LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
B. Giải thích kinh
văn
I. Phần trường hang
2. Tỏ rõ tánh đức thù thắng của kinh: Mười đại
nguyện
vương dẫn về Cực Lạc
Chánh kinh:
Thiện nam Tử! Thị vi
Bồ Tát Ma Ha Tát thập chủng đại nguyện, cụ túc viên
mãn. Nhược chư Bồ Tát ư thử đại nguyện, tùy thuận
thú nhập, tắc năng thành thục nhất thiết chúng sanh,
tắc năng tùy thuận A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề,
tắc năng thành mãn Phổ Hiền Bồ Tát chư hạnh nguyện
hải.
Thị cố Thiện nam tử!
Nhữ ư thử nghĩa, ưng như thị tri.
Này Thiện nam tử!
Đấy là mười đại nguyện đầy đủ viên mãn của Bồ Tát Ma
Ha Tát. Nếu các Bồ Tát đối với các đại nguyện này mà
có thể tùy thuận, thú nhập thì sẽ có thể thành thục
hết thảy chúng sanh, sẽ có thể tùy thuận Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, sẽ có thể thành tựu trọn vẹn
biển các hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.
Vì thế, Thiện nam tử!
Đối với nghĩa này, ông nên biết như thế.
Kinh này là kinh Đại
Thừa. Thiện nam tử, thiện nữ nhân được nhắc đến
trong Đại Thừa tiêu chuẩn rất cao. Phải làm được tất
cả mọi điều trong mười câu nói về ba thứ phước của
Quán kinh thì kinh Hoa Nghiêm mới gọi là thiện nam
tử, thiện nữ nhân.
Đại ý của đoạn kinh
văn này là: Những nguyện nói ở phần trên chính là
mười đại nguyện của hàng đại Bồ Tát, cũng chính là
các hạnh của Bồ Tát được quy nạp thành mười loại lớn
(số Mười tượng trưng cho ý nghĩa viên mãn). Bồ Tát
tích cực tu học mười nguyện thì sẽ có thể thành thục
hết thảy chúng sanh. Thành thục hết thảy chúng sanh
tức là có thể phổ độ trọn hết thảy chúng sanh. Phổ
độ chưa chắc là
độ
thoát viên mãn, còn "thành
thục" thì có thể nói là
độ
thoát gần như viên mãn.
Việc quy kết về Tây
Phương Cực Lạc thế giới được biểu lộ qua ý nghĩa của
hai chữ
"thành thục", tức là
chân thật viên mãn. Nếu như chẳng dùng đến pháp môn
này, rất khó thể thành thục. Thành thục là ngay
trong một đời này, quý vị sẽ thành Phật. Trong một
đời này chẳng thành Phật thì chẳng được gọi là
"thành thục". Như chúng
ta bây giờ có thể thành Phật được chăng? Niệm Phật
có thể thành Phật! Niệm Phật là nhân, thành Phật là
quả; vấn đề là chúng ta có chịu niệm hay không, tâm
chúng ta cầu vãng sanh có chân thành hay chăng? Nếu
lúc có lúc không, dù niệm Phật lâu ngày cũng chẳng
cảm ứng!
Đồng thời, có thể tùy
thuận Bồ Đề. Đây chính là nói
"một đời thành Phật". Người niệm Phật đúng là
thành tựu ngay trong một đời; chưa tắt hơi đã thấy
Phật đến tiếp dẫn, bảo với quý vị:
"Phật đến rồi, ta theo Ngài đi thôi!", liền
tiêu sái ra đi. Đấy là theo Phật ngay khi còn sống,
thân thể hệt như một bộ y phục rách, vất đi chẳng
màng. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, một đời
thành Phật. Bởi thế pháp môn này gọi là pháp môn
"thành tựu ngay trong một đời". Ở đây, Phổ
Hiền Bồ Tát nói chẳng sai, đến Tây Phương Cực Lạc
thế giới mới có thể thật sự tu viên mãn mười nguyện
Phổ Hiền. Bởi lẽ, được bổn nguyện công đức của Phật
A Di Đà gia trì, oai thần lực của Phổ Hiền Bồ Tát
gia trì, về Tây Phương thì quý vị mới được tự tại tu
mười đại nguyện vương.
