháp
là chánh tri chánh kiến nơi tự tánh. Kinh Pháp Hoa
nói:
"Nhập Phật tri kiến";
Phật tri Phật kiến là tư tưởng chánh xác, kiến giải
chánh xác, hoàn toàn hiểu rõ chân tướng nhân sanh vũ
trụ, chẳng hiểu sai lầm một điểm gì. Từ chỗ suy nghĩ
lầm lạc, kiến giải lầm lạc trước kia, nay quay lưng
với những lầm lạc ấy, về nương dựa nơi chánh tri
chánh kiến của tự giác thì gọi là
"quy y Pháp".
3) Quy y Tăng: Tăng
là tự tánh thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, chẳng
nhiễm mảy trần. Lục Tổ nói:
"Nào ngờ tự tánh vốn sẵn thanh
tịnh". Từ hết thảy nhiễm ô quay đầu trở lại,
nương vào tâm thanh tịnh sẵn có, thì gọi là
"quy y Tăng".
Quy y Phật giác chứ
không mê, quy y Pháp chánh chứ chẳng tà, quy y Tăng
tịnh chứ chẳng nhiễm. Tu học Phật là Giác - Chánh -
Tịnh. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ là Phật Thuyết Đại
Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng
Giác Kinh. Tam Bảo cũng nằm trong tựa đề kinh. Giác
là Phật Bảo, Bình Đẳng là Pháp Bảo, Thanh Tịnh là
Tăng Bảo. Năm chữ
"Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác"
chính là Tự Tánh Tam Bảo. Chúng ta nương vào năm chữ
này tu hành mới là thọ trì Tam Quy chân chánh, mới
thật là
đệ
tử Phật. Sau khi hiểu rõ cương lãnh tu hành rồi, đối
trước tượng Phật, Bồ Tát, phát thệ nguyện sâu nặng:
"Mong trở thành học trò đức
Phật, xin được tiếp nhận lời Phật răn dạy, từ nay
trở đi, con nhất định tu hành thanh tịnh".
Thỉnh một vị pháp sư chứng minh, cử hành nghi thức
Tam Quy. Thật sự trọng yếu là phải quy y Tự Tánh Tam
Bảo. Tam Quy xong, đức Phật dạy chúng ta phải có đủ
các giới, chẳng phạm oai nghi.
"Đầy đủ các giới": Trì giới là giữ pháp.
Chẳng riêng gì những giới điều đức Phật đã nói như
Ngũ Giới, Thập Giới, Tỳ Kheo Giới, Bồ Tát Giới, mà
phàm hết thảy những răn dạy trong hết thảy các kinh
luận, mỗi mỗi đều là giáo giới cả. Hiến pháp, pháp
luật, quy định, hiến chương đều thuộc phạm vi của
giới luật, đều phải tuân thủ; phong tục, tập quán và
quan niệm đạo đức mỗi nước cũng phải tuân thủ.
"Chẳng phạm oai nghi": Oai nghi là lễ tiết,
lễ mạo. Chúng ta không những giữ pháp mà còn phải
hiểu lễ thì mới được đại chúng hoan nghênh, mới có
thể làm cho Phật pháp được lưu truyền rộng rãi các
nơi. Phước thứ hai là việc thiện của Nhị Thừa.
Phước thứ ba:
"Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại
Thừa, khuyến tấn hành giả" là việc thiện của
Đại Thừa Bồ Tát.
"Phát Bồ Đề tâm": Bồ Đề là tiếng Phạn, có
nghĩa là Giác, chân chánh giác ngộ. Chân chánh giác
ngộ lục đạo luân hồi rất khổ, chẳng được tự tại.
Chân chánh giác ngộ sự giáo dục của đức Phật giúp
chúng ta giải quyết hết thảy vấn đề, vấn đề hiện
tại, vấn đề tương lai, vấn đề tự thân, vấn đề gia
đình, vấn đề sự nghiệp, vấn đề xã hội, cho đến vấn
đề sau khi chết đi sẽ sanh trong thế giới nào, thảy
đều giải quyết hết. Chân chánh giác ngộ đạt đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới ngay trong lúc còn sống là
chuyện nhất định chúng ta có thể làm được. Sau khi
giác ngộ như vậy mới gọi là
"phát Bồ Đề tâm". Chân
chánh giác ngộ mới có hy vọng xuất ly luân hồi.
