1.10. Kệ tụng phổ giai hồi
hướng
Dưới đây là hai mươi
lăm bài kệ tụng về nguyện thứ mười
"phổ giai hồi hướng". Trong nguyện thứ mười
có phần phát đại nguyện, tổng cộng là mười mục nhỏ:
nguyện thọ trì, nguyện tu hành được hai thứ lợi ích,
nguyện thành thục chúng sanh, nguyện chẳng lìa,
nguyện cúng dường, nguyện lợi ích, nguyện chuyển
pháp luân, nguyện Tịnh Độ, nguyện thừa sự, nguyện
thành Chánh Giác. Mười mục nhỏ này đều được triển
khai từ một đại nguyện
"phổ giai hồi hướng"
của Bồ Tát Phổ Hiền, dùng thể tài kệ tụng khiến cho
ý nghĩa "phổ giai hồi hướng"
được viên mãn hoàn bị.
1.10.1. Nguyện thọ
trì Chánh kinh:
Ngã vị Bồ Đề tu hành
thời,
Nhất thiết thú trung
thành Túc Mạng,
Thường đắc xuất gia
tu tịnh giới,
Vô cấu, vô phá, vô
xuyên lậu,
Thiên, Long, Dạ Xoa,
Cưu Bàn Trà,
Nãi chí nhân dữ phi
nhân đẳng,
Sở hữu nhất thiết
chúng sanh ngữ,
Tất giai chư âm nhi
thuyết pháp.
Lúc tôi vì Bồ Đề
tu hành,
Trong hết thảy loài
đắc Túc Mạng,
Thường được xuất gia,
tu tịnh giới,
Không nhơ, không phá,
không rò rỉ,
Trời, Rồng, Dạ Xoa,
Cưu Bàn Trà,
Cho đến nhân cùng phi
nhân thảy,
Tất cả hết thảy tiếng
chúng sanh,
Đều dùng các âm để
thuyết pháp.
"Lúc tôi vì Bồ Đề tu hành, trong hết thảy loài đắc
Túc Mạng": Tu hành nhằm để chính mình thật sự
giác ngộ. Người giác ngộ biết
"phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng".
Thân là hư vọng, có sanh, có diệt; linh tánh là
chân, bất sanh bất diệt. Chúng ta phải nhờ vào giả
để tu chân, thân là giả, nhờ vào cái thân thể hư giả
để tu tánh linh của chính mình, tu cái chân tâm của
chính mình, tu bổn tánh của chính mình. Tu đến mức
độ tương đương sẽ được Thiên Nhãn, Thiên Nhĩ, Túc
Mạng (biết những việc trong các đời quá khứ), đối
với hết thảy sự lý thế gian, xuất thế gian đều thấy
rõ ràng, minh bạch. Đạt thần thông chớ nên khoe
khoang. Vì muốn chánh pháp tồn tại lâu dài trong thế
gian, đức Phật chẳng dùng thần thông để giáo hóa.
Yêu ma, quỷ quái đều có thần thông, nhưng chẳng có
chánh tri chánh kiến. Phật, Bồ Tát giảng kinh thuyết
pháp giáo hóa chúng sanh, dùng chánh tri kiến giáo
hóa chúng sanh.
"Thường được xuất gia tu tịnh giới": Ở đây
"xuất gia" không phải là thoát ly gia đình
mình mà là tâm thoát khỏi nhà vô minh, ra khỏi nhà
phiền não, còn thân thì thị hiện hoặc xuất gia hoặc
tại gia. Đối với thế gian này tâm địa chẳng nhiễm
mảy trần, đó là "xuất gia tu
tịnh giới". Trong năm mươi ba lần tham học
của kinh Hoa Nghiêm, trong năm mươi ba vị Bồ Tát,
thân lẫn tâm cùng xuất gia chỉ có năm người; ngoài
ra đều là tâm xuất gia, thân chẳng xuất gia, là tại
gia cư sĩ, nam, nữ, già, trẻ, các hạnh, các nghiệp
đều hành Bồ Tát đạo.
"Không nhơ, không phá, không rò rỉ": Giới
luật thanh tịnh, không phá giới. Hai câu này cũng có
nghĩa là hộ pháp, giữ cho thân tâm của chính mình
thanh tịnh chính là hộ trì Phật pháp. Thân tâm chẳng
thanh tịnh chẳng thể thành Phật được. Để cầu Vô
Thượng Bồ Đề thì phải giữ cho thân tâm thanh tịnh.