Chánh kinh:
Nhược hữu Thiện nam
tử, Thiện nữ nhân, dĩ mãn thập phương vô lượng vô
biên bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát, cực vi
trần số nhất thiết thế giới, thượng diệu thất bảo,
cập chư nhân thiên tối thắng an lạc, bố thí nhĩ sở
nhất thiết thế giới sở hữu chúng sanh, cúng dường
nhĩ sở nhất thiết thế giới chư Phật, Bồ Tát, kinh
nhĩ sở Phật sát cực vi trần số kiếp, tương tục bất
đoạn, sở đắc công đức; nhược phục hữu nhân, văn thử
nguyện vương, nhất kinh ư nhĩ, sở hữu công đức tỷ
tiền công đức, bách phận bất cập nhất, thiên phận
bất cập nhất, nãi chí ưu-ba-ni-sa-đ
à
phần, diệc bất cập nhất.
Nếu có Thiện nam
tử, Thiện nữ nhân đem bảy báu thượng diệu (1) và các
sự an lạc tối thắng của trời người đầy khắp hết thảy
thế giới nhiều như số cực vi trần của mười phương vô
lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật
để bố thí cho tất cả chúng sanh trong ngần ấy hết
thảy các thế giới, cúng dường chư Phật, Bồ Tát trong
ngần ấy hết thảy thế giới, trải các kiếp nhiều như
số cực vi trần của ngần ấy những cõi Phật, liên tục
chẳng ngớt, đạt được công đức. Nếu lại có người nghe
nguyện vương này một phen thoảng qua tai, thì công
đức của người trước đạt được so với công đức người
sau đạt được chẳng bằng một phần trăm, chẳng bằng
một phần ngàn, cho đến một phần ưu-ba-ni-sa-đ
à
cũng chẳng bằng được.
Ví như có người (ý
nói người bình thường) lúc nghe pháp sư giảng kinh,
nghe được mười đại nguyện vương, nghe thật rõ ràng,
thật minh bạch, cũng hiểu được ý nghĩa, in dấu trong
tám thức điền thì công đức ấy thật to lớn. Công đức
ấy là công đức chân thật, bởi lẽ một phen thoảng qua
tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo. Huống hồ là
pháp môn đệ nhất, kinh bậc nhất của Phật đã nói, hạt
giống ấy gieo vào A Lại Da Thức, tương lai gặp
duyên, nhất định thành thục. Bởi vậy, công đức chẳng
thể nghĩ bàn.
Chánh kinh:
Hoặc phục hữu nhân,
dĩ thâm tín tâm, ư thử đại nguyện, thọ trì, độc
tụng, nãi chí thư tả nhất tứ cú kệ, tốc năng trừ
diệt Ngũ Vô Gián nghiệp, sở hữu thế gian thân tâm
đẳng bệnh, chủng chủng khổ não, nãi chí Phật sát cực
vi trần số nhất thiết ác nghiệp, giai đắc tiêu trừ.
Nhất thiết ma quân, Dạ Xoa, La Sát, nhược Cưu Bàn
Trà, nhược Tỳ Xá Xà, nhược Bộ Đa đẳng, ẩm huyết, đạm
nhục, chư ác quỷ thần, giai tất viễn ly, hoặc thời
phát tâm, thân cận thủ hộ. Nếu lại có người, do
tâm tin tưởng sâu xa, đối với những đại nguyện này,
thọ trì, đọc tụng (2), cho đến biên chép một bài kệ
bốn câu, mau trừ diệt được nghiệp Ngũ Vô Gián (3);
tất cả các thân bệnh, tâm bệnh trong thế gian, các
thứ khổ não, cho đến hết thảy ác nghiệp nhiều như số
cực vi trần của một cõi Phật, đều được tiêu trừ. Hết
thảy ma quân, Dạ Xoa, La Sát, hoặc Cưu Bàn Trà, hoặc
Tỳ Xá Xà, hoặc Bộ Đa (4) v.v… các loại quỷ thần uống
máu ăn thịt, thảy đều tránh xa, hoặc có lúc phát
tâm, thân cận, thủ hộ.