"Tin sâu nhân quả": Nhân quả ở đây chẳng phải
là nhân quả kiểu việc lành có quả lành, việc ác có
ác quả, đức Phật dạy hàng Bồ Tát tin sâu nhân quả là
ngụ ý
"niệm Phật là nhân, thành Phật là quả". Loại
nhân quả này rất nhiều vị Bồ Tát chẳng biết, cũng
chẳng tin tưởng. Niệm A Di Đà Phật, vãng sanh bất
thoái thành Phật là quả báo, là phương pháp tu học
thù thắng. Nếu chúng ta tin sâu chẳng nghi, quyết
định thọ trì, trong một đời này sẽ nhất định thành
Phật. Pháp môn Niệm Phật vạn người tu vạn người đạt,
cốt sao quý vị tin thật nguyện thiết, lấy một câu
Phật hiệu làm sự việc trọng đại của cả một đời,
trong mười hai thời từ sáng đến tối trong tâm chẳng
buông bỏ Phật hiệu, chân chánh thực hiện chẳng hoài
nghi, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, không một ai
chẳng thành công. Đó gọi là
"tin sâu nhân quả".
"Tụng đọc Đại Thừa": Tôi khuyên các đồng tu
chỉ đọc một bộ Vô Lượng Thọ là nhằm dụng ý đoạn
phiền não. Lúc chẳng niệm kinh bèn suy nghĩ bậy bạ,
sanh ra phiền não. Phật nói chúng sanh có hai thứ
Chướng: Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng. Hai
Chướng này do đâu mà có? Phẩm Xuất Hiện trong kinh
Hoa Nghiêm nói:
"Hết thảy chúng sanh đều có
trí huệ đức tướng của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng
chấp trước nên chẳng thể chứng đắc". Một lời
đức Phật vạch trần gốc bệnh của chúng ta.
Vọng tưởng phát triển
thành Sở Tri Chướng; chấp trước phát triển thành
Phiền Não Chướng. Mục đích của đọc kinh là phá hai
Chướng đó, khôi phục tâm địa thanh tịnh, rồi mới
dùng cái tâm thanh tịnh, tâm chân thành, tâm cung
kính, tâm từ bi chấp trì danh hiệu thì danh hiệu ấy
mới có cảm ứng. Kẻ lợi căn trong vòng năm mười năm
đắc thanh tịnh tâm, sau đấy mới có thể thực hiện
"pháp môn vô lượng thệ nguyện học", mới có
thể ngao du trong kinh luận Đại Thừa. Kẻ căn tánh
trung hạ, nếu mười năm tâm vẫn chưa thanh tịnh, thì
phải phát nguyện suốt đời niệm một bộ kinh, pháp môn
vô lượng thệ nguyện học đợi đến lúc sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới mới học cũng chẳng muộn. Tập
trung tinh lực trong thời gian một đời chuyên cầu
Tây Phương Tịnh Độ, hoàn toàn chẳng phân tâm. Tây
Phương Cực Lạc thế giới thọ mạng vô lượng, hết thảy
kinh điển viên mãn đầy đủ giống hệt như của mười
phương chư Phật đã nói chẳng thiếu gì. Lúc đó, A Di
Đà Phật là thầy mình, Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ
Hiền là
đồng
học, là bầu bạn, quý vị nhất định phải thành tựu.
Nếu thật sự có tâm từ bi thì cũng phải đảm bảo mình
được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi mới
ngao du trong các kinh luận Đại Thừa khác.
Nếu chưa nắm chắc
chuyện vãng sanh, thì phải bớt làm chuyện hoằng pháp
lợi sanh, nếu không sẽ bị uổng mất chuyện vãng sanh.
