TRANG KINH ĐIỂN GIẢNG GIẢI

Tổng hợp các bài giảng
về Kinh - Luật - Luận

 NI GIỚI KHẤT SĨ

Huyền diệu trên đời Pháp rộng sâu, Trăm ngàn muôn kiếp dễ chi cầu. Nay con nghe thấy chuyên trì tụng, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
 

 

LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA

PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Nguyên tác: Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Dịch theo bản in của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001

-o0o-

Chánh kinh:

      Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời,
      Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại,
      Diện kiến bỉ Phật A Di Đà,
      Tức đắc vãng sanh An Lạc sát,
      Ngã ký vãng sanh bỉ quốc dĩ,
      Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện,
      Nhất thiết viên mãn tận vô dư,
      Lợi lạc nhất thiết chúng sanh giới,
      Bỉ Phật chúng hội hàm thanh tịnh,
      Ngã thời ư thắng liên hoa sanh,
      Thân đổ Như Lai Vô Lượng Quang,
      Hiện tiền thọ ngã Bồ Đề ký,
      Mông bỉ Như Lai thọ ký dĩ,
      Hóa thân vô số bách câu chi,
      Trí lực quảng đại biến thập phương,
      Phổ lợi nhất thiết chúng sanh giới.

      Nguyện tôi lúc mạng sắp chấm dứt,
      Trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại,
      Tận mắt thấy Phật A Di Đà,
      Liền được vãng sanh cõi An Lạc,
      Tôi đã vãng sanh cõi ấy rồi,
      Hiện tiền thành tựu đại nguyện này,
      Viên mãn hết thảy không còn sót,
      Lợi lạc hết thảy chúng sanh giới,
      Chúng hội Phật kia đều thanh tịnh,
      Khi đó tôi sanh trong sen đẹp,
      Chính mắt thấy Phật Vô Lượng Quang,
      Liền được Phật thọ ký Bồ Đề,
      Được đức Như Lai thọ ký rồi,
      Hóa thân vô số trăm câu chi,
      Trí lực rộng lớn trọn mười phương,
      Lợi khắp hết thảy chúng sanh giới.


      Bốn bài kệ này là phần kệ tụng trọng yếu nhất của phẩm kinh này, khải thị cho chúng ta điều trọng yếu nhất, khiến chúng ta kiên định tín tâm, học đòi Phổ Hiền Bồ Tát niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Mười sáu câu này là đại nguyện do chính Phổ Hiền Bồ Tát phát ra, Ngài cũng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Mười sáu câu này cho thấy Phổ Hiền Bồ Tát phát nguyện vãng sanh, thọ ký thành Phật, thả chiếc bè từ phổ độ chúng sanh. Mười sáu câu này là tinh hoa của bản kinh, là phần tối tinh hoa trong những tinh hoa của kinh Hoa Nghiêm, là đoạn văn tinh vi đẹp đẽ nhất, chúng ta phải nhớ nằm lòng.

      Bài kệ thứ nhất nói lên tình hình vãng sanh và điều kiện để vãng sanh.

      "Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời" (nguyện tôi lúc mạng sắp chấm dứt): Tôi ở đây là Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Lão nhân gia phát nguyện, nguyện chính mình lúc lâm chung. "Dục" là sắp sửa, lúc còn chưa chết. Lúc mạng sắp chấm dứt là cửa ải khẩn yếu nhất. Lúc ấy, chẳng sanh Tây Phương ắt phải luân hồi; đường đi đã đến chỗ giao thoa, xem quý vị chọn lựa như thế nào, có quan hệ thiết thân đối với mỗi cá nhân đấy, phải nhớ kỹ! Đấy là cửa ải sanh tử; gọi là cửa ải sanh tử vì từ đó sẽ sanh về đâu, ải này tối khẩn yếu.

      "Trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại": Chẳng trừ khử chướng ngại, chẳng thể vãng sanh. Một đời niệm Phật, nếu lúc lâm chung chướng ngại hiện tiền, vẫn chẳng thể vãng sanh. Trừ khử chướng ngại để trong sát na cuối cùng chẳng bị chướng ngại không thể vãng sanh là một điều kiện tối trọng yếu. Những chướng ngại nào? Vọng niệm. Trong lúc đó khởi lên một vọng niệm là hỏng rồi, chẳng đến Tây Phương được. Có đảm bảo lúc ấy chẳng khởi vọng niệm hay không? Rất khó. Bởi thế, thời khắc mấu chốt ấy phải nhờ vào bình thường dụng công, như thường nói: "Luyện binh ngàn ngày, dùng binh một buổi". Niệm Phật là luyện binh, hy vọng dốc toàn bộ tinh thần chuyên chú vào một câu Phật hiệu, trừ khử ý niệm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

      Lúc niệm Phật chẳng khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là tâm thanh tịnh. Bình thường làm chủ được như thế, trong lúc bệnh làm chủ được như thế, làm chủ được khi bệnh sẽ làm chủ được khi sanh tử. Thấy việc vừa ý tâm bèn hoan hỷ là tâm động; thấy việc chẳng vừa lòng tâm bèn nổi nóng; mừng, giận, buồn vui, yêu ghét, ham muốn, thất tình, ngũ dục là chướng ngại.

