LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
B. Giải thích kinh
văn
II. Trùng Tụng
1. Tụng mười đại nguyện vương
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ
Tát Ma Ha Tát dục trùng tuyên thử nghĩa, phổ quán
thập phương, nhi thuyết kệ ngôn:
Lúc bấy giờ, Phổ
Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát muốn trùng tuyên nghĩa này,
nhìn khắp mười phương, bèn nói kệ (7) rằng:
Kệ tụng giống như thi
ca của Trung Quốc. Ở đây là loại kệ tụng bảy chữ,
mỗi câu có bảy chữ, cứ bốn câu là một kệ. Tổng cộng
có sáu mươi hai bài. Phần đầu là Trùng Tụng đem hết
thảy mười đại nguyện vương nhắc lại một lượt. Trong
nhà Phật, thể lệ này rất nhiều, có hai dụng ý:
1) Phật giảng kinh,
thính chúng tự do tham gia, có kẻ đến trước, người
đến sau. Người đến sau cùng chưa nghe được những
điều đã giảng mấy hôm trước, Phật rất từ bi, dùng kệ
tụng để đơn giản nhắc lại những điều trọng yếu một
lần nữa.
2) Kinh văn phải tụng
thuộc, sợ kẻ độn căn khó thuộc nổi phần Trường Hàng,
kệ tụng có thể dùng để xướng tụng, dễ ghi nhớ.
1. Tụng mười đại
nguyện vương
1.1. Kệ tụng lễ
kính chư Phật
Chánh kinh:
Sở hữu thập phương
thế giới trung,
Tam thế nhất thiết
Nhân Sư Tử,
Ngã dĩ thanh tịnh
thân ngữ ý,
Nhất thiết biến lễ
tận vô dư,
Phổ Hiền hạnh nguyện
oai thần lực,
Phổ hiện nhất thiết
Như Lai tiền,
Nhất thân phục hiện
sát trần thân,
Nhất nhất biến lễ sát
trần Phật.
Trong tất cả mười
phương thế giới,
Ba đời hết thảy Nhân
Sư Tử,
Tôi dùng thân - ngữ -
ý thanh tịnh,
Lễ khắp hết thảy
chẳng còn sót,
Sức oai thần hạnh
nguyện Phổ Hiền,
Hiện trước khắp hết
thảy Như Lai,
Mỗi thân lại hiện sát
trần (8) thân,
Mỗi mỗi lễ khắp sát
trần Phật.
Bài tụng thứ nhất là
"lễ kính chư Phật".
"Mười phương thế giới" là vô lượng vô biên
các cõi Phật. Chúng ta lễ kính ai? Lễ kính
"ba đời hết thảy Nhân Sư Tử".
Ba đời: đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai. Nhân
Sư Tử là Phật. Trong kinh Phật thường dùng chữ
"nhân trung sư tử" (sư
tử trong loài người) để ví đức Phật. Mười phương tam
thế hết thảy Phật đều là
đối
tượng để chúng ta lễ kính. Phật dạy:
"Hết thảy chúng sanh vốn sẵn
là Phật". Phàm những hiện tượng do các duyên
hòa hợp mà sanh khởi đều gọi là
"chúng sanh". Hữu tình
chúng sanh do các duyên Tứ Đại, Ngũ Uẩn hòa hợp; vô
tình chúng sanh (thực vật, khoáng vật) cũng do các
duyên hòa hợp, bởi thế cũng là chúng sanh. Kinh Hoa
Nghiêm chép: "Tình và vô tình
cùng viên mãn Chủng Trí".
Vì sao nói
"chúng sanh vốn đã là Phật"? Điều này thuộc
về mối quan hệ giữa Tánh và Tướng. Phàm mọi Tướng
đều do Tánh biến hiện. Phật là Tâm. Hết thảy hiện
tượng chỉ do Tâm hiện, do Thức biến. Tâm chính là
Phật, Phật chính là Tâm. Hữu tình chúng sanh có Phật
tánh, vô tình chúng sanh có pháp tánh. Pháp tánh và
Phật tánh cùng một tánh, chỉ là danh từ bất đồng.
Chúng ta đối với
người, đối với sự, đối với vật đều phải thường tu
cung kính, phải hoàn toàn cung kính giống hệt như
cung kính đức Phật. Ở nhà phải hiếu kính cha mẹ, ở
trường phải lễ kính sư trưởng, dần dần mở rộng lòng
lễ kính đến thân thích, quyến thuộc, cho đến hết
thảy chúng sanh. Chẳng những mở rộng sự lễ kính đến
hết thảy chúng sanh hữu tình mà còn phải mở rộng đến
hết thảy chúng sanh vô tình. Trong con mắt người tu
hành, giá nến, lư hương, bàn ghế, mọi thứ đều là
Phật cả, đều phải cung kính. Bàn ghế lau chùi sạch
sẽ, sắp xếp chỉnh tề, là tỏ lòng cung kính đối với
chúng nó. Sách đặt trên bàn phải thứ tự chỉnh tề;
nếu quăng vứt lung tung là bất kính vậy. Phật pháp
kiến lập trên cơ sở tâm cung kính, phải cung kính
với hết thảy, bình đẳng cung kính, thanh tịnh cung
kính. Dầu cung kính đối với hết thảy, nhưng tâm địa
thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần.
