1.2. Kệ tụng xưng tán Như Lai
Chánh kinh:
Ư nhất trần trung
trần số Phật,
Các xử Bồ Tát chúng
hội trung,
Vô tận pháp giới trần
diệc nhiên,
Thâm tín chư Phật
giai sung mãn,
Các dĩ nhất thiết âm
thanh hải,
Phổ xuất vô tận diệu
ngôn từ,
Tận ư vị lai nhất
thiết kiếp,
Tán Phật thậm thâm
công đức hải.
Nơi trần số Phật
trong một trần,
Đều ở giữa chúng hội
Bồ Tát,
Pháp giới vô tận trần
cũng thế,
Tin sâu chư Phật thảy
sung mãn,
Đều dùng hết thảy
biển âm thanh,
Thốt trọn vô tận lời
nói hay,
Tột cùng hết thảy
kiếp vị lai,
Khen biển công đức
Phật sâu thẳm)
Bài tụng thứ hai xưng
tán Như Lai. Bài kệ thứ nhất nói lên đối tượng để
xưng tán. Đối tượng ấy rộng lớn, giống như phần trên
đã nói chẳng khác gì, ngôn từ bất đồng cho thấy văn
chương bóng bảy.
"Ư nhất trần trung trần số Phật": Trần đây là
vi trần. Vi trần được nói trong kinh Phật, mắt thịt
không thấy được; kinh Phật dùng rất nhiều ví dụ để
giảng chữ
"trần". Trước hết là
"ngưu mao trần", lông
bò khá thô, trên đầu sợi lông có một hạt bụi có thể
dính vào đó mà không bị rớt mất [thì hạt bụi đó gọi
là "ngưu mao trần"].
Chia hạt bụi đó thành bảy phần, mỗi một phần là
"dương mao trần", lông
dê so ra nhuyễn hơn lông bò rất nhiều. Lại chia
dương mao trần thành bảy phần, mỗi một phần là
"thố mao trần" (bụi
trên đầu sợi lông con thỏ). Thố mao trần lại chia
thành bảy phần, thì mỗi một phần gọi là
"thủy trần", có thể
xuyên qua nước không trở ngại gì. Nước có mật độ,
nhưng giữa các phân tử nước vẫn có khoảng trống, hạt
thủy trần có thể trôi qua những khoảng trống ấy. Lại
chia thủy trần thành bảy phần, mỗi một phần là
"kim trần". Mật độ
(density) của kim loại rất lớn, nhìn dưới kính hiển
vi vẫn có khoảng trống, kim trần có thể vượt qua
những khoảng trống ấy không bị chướng ngại. Kim trần
lại chia thành bảy phần thì mỗi một phần gọi là
"vi trần". Thiên nhãn
của A La Hán mới thấy được vi trần. Vi trần chưa
phải là nhỏ nhất, lại chia thành bảy phần nữa thì
gọi là "sắc tụ vi"; lại
chia thành bảy phần nữa thì gọi là
"cực vi vi", không thể
chia nhỏ hơn được nữa. Phật nhãn thấy được cực vi
vi.
Trần số: đem tam
thiên đại thiên thế giới (Ngân Hà hệ) nghiền thành
vi trần, số đến vô lượng vô biên, trong mỗi một trần
lại có vi trần số chư Phật.
"Đều ở giữa chúng hội Bồ Tát": Mỗi một đức
Phật lại có hải hội Bồ Tát vây quanh, Bồ Tát rất
nhiều.
"Pháp giới vô tận trần cũng thế": Vô tận pháp
giới, trong mỗi một vi trần đều có số lượng các thế
giới như thế, đấy là cảnh giới đích thân Phật chứng
nhập. Cảnh giới ấy chẳng thể nghĩ bàn, còn gọi là
Nhất Chân Pháp Giới, tức là Thật Báo Trang Nghiêm
Tịnh Độ của A Di Đà Phật.