Kinh Vô Lượng Thọ dạy:
"Giả linh cúng dường hằng sa
thánh, bất như kiên dũng cầu Chánh Giác" (Ví
như cúng dường hằng hà sa số bậc thánh, cũng chẳng
bằng kiên định, dũng mãnh cầu đắc Chánh Giác), ý
nói: Tự độ cầu vãng sanh là chuyện trọng yếu. Tự
mình đã nắm chắc chuyện vãng sanh mới có thể phát
tâm rộng độ chúng sanh; vãng sanh chưa nắm chắc thì
niệm Phật nhiều phải là chuyện khẩn yếu hơn. Độ
chúng sanh phải có duyên phận và năng lực. Có ba
phước, sáu hòa kính, Tam Học (Giới - Định - Huệ),
Lục Độ làm cơ sở, tu học mười nguyện Phổ Hiền mới
hòng đạt lợi ích.
Thế nào là hạnh
nguyện Phổ Hiền? Nơi quả đức Như Lai viên mãn, nhất
định phải tu đại hạnh thì phước đức mới hòng viên
mãn. Mỗi một hạnh môn đều tương ứng với tự tánh,
nhưng mỗi một hạnh môn lại trọn khắp pháp giới. Đã
thế, mỗi một hạnh môn lại bao trùm hết thảy hạnh;
hết thảy hạnh cũng đều bao gồm trong một hạnh. Đấy
chính là bản thể của Phổ Hiền hạnh, mà cũng là hạnh
Phổ Hiền Bồ Tát thực hành. Nói cách khác, do phương
pháp tu hành này mà thành tựu Phổ Hiền Bồ Tát. Cổ
đức quy nạp thành mười điều:
1) Sở cầu phổ:
Cầu được chứng đắc bình đẳng với hết thảy Như Lai.
Chúng ta tương lai thành Phật phải bình đẳng với hết
thảy chư Phật trong mười phương ba đời, chẳng sai
biệt mảy may. Đấy là
điều
chúng ta mong cầu.
2) Sở hóa phổ:
Hóa là giáo hóa chúng sanh, Chư Phật Như Lai giáo
hóa vô lượng vô biên chúng sanh trong pháp giới,
chúng ta cũng phải phát nguyện như vậy.
3) Sở đoạn phổ:
Đoạn phiền não. Kiến Tư phiền não, Trần Sa phiền
não, Vô Minh phiền não đều phải đoạn, chẳng thể còn
lại mảy may phiền não nào.
4) Sự hành phổ:
Trong sanh hoạt thường nhật, bất luận chuyện lớn
việc nhỏ, mảy may tơ tóc cũng đều nên xứng với pháp
giới, giống hệt như Bồ Tát.
5) Lý hành phổ:
Mỗi một việc làm nào cũng đều tương ứng với tự tánh.
6) Vô ngại hành
phổ: Lý sự vô ngại.
7) Dung thông hành
phổ: Sự sự vô ngại.
8) Sở khởi đại
dụng phổ: Đức dụng trọn khắp pháp giới.
9) Sở hành xứ phổ:
Theo chiều ngang thì cùng khắp pháp giới, hết thảy
các cõi nước Phật và thân tâm của mình không hai,
không khác.
10) Tu hành thời
phổ: Nói trên phương diện thời gian thì một niệm
và cả kiếp dung thông. Mỗi một nguyện Phổ Hiền đều
"hư không giới tận, chúng sanh giới tận, nguyện tôi
mới tận". Nhưng hư không giới, chúng sanh
giới, chúng sanh nghiệp chẳng có cùng tận, hạnh
nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát cũng chẳng có cùng tận;
chẳng mệt, chẳng chán!
Đấy là Phổ Hiền hạnh,
hạnh môn đạt đến mức độ đăng phong tạo cực.
Duyên do của phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện: Xưa kia, lúc đức Thế Tôn thị hiện
thành Phật; lúc ban sơ, nhập định dưới cội Bồ Đề,
giảng kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm; giảng
thuyết lý sự vô ngại, sự sự vô ngại, cảnh giới một
niệm và cả kiếp viên dung. Nói cách khác, siêu việt
cả thời gian lẫn không gian, chẳng có thời gian dài
hay ngắn, chẳng có không gian xa hay gần. Đây chính
là cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn của chư
Phật, Bồ Tát chứng đắc.
