TRANG KINH ĐIỂN GIẢNG GIẢI

Tổng hợp các bài giảng
về Kinh - Luật - Luận

 NI GIỚI KHẤT SĨ

Huyền diệu trên đời Pháp rộng sâu, Trăm ngàn muôn kiếp dễ chi cầu. Nay con nghe thấy chuyên trì tụng, Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
 

 

LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA

PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN

Nguyên tác: Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị

Chủ giảng: Lão Pháp Sư Thích Tịnh Không

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Dịch theo bản in của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001

-o0o-

 

Chánh kinh:

      Nhất thiết Như Lai hữu trưởng tử,
      Bỉ danh hiệu viết Phổ Hiền tôn,
      Ngã kim hồi hướng chư thiện căn,
      Nguyện chư trí hạnh tất đồng bỉ,
      Nguyện thân khẩu ý hằng thanh tịnh,
      Chư hạnh, sát độ diệc phục nhiên,
      Như thị trí huệ hiệu Phổ Hiền,
      Nguyện ngã dữ bỉ giai đồng đẳng.

      Hết thảy Như Lai có trưởng tử,
      Danh hiệu Ngài là đức Phổ Hiền,
      Tôi nay hồi hướng các căn lành,
      Nguyện các trí hạnh đều giống Ngài,
      Nguyện thân - khẩu - ý luôn thanh tịnh,
      Các hạnh, cõi nước cũng giống thế.
      Trí huệ như thế gọi Phổ Hiền,
      Nguyện tôi cùng Ngài đều đồng đẳng.


      Bài kệ này khuyên chúng ta lấy Phổ Hiền Bồ Tát làm gương, học theo Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát ở đâu? Phổ Hiền Bồ Tát chính là toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, nhưng phẩm kinh này chính là tổng kết của kinh Hoa Nghiêm, tổng kết hết thảy những lý luận, phương pháp tu hành, cảnh giới đã giảng trong kinh Hoa Nghiêm, đúc kết thành mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Có đọc Hoa Nghiêm Sớ Sao mới thật sự hiểu rõ Phổ Hiền Bồ Tát, hiểu rõ Văn Thù Bồ Tát, biết phải học theo các ngài như thế nào.

      Những tượng Phật thờ trong Phật môn đều nhằm biểu thị pháp. Chính giữa thờ Phật, Phật tượng trưng cho bản thể, tượng trưng cho Chân Như Bản Tánh. Chân Như Bản Tánh là thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh một pháp chẳng lập. Bởi thế, trong hội Hoa Nghiêm, Phật chẳng thuyết pháp (Ngài là bản thể, không cách gì diễn tả được), chỉ có Bồ Tát thuyết pháp. Bồ Tát biểu thị từ Thể khởi Dụng, khởi dụng là pháp. Khởi Dụng nhất định phải dùng đến hai vị Bồ Tát làm đại biểu: Một là khởi tác dụng trí huệ (Trí), hai là khởi tác dụng hành vi (Hạnh).

      Hoa Nghiêm Tam Thánh, chính giữa là Tỳ Lô Giá Na Như Lai, bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát (biểu thị hạnh nguyện), bên trái là Văn Thù Bồ Tát (biểu thị trí huệ). Trong hội Hoa Nghiêm, Phổ Hiền là trưởng tử, Văn Thù là con thứ, nghĩa là giáo học Hoa Nghiêm lấy hạnh nguyện (thực tiễn) làm chủ, nhưng hạnh nguyện phải kiến lập trên cơ sở trí huệ. Hạnh nguyện Phổ Hiền tối hậu là mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc. Chắc thật niệm Phật cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ chính là viên mãn hạnh nguyện Phổ Hiền. Kinh khuyên chúng ta phải học theo Phổ Hiền Bồ Tát.

      "Nguyện thân khẩu ý luôn thanh tịnh": Người giác không mê, chánh không tà, tịnh chẳng nhiễm thì thân - ngữ - ý của người đó đương nhiên thanh tịnh. Thân - ngữ - ý thanh tịnh là thân tâm thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, cảnh giới bèn thanh tịnh.

      "Các hạnh, cõi nước cũng giống thế": Cảnh giới thanh tịnh.

      "Trí huệ như thế gọi Phổ Hiền": thân tâm, cảnh giới không gì chẳng thanh tịnh, đó gọi là Phổ Hiền. "Nguyện tôi cùng Ngài đều đồng đẳng": Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, là diệu pháp duy nhất được sử dụng bởi các vị Văn Thù, Phổ Hiền. Nếu chúng ta niệm Phật, tâm định nơi nhất tâm bất loạn thì sẽ chẳng khác gì Phổ Hiền cả.

      Chánh kinh:

      Ngã vị biến tịnh Phổ Hiền hạnh,
      Văn Thù Sư Lợi chư đại nguyện,
      Mãn bỉ sự nghiệp tận vô dư,
      Vị lai tế kiếp hằng vô quyện,
      Ngã sở tu hành vô hữu lượng,
      Hoạch đắc vô lượng chư công đức,
      An trụ vô lượng chư hạnh trung,
      Liễu đạt nhất thiết thần thông lực,
      Văn Thù Sư Lợi dũng mãnh trí,
      Phổ Hiền huệ hạnh diệc phục nhiên,
      Ngã kim hồi hướng chư thiện căn,
      Tùy bỉ nhất thiết thường tu học.