Tu hạnh nguyện Phổ
Hiền lợi ích thù thắng như sau:
Thứ nhất là tiêu
nghiệp chướng. Chúng ta tạo rất nhiều ác nghiệp,
thân lẫn tâm đều có bệnh, phiền não nặng nề, lắm khổ
não, làm sao tiêu trừ đây? Ba chữ
"thâm tín tâm" là mấu chốt. Chúng ta mỗi ngày
thọ trì, đọc tụng, biên chép (lưu thông) mười đại
nguyện vương thì có thể tiêu trừ được nghiệp chướng
hay chăng? Có thể làm cho bệnh khổ được lành hay
chăng? Được chứ! Chỉ cốt sao chúng ta tín tâm sâu
xa, tin sâu chẳng nghi sẽ được cảm ứng. Kinh Kim
Cang dạy:
"Tín tâm thanh tịnh thời sanh
Thật Tướng". Sanh Thật Tướng là minh tâm kiến
tánh, là Lý Nhất Tâm Bất Loạn của người niệm Phật.
Nói cách khác, quý vị thành đại Bồ Tát, tội nghiệp
nhất định phải tiêu trừ.
Tâm thâm tín rất
trọng yếu, tâm thâm tín là một mảy ngờ vực cũng
chẳng có. Bộ kinh mười đại nguyện vương này mỗi chữ
đều là lời dạy răn chân thành của Như Lai; một câu
nói sai trái, một câu giả dối cũng chẳng có, thật
đáng tin tưởng, y giáo phụng hành. Tín tâm kiên
định, tín tâm thanh tịnh như thế y chiếu phương pháp
trong kinh điển mà hành, sẽ đạt được hiệu quả.
Hiệu quả thứ nhất là
tiêu nghiệp chướng. Thứ hai là tất cả hết thảy bệnh
khổ đều khỏi hẳn. Thứ ba, tất cả ma chướng, yêu ma,
quỷ quái chẳng dám gần quý vị. Do đây biết rằng:
Người gặp phải ma quái đều là vì tâm chẳng thanh
tịnh, có tham, sân, si, mạn. Tâm chẳng thanh tịnh
bèn cảm ứng ma, tâm thanh tịnh ma tự nhiên chạy mất.
Tỷ như niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát, niệm
kinh điển, bái sám hữu hiệu, tất cả hết thảy kinh
pháp đuổi ma đều nhằm giúp quý vị khôi phục cái tâm
thanh tịnh, chẳng khôi phục được cái tâm thanh tịnh
thì chẳng đuổi ma được. Người tin được bèn có phước,
người không tin bèn đánh mất lợi ích thù thắng của
việc tu học hạnh nguyện Phổ Hiền.
Chánh kinh: Thị cố
nhược nhân tụng thử nguyện giả, hành ư thế gian vô
hữu chướng ngại, như không trung nguyệt, xuất ư vân
ế. Chư Phật, Bồ Tát chi sở xưng tán, nhất thiết nhân
thiên giai ưng lễ kính, nhất thiết chúng sanh tất
ưng cúng dường. Thử Thiện nam tử, thiện đắc nhân
thân, viên mãn Phổ Hiền sở hữu công đức, bất cửu
đương như Phổ Hiền Bồ Tát, tốc đắc thành tựu vi diệu
sắc thân, cụ tam thập nhị đại trượng phu tướng.
Nhược sanh nhân thiên, sở tại chi xứ, thường cư
thắng tộc, tất năng phá hoại nhất thiết ác thú, tất
năng viễn ly nhất thiết ác hữu, tất năng chế phục
nhất thiết ngoại đạo, tất năng giải thoát nhất thiết
phiền não, như sư tử vương tồi phục quần thú, kham
thọ nhất thiết chúng sanh cúng dường.