      Trong sanh hoạt thường ngày, xử sự, đãi người, tiếp vật chẳng bị ngũ dục, lục trần lay động, tâm chúng ta bèn được tự tại. Tự tại là chẳng bị hoàn cảnh mê hoặc, lay động, thì Phật hiệu quý vị niệm đó mới tính là đắc lực, công phu thành phiến. Chẳng bị cảnh giới chuyển, một ngày niệm mười niệm là đủ rồi, nếu vẫn còn bị cảnh giới chuyển thì một ngày niệm mười vạn tiếng cũng chưa thấm vào đâu!

      Làm sao mới chẳng bị ngoại cảnh lay chuyển? Đây là học vấn chân chánh, là công phu chân thật. Học vấn là thấy thấu suốt, công phu là buông bỏ. Buông bỏ chẳng phải là buông bỏ cảnh giới, chẳng phải là buông bỏ trên mặt Sự, mà là buông bỏ nơi tâm. Sự sự vô ngại, sự chẳng gây trở ngại. Trở ngại là do ý niệm, là tâm. Sự thì vẫn làm như cũ, nhưng lại làm càng viên mãn. Người chẳng thấy thấu suốt, buông xuống, nhìn chẳng ra thiện ác, thị phi sẽ làm chuyện lầm lạc. Thấy thấu suốt, buông xuống, tâm thanh tịnh; đối với sự vật thấy rõ ràng minh bạch, xét đoán sự việc hợp lý, chẳng lầm lỗi tí nào.

      Ngàn vạn phần quý vị chớ vướng mắc vào thế sự nhân tình. Cái gì cũng buông xuống hết thì có phải là người gỗ bất nhân chăng? Có phải là biến thành kẻ ngây cuồng ư? Quý vị hiểu lầm rồi! Buông thân tâm thế giới xuống sẽ biến thành một người trí huệ nhất, đầu não là trái cầu thủy tinh, lưu ly, trong suốt lại có thể chuyển động. [Chưa buông xuống được], não chúng ta là cục gỗ vuông vức, xoay không được, phía nào cũng không hở một kẽ. Quý vị mới biết thấy thấu suốt, buông xuống là cao minh vậy! Phải nên học như thế.

      Bồ Tát thấy thấu suốt, buông xuống, bởi thế trong sát na lâm chung, trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại. Lúc bình thường, có lúc nào Bồ Tát lại chẳng trừ sạch hết thảy mọi chướng ngại? Chướng ngại gì cũng không có, bất luận khi nào, bất luận ở đâu, tâm Ngài vĩnh viễn thanh tịnh, giống như hoa sen chẳng dính nước. Đối với thế giới ấy (Cực Lạc) có thể vãng sanh bất cứ lúc nào. Lúc nào muốn đi là đi ngay lúc đó, nghĩ không đi cũng chẳng ăn nhằm gì, không đi cũng được, sanh tử tự tại. Thân như hoa sen chẳng dính nước, sanh tử tự tại.

      Muốn đến được thế giới ấy (Cực Lạc) nhất định phải buông xuống. Phải thật sự buông xuống, nhất định phải thấy thấu suốt. Thấy thấu suốt, buông xuống là công phu viên mãn thành tựu. Có những người thấy thấu suốt, nhưng buông xuống không được. Có người buông xuống được, nhưng không thấy thấu suốt. Ngày thứ nhất buông xuống được, ngày hôm sau lại hối; ngày thứ ba lại nắm giữ lấy, buông xuống không được. Thật sự thấy thấu suốt thì lẽ đâu chẳng thể buông xuống được? Buông xuống là được đại tự tại. Buông xuống được rồi, hết thảy thọ dụng thuận theo lòng muốn.

      Người chân chánh buông xuống thì mới có thể tâm tưởng sự thành, vừa khởi ý niệm sự việc liền thành tựu, rất tự tại! Ở đâu, lúc nào đều phải trừ chướng ngại, chẳng được đợi đến lúc lâm chung mới trừ. Đấy thật sự là mấu chốt thành hay bại của công phu học Phật, niệm Phật. Trong tâm thanh tịnh, chẳng có nhiễm trước, công việc vẫn làm, giống như năm mươi ba vị thiện tri thức đã nói trong kinh Hoa Nghiêm. Người kinh doanh vẫn cứ buôn bán như cũ, tâm địa thanh tịnh chẳng nhiễm trước, dù thương trường qua lại là bùn nhơ hay là nước trong, đóa sen của quý vị vẫn nở trên mặt nước, chẳng nhiễm trước; vẫn cứ làm việc như cũ, đó gọi là công phu thành tựu. Làm việc theo kiểu đó, bất luận hạnh nghiệp nào cũng không có gì chướng ngại; ấy là tu tâm.