Phật giảng bộ kinh
này, nếu dịch theo nguyên văn tiếng Phạn thì tựa đề
kinh là
"Đại Phương Quảng Giác Giả Tạp
Hoa Trang Nghiêm kinh". Người Trung Quốc
thích đơn giản, đổi chữ Giác Giả thành Phật, bỏ bớt
chữ Tạp, lược bớt chữ Trang, thành ra tựa đề kinh
hiện thời là "Đại Phương Quảng
Hoa Nghiêm kinh". Nhìn từ ý nghĩa của tựa đề
kinh, bộ kinh do đức Phật nói đây thật ra chính là
hết thảy kinh chúng ta thường giảng:
"Đại Phương Quảng"
(5) là Pháp, cũng như kinh Đại Thừa thường nói là
Thể, Tướng, đức dụng của Chân Như Tự Tánh.
"Phật" là người chứng đắc; người viên mãn
công đức thể, tướng, tác dụng của tự tánh thì gọi là
"thành Phật", ta gọi
người ấy là Phật Đà.
"Hoa Nghiêm"
là tỷ dụ. Tạp Hoa: Tạp là nhiều màu, có các thứ phẩm
lượng, giống như một đại hoa viên, hết thảy các loài
hoa đều có mặt hết, cũng chẳng thiếu khuyết gì cả.
Trang Nghiêm nghĩa là
đẹp
đẽ. Hết thảy các pháp đức Phật chứng giống như hoa
nhiều màu trang nghiêm. Do đây biết rằng: tựa đề
kinh này chẳng phải là tựa đề của riêng một bộ kinh
mà là
đề
mục chung của hết thảy kinh.
Đức Thế Tôn sau khi
thành Phật, trong mười bốn ngày (*), đem toàn bộ
cảnh giới Ngài chứng đắc viên mãn giảng cho Bồ Tát
nghe. Hàng Bồ Tát nghe kinh trong hội Hoa Nghiêm
thuộc bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ, chẳng phải
kẻ tầm thường. Hạng người tầm thường há có năng lực
vào trong Định của đức Thế Tôn để nghe kinh ư? Chẳng
có định công (công tu tập thiền định) thì chẳng có
duyên phận. Phật nói kinh này, Quyền Giáo Bồ Tát và
Thanh Văn, Duyên Giác như đui, như điếc, thấy chẳng
được, nghe cũng chẳng được.
Giảng kinh xong, Đại
Long Bồ Tát đem kinh này cất giấu dưới Long Cung.
Trong vòng sáu trăm năm sau khi Phật diệt độ, thế
gian chẳng có ai thấy được kinh này. Long Thọ Bồ Tát
thông minh tuyệt đỉnh, xem khắp kinh luận thế gian
và kinh điển của chín mươi sáu thứ ngoại đạo ở Ấn
Độ, sanh tâm ngạo mạn. Lúc ấy, Đại Long Bồ Tát hóa
thân độ Long Thọ, bảo Long Thọ:
"Long cung còn có rất nhiều
kinh điển khác ông chưa từng thấy qua". Khi
đến Long cung, Long Thọ thấy Đại Long Bồ Tát cất giữ
Đại Bản Hoa Nghiêm, có mười tam thiên đại thiên thế
giới vi trần bài kệ (mỗi một bài kệ có bốn câu) (6),
một tứ thiên hạ vi trần phẩm. Long Thọ Bồ Tát sững
sờ, tập khí ngạo mạn tan tành.
Tam thiên đại thiên
thế giới thật ra là một đại thiên thế giới, đại
thiên thế giới là khu vực hóa độ của một đức Phật.
