Chánh kinh:
Nhất thiết Như Lai
hữu trưởng tử,
Bỉ danh hiệu viết Phổ
Hiền tôn,
Ngã kim hồi hướng chư
thiện căn,
Nguyện chư trí hạnh
tất đồng bỉ,
Nguyện thân khẩu ý
hằng thanh tịnh,
Chư hạnh, sát độ diệc
phục nhiên,
Như thị trí huệ hiệu
Phổ Hiền,
Nguyện ngã dữ bỉ giai
đồng đẳng.
Hết thảy Như Lai
có trưởng tử,
Danh hiệu Ngài là
đức
Phổ Hiền,
Tôi nay hồi hướng các
căn lành,
Nguyện các trí hạnh
đều giống Ngài,
Nguyện thân - khẩu -
ý luôn thanh tịnh,
Các hạnh, cõi nước
cũng giống thế.
Trí huệ như thế gọi
Phổ Hiền,
Nguyện tôi cùng Ngài
đều đồng đẳng.
Bài kệ này khuyên
chúng ta lấy Phổ Hiền Bồ Tát làm gương, học theo Phổ
Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát ở đâu? Phổ Hiền Bồ Tát
chính là toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, nhưng phẩm kinh
này chính là tổng kết của kinh Hoa Nghiêm, tổng kết
hết thảy những lý luận, phương pháp tu hành, cảnh
giới đã giảng trong kinh Hoa Nghiêm, đúc kết thành
mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Có đọc Hoa
Nghiêm Sớ Sao mới thật sự hiểu rõ Phổ Hiền Bồ Tát,
hiểu rõ Văn Thù Bồ Tát, biết phải học theo các ngài
như thế nào.
Những tượng Phật thờ
trong Phật môn đều nhằm biểu thị pháp. Chính giữa
thờ Phật, Phật tượng trưng cho bản thể, tượng trưng
cho Chân Như Bản Tánh. Chân Như Bản Tánh là thanh
tịnh, trong tâm thanh tịnh một pháp chẳng lập. Bởi
thế, trong hội Hoa Nghiêm, Phật chẳng thuyết pháp
(Ngài là bản thể, không cách gì diễn tả được), chỉ
có Bồ Tát thuyết pháp. Bồ Tát biểu thị từ Thể khởi
Dụng, khởi dụng là pháp. Khởi Dụng nhất định phải
dùng đến hai vị Bồ Tát làm đại biểu: Một là khởi tác
dụng trí huệ (Trí), hai là khởi tác dụng hành vi
(Hạnh).
Hoa Nghiêm Tam Thánh,
chính giữa là Tỳ Lô Giá Na Như Lai, bên phải là Phổ
Hiền Bồ Tát (biểu thị hạnh nguyện), bên trái là Văn
Thù Bồ Tát (biểu thị trí huệ). Trong hội Hoa Nghiêm,
Phổ Hiền là trưởng tử, Văn Thù là con thứ, nghĩa là
giáo học Hoa Nghiêm lấy hạnh nguyện (thực tiễn) làm
chủ, nhưng hạnh nguyện phải kiến lập trên cơ sở trí
huệ. Hạnh nguyện Phổ Hiền tối hậu là mười đại nguyện
vương dẫn về Cực Lạc. Chắc thật niệm Phật cầu sanh
Tây Phương Tịnh Độ chính là viên mãn hạnh nguyện Phổ
Hiền. Kinh khuyên chúng ta phải học theo Phổ Hiền Bồ
Tát.
"Nguyện thân khẩu ý luôn thanh tịnh": Người
giác không mê, chánh không tà, tịnh chẳng nhiễm thì
thân - ngữ - ý của người đó đương nhiên thanh tịnh.
Thân - ngữ - ý thanh tịnh là thân tâm thanh tịnh.
Thân tâm thanh tịnh, cảnh giới bèn thanh tịnh.
"Các hạnh, cõi nước cũng giống thế": Cảnh
giới thanh tịnh.
"Trí huệ như thế gọi Phổ Hiền": thân tâm,
cảnh giới không gì chẳng thanh tịnh, đó gọi là Phổ
Hiền.
"Nguyện tôi cùng Ngài đều đồng
đẳng": Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, là diệu
pháp duy nhất được sử dụng bởi các vị Văn Thù, Phổ
Hiền. Nếu chúng ta niệm Phật, tâm định nơi nhất tâm
bất loạn thì sẽ chẳng khác gì Phổ Hiền cả.