      Một câu Phật hiệu khiến thân tâm ta thanh tịnh. Có vậy mới có năng lực "tận mắt thấy Phật A Di Đà, liền được vãng sanh cõi An Lạc". Cõi An Lạc tức là Tây Phương Cực Lạc thế giới. Đến thế giới Cực Lạc như thế nào? Trước hết là thấy Phật, sau đó vãng sanh. Phật đến tiếp dẫn cho nên trước hết thấy Phật. Lúc thấy Phật, quang minh của Phật chiếu soi người ấy, trong quang minh người ấy thấy Phật, theo chân Phật sanh về thế giới Cực Lạc. Thật ổn thỏa, thích đáng, chẳng sai chút gì! Phàm là người vãng sanh, không ai chẳng có cảnh giới như thế. Lúc dứt hơi thở bèn mỉm cười, nhất định vãng sanh, bởi họ đã thấy đức Phật. Lúc tắt thở, sắc mặt chẳng tươi, tựa hồ có gì đau khổ, có hoảng sợ, người ấy chẳng được vãng sanh. Sanh về Tây Phương rồi, tình trạng mỗi cá nhân phần lớn tương đồng.

      "Tôi đã vãng sanh cõi ấy rồi, hiện tiền thành tựu đại nguyện này": Phổ Hiền Bồ Tát tại cõi này phương khác tu mười đại nguyện, đều không có cách gì viên mãn được. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, được hoằng nguyện oai thần của Phật A Di Đà gia trì, và được oai thần của tận hư không trọn pháp giới hết thảy chư Phật Như Lai gia trì, mười đại nguyện bèn viên mãn. Đấy là xứng tánh viên mãn, là chân viên mãn.

      Tuy chúng ta là phàm phu, dù chưa phá được một phẩm vô minh nào, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc bèn giống hệt như Phổ Hiền Bồ Tát, đều là tu tín nguyện trì danh, nhân đã tương đồng thì quả báo phải giống hệt. Tất cả hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới trên đến Đẳng Giác Bồ Tát, dưới đến chúng sanh trong địa ngục, nơi nhân địa thảy đều là tín nguyện trì danh; bởi thế, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy đều bình đẳng.

      "Viên mãn hết thảy không còn sót": Câu này chẳng thể nghĩ bàn, hết thảy viên mãn, không có gì chẳng viên mãn. "Vô dư" (không còn sót) là không còn mảy may nào khiếm khuyết, không mảy may gì bỏ sót, mọi thứ đều viên mãn. Chẳng hạn như: trí huệ viên mãn, đức năng viên mãn, dung mạo viên mãn, năng lực viên mãn, nguyện vọng viên mãn, giống như chư Phật Như Lai, hết thảy đều viên mãn.

      Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ khuyên những vị đồng tu nào học Mật Giáo thì nhất định phải xem ba bản kinh: Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh Yếu Giải của đại sư Ngẫu Ích và Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Nếu chẳng chiếu theo lý luận, phương pháp trong ba kinh ấy để tu hành, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì học Mật rất khó thành tựu! Hết thảy viên mãn, có năng lực trí huệ như thế, đương nhiên là có thể "lợi lạc hết thảy chúng sanh giới". Giống như chư Phật, Như Lai, cho nên có thể phổ độ hết thảy chúng sanh, ban cho chúng sanh lợi ích lớn nhất, ban cho chúng sanh khoái lạc chân chánh.

      "Chúng hội Phật kia đều thanh tịnh": Bài kệ này tường thuật tình hình Tây Phương Cực Lạc thế giới; đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thấy thế giới ấy thanh tịnh. Chữ "chúng hội" chỉ tình huống tâm trạng con người trong xã hội. Tâm địa mọi người đều thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh, cùng tu cùng học một chỗ. Phổ Hiền Bồ Tát thấy tướng lục hòa kính viên mãn nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới.

      "Khi đó tôi sanh trong sen đẹp": Khi ấy, Bồ Tát hóa sanh trong hoa sen nơi ao bảy báu trước đại giảng đường của Phật A Di Đà. Chân chánh giác ngộ, minh bạch thế giới này mọi thứ đều là hư giả. Kinh Kim Cang nói: "Phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng". Chẳng có gì là thật cả. Kinh lại dạy: "Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng". Pháp hữu vi là pháp có sanh, có diệt; trong thế gian này có một pháp nào chẳng sanh diệt chăng? Con người có sanh, lão, bệnh, tử; tế bào hủy diệt, sanh mới trong từng sát na. Đó là pháp hữu vi. Ý niệm của chúng ta suốt ngày suy bậy nghĩ bạ, vọng tưởng này dấy lên, vọng tưởng này đi mất, lại có vọng tưởng khác đến. Đó là pháp hữu vi. Tâm là pháp hữu vi, thân cũng là pháp hữu vi. Hoa, cỏ, cây cối cũng là pháp hữu vi, Xuân mọc, Hạ lớn, Thu rụng, Đông khô; sơn hà đại địa cũng là pháp sanh diệt, có thành - trụ - hoại - không. Nhờ viễn vọng kính, các nhà khoa học thấy mỗi ngày đều có tinh cầu bùng nổ hủy diệt; họ cũng phát hiện những tinh cầu mới, chứng minh điều đức Phật đã nói: Thế giới có thành - trụ - hoại - không.