"Tin sâu chư Phật thảy sung mãn": Chẳng phải
là cảnh giới chúng ta, dựa vào đâu để tin chẳng nghi
ngờ đây? Căn cứ vào nhân cách của Phật Thích Ca Mâu
Ni, Phật chẳng nói dối. Cảnh giới đúng thật như thế,
kinh Kim Cang gọi cảnh giới ấy là
"chư pháp Thật Tướng", chỉ có Phật và các đại
Bồ Tát mới chứng được.
"Đều dùng hết thảy biển âm thanh, thốt trọn vô tận
lời nói hay": Tán thán đương nhiên phải sử
dụng ngôn từ, dùng âm thanh. Chúng ta chỉ nghĩ dùng
âm thanh để ca xướng, dùng ngôn từ khen ngợi Phật;
tướng nói như thế thật ra rất thô, có vậy hàng sơ
học mới có thể lãnh hội được. Nếu nói sâu hơn, chúng
ta không cách chi hiểu được.
Nói đúng ra, mọi âm
thanh trong thế giới đều là khen Phật, hết thảy ngôn
từ không chi chẳng diệu, kể cả tiếng người chửi
nhau, cãi cọ cũng thế, chúng ta không cách gì hiểu
được. Có tâm đắc phẩm Quán Thế Âm Nhĩ Căn Viên Thông
của kinh Lăng Nghiêm mới hòng lãnh hội được! Hiện
tại, chúng ta nghe có âm thanh đẹp dạ, có âm thanh
thô tháo đáng chán ghét là vì chúng ta dùng cái tâm
phân biệt để nghe, dùng Ý Thức để nghe, chúng ta chỉ
nghe Thanh Trần. Bồ Tát lìa tâm ý thức mà nghe, nên
trong hết thảy biển âm thanh, hết thảy biển ngôn từ,
Ngài chẳng có tâm phân biệt, chẳng có tâm chấp
trước, chẳng có tâm vọng tưởng, hoàn toàn dùng tâm
thanh tịnh. Tâm thanh tịnh nơi Nhĩ Căn gọi là Tánh
Nghe. Cái được nghe bởi Tánh Nghe là Thanh Tánh,
chẳng phải là Thanh Trần. Đó gọi là chân chánh tán
thán đấy!
Bởi vậy, chửi người,
cãi cọ cũng là tán thán, điều này kỳ diệu chẳng thể
diễn tả nổi, chúng ta phải tu điều này. Tu xưng tán
phải tu từ đây thì chúng ta mới có thể nhập cảnh
giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn. Nếu không, suốt
ngày từ sáng đến tối ca xướng, tán thán Phật, Bồ
Tát, nhưng Phật, Bồ Tát vẫn là Phật, Bồ Tát, phàm
phu vẫn là phàm phu. Tán thán rồi quý vị cũng biến
thành Phật, Bồ Tát, như thế mới là
đúng!
Bởi thế, Ngài đối với thanh âm chẳng hề chọn lựa,
chẳng có phân biệt, đối với ngôn từ cũng chẳng có
chọn lựa. Vì thế mới là diệu ngôn, hễ có chọn lựa
thì chẳng còn diệu nữa! Hết thảy âm thanh ngôn từ
đều lưu xuất từ pháp tánh, lại quy vào pháp tánh.
Người bình phàm vừa nghe liền khai ngộ kiến tánh là
vì họ dùng cái Tánh Nghe để nghe Thanh Tánh, dùng
Tánh Thấy để thấy Sắc Tánh.