Vì thế, nếu ai
tụng nguyện này đi trong thế gian chẳng bị chướng
ngại, như vầng trăng trên không ra khỏi mây phủ,
được chư Phật, Bồ Tát khen ngợi, hết thảy trời người
đều nên lễ kính, hết thảy chúng sanh thảy nên cúng
dường. Thiện nam tử ấy khéo được thân người, viên
mãn tất cả công đức của Phổ Hiền, chẳng bao lâu sẽ
như Phổ Hiền Bồ Tát, mau được thành tựu sắc thân vi
diệu, đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu. Nếu sanh
trong trời người, ở bất cứ đâu, thường sanh trong
dòng họ cao quý, thảy có thể phá hoại hết thảy đường
ác, đều có thể xa lìa hết thảy bạn ác, đều có thể
chế phục hết thảy ngoại đạo, đều có thể giải thoát
hết thảy phiền não, như sư tử chúa lấn áp muôn thú,
đáng nhận sự cúng dường của hết thảy chúng sanh.
Toàn văn Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm gồm bốn mươi quyển, mười đại nguyện
vương thuộc cuốn cuối cùng, chỉ chiếm 1/40 của phẩm
này. Hoằng Nhất đại sư lấy Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm
làm khóa lễ sáng tối. Nếu ai có thể đọc tụng mười
đại nguyện vương đây, tu hành theo đúng phương pháp
trong bộ kinh này, thì trong thế gian này, người đó
làm bất cứ việc gì chẳng bị chướng ngại; bởi lẽ trí
huệ, phước đức viên mãn của người ấy thường lộ rõ
trong sanh hoạt thường nhật. Đã thế, người ấy
"được hết thảy chư Phật, Bồ Tát khen ngợi, hết thảy
trời người đều nên lễ kính". Phật, Bồ Tát
xưng dương khen ngợi quý vị, trời người tất nhiên
cũng tôn kính người có đạo đức, học vấn. Đối với quý
vị, họ tỏ ra lễ độ bởi quý vị là một đệ tử Phật tu
học hạnh nguyện Phổ Hiền.
Không những thế,
trong lục đạo, quý vị
"thường sanh trong dòng họ cao
quý". Những chỗ quý vị sanh sống qua lại nhất
định đều thuộc chủng tộc thù thắng,
"có thể phá hoại hết thảy
đường ác, xa lìa hết thảy bạn ác, chế phục hết thảy
ngoại đạo, giải thoát hết thảy phiền não, đáng nhận
sự cúng dường của hết thảy chúng sanh". Lợi
ích thật thù thắng! Tâm quý vị, sự tu trì của quý vị
đều thuộc Bồ Đề chánh đạo, tự nhiên phá được hết
thảy đường ác, xa lìa hết thảy bạn ác, bởi chí thú
của họ khác với quý vị, nhất định chẳng thể cùng quý
vị qua lại, nên chẳng bị họ gây chướng ngại. Quý vị
có đạo đức, học vấn, biện tài, nhất định sẽ khuất
phục được hết thảy ngoại đạo, đủ sức giải thoát hết
thảy phiền não.
Bởi vậy, vị Bồ Tát
như thế sống trong thế gian có thể tiếp nhận hết
thảy chúng sanh cúng dường, bởi lẽ Ngài là phước
điền của hết thảy chúng sanh. Chúng sanh chẳng cúng
dường, Ngài bèn chẳng trụ thế, Ngài qua xứ khác,
sanh tử tự tại. Không gian sanh hoạt của Ngài chẳng
giống với chúng ta. Không gian sanh hoạt của chúng
ta rất nhỏ, chỉ là một quả địa cầu mà thôi, không
cách nào ra ngoài địa cầu được. Không gian hoạt động
của chư Phật, Bồ Tát là tột cùng hư không, trọn pháp
giới, không cách gì tưởng tượng được.
Gặp hạng người như
vậy, nếu ta chẳng cúng dường, cung kính, khéo học
theo, họ sẽ đi mất, chẳng ở lại chốn này. Cúng dường
là cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy,
nhất định phải tiếp nhận sự răn dạy, chỉ dẫn của họ,
đó là
điều
trọng yếu nhất. Nếu không tu hành đúng như lời dạy,
dù có cúng dường vật chất nồng hậu, họ cũng chẳng
chịu ở lại nơi đây, bởi họ chẳng mong cầu hưởng thụ.