      Chỉ có hư không chẳng có sanh diệt, mấy ngàn năm trước hư không như thế nào, mấy ngàn năm sau hư không vẫn giống như thế. Hư không chẳng phải là pháp hữu vi mà là pháp vô vi. Trừ hư không ra, có gì chẳng phải là pháp hữu vi chăng? Hết thảy pháp hữu vi như mộng, như huyễn, như bọt nước, như hình bóng, đều chẳng thật, đều giả cả. Nhận thức rõ ràng là thấy thấu suốt, thấy thấu suốt nhân sanh, thấy thấu suốt thế gian. Thấy thấu suốt rồi, tự nhiên đối với chúng nó chẳng lưu luyến, chẳng vướng mắc, chẳng quan tâm đến chúng nó nữa. Quan tâm đến chúng để làm gì cơ chứ? Chẳng phải là tự chuốc phiền ư?

      Nếu có ai hỏi: Trong thế gian này, tôi có gia đình, vợ con, lại còn rất nhiều sự nghiệp, tôi phải làm sao đây? Thì cứ như đóng kịch, như diễn tuồng trên sân khấu vậy thôi! Đóng kịch là lên sân khấu, phân vai diễn tuồng rất thật, trong tâm biết rất rõ mình đang đóng tuồng, tất cả hết thảy chẳng ăn nhập gì đến ta cả, sao trong tâm không thanh tịnh cho được? Quý vị sống trong thế gian này là đang nhập vai đóng tuồng, rất tự tại, bởi chỉ là giả, chẳng phải thật. Lúc đóng tuồng, lúc nào phải cười bèn cười, lúc nào phải khóc bèn khóc, lúc nào phải vỗ bàn bèn vỗ bàn, chẳng phải do ý mình, mà phải theo kịch bản đã soạn, toàn là giả, hoàn toàn là không. Sống được như vậy có khác gì chư Phật, Bồ Tát đâu!

      Chư Phật, Bồ Tát du hý thần thông trong thế gian này, chúng ta cũng đến du hý thần thông trong thế gian này, tự tại khoái lạc lắm! Ta đóng vở tuồng này là nhằm lợi lạc hết thảy chúng sanh giới, chúng ta giúp họ giải quyết vấn đề. Bọn họ tưởng vở tuồng ấy là thật, bèn đau khổ. Bồ Tát hóa sanh trong hoa sen, mỗi một người chúng ta đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thảy đều liên hoa hóa sanh. Thân tâm thanh tịnh, tất nhiên cảm được liên hoa hóa sanh. Nhân gian dục tình nặng nề, cảm được thai sanh; đoạn dục tình, cảm được hóa sanh. Bởi thế, nhất định phải thấy thấu suốt, buông xuống.

      "Chính mắt thấy Phật Vô Lượng Quang": Sanh về thế giới Cực Lạc, thấy được Báo Thân Phật A Di Đà. A Di Đà Phật là vô lượng đại viên mãn; trong vô lượng đại viên mãn, Phổ Hiền Bồ Tát chỉ nêu một thí dụ: quang minh, vô lượng quang minh. Phàm ai sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, mỗi mỗi đều viên mãn hệt như Phật A Di Đà.

      "Liền được Phật thọ ký Bồ Đề": Ở trước đức Phật A Di Đà, được Phật thọ ký. Thọ ký là báo trước cho người ấy biết: "Lúc nào đó, ông sẽ thành Phật, trong tương lai thành Phật ở nơi đâu, danh xưng của thế giới là gì, danh hiệu lúc thành Phật, chúng sanh được độ như thế nào".

      "Được đức Như Lai thọ ký rồi": Phổ Hiền Bồ Tát được thọ ký rồi, thấy tiền đồ rạng rỡ, thấy A Di Đà Phật được đại tự tại. Đương nhiên là chưa thành Phật, nhưng tự tại chẳng kém Phật chi mấy! Ngài bèn có thể"hóa thân vô số trăm câu chi", có năng lực hiện vô lượng vô biên thân. Phẩm Phổ Môn nói: Nên dùng thân nào để được độ, bèn hiện thân ấy. Thật tự tại quá! Bởi thế, Phật, Bồ Tát chẳng có tướng nhất định.

      Sanh về Cực Lạc, tự mình có năng lực giống như Phổ Hiền, Văn Thù, Quán Âm, Thế Chí. Chúng sanh cơ duyên chín muồi, nên dùng thân nào để độ bèn có năng lực thị hiện thân ấy. Tự mình chẳng lìa khỏi thế giới Tây Phương, mà hóa thân đến thị hiện. Tự mình theo A Di Đà Phật nghe kinh, nghe pháp, chẳng rời khỏi chỗ mình, mười phương đều có hóa thân của quý vị đến giáo hóa chúng sanh. Sanh về Cực Lạc bèn có năng lực như thế đó.