      Tôi vì tịnh khắp hạnh Phổ Hiền,
      Và các đại nguyện của Văn Thù,
      Trọn sự nghiệp ấy không còn sót,
      Đến tận vị lai thường chẳng mệt,
      Hạnh tôi tu hành không hạn lượng,
      Đạt được vô lượng các công đức,
      An trụ trong vô lượng các hạnh,
      Thấu rõ hết thảy sức thần thông,
      Văn Thù Sư Lợi trí dũng mãnh ,
      Huệ hạnh Phổ Hiền cũng giống thế,
      Tôi nay hồi hướng các căn lành,
      Thường tu học theo hết thảy đó.


      Nguyện kiến lập trên cơ sở tín giải; hạnh lấy nguyện làm cơ sở. Phải có đại nguyện thì mới có thể tu đại hạnh.

      "Tôi vì tịnh khắp hạnh Phổ Hiền": Hạnh pháp Phổ Hiền thanh tịnh trang nghiêm trọn khắp. Trên thực tế, trong cuộc sống thường nhật của chúng ta, một ngày từ sáng đến tối những sự đãi người, tiếp vật đều là những hạnh ấy.

      "Và các đại nguyện của Văn Thù": Đại nguyện của Văn Thù Sư Lợi cũng là cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ.

      "Trọn sự nghiệp ấy không còn sót": Sự nghiệp của Phật, Bồ Tát là giáo hóa chúng sanh, giúp đỡ người khác phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui.

      "Đến tận vị lai thường chẳng mệt": Đây là tinh thần của Phổ Hiền Bồ Tát, mười đại nguyện vương mỗi nguyện đều chẳng mệt chán.

      "Hạnh tôi tu hành không hạn lượng, đạt được vô lượng các công đức": Hai câu này nói lên thành tựu của chính mình. Trong hết thảy những gì mình hành trì, mình đã thành tựu vô lượng công đức. Công đức là định huệ, thành tựu vô lượng trí huệ cho chính mình, vô lượng thiền định (tam muội, nhất tâm bất loạn).

      "An trụ trong vô lượng các hạnh, thấu rõ hết thảy sức thần thông": hai câu này nói đến việc giáo hóa chúng sanh. Liễu đạt là giác không mê, thị hiện năng lực lợi ích người khác.

      "Văn Thù Sư Lợi trí dũng mãnh": Bài kệ này nói lên nguyện vọng của chính mình. Chúng ta muốn được trí huệ như ngài Văn Thù, hạnh đồng Phổ Hiền. Đem hết thảy những thiện căn chính mình đã tu học hồi hướng chúng sanh, hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng pháp giới, thường học theo Phật, thường học theo Văn Thù, Phổ Hiền.

      Chánh kinh:

      Tam thế chư Phật sở xưng tán,
      Như thị tối thắng chư đại nguyện,
      Ngã kim hồi hướng chư thiện căn,
      Vị đắc Phổ Hiền thù thắng hạnh.      

      Các đại nguyện tối thắng như thế,
      Được tam thế chư Phật khen ngợi,
      Tôi nay hồi hướng các căn lành,
      Để được hạnh Phổ Hiền thù thắng.


      Kết quy hồi hướng. Trước tiên nói Bồ Tát hạnh nguyện chẳng thể nghĩ bàn, là những hạnh nguyện được tam thế chư Phật khen ngợi. Tu mười đại nguyện, đem công đức hồi hướng có nghĩa là trọn chẳng chấp trước. Chẳng hồi hướng thì công đức chỉ riêng mình có, đâu đâu cũng chấp vào chính mình, chẳng phá được Ngã Chấp. Hồi hướng là phá Ngã Chấp. Có phá Ngã Chấp thì vãng sanh Cực Lạc sẽ có thể vượt khỏi phẩm vị của chính mình.

      Phần kệ tụng của mười đại nguyện vương đến đây là hết, trình bày xong hết những ý nghĩa của phần Trường Hàng ở phần trước. Tiếp theo đây là phần trần thuật tánh đức thù thắng của kinh, đặc biệt là khen ngợi những công đức thù thắng của bộ kinh này.

 

Nguyện đem công đức lành, Hồi hướng cho tất cả. Chúng con với chúng sanh, Đều chứng thành Phật quả.

TRANG CHỦ     BAN THỰC HIỆN     LIÊN KẾT

Nguyện ai xem được trang này
Cây mầm tuệ giác đêm ngày phát sanh
     Pháp mầu nhuận thấm an lành
Đến bờ Bát Nhã tâm thanh nhẹ nhàng

 

Ban Chứng minh: NT. Tràng Liên, NT. Ngoạt Liên, NT Tân Liên

Ban Cố vấn: NT. Phục Liên, NT. Viên Liên, NT. Tố Liên
NT. Thẩm Liên, NT. Khiêm Liên, NS. Tín Liên, NS. Phụng Liên

Ban Chủ nhiệm: NS. Tuệ Liên, SC. Nghiêm Liên

 

Tịnh xá Ngọc Phương,
498/1 Lê Quang Định, P.1, Q. Gò Vấp, TP.HCM
 Bài vở, hình ảnh đóng góp, xin vui lòng gởi attachment
về Ban biên tập qua địa chỉ Email:
nigioikhatsi@gmail.com
Hoan nghênh mọi hình thức phổ biến trang này.