Chỉ có một lý do khiến họ ở lại nơi đây: Tại chỗ này
có rất nhiều người thật sự học theo họ, nên họ nhất
định phải ở lại đây.
Chánh kinh:
Hựu phục thị nhân,
lâm mạng chung thời, tối hậu sát na, nhất thiết chư
căn tất giai tán hoại, nhất thiết thân thuộc tất
giai xả ly, nhất thiết oai thế tất giai thoái thất,
phụ tướng, đại thần, cung thành nội ngoại, tượng,
mã, xa thặng, trân bảo, phục tạng, như thị nhất
thiết vô phục tương tùy. Duy thử nguyện vương, bất
tương xả ly, ư nhất thiết thời, dẫn đạo kỳ tiền,
nhất sát-na trung, tức đắc vãng sanh Cực Lạc thế
giới. Đáo dĩ, tức kiến A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc
Bồ Tát đẳng, thử chư Bồ Tát sắc tướng đoan nghiêm,
công đức cụ túc, sở cộng vi nhiễu. Kỳ nhân tự kiến
sanh liên hoa trung, mông Phật thọ ký.
Đắc thọ ký dĩ, kinh ư
vô số bách thiên vạn ức na-do-tha kiếp, phổ ư thập
phương bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, dĩ
trí huệ lực, tùy chúng sanh tâm, nhi vi lợi ích. Bất
cửu đương tọa Bồ Đề đạo tràng, hàng phục ma quân,
thành Đẳng Chánh Giác, chuyển diệu pháp luân, năng
linh Phật sát cực vi trần số thế giới chúng sanh,
phát Bồ Đề tâm, tùy kỳ căn tánh giáo hóa thành thục,
nãi chí tận ư vị lai kiếp hải, quảng năng lợi ích
nhất thiết chúng sanh.
Lại khi người ấy
lâm chung, vào sát na tối hậu, hết thảy các căn thảy
đều tan hoại, hết thảy thân thuộc thảy đều bỏ lìa,
hết thảy oai thế thảy đều lui mất, phụ tướng (5),
đại thần, cung điện, thành quách trong ngoài, voi,
ngựa, xe cộ, trân bảo, kho đụn, hết thảy những thứ
như thế không gì theo mình nữa. Chỉ có mỗi nguyện
vương này chẳng bỏ lìa, trong hết thảy thời nó
thường dẫn đường đằng trước, trong một sát na liền
được vãng sanh thế giới Cực Lạc. Đến nơi rồi, liền
thấy A Di Đà Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền
Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát v.v… Các
đại Bồ Tát ấy sắc tướng đoan nghiêm, công đức trọn
đủ, cùng chung vây quanh. Người ấy tự thấy sanh
trong hoa sen, được Phật thọ ký.
Được thọ ký rồi, trải
qua vô số trăm ngàn vạn ức na-do-tha kiếp, khắp
trong mười phương bất khả thuyết bất khả thuyết thế
giới, dùng sức trí huệ, tùy tâm chúng sanh để làm
lợi ích. Chẳng bao lâu sẽ ngồi nơi Bồ Đề Đạo Tràng
(6), hàng phục ma quân, thành Đẳng Chánh Giác,
chuyển pháp luân mầu nhiệm, có thể làm cho chúng
sanh trong các thế giới nhiều như số cực vi trần
trong một cõi Phật phát tâm Bồ Đề, tùy theo căn tánh
mà giáo hóa thành thục, cho đến tột cùng biển vị lai
kiếp, có thể rộng lợi ích hết thảy chúng sanh.
Phổ Hiền Bồ Tát lại
dạy chúng ta một việc rất trọng yếu. Cổ đức chú giải
kinh văn thường trích dẫn đoạn kinh này. Do đó biết
đoạn kinh văn này rất trọng yếu. Đối với người niệm
Phật cầu vãng sanh, nó lại càng trọng yếu hơn nữa.