      "Trí lực rộng lớn trọn mười phương": Trí huệ Bát Nhã từ tự tánh thấu lộ, chẳng có chướng ngại, thấu xuất ra. Trí huệ ấy rộng lớn khắp trọn mười phương, tận hư không trọn pháp giới. Phật pháp từ đầu đến cuối là cầu trí huệ, từ đầu đến cuối là giảng trí huệ. Chẳng có trí huệ, chẳng thể giải quyết vấn đề. Cậy vào phước báo, cậy vào thần thông, giải quyết vấn đề hữu hạn; chỉ có trí huệ chân thật mới giải quyết được viên mãn hết thảy mọi vấn đề. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, được quang minh của Phật tưới rọi, nghiệp chướng tiêu trừ, đức năng trí huệ của bản tánh hiện tiền, có năng lực đến mười phương thế giới hiện đủ mọi thân, "lợi khắp hết thảy chúng sanh giới", khiến cho hết thảy chúng sanh được lợi ích chân thật, trụ nơi trí huệ chân thật.

      Chánh kinh:

      Nãi chí hư không thế giới tận,
      Chúng sanh cập nghiệp, phiền não tận,
      Như thị nhất thiết vô tận thời,
      Ngã nguyện cứu cánh hằng vô tận.

      Cho đến hư không thế giới tận,
      Chúng sanh và nghiệp, phiền não tận,
      Do hết thảy vô tận như thế,
      Nguyện tôi rốt ráo hằng vô tận.


      Trùng tuyên lời tổng kết mười đại nguyện ở phần trên, cũng là nhằm bảo chúng ta phải học theo Phổ Hiền Bồ Tát: Nguyện tâm chúng ta chẳng có lúc ngưng nghỉ. Hiện tại chúng ta cầu học, học Phật, hy vọng thành Phật, nguyện của ta chẳng có cùng tận. Thành Phật rồi, nguyện này của ta cũng chẳng ngưng dứt, giúp cho mười phương hết thảy chúng sanh. Giống như học hành ở trường, tốt nghiệp xong bèn phục vụ xã hội, đem sở học cống hiến xã hội, lợi ích đại chúng. Bồ Tát cũng giống thế, đem sở học hết thảy đại viên mãn của mình ra ứng dụng vào thân của hết thảy chúng sanh tận hư không trọn pháp giới, khiến cho hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui, tâm nguyện ấy vĩnh viễn chẳng ngưng dứt.

      Chánh kinh:

      Thập phương sở hữu vô biên sát,
      Trang nghiêm chúng bảo cúng Như Lai,
      Tối thắng an lạc thí thiên nhân,
      Kinh nhất thiết sát vi trần kiếp,
      Nhược nhân ư thử thắng nguyện vương,
      Nhất kinh ư nhĩ năng sanh tín,
      Cầu thắng Bồ Đề tâm khát ngưỡng,
      Hoạch thắng công đức quá ư bỉ.

      Mười phương tất cả vô biên cõi,
      Các báu trang nghiêm cúng Như Lai,
      An lạc tối thắng thí trời người,
      Trải hết thảy cõi vi trần kiếp,
      Nếu với nguyện vương thù thắng này,
      Vừa thoảng qua tai bèn tin tưởng,
      Cầu thắng Bồ Đề tâm khát ngưỡng,
      Được công đức vượt hơn người trước.


      Nói lên công đức lợi ích thù thắng của mười đại hạnh nguyện Phổ Hiền. Trong vô lượng vô biên tất cả thế giới chư Phật thuộc mười phương, chúng ta dùng các báu để trang nghiêm cúng dường Như Lai, dùng những sự an lạc tối thắng thí cho trời người; nào phải chỉ tu một hai ngày, mà là trải số kiếp nhiều như số vi trần của hết thảy cõi, thời gian dài lâu không cách gì tính đếm được. Công đức bố thí cúng dường ấy rất lớn.

      "Nếu với nguyện vương thù thắng này, vừa thoảng qua tai bèn tin tưởng": Giả sử có kẻ nào đó, có thiện căn, gặp được mười đại nguyện vương thù thắng này, nghe xong hoàn toàn tin tưởng, tin rồi bèn y giáo phụng hành, "cầu thắng Bồ Đề tâm khát ngưỡng, được công đức vượt hơn người trước": Bồ Đề là giác ngộ, nhất tâm nhất ý cầu đại giác thù thắng, giống như người miệng khát mong được uống nước, tâm tình khát ngưỡng giác tánh viên mãn thù thắng cũng giống như thế.