Địa cầu xoay quanh Thái Dương, lấy Thái Dương làm
trung tâm, gọi là Thái Dương Hệ. Thái Dương Hệ lại
xoay quanh Ngân Hà hệ. Trong quá khứ, có nhiều người
cho rằng Thái Dương Hệ là một đơn vị thế giới. Một
đại thiên thế giới có một trăm ức đơn vị thế giới
như thế. Gần đây, lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nêu lên
quan điểm, cho rằng:
"Mỗi một hệ Ngân Hà là một đơn
vị thế giới. Đơn vị thế giới lấy núi Tu Di làm trung
tâm, núi Tu Di chẳng thuộc địa cầu, cũng chẳng nằm
trong Thái Dương Hệ, mà là do nhiều hằng tinh xoay
tròn [tạo thành]. Núi Tu Di chính là lỗ đen (black
hole) do các nhà thiên văn phát hiện, là trung tâm
của một Ngân Hà hệ".
Nếu nói như vậy thì
một đại thiên thế giới do một trăm ức Ngân Hà hệ tạo
thành. Phật nói: Trong vũ trụ có vô lượng vô biên
đại thiên thế giới. Nhưng bây giờ, giả sử đem các
tinh cầu trong một trăm ức Ngân Hà Hệ mài nát thành
vi trần, mỗi một vi trần tượng trưng cho một bài kệ,
thì bộ kinh này có mười đại thiên thế giới vi trần
kệ. Phân lượng quá lớn, địa cầu không chứa nổi. Phật
chỉ cần hai tuần giảng xong kinh này, Phật trí thần
thông vĩ đại, khiến chúng ta năm vóc sát đất bội
phục.
Trung Bổn Hoa Nghiêm
có bốn mươi chín vạn tám ngàn tám trăm bài kệ, một
ngàn hai trăm phẩm. Trung Bổn là phần trích yếu của
Đại Bổn, phân lượng cũng quá nhiều. Hạ Bổn Hoa
Nghiêm là mục lục đại cương trích yếu, tổng cộng
mười vạn bài kệ (bốn mươi vạn câu), bốn mươi tám
phẩm. Long Thọ Bồ Tát đem Hạ Bổn Hoa Nghiêm ra khỏi
Long cung. Từ đó, thế gian mới có kinh Hoa Nghiêm.
Cho đến thời đại Đông Tấn, tức là sau khi Long Thọ
Bồ Tát viên tịch ba, bốn trăm năm, bộ kinh này được
truyền đến Trung Quốc.
Thời cổ, kinh điển
chép trên lá Bối, dễ bị thất lạc. Kinh Hoa Nghiêm
truyền đến Trung Quốc, kinh văn bị thiếu sót, chỉ
còn ba vạn sáu ngàn bài tụng (kệ). Đời Tấn, ngài
Phật Đà Bạt Đà La (7) dịch sang Hán văn, chia làm
sáu mươi quyển, gọi là Lục Thập Hoa Nghiêm. Đời
Đường, bà Võ Tắc Thiên phái người sang Ấn Độ tìm bản
kinh này, thỉnh ngài Thật Xoa Nan Đà (8) sang Trung
Quốc dịch kinh Hoa Nghiêm, so với bản sáu mươi quyển
tăng thêm chín ngàn bài tụng, tổng cộng có bốn vạn
năm ngàn bài tụng, gọi là Bát Thập Hoa Nghiêm. Trong
niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường Đức Tông, Ô Đồ quốc
vương tấn cống hoàng đế Trung Quốc một bộ Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm (**), là phẩm cuối cùng của kinh
Hoa Nghiêm. Phẩm này vô cùng hoàn chỉnh, chẳng bị
khiếm khuyết, dịch sang tiếng Hán, tổng cộng bốn
mươi quyển, gọi là Tứ Thập Hoa Nghiêm.
Tứ Thập Hoa Nghiêm là
Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, toàn bộ kinh văn là bốn
mươi quyển. Khi Tứ Thập Hoa Nghiêm được phiên dịch,
Thanh Lương đại sư (9) tham gia dịch trường. Dịch
xong, hoàng đế thỉnh đại sư Thanh Lương viết chú
giải. Ngài Thanh Lương chuyên chú nơi kinh Hoa
Nghiêm, cả một đời giảng kinh Hoa Nghiêm năm mươi
lượt. Tứ Thập Hoa Nghiêm và Bát Thập Hoa Nghiêm gộp
lại, trừ khử những phần trùng lập, tổng cộng gồm
chín mươi sáu quyển.