Sát na tối hậu khi lâm chung (tức vào lúc hơi thở
cuối cùng) là lúc quan trọng nhất của lúc sanh tử,
thần thức ly khai thân thể (nói theo thế tục là
"linh hồn lìa khỏi nhục thân"), nhục thân bị
hủy hoại, hư nát. Điều này cho thấy thân thể vô cùng
mỏng manh.
Người nhà, quyến
thuộc ân ái sâu nặng cách mấy đến lúc này cũng chẳng
thể không chia lìa, một phen xa nhau vĩnh viễn, đời
sau chẳng gặp lại được nữa. Dẫu đời sau có gặp lại
nhau, cả mình lẫn người đều đã thay đầu đổi mặt, có
gặp cũng chẳng nhận ra. Bởi thế, duyên thế gian phải
nhạt dần, chớ quá chấp trước; thế nhưng phải săn sóc
hết thảy chúng sanh chu đáo, đấy là Bồ Tát hạnh, tâm
địa thanh tịnh chẳng bị nhiễm.
Lúc còn sống, anh
hùng, hảo hán, oai phong lẫm lẫm, chết đi, thứ gì
cũng chẳng còn, chỉ vừa vùi xuống đất, hết thảy oai
thế mất sạch. Tại thế gian làm đế vương, chết đi,
đại thần cũng chẳng thể đi theo. Ở trong cung điện,
phương tiện di chuyển là voi, ngựa, xe cộ, chẳng
mang theo được thứ gì. Lúc còn sống thâu chứa bao
nhiêu của cải quý báu, cũng chẳng mang theo được gì.
Thân thể còn phải mục nát, huống hồ những thứ ngoài
thân!
Thấy thấu suốt những
sự tình đó, sẽ chẳng lưu luyến hết thảy pháp thế
gian. Chẳng còn tham ái, tâm quý vị sẽ thanh tịnh
rất nhiều. Tâm thanh tịnh bèn sanh trí huệ, bèn hiểu
trong thế gian nên làm người như thế nào, nên làm
những chuyện gì, tự nhiên giống như Phật, Bồ Tát:
Trong thế gian này chẳng vì chính mình, mà vì chúng
sanh. Sanh ra chẳng mang theo cái gì đến, chết đi
chẳng mang được cái gì đi, chỉ trần trụi một thân,
cho nên chẳng vì chính mình. Công đức chân thật chỉ
là lợi ích chúng sanh.
"Chỉ có nguyện vương này chẳng hề bỏ lìa": Có
thể mang theo công đức chính mình đã tu hành, chẳng
hề lìa bỏ. Bởi lẽ, công đức do chân tâm tu, chẳng
phải do tình ý hư dối tu tập. Vì sao chẳng thể mang
theo tình người thế gian được? Là vì tình ý hư dối,
chẳng phải chân tâm. Từ Quyền Giáo Bồ Tát trở xuống
thảy đều vận dụng tình ý hư dối, chẳng hề dụng tâm
chân thật. Bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ
trong hội Hoa Nghiêm đều dùng chân tâm. Chân tâm
vĩnh viễn chẳng biến đổi, vọng tâm biến đổi theo
từng sát na. Bất cứ thứ gì trong thế gian cũng chẳng
mang theo được, bởi lẽ chúng do tình ý hư dối tạo
ra.
Quý vị giúp đỡ hết
thảy chúng sanh, thành tâm thành ý mà làm thì công
đức, phước đức đều mang theo được. Tục ngữ có câu:
"Vạn thứ đều bỏ sạch, chỉ mỗi nghiệp theo thân".
Mang theo thiện nghiệp vào ba đường lành (trời,
người, A Tu La) hưởng quả báo, mang ác nghiệp vào ba
đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) chịu quả báo.
Bồ Tát thiện nghiệp lẫn ác nghiệp đều chẳng có, dẫu
đoạn hết thảy ác nhưng chẳng chấp tướng đoạn ác; dẫu
tu hết thảy thiện nhưng chẳng chấp tướng tu thiện,
tam luân thể không. Ngày ngày làm lành, ngày ngày vì
mọi người, nhưng trọn chẳng chấp tướng. Bởi thế, họ
mang mười đại nguyện vương đã tu hành theo được.