      Mười đại nguyện vương là tổng cương lãnh căn bản của hết thảy Như Lai giáo pháp, bởi thế nguyện vương tối thù thắng. Chẳng tu hạnh Phổ Hiền, chẳng thể thành Phật (Viên giáo Phật), chẳng thể thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nghe mười đại nguyện vương, nhất tâm nhất ý cầu Vô Thượng Bồ Đề, phát tâm tu hành như thế (cúng dường bằng cách y giáo tu hành), công đức ấy vượt xa công đức dùng trân bảo cúng dường các Như Lai trong mười phương vô lượng cõi Phật như trên đã nói.

      Chánh kinh:

      Tức thường viễn ly ác tri thức,
      Vĩnh ly nhất thiết chư ác đạo,
      Tốc kiến Như Lai Vô Lượng Quang,
      Cụ thử Phổ Hiền tối thắng nguyện.

      Liền thường xa lìa ác tri thức,
      Mãi lìa hết thảy các ác đạo,
      Mau thấy Như Lai Vô Lượng Quang,
      Đầy đủ nguyện Phổ Hiền tối thắng.


      Thực hiện được mọi điều Phật giáo huấn gọi là "tin Phật". Vĩnh viễn lìa ác tri thức, vĩnh viễn lìa các ác đạo, đấy là tiêu chuẩn của việc tin Phật; chúng ta có làm được hay chăng?

      "Vĩnh viễn lìa ác tri thức": Người ác, việc ác, hoàn cảnh ác, chúng ta phải tách rời, phải tránh xa, chẳng được thân cận, sợ tự mình bị nhiễm dơ (kẻ sơ học phải lìa trên mặt sự, nhưng Bồ Tát có trí huệ thì phải lìa nơi tâm).

      "Mãi lìa hết thảy các ác đạo": Khởi tâm động niệm đều phải thận trọng kiểm điểm: Niệm này của chúng ta là thiện hay ác? Tất cả hết thảy ác niệm phải ngưng dứt, tự nhiên chẳng đọa ác đạo.

      Người tu hành phải thân cận thiện tri thức, xa lìa ác tri thức. Xa lìa là "kính nhi viễn chi", tôn kính họ, nhưng chẳng học theo họ. Phải học theo thiện tri thức, lấy họ làm gương. Phải giữ tấm lòng tốt, nói lời lành, phải làm việc tốt. Tiêu chuẩn của "tốt" là lợi ích hết thảy chúng sanh, giúp hết thảy chúng sanh khai trí huệ, tu tâm thanh tịnh. Tu hành được như vậy, chẳng những được trí huệ mà còn được phước báo phú quý, mạnh khỏe, trường thọ.

      Chánh kinh:

      Thử nhân thiện đắc thắng thọ mạng,
      Thử nhân thiện lai nhân trung sanh,
      Thử nhân bất cửu đương thành tựu,
      Như bỉ Phổ Hiền Bồ Tát hạnh.

      Người ấy khéo được thắng thọ mạng,
      Người ấy khéo sanh trong loài người,
      Người ấy chẳng lâu sẽ thành tựu,
      Các hạnh như Phổ Hiền Bồ Tát.


      "Người ấy khéo được thắng thọ mạng": Người tu hành chiếu theo đúng phương pháp, lý luận trong kinh này, người ấy sẽ được thọ mạng thù thắng. "Thắng thọ mạng" là Pháp Thân thanh tịnh. Người ấy chứng đắc Pháp Thân thanh tịnh. Pháp Thân thanh tịnh là vô lượng thọ chân chánh, vô thỉ vô chung. Nếu căn cứ vào một đời này mà luận thì thọ mạng người ấy tối thù thắng, bởi lẽ người ấy có thể nương theo kinh này tu học, cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, một đời thành tựu.

      "Người ấy khéo sanh trong loài người": Nương theo kinh này tu hành thì thân người quý vị có được trong đời này, thọ sanh trong loài người là khéo sanh, chứ chẳng phải là sống uổng, sống phí. Nếu quý vị chẳng hiểu giáo nghĩa Hoa Nghiêm, chẳng biết cầu sanh Tịnh Độ, một đời này thật là luống uổng, thọ mạng của cả một đời này chẳng có ý nghĩa, chẳng có giá trị gì, chẳng thể coi là thù thắng được!

      "Người ấy chẳng lâu sẽ thành tựu": Thành tựu là thành Phật. Nói kém hơn thì thành tựu là quyết định vãng sanh. Trong một đời này của người ấy, chẳng lâu sẽ về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thân trong thế giới Sa Bà đây là thân tối hậu, đời sau là thân thượng thiện nhân trong thế giới Cực Lạc.

      "Các hạnh như Phổ Hiền Bồ Tát": Hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát là một đời niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, công đức viên mãn. Mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc.

      Chánh kinh:

      Vãng tích do vô trí huệ lực,
      Sở tạo cực ác ngũ vô gián,
      Tụng thử Phổ Hiền đại nguyện vương,
      Nhất niệm tốc tật giai tiêu diệt.

      Xưa kia do không sức trí huệ,
      Đã tạo ngũ vô gián cực ác,
      Tụng đại nguyện vương Phổ Hiền này,
      Một niệm nhanh chóng tiêu diệt hết.