Cổ nhân nói:
"Chẳng đọc Hoa Nghiêm, chẳng biết nhà Phật phú quý".
Nói cách khác, chẳng đọc Hoa Nghiêm, chẳng hiểu được
cái hay của việc thành Phật. Biết được cái hay của
việc thành Phật thì không thành Phật không xong. Đối
với việc tu học Phật pháp, kinh này là một bộ kinh
vô cùng trọng yếu. Tôi có được lòng tín ngưỡng nơi
Tịnh Độ Tông là do từ kinh Hoa Nghiêm mà có. Thoạt
đầu, tôi theo thầy cư sĩ Lý Bỉnh Nam chuyên hoằng
Tịnh Độ, đối với việc giảng kinh tôi vô cùng thích
thú, còn đối với việc Niệm Phật chẳng mặn mòi cho
lắm. Thầy khuyến khích tôi:
- Từ xưa đến nay,
không ít tổ sư đại đức đều tu học pháp môn Niệm
Phật, chẳng ngại gì ông không thử thực hành xem. Nếu
chẳng thể thành tựu thì từ trước đến giờ nhiều người
bị mắc lừa, chúng ta bị lừa một phen cũng không sao!
Thầy nói câu này đúng
là rát miệng xót lòng. Khi đó, tôi chẳng hiểu triệt
để Tịnh Độ Tông, tín tâm chưa sanh khởi. Mãi đến năm
Dân Quốc sáu mươi (1971), tôi mới bắt đầu giảng kinh
Hoa Nghiêm, giảng suốt mười bảy năm. Đột nhiên có
một ngày, tôi nghĩ đến một vấn đề: trong hội Hoa
Nghiêm, Phổ Hiền là trưởng tử, Văn Thù là con trai
thứ, hai vị Đẳng Giác Bồ Tát là trợ thủ của Tỳ Lô
Giá Na, các Ngài tu pháp môn gì? Nguyên lai các vị
Bồ Tát này niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Nhận ra như vậy, tôi vô cùng kinh
ngạc; hơn nữa, Thiện Tài đồng tử cũng tu pháp môn
Niệm Phật. Hoa Nghiêm đến cuối cùng, mười đại nguyện
vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc. Hiểu rõ
điều này trong hội Hoa Nghiêm rồi tôi mới phát sanh
tín tâm chân chánh đối với Tịnh Độ Tông. Đối với
tôi, kinh Hoa Nghiêm có ân sâu rất lớn.
[Phần kinh văn được]
báo cáo lần này là quyển cuối cùng của Tứ Thập Hoa
Nghiêm. Trong toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, quyển này
trọng yếu vô cùng, Thanh Lương đại sư gọi nó là
"Hoa Nghiêm quan kiện" (mấu chốt của kinh Hoa
Nghiêm); cương lãnh tu học Hoa Nghiêm hoàn toàn nằm
trong quyển này. Nó cũng là tổng kết luận của toàn
bộ kinh Hoa Nghiêm. Thanh Lương đại sư đem quyển này
lưu hành riêng; niệm một quyển giống như niệm toàn
bộ kinh Hoa Nghiêm. Bản chú giải quyển kinh này tốt
nhất là cuốn Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm Biệt Hành Sớ Sao, Sớ là Thanh Lương đại sư chú
giải lời kinh; Sao là do Tông Mật đại sư (10) chú
giải lời Sớ. Thanh Lương đại sư chú giải đơn giản
nhưng sâu xa, học trò Ngài là Tông Mật sợ hậu học
nghiên cứu, xem đọc gặp khó khăn, nên lại chú thích
tường tận một lần nữa. Đề tài lần giảng này là
"Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện
đích khải thị", không giải thích theo từng
câu văn mà chỉ báo cáo tường tận đại ý từng đoạn mà
thôi.