"Trời, Rồng, Dạ Xoa, Cưu Bàn Trà, cho đến nhân cùng
phi nhân thảy, tất cả hết thảy tiếng chúng sanh, đều
dùng các âm để thuyết pháp": Trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới, lục trần thuyết pháp, tình và vô
tình cùng tuyên diệu pháp. Cõi này, tình và vô tình
không gì chẳng thuyết pháp, đều dùng các âm thanh để
thuyết pháp. Chúng ta thấy sắc nghe hương đều có thể
khai ngộ vậy! Tâm thanh tịnh bèn khai ngộ.
Lục trần xác thực có
thuyết pháp, tiếc rằng tâm chúng ta chẳng thanh
tịnh, tiếp xúc suốt ngày từ sáng đến tối chẳng những
không thể khai ngộ, trái lại còn tăng trưởng phiền
não. Người tâm địa thanh tịnh gặp cảnh giới bèn tăng
trưởng Bồ Đề.
Bài kệ này còn có
nghĩa là: Tự mình phát tâm đại từ bi, vì hết thảy
chúng sanh thuyết pháp, cổ vũ chúng ta bắt chước Bồ
Tát, học được một mảy một giọt pháp gì đều xoay vần
lưu thông, nhất là khuyên người niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ, phước báo rất lớn.
1.10.2. Nguyện tu
hành được hai thứ lợi ích
Chánh kinh:
Cần tu thanh tịnh Ba
La Mật,
Hằng bất vong thất Bồ
Đề tâm,
Diệt trừ chướng cấu
vô hữu dư,
Nhất thiết diệu hạnh
giai thành tựu.
Ư chư hoặc nghiệp cập
ma cảnh,
Thế gian đạo trung
đắc giải thoát,
Do như liên hoa bất
trước thủy,
Diệc như nhật nguyệt
bất trụ không.
Siêng tu Ba La Mật
thanh tịnh,
Thường chẳng quên mất
tâm Bồ Đề.
Diệt trừ chướng cấu
không còn sót,
Hết thảy diệu hạnh
đều thành tựu.
Với các hoặc nghiệp
và cảnh ma,
Được giải thoát nơi
đường thế gian,
Ví như hoa sen chẳng
dính nước,
Cũng như nhật, nguyệt
chẳng dừng không.
"Siêng tu Ba La Mật thanh tịnh": Ba La Mật là
tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Đáo Bỉ
Ngạn, rốt ráo viên mãn. Thanh tịnh Ba La Mật tức là
Lục Độ của Bồ Tát vừa viên mãn rốt ráo vừa thanh
tịnh, hoàn toàn chẳng chấp trước.
Kinh Bát Nhã nói
"tam luân thể không" tức là dạy chúng ta phải
lìa hết thảy tướng. Ví như tu bố thí, chớ nghĩ rằng:
hôm nay tôi tu bao nhiêu bố thí, làm được bấy nhiêu
việc tốt! Có Ngã, chấp vào Ngã Tướng thì dù có tu bố
thí vẫn chẳng thanh tịnh. Ta bố thí cúng dường cho
ai đó, tướng người cũng quên mất, trong tâm chẳng
nhớ ai là
đối
tượng nhận bố thí. Tiền tài, vật phẩm dùng để bố thí
cũng chẳng ghi trong lòng. Có làm cũng như không
làm, từ đầu đến cuối gìn giữ cái tâm thanh tịnh, một
niệm chẳng sanh. Đấy chính là như Lục Tổ đại sư đã
nói:
"Vốn chẳng có một vật, chỗ nào
nhuốm bụi trần!" Đấy mới là chân chánh đạt
đến thanh tịnh. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta phải nỗ
lực tinh tấn tu học thanh tịnh Ba La Mật.
"Thường chẳng quên mất tâm Bồ Đề": Trong Đại
Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ Tát giảng Bồ Đề tâm
là trực tâm, thâm tâm, đại bi tâm. Trong kinh Quán
Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn cũng giảng Bồ Đề tâm là
chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm.
Tổng hợp lại, chí thành là trực tâm, hồi hướng phát
nguyện tâm là
đại
bi tâm. Trực là chánh trực, chánh: chẳng tà, trực:
chẳng cong quẹo. Tâm chúng ta phải chánh, phải trực.
Tâm vốn là chánh trực. Chí thành nghĩa là chân thành
đạt đến mức cùng cực, đó là Trực Tâm. Trong tâm có
cong quẹo, trong tâm chẳng chân thành thì chẳng phải
là Bồ Đề tâm.