      Trong quá khứ chẳng có trí huệ, ngu si, nên tạo rất nhiều nghiệp chướng, thậm chí ngu si đến độ đáng thương xót, chẳng hiểu rõ thiện ác. Người khác làm ác, cứ tưởng họ tạo rất nhiều sự nghiệp. Người khác làm lành, chẳng nhận ra, chẳng biết đấy mới là sự nghiệp. Do chính mình ngu si, nên tư tưởng, ngôn ngữ, tạo tác bất tri bất giác gây nên rất nhiều việc ác nghiêm trọng, tạo tội nghiệp địa ngục Vô Gián, nhưng chính mình đều chẳng biết.

      Nếu có kẻ hỏi: Làm thế nào phân biệt đúng sai, thiện ác? Có một phương pháp: Đọc tụng kinh điển Đại Thừa. Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát nói: "Tụng đại nguyện vương Phổ Hiền này", đó là Ngài dạy chúng ta phương pháp. Nếu có thể thực hành theo những giáo huấn trong kinh thì là đúng; nếu chẳng làm được như thế thì sai rồi, tạo nghiệp rồi.

      Chẳng hạn như: Phật dạy hiếu dưỡng phụ mẫu, chúng ta có làm được hay không, làm được đến đâu? Đối với chúng ta, cha mẹ chẳng cách ngăn, chẳng có giới hạn, ta cùng cha mẹ là một thể. Ta yêu thương, chăm sóc, quan tâm cha mẹ hoàn toàn giống như chiếu cố thân mình. Nếu nghĩ cha mẹ già cả, rồi cãi lẫy, chán ghét, khởi ý niệm đó là bất hiếu, là tạo tội nghiệp vậy. Đọc tụng Đại Thừa, đọc rồi hành theo đó thì hết thảy những tội nghiệp đã tạo trong quá khứ đều tiêu trừ.

      "Một niệm nhanh chóng tiêu diệt hết": Một niệm là nhất tâm. Có hai niệm tội nghiệp chẳng tiêu được! Nhất niệm tội nghiệp bèn tiêu trừ. Nhất niệm là chân tâm, nhị niệm là vọng tâm. Vọng tâm là không trí huệ, là tạo nghiệp. Nhất niệm là chân tâm, chân tâm chính là trí huệ, chân tâm chẳng tạo nghiệp. Do đây biết rằng: Kinh Di Đà thẳng thừng dạy chúng ta phải tu nhất tâm bất loạn, đó là phương pháp bậc nhất trong rất nhiều phương pháp tu hành được giảng bởi kinh Hoa Nghiêm.

      Làm thế nào để đạt đến nhất niệm? Văn Thù dạy Thiện Tài, Phổ Hiền dạy Thiện Tài đều là niệm A Di Đà Phật. Chúng ta buông hết mọi ý niệm xuống, chỉ giữ mỗi một niệm A Di Đà Phật, chỉ chấp trước một niệm. Trong mười hai thời, niệm niệm đều là A Di Đà Phật, điều này chúng ta có thể làm được, chứ nhất niệm thật sự thì chúng ta chưa thể làm được. Trong mười hai thời, một câu A Di Đà Phật công phu thành phiến, quyết định vãng sanh, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới thì tội nghiệp vô gián tự nhiên tiêu diệt.

      Chánh kinh:

      Tộc tánh chủng loại cập dung sắc,
      Tướng hảo, trí huệ hàm viên mãn.

      Dòng họ, chủng loại và dung mạo,
      Tướng tốt, trí huệ đều viên mãn.


      "Tộc tánh chủng loại": Cổ Ấn Độ có bốn giai cấp chủng tánh bất bình đẳng. Phật thuộc giai cấp Sát Đế Lợi, là dòng vua, sanh trong nhà đế vương quý tộc. Phật xuất gia rồi bèn đề xướng bốn chủng tánh bình đẳng. Bất luận trong xã hội mang thân phận địa vị nào đều chẳng quan trọng, Phật pháp bình đẳng. Thân tâm thanh tịnh, theo lời Phật răn dạy thực hành Ngũ Giới thì quý vị đúng thật là Bồ Tát. "Dung sắc": dung mạo sắc tướng. Sắc thể hiện sự khỏe mạnh cường tráng. Chẳng những dung mạo đoan chánh, thân thể còn cường tráng, đó là phước báo đã tu từ đời trước.

      Đệ tử Phật chân chánh y giáo phụng hành, tất nhiên "tướng hảo, trí huệ đều viên mãn". Tướng chuyển theo tâm. Tâm thanh tịnh, tướng mạo thanh tịnh; tâm từ bi, tướng mạo bèn từ bi; tâm sung sướng, tướng mạo cũng sung sướng. Trong thế gian, đức Phật thị hiện ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, tướng hảo viên mãn. Chư Phật trí huệ, tướng hảo viên mãn cũng là do nhiều đời nhiều kiếp tu học hạnh Phổ Hiền nên mới được thành tựu thù thắng như thế.