Chẳng những mang theo
mà còn trong
"hết thảy thời", nguyện
vương vĩnh viễn theo họ, chẳng hề tách rời, dẫn
đường cho họ "trong một sát
na, liền được vãng sanh thế giới Cực Lạc".
Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Đến thế giới
Cực Lạc, lập tức thấy A Di Đà Phật. Bởi thế, mười
đại nguyện vương là pháp tối thượng thừa để Bồ Tát
tu hành. Nói cách khác, nó là hạnh viên mãn của hết
thảy Bồ Tát Lục Độ. Trong mười nguyện, nguyện nào
cũng viên mãn, gồm trọn Lục Độ, là hạnh viên mãn của
Bồ Tát. Đến Cực Lạc, đồng thời cũng thấy Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di
Lặc Bồ Tát v.v… Những vị Bồ Tát ấy sắc tướng đoan
nghiêm, công đức trọn đủ.
Người tu mười đại
nguyện vương sanh về thế giới Cực Lạc, hoa lập tức
nở, đó là vãng sanh bậc thượng. Nhân vì tu hạnh
nguyện Phổ Hiền, tâm lượng giống như hư không pháp
giới, mỗi một nguyện đều nói:
"Hư không giới tận, chúng sanh
giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền
não tận, sự tu hành này của tôi chẳng có cùng tận".
Tâm lượng chúng ta quá nhỏ nên phải học Phổ Hiền
hạnh để tâm lượng lớn ra. "Tâm
trùm thái hư, lượng khắp các cõi nhiều như cát",
không một pháp nào chẳng gồm chứa. Tâm lượng to lớn
như thế, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thì lẽ đương
nhiên phải là Thượng Phẩm Vãng Sanh.
Bởi thế, sanh về đó,
hoa sen hóa sanh, hoa nở thấy Phật, được Phật thọ
ký. Sau khi được Phật thọ ký, ở Tây Phương Cực Lạc
thế giới nỗ lực tinh tấn cầu học, đạo sư là A Di Đà
Phật, giáo thọ là mười phương chư Phật Như Lai và
các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền… Bạn đồng
học là các thượng thiện nhân. Bởi thế, về đó cầu học
mau chóng phi thường, chẳng lui sụt, một đời viên
mãn thành tựu. Dù khi chưa tốt nghiệp, nghĩ muốn thả
bè từ thì A Di Đà Phật dùng bổn nguyện lực công đức
oai thần gia trì, quý vị bèn có thể nương theo ý
nguyện trở về độ sanh mà chẳng bị lui sụt, chẳng đọa
vào ác đạo. Đến mười phương thế giới độ chúng sanh,
năng lực giống như Quán Âm Bồ Tát, tùy lòng chúng
sanh, biết rõ nên dùng thân nào để độ bèn tự hiện
thân ấy để độ. Nên dùng thân Phật để độ thì chính
mình cũng có thể thị hiện tám tướng thành đạo giống
như Thích Ca Mâu Ni Phật thị hiện thành Phật trong
thế gian này. Chỉ cần sanh về thế giới Cực Lạc, được
gặp gỡ Phật A Di Đà bèn có năng lực ấy. Năng lực ấy
là do Phật gia trì, bởi chúng ta thật sự là học trò
của Phật A Di Đà, hết thảy chư Phật, Bồ Tát đều giúp
đỡ quý vị. Long thiên hộ pháp thần cũng đều hộ trì
quý vị.
Nếu chẳng nghiêm túc
nỗ lực tu học thì chẳng thể buông xuống vạn duyên,
đối với pháp môn này vẫn nửa tin nửa ngờ, chẳng hoàn
toàn tin tưởng. Nếu hiểu rõ chân tướng sự thật, nghi
tình sẽ đoạn, tín tâm kiến lập. Pháp môn này chẳng
khó tu. Đến lúc ấy mới là chân chánh báo ân Phật,
báo ân cha mẹ, báo ân chúng sanh vì quý vị có năng
lực lợi ích hết thảy chúng sanh.