Bồ Đề là tiếng Phạn,
dịch nghĩa sang tiếng Tàu là Giác. Tâm chúng ta vốn
là giác. Giác chẳng cần phải học mà vốn sẵn có. Mã
Minh Bồ Tát nói:
"Bổn Giác vốn sẵn có".
Bổn Giác tức là tâm Bồ Đề, mỗi một chúng sanh chúng
ta đều sẵn có. Dẫu là có, nhưng hiện tại ta chưa có
là vì chẳng giác. Mã Minh Bồ Tát lại nói:
"Bất giác vốn là không".
Bất Giác vốn chẳng có. Do đây biết rằng, Bồ Đề tâm
chính là chân tâm của chúng ta, chân tâm vốn sẵn có;
Bất Giác là vọng tâm, vọng tâm vốn là không. Vốn sẵn
có thì đương nhiên có thể khôi phục, vốn là không
thì đương nhiên có thể đoạn trừ.
Ba tâm thật ra chỉ là
một tâm, tức là chân tâm. Trực tâm, chí thành tâm là
bản thể của chân tâm. Chân tâm khởi tác dụng, tác
dụng chia làm hai loại: Đối với chính mình thì gọi
là thâm tâm; đối với người khác thì gọi là bi tâm.
Thâm tâm thanh tịnh, từ bi, thanh tịnh đến cùng cực,
từ bi đến cùng cực. Tâm như thế tự nhiên hiếu đức,
hiếu thiện. Hiếu đức và hiếu thiện chẳng cần phải
học mà là công đức của tự tánh. Chân tâm (Bồ Đề tâm)
chính là tự tánh. Tự tánh đối với chính mình khởi
tác dụng, chẳng cần người khác dạy, tự nhiên hiếu
đức, hiếu thiện.
Đức và thiện đạt đến
mức cùng cực chính là Phật pháp, do đây biết rằng:
người ấy tự nhiên yêu thích Phật pháp, tự nhiên quy
hướng, chẳng cần người khác dạy, cũng chẳng cần ai
khuyến khích, cái tâm ấy gọi là thâm tâm. Đối với
người khác cũng tự nhiên sanh khởi bi tâm: Trông
thấy chúng sanh sung sướng, tự mình thật vui sướng,
trông thấy người khác đau khổ tự mình rất buồn khổ.
Bởi vậy, nhất định phải giúp đỡ chúng sanh lìa khổ
được vui. Chúng sanh lìa khổ là chính mình lìa khổ,
chúng sanh được vui cũng như chính mình được vui.
Chúng sanh và bản thân mình là một thể, chẳng phải
hai thể.
Phật pháp Đại Thừa
lấy Bồ Đề tâm làm cơ sở. Người Tiểu Thừa chẳng có
tâm Bồ Đề, bởi lẽ họ chẳng đại từ đại bi, chúng sanh
tìm cầu họ, họ chịu dạy, chúng sanh chẳng tìm cầu
họ, họ chẳng quan tâm đến. Đại Thừa Bồ Tát đại từ
đại bi, không phân biệt, giới hạn, làm bạn chẳng
thỉnh của hết thảy chúng sanh, chỉ cần thấy chúng
sanh đau khổ là Ngài bèn đến.
Nho Giáo cũng kiến
lập trên cơ sở Bồ Đề tâm. Trung tâm sự dạy dỗ của
Nho Giáo là thành ý, chánh tâm, chẳng ngờ rất phù
hợp với lời dạy của nhà Phật. Thành ý là Thể, chánh
tâm là Dụng. Nho giáo nói mỗi cá nhân nếu chẳng
thành thật, trọn chẳng thể trở thành thánh, thành
hiền. Mỗi một cá nhân đều phải vận dụng cái tâm chân
thành, sau đấy mới tu thân (tu dưỡng thành tựu phẩm
đức, học vấn của chính mình), tề gia (gia đình mỹ
mãn), trị quốc (quốc gia, chính trị đi vào quy củ),
bình thiên hạ (người trong thiên hạ đều được công
bình, chẳng có tranh chấp, thiên hạ thái bình). Đấy
chính là cơ sở giáo học, lý tưởng giáo học của Nho
gia.
Làm thế nào để tâm
chân thành (Bồ Đề tâm) hiện tiền? Phải đoạn hai
Chướng: Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng chướng
ngại thân tâm khiến chân tâm chẳng thể hiện tiền.