Chánh kinh:
Ngã vị biến tịnh Phổ
Hiền hạnh,
Văn Thù Sư Lợi chư
đại nguyện,
Mãn bỉ sự nghiệp tận
vô dư,
Vị lai tế kiếp hằng
vô quyện,
Ngã sở tu hành vô hữu
lượng,
Hoạch đắc vô lượng
chư công đức,
An trụ vô lượng chư
hạnh trung,
Liễu đạt nhất thiết
thần thông lực,
Văn Thù Sư Lợi dũng
mãnh trí,
Phổ Hiền huệ hạnh
diệc phục nhiên,
Ngã kim hồi hướng chư
thiện căn,
Tùy bỉ nhất thiết
thường tu học.
Tôi vì tịnh khắp
hạnh Phổ Hiền,
Và các đại nguyện của
Văn Thù,
Trọn sự nghiệp ấy
không còn sót,
Đến tận vị lai thường
chẳng mệt,
Hạnh tôi tu hành
không hạn lượng,
Đạt được vô lượng các
công đức,
An trụ trong vô lượng
các hạnh,
Thấu rõ hết thảy sức
thần thông,
Văn Thù Sư Lợi trí
dũng mãnh ,
Huệ hạnh Phổ Hiền
cũng giống thế,
Tôi nay hồi hướng các
căn lành,
Thường tu học theo
hết thảy đó.
Nguyện kiến lập trên
cơ sở tín giải; hạnh lấy nguyện làm cơ sở. Phải có
đại nguyện thì mới có thể tu đại hạnh.
"Tôi vì tịnh khắp hạnh Phổ Hiền": Hạnh pháp
Phổ Hiền thanh tịnh trang nghiêm trọn khắp. Trên
thực tế, trong cuộc sống thường nhật của chúng ta,
một ngày từ sáng đến tối những sự đãi người, tiếp
vật đều là những hạnh ấy.
"Và các đại nguyện của Văn Thù": Đại nguyện
của Văn Thù Sư Lợi cũng là cầu sanh Tây Phương Tịnh
Độ.
"Trọn sự nghiệp ấy không còn sót": Sự nghiệp
của Phật, Bồ Tát là giáo hóa chúng sanh, giúp đỡ
người khác phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.
"Đến tận vị lai thường chẳng mệt": Đây là
tinh thần của Phổ Hiền Bồ Tát, mười đại nguyện vương
mỗi nguyện đều chẳng mệt chán.
"Hạnh tôi tu hành không hạn lượng, đạt được vô lượng
các công đức": Hai câu này nói lên thành tựu
của chính mình. Trong hết thảy những gì mình hành
trì, mình đã thành tựu vô lượng công đức. Công đức
là
định
huệ, thành tựu vô lượng trí huệ cho chính mình, vô
lượng thiền định (tam muội, nhất tâm bất loạn).
"An trụ trong vô lượng các hạnh, thấu rõ hết thảy
sức thần thông": hai câu này nói đến việc
giáo hóa chúng sanh. Liễu đạt là giác không mê, thị
hiện năng lực lợi ích người khác.
"Văn Thù Sư Lợi trí dũng mãnh": Bài kệ này
nói lên nguyện vọng của chính mình. Chúng ta muốn
được trí huệ như ngài Văn Thù, hạnh đồng Phổ Hiền.
Đem hết thảy những thiện căn chính mình đã tu học
hồi hướng chúng sanh, hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng
pháp giới, thường học theo Phật, thường học theo Văn
Thù, Phổ Hiền.
Chánh kinh:
Tam thế chư Phật sở
xưng tán,
Như thị tối thắng chư
đại nguyện,
Ngã kim hồi hướng chư
thiện căn,
Vị đắc Phổ Hiền thù
thắng hạnh.
Các đại nguyện tối
thắng như thế,
Được tam thế chư Phật
khen ngợi,
Tôi nay hồi hướng các
căn lành,
Để được hạnh Phổ Hiền
thù thắng.
Kết quy hồi hướng.
Trước tiên nói Bồ Tát hạnh nguyện chẳng thể nghĩ
bàn, là những hạnh nguyện được tam thế chư Phật khen
ngợi. Tu mười đại nguyện, đem công đức hồi hướng có
nghĩa là trọn chẳng chấp trước. Chẳng hồi hướng thì
công đức chỉ riêng mình có, đâu đâu cũng chấp vào
chính mình, chẳng phá được Ngã Chấp. Hồi hướng là
phá Ngã Chấp. Có phá Ngã Chấp thì vãng sanh Cực Lạc
sẽ có thể vượt khỏi phẩm vị của chính mình.
Phần kệ tụng của mười
đại nguyện vương đến đây là hết, trình bày xong hết
những ý nghĩa của phần Trường Hàng ở phần trước.
Tiếp theo đây là phần trần thuật tánh đức thù thắng
của kinh, đặc biệt là khen ngợi những công đức thù
thắng của bộ kinh này.