      Chánh kinh:

      Chư ma ngoại đạo bất năng tồi,
      Kham vi tam giới sở ứng cúng.

      Các ma ngoại đạo không khuấy được,
      Đáng để ba cõi cùng cúng dường.

      Người chân chánh học Phật, hết thảy yêu ma quỷ quái, hết thảy ngoại đạo, chẳng thể làm khó dễ, cũng chẳng thể chướng ngại được. Bởi lẽ, người ấy được chư Phật hộ niệm, long thiên hộ pháp thần thủ hộ, chẳng gặp phải yêu ma quỷ quái.

      "Đáng để ba cõi cùng cúng dường": Câu này ý nói đáng làm bậc Thiên Nhân Sư. Có thể làm gương cho trời người, có tư cách tiếp nhận sự cúng dường của trời người, bởi lẽ người ấy là phước điền của ba cõi. Trời người cúng dường người ấy sẽ thật sự có phước báo.

      Chánh kinh:

      Tốc nghệ Bồ Đề đại thọ vương,
      Tọa dĩ, hàng phục chư ma chúng,
      Thành Đẳng Chánh Giác chuyển pháp luân,
      Phổ lợi nhất thiết chư hàm thức.

      Mau đến cội Bồ Đề thọ vương,
      Ngồi rồi, hàng phục các loài ma,
      Thành Đẳng Chánh Giác chuyển pháp luân,
      Lợi khắp hết thảy các hàm thức.

      Quả báo là tám tướng thành đạo. Dùng thân phận Phật xuất hiện trong thế gian giáo hóa chúng sanh.

      "Tốc nghệ" (mau đến) ý nói tốc độ rất nhanh. Có thể thành tựu nhanh chóng như thế, cũng là do tu học hạnh nguyện Phổ Hiền đắc lực. Lấy Phổ Hiền hạnh nguyện giúp cho việc niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ thì quý vị mới có thể mau được thượng phẩm thượng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

      "Ngồi rồi": dưới gốc Bồ Đề, đức Phật thị hiện tướng thành đạo. Ngồi là bất động, tâm bất động chứ không phải thân bất động. Nếu thân chẳng động, làm sao giúp đỡ chúng sanh được?

      "Hàng phục các ma": Hàng ma phải nhờ vào định huệ, ngoài chẳng chấp tướng, trong tâm chẳng động, như như bất động, ma phải bó tay.

      "Thành Đẳng Chánh Giác chuyển pháp luân": Thị hiện thành Phật phải giáo hóa chúng sanh, chuyển pháp luân. Chuyển pháp luân tức là triển khai nền giáo dục của đức Phật.

      "Hàm thức" là hữu tình chúng sanh. "Lợi khắp": lợi ích rộng khắp, giúp cho chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.

      Thành tựu viên mãn rồi thì phải thực hiện hoằng nguyện của chính mình. Lúc mới học Phật, phát nguyện độ chúng sanh, nhưng chưa có năng lực, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, tu đến rốt ráo viên mãn mới có năng lực độ chúng sanh. Muốn thực hiện nguyện độ hết thảy chúng sanh thì nhất định phải thị hiện thành Phật trong mười phương thế giới giảng kinh, thuyết pháp phổ độ chúng sanh.

      Phần đầu kệ tụng, Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta; phần sau, Ngài làm gương cho chúng ta. Trong phần sau, Ngài nói về chính ngài, khuyên chúng ta nên bắt chước, học theo ngài. Thật là từ bi đến cùng cực, so với tấm lòng yêu thương, che chở, chiếu cố của cha mẹ đối với con cái lại càng khẩn thiết, châu đáo hơn. Chúng ta không thể không cảm động!

      Ba bài kệ tiếp theo đây là tổng kết, khuyên chúng ta phát tâm thọ trì, phát tâm học tập.

 

Nguyện đem công đức lành, Hồi hướng cho tất cả. Chúng con với chúng sanh, Đều chứng thành Phật quả.

TRANG CHỦ     BAN THỰC HIỆN     LIÊN KẾT

Nguyện ai xem được trang này
Cây mầm tuệ giác đêm ngày phát sanh
     Pháp mầu nhuận thấm an lành
Đến bờ Bát Nhã tâm thanh nhẹ nhàng

 

Ban Chứng minh: NT. Tràng Liên, NT. Ngoạt Liên, NT Tân Liên

Ban Cố vấn: NT. Phục Liên, NT. Viên Liên, NT. Tố Liên
NT. Thẩm Liên, NT. Khiêm Liên, NS. Tín Liên, NS. Phụng Liên

Ban Chủ nhiệm: NS. Tuệ Liên, SC. Nghiêm Liên

 

Tịnh xá Ngọc Phương,
498/1 Lê Quang Định, P.1, Q. Gò Vấp, TP.HCM
 Bài vở, hình ảnh đóng góp, xin vui lòng gởi attachment
về Ban biên tập qua địa chỉ Email:
nigioikhatsi@gmail.com
Hoan nghênh mọi hình thức phổ biến trang này.