1.5. Kệ tụng tùy hỷ công
đức
Chánh kinh:
Thập phương nhất
thiết chư chúng sanh,
Nhị thừa hữu học cập
vô học,
Nhất thiết Như Lai dữ
Bồ Tát,
Sở hữu công đức giai
tùy hỷ.
Mười phương hết
thảy các chúng sanh,
Nhị Thừa hữu học và
vô học,
Hết thảy Như Lai và
Bồ Tát,
Bao nhiêu công đức
đều tùy hỷ.
Bài tụng thứ năm là
tùy hỷ công đức. Công là công phu. Công phu như
thế nào được quả báo như thế ấy, đó gọi là công
đức. Công đức do tự mình tu, người khác chẳng
đoạt được, quý vị cũng chẳng có cách nào đem cho
người khác được. Phước đức do tự mình tu có thể
đem cho người khác được; người khác tu có thể
cho chúng ta được. Phước báo của họ lớn, ta cũng
hưởng ké, hưởng được chút phước. Chúng ta phước
báo lớn, thích giúp đỡ người khác, người khác
được hưởng phước báo của ta. Phước báo có thể
dời chuyển, công đức chẳng thể dời chuyển được.
Công đức do mình tự tu tự được, người khác không
cách gì làm thay được.
Ở đây, tùy hỷ công
đức lấy công đức làm chủ, phước đức được tính
gộp trong ấy. Trong công đức nhất định phải có
phước đức, trong phước đức không nhất định có
công đức. Công đức là Định - Huệ, Giới là phước
đức. Trì giới đắc Định thì Giới cũng biến thành
công đức.
Cảnh giới nói trong
bài kệ rất lớn.
"Mười phương hết thảy các
chúng sanh", chữ
"chúng sanh" chỉ lục đạo chúng sanh (phàm
phu). Lục đạo chúng sanh ác nhiều, thiện ít. Nếu
những chúng sanh ấy khởi thiện niệm, làm được
thiện hành (việc lợi ích cho chúng sanh), chúng
ta đều tận tâm tận lực giúp đỡ họ, thành toàn
cho họ trong việc tạo phước cho hết thảy chúng
sanh. Công đức tùy hỷ của chúng ta cũng to như
công đức của họ vậy.
"Nhị Thừa hữu học và vô học": Nhị Thừa
chỉ Thanh Văn, Duyên Giác, là Tiểu Thừa. Thanh
Văn có tứ quả: Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả đều gọi
là "hữu học". Tứ
Quả A La Hán là Vô Học. Người tu học pháp Tiểu
Thừa từ Sơ Học cho đến chứng quả, chúng ta đều
phải tùy hỷ, tán thán cả.
Có lẽ có đồng tu hỏi:
"Chúng ta hiện tại tu pháp môn Niệm Phật, sao có
thể tùy hỷ người tu học Tiểu Thừa cho được,
chẳng phải là xen tạp đó ư?" Đúng, chẳng
sai! Pháp môn Niệm Phật bao gồm hết thảy pháp
môn. Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát nói với bậc Pháp
Thân đại sĩ thuộc thế giới Hoa Tạng, đương nhiên
họ phải tùy hỷ Tiểu Thừa. Chẳng hạn như Tiểu
Thừa tu Tứ Niệm Xứ: quán thân bất tịnh, quán thọ
là khổ, quán pháp vô ngã, quán tâm vô thường.
Nếu thường quán như vậy sẽ giúp cho tâm địa
chúng ta thanh tịnh. Ba mươi bảy đạo phẩm có thể
giúp chúng ta công phu thành phiến, nhất tâm bất
loạn. Những gì Tiểu Thừa tu học đều là những
phương pháp để đối trị một chứng bệnh. Nếu chúng
ta mắc bệnh giống như thế thì có thể dùng phương
pháp ấy để đối trị, để trợ tu, niệm Phật là chủ
tu. Như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc,
Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo
đều có thể chọn dùng. Nếu tâm địa thanh tịnh,
chắc thật niệm Phật, ắt chẳng cần đến những
phương pháp đó, những phương pháp đó gộp trong
một câu Phật hiệu, một câu Phật hiệu công đức vô
lượng vô biên.
"Hết thảy Như Lai và Bồ Tát": Đây là Đại
Thừa. Bồ Tát viên mãn năm mươi mốt địa vị từ địa
vị Sơ Tín cho đến Đẳng Giác bèn thành Phật. Bồ
Tát từ sơ phát tâm cho đến khi tu hành chứng
quả, ta cũng phải học tập theo gương ấy, ta cũng
phải nghiêm túc nỗ lực học theo quý Ngài.
"Tất cả công đức đều tùy hỷ": Ở đây, tùy
hỷ đặt nặng vấn đề học tập theo họ, tận tâm tận
lực giúp đỡ họ. Đa số người niệm mười đại nguyện
vương, miệng niệm tùy hỷ, nhưng chẳng thật sự
tùy hỷ. Rất thích một bộ kinh thì phải tùy hỷ.
Phát tâm y giáo tu hành, phát tâm giảng bộ kinh
đó, khiến nó được hoằng dương quang đại, đấy mới
là tùy hỷ. Cứ nghĩ mình chẳng có năng lực, chẳng
có biện tài thì quý vị tự xem nhẹ mình quá đấy!
Cứ chân chánh phát tâm, Tam Bảo bèn gia trì.
Đại sư Vĩnh Minh Diên
Thọ đời Tống, lúc chưa xuất gia làm một chức
quan nhỏ, làm quan coi kho, thường lấy tiền
trong kho mua các loài thủy tộc: tôm, cá v.v… để
phóng sanh. Vì thế, mắc phải tội danh trộm đạo
của công, theo pháp phải chịu tử hình. Ngô Việt
Vương tín ngưỡng Phật pháp, biết Sư trộm dùng
tiền kho toàn là
để
phóng sanh, truyền giám trảm quan chú ý thái độ
của Sư trước lúc thọ hình. Trước lúc bị xử chém,
Sư cười khúc khích, vui vẻ mừng rỡ, chẳng chút
sợ hãi gì. Giám trảm quan hỏi:
- Sao ông không sợ
chết?
Sư đáp:
- Tôi chỉ có một cái
mạng, cứu được ngàn ngàn vạn vạn cái mạng, rất
đáng giá!
Về sau, quốc vương
chẳng giết Sư, thả Sư đi, Sư bèn xuất gia. Sư
không có tài ăn nói, mộng thấy Quán Âm Bồ Tát
dùng cam lộ nhỏ vào họng Sư, ngày hôm sau biện
tài vô ngại. Sư phát tâm lên đ
ài
giảng kinh, hoằng dương Phật pháp lợi ích chúng
sanh. Chẳng hề có mảy may ý niệm tự tư, tự lợi,
Tam Bảo nhất định gia trì, cảm ứng đạo giao, đó
gọi là
"chân chánh tùy hỷ".