"Tôi dùng thân ngữ ý thanh tịnh" để biểu đạt
lòng cung kính. Ba nghiệp thân - ngữ - ý thanh tịnh
là cung kính chân chánh.
"Lễ khắp hết thảy chẳng còn sót": đối với tam
thế chư Phật, quý vị lễ một vị tức là lễ toàn bộ hết
thảy. Vì sao vậy? Bởi tâm thanh tịnh chẳng có giới
hạn. Tâm thanh tịnh là chân tâm, chân tâm tột cùng
hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng có giới hạn.
Bởi thế lễ một đức Phật là lễ hết thảy Phật, cung
kính một đức Phật là cung kính hết thảy Phật. Ba
nghiệp thân - ngữ - ý thanh tịnh, niệm niệm đều là
lễ kính, chẳng phải là lễ Phật một cách hình thức.
Lễ Phật hình thức là
mới học, đặc biệt là kẻ nghiệp chướng nặng nề, một
ngày lễ ba ngàn lạy để tu thân - ngữ - ý thanh tịnh.
Lễ Phật cũng là sám hối, để sám trừ tội nghiệp bất
kính đối với hết thảy Phật, Bồ Tát và chúng sanh
trong quá khứ. Lúc lễ Phật, tâm phải thanh tịnh, tâm
phải không, chớ nên ôm đồm lắm nỗi, tâm phải một
niệm chẳng sanh ("bổn lai vô
nhất vật"), thân phải chiếu theo nghi thức mà
làm. Lạy Phật là vận động, cũng là một phương pháp
dưỡng sanh tốt nhất.
Trong sách Ảnh Trần
Hồi Ức Lục có chép mẫu chuyện sau: Năm Dân Quốc thứ
nhất (1911), thầy Hương Đăng chùa A Dục Vương là
người rất chất phác. Thầy Hương Đăng trông nom đ
èn
đuốc, thắp hương. Mùa Hạ, khí trời nóng bức, người
khác nói đ
ùa:
- Thầy Hương Đăng!
Người ta phơi sách, phơi y phục, thầy cũng nên đem
nến ra phơi đi, nếu không chẳng giữ được lâu đâu!
Thầy đem nến ra phơi
thật, nến chảy tan hết. Lão Hòa Thượng dặn thầy một
ngày lễ Phật ba ngàn lạy để tu tâm thanh tịnh. Thầy
lễ ba năm bèn ngộ.
"Sức oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền": Chỉ cần
chiếu theo phương pháp lý luận trong kinh này mà tu
hành, quý vị sẽ là Phổ Hiền Bồ Tát, là Phổ Hiền Bồ
Tát tối sơ phát tâm. Trong thế giới Hoa Nghiêm có vị
Đẳng Giác Phổ Hiền Bồ Tát, nhưng vị Phổ Hiền ấy cũng
đã ở Tây Phương Cực Lạc thế giới. Quý vị tu theo
pháp môn này, tương ứng với Ngài, trong vô hình thần
lực của Ngài sẽ gia trì quý vị, đạt được cảm ứng đạo
giao. Sức lực ấy chẳng thể nghĩ bàn, là chỗ dựa cho
chúng ta tu hành.
"Hiện trước khắp hết thảy Như Lai": Mười
phương ba đời vô lượng vô biên thế giới, vô lượng vô
biên chư Phật, trước mỗi đức Phật đều có thân tướng
chúng ta hiện diện lễ Phật.
"Mỗi thân lại hiện sát trần thân, mỗi mỗi lễ khắp
sát trần Phật": Mỗi một thân đều lễ vô lượng
vô biên đức Phật, vô lượng vô biên thân, mỗi thân
lại lễ vô lượng vô biên Phật. Đấy toàn là cảnh giới
Hoa Nghiêm, trùng trùng vô tận, tuyệt đối chẳng phải
là thần thoại, mà
đều
là sự thật. Nguyên lý là tâm hiện, thức biến, công
năng của tâm thức chẳng thể nghĩ bàn, vô lượng vô
biên, bởi thế có thể hiện các tướng như vậy. Hiểu
theo một tầng ý nghĩa sâu rộng hơn thì do tâm thanh
tịnh, chúng ta sẽ cùng thế giới này, mười phương ba
đời hữu tình, vô tình, thế gian, xuất thế gian hòa
nhập thành một thể.
Trong mười đại nguyện
vương, nguyện thứ nhất là căn bản. Không có lễ kính
sẽ chẳng có xưng tán. Chẳng có tâm cung kính, người
xưng tán chỉ là miệng nói một đ
àng,
tâm đi một nẻo. Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm chỉ là học
lễ kính đó thôi! Chỉ cần thực hiện được lễ kính thì
chín điều sau thảy đều viên mãn. Một lời mình nói ra
nhất định là khen ngợi, đãi người tiếp vật nhất định
là cúng dường. Bởi thế, chúng ta học Phật là học lễ
kính. Lễ kính là tánh đức, là cái chúng ta vốn sẵn
có. Hiện tại, ta mê hoặc điên đảo, khởi lòng kiêu
căng ngã mạn, đánh mất tánh đức. Học Phật chẳng qua
là khôi phục tánh đức mà thôi.