Dù nói đến sáu tánh
nơi sáu căn, cũng như sáu tánh nơi sáu trần; thật
ra, tánh chỉ là một, nhất định chẳng có hai tánh thì
mới gọi là tu cái nguyện
"xưng tán". Xưng tán là
đ
ào
luyện tâm thanh tịnh từ nơi âm thanh, lễ kính là
luyện tâm thanh tịnh từ nơi hết thảy người, vật, sự
tướng. Lễ kính là thanh tịnh, tán thán cũng là thanh
tịnh. Mỗi một đại nguyện điều nào cũng nói đến thanh
tịnh, tu tâm thanh tịnh từ những điều đó nên pháp
môn này gọi là Đại Bất Tư Nghị Pháp Môn. Chỗ nào
cũng dạy chúng ta minh tâm kiến tánh, chỗ nào cũng
dạy chúng ta nhất tâm bất loạn.
"Tột cùng hết thảy kiếp vị
lai": Thời gian tu hành chẳng gián đoạn,
trong quá trình tu hành chẳng có kỳ hạn, sau khi tu
hành viên mãn mới có kỳ hạn. Vì thế, Phật, Bồ Tát
mới chứng viên mãn ba thứ Bất Thoái. Có kỳ hạn là có
lúc kết thúc, pháp môn này vô thỉ cũng vô chung. Chư
vị nghĩ kỹ xem: Tu tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh có
đầu có cuối chăng? Tâm thanh tịnh chẳng có đầu lẫn
cuối! Duy Thức nói: "Phương
phần, thời phần, đều là hành pháp bất tương ưng".
Phương phần là không gian, Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn
phương bàng, trên, dưới. Thời phần là thời gian, quá
khứ, hiện tại, vị lai. Có những sự tình đó, dẫu là
có, nhưng chỉ là khái niệm trừu tượng, chẳng phải là
sự thật cụ thể, nhưng đối với khái niệm trừu tượng
chúng ta thường lầm lẫn, coi chúng là thật, tựa hồ
thật sự có những sự tình đó; kỳ thật, chúng nào có.
Phá được cái ải đó, tức là phá được cả không gian
lẫn thời gian, thì mới là giải thoát rốt ráo. Tâm
thanh tịnh chẳng có mười phương, chẳng có ba đời,
cho nên mới nói: "Tột cùng vị
lai hết thảy kiếp". Cách nói như vậy, đối với
người sơ học thật không gì cổ vũ lớn hơn nữa, chúng
ta phải hiểu rõ sự thật này, phải tinh tấn nỗ lực
không ngừng, chẳng nên giải đãi, chẳng được thoái
chuyển.
"Khen biển công đức Phật sâu thẳm": công đức
Phật vô lượng vô biên, tán thán chẳng thể cùng tận.
Nói trên mặt Sự, lễ kính bao gồm hết thảy chúng
sanh, chúng sanh đều có Phật tánh, hết thảy chúng
sanh vốn là Phật. Bởi thế phải lễ kính hết, chẳng
được phân biệt, chấp trước, phải dùng cái tâm thanh
tịnh, bình đẳng để tu. Xưng tán thì phải coi là xứng
tánh hay không xứng tánh, cũng phải xét là thiện hay
ác. Chư vị phải biết thiện - ác là bình đẳng, chân -
vọng, tà - chánh cũng là bình đẳng, chẳng có pháp
nào không bình đẳng. Vì sao xưng tán phải phân biệt?
Đối với Pháp Thân đại sĩ mà nói thì là bình đẳng,
nhưng đối với phàm phu chúng ta bèn có sai biệt.
Trong phần Trường
Hàng nói
"xưng tán Như Lai",
nhưng phần kệ tụng nói "xưng
tán Phật" chứ không xưng tán Như Lai. Ở đây
là cảnh giới Bồ Tát, là bình đẳng, gọi là Nhất Chân
Pháp Giới. Phần Trường Hàng có phân biệt là vì nói
với chúng ta. Tâm chúng ta bất bình đẳng, có chân -
vọng, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác; chúng ta
chẳng tán thán ác pháp, tán thán thiện pháp. Trong
Kệ Tụng là pháp bình đẳng, phần Trường Hàng là pháp
sai biệt, là nhân quả sai biệt. Phật thuyết pháp
thật xảo diệu thay!