Người Tiểu Thừa phá được Phiền Não Chướng, nhưng
chưa phá Sở Tri Chướng. Sở Tri Chướng chướng ngại Bồ
Đề tâm, Bồ Đề tâm chẳng thể hiện tiền. Nho gia nói
"cách vật trí tri",
"cách vật" là như nhà
Phật nói "đoạn phiền não",
"trí tri" là phá Sở Tri
Chướng. Vật là vật dục (danh văn, lợi dưỡng, ngũ
dục, lục trần), Cách là phải chống cự lại chúng,
phải chiến thắng ý niệm vật dục. Chiến thắng được
vật dục, chẳng để vật dục lay động, sẽ chẳng còn
phiền não nữa. Buông xuống là
đoạn
Phiền Não Chướng, thấy thấu suốt là phá Sở Tri
Chướng. Sau khi cách vật lại phải trí tri. Cách vật
là
đoạn
phiền não, trí tri là học pháp môn. Đột phá hai
Chướng, thành ý hiện tiền, Bồ Đề tâm mới có thể chân
chánh phát khởi.
Đối với Bồ Đề tâm,
Ngẫu Ích đại sư có một cách giải thích rất đặc biệt,
đơn giản dễ hiểu. Ngài nói:
"Nhất tâm nhất ý cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, cái tâm ấy chính là Vô
Thượng Bồ Đề tâm". Nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ,
đương nhiên buông bỏ danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục,
lục trần thế gian, phiền não không còn nữa. Nhất tâm
xưng niệm A Di Đà Phật là phá Sở Tri Chướng, là phá
vô minh, đấy là Trí Tri như Nho Gia đã nói. Những bà
già niệm Phật, không biết chữ, cũng chưa từng nghe
kinh, vì sao họ vãng sanh: đứng mà mất, ngồi mà mất,
trông thấy Phật đến tiếp dẫn vậy? Các bà cụ đó chẳng
biết Bồ Đề tâm là cái gì, cớ sao được vãng sanh? Là
vì các bà cụ ấy nhất tâm nhất ý cầu sanh Tây Phương
Tịnh Độ. Cái tâm ấy chính là Vô Thượng Bồ Đề tâm,
cho nên thành ý, hiếu đức, hiếu thiện, đại từ đại bi
thảy đều đầy đủ. Bồ Đề tâm, trực tâm, thâm tâm, đại
bi tâm nghe đến chẳng hiểu rõ cũng không quan trọng,
chẳng cần phải hiểu, cốt sao nhất tâm nhất ý cầu
sanh Tịnh Độ là
được!
Ở đây, Phổ Hiền Bồ
Tát dạy chúng ta pháp môn sau:
"Hằng chẳng quên mất Bồ Đề tâm". Hằng là
thường hằng, thời thời khắc khắc chẳng quên
"tôi muốn cầu sanh Tịnh Độ". Thời thời khắc
khắc chẳng quên
"tôi muốn thấy A Di Đà Phật".
Người như vậy là chân chánh giác ngộ. Bồ Đề tâm là
đại
giác, chân chánh giác ngộ, triệt để giác ngộ. Trong
tâm chúng ta thời thời khắc khắc niệm niệm chẳng
quên Tịnh Độ, niệm niệm chẳng quên A Di Đà Phật, đấy
đúng thật là
đại
Bồ Đề tâm, ở đây gọi là "hằng
chẳng quên mất Bồ Đề tâm". Chỉ cần có cái tâm
này thì sẽ có thể tiêu nạn diệt tội,
"diệt trừ chướng cấu không còn
sót". Đó là vì tâm quý vị thanh tịnh, trong
tâm thanh tịnh chẳng thể chứa đựng tội nghiệp.
Chướng là nghiệp chướng, Cấu là phiền não, tập khí,
nhiễm ô. "Vô hữu dư"
(không còn sót): diệt trừ sạch sành sanh hết thảy
chướng ngại, phiền não, thảy đều đoạn hết. Bởi thế,
một câu Phật hiệu công đức chẳng thể nghĩ bàn. Một
câu Phật hiệu ấy phải từ cái tâm thanh tịnh niệm ra,
phải từ cái tâm chánh giác niệm ra, phải từ tâm chân
thành niệm ra mới diệt được tội.
"Hết thảy diệu hạnh đều thành tựu": Một tức
là hết thảy. Một câu Phật hiệu có đủ tám vạn bốn
ngàn pháp môn Bồ Tát tu, vô lượng hạnh môn. Tu một
pháp môn tức là tu hết thảy pháp môn, hết thảy diệu
hạnh đều thành tựu. Phương pháp tu hành này rất thù
thắng!
"Với các hoặc nghiệp và cảnh ma": Hoặc nghiệp
chính là cái bản thân chúng ta có đủ, mê hoặc tạo
nghiệp! Bây giờ tâm chúng ta thanh tịnh, tâm chân
thành, chẳng còn mê hoặc nữa, chẳng tạo nghiệp nữa,
thì chẳng có mê hoặc tạo nghiệp nữa! Ma cảnh là cảnh
giới bên ngoài. Ma là chướng ngại, là rắc rối, khiến
chúng ta làm bất cứ chuyện gì cũng chẳng thuận lợi,
đều bị trở ngại, đó là ma cảnh. Phải có các Hoặc
(nội ma) thì ngoại ma mới có cách xâm nhập, nhiễu
loạn mình được!
Theo kinh Bát Đại
Nhân Giác, có bốn loại Ma:
1) Ngũ Ấm ma:
Ai nấy đều có cả.
Thân chúng ta là thân Ngũ Ấm. Ngũ Ấm: Sắc (vật chất,
nhục thể), Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thọ, Tưởng, Hành,
Thức là Tâm. Thức là tâm, Thọ, Tưởng, Hành là tác
dụng của Tâm. Ngũ Ấm là ma, chúng ta không có cách
gì thoát được. Niệm Phật niệm đến Lý Nhất Tâm Bất
Loạn, tham thiền đến mức minh tâm kiến tánh mới có
thể thoát được. Tâm kinh chép:
"Quán Tự Tại Bồ Đề lúc thực
hành sâu xa Bát Nhã Ba La Mật, chiếu kiến (soi thấy)
Ngũ Uẩn đều không"; Ngài đã thoát được Ngũ
Ấm. Hiện thời chúng ta Ngũ Ấm chẳng không; công phu
nhà Thiền chia thành ba bậc:
A. Thấp nhất là Quán
Chiếu. Quán chiếu có đắc lực thì công phu mới vào
khuôn khổ. Nếu quán chiếu chẳng đắc lực, công tu vô
ích.
B. Sâu hơn một tầng
là Chiếu Trụ, tức là
đắc
Thiền Định. Thiền Định có mức độ sâu cạn khác nhau,
chia thành chín đẳng cấp. Trong tam giới, Tứ Thiền
Thiên thuộc Sắc Giới có bốn đẳng cấp, Tứ Định thiên
thuộc Vô Sắc Giới có bốn đẳng cấp, đẳng cấp thứ chín
vượt ngoài Tam Giới. A La Hán, Bích Chi Phật chứng
được Định thứ chín, tuy chứng được Định thứ chín,
nhưng công phu chiếu trụ chưa đạt đến mức
"chiếu kiến".
C. Lên một tầng nữa
là Chiếu Kiến: Chiếu kiến tức là thấy Tánh, chân tâm
hiển lộ, Bồ Đề tâm tự nhiên hiện tiền.
Công phu thấp nhất
của người niệm Phật là
"công phu thành phiến",
tương đương với mức Quán Chiếu đắc lực của nhà
Thiền. Cao hơn là Sự Nhất Tâm Bất Loạn, tương đương
với Chiếu Trụ. Cao hơn nữa là Lý Nhất Tâm Bất Loạn
tương đương với Chiếu Kiến. Thiền Tông tu học rất
khó, Tịnh Độ Tông dùng một câu Phật hiệu, một câu
Phật hiệu niệm đến rốt ráo, công phu thành phiến, Sự
Nhất Tâm Bất Loạn, Lý Nhất Tâm Bất Loạn đều dùng
phương pháp này. Thậm chí tương lai thành Phật cũng
vẫn cứ dùng phương pháp này, một câu Phật hiệu vĩnh
viễn chẳng biến cải.
Trong chương Viên
Thông, Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta:
"Chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai".
Chẳng cần nhờ vào bất cứ phương pháp nào khác, cứ
một câu Phật hiệu niệm đến cùng cực, niệm đến Lý
Nhất Tâm Bất Loạn, tâm khai kiến giải, đại triệt đại
ngộ, minh tâm kiến tánh. Đến lúc đó, liền chiếu kiến
Ngũ Uẩn đều không, phá Ngũ Ấm ma.
2) Phiền não ma:
Phiền não là ma.
Phiền não do tham, sân, si mà khởi. Bởi thế, tham -
sân - si gọi là ba độc phiền não. Tu hành phải tu từ
cội rễ. Đã biết tham - sân - si là cội rễ của tất cả
hết thảy phiền não thì chúng ta phải đoạn phiền não,
rễ bị nhổ bứng thì cành lá tự nhiên chẳng còn. Làm
thế nào để nhổ bứng rễ?
Đoạn Tham phải dùng
bố thí, bố thí độ keo tham. Độ là
độ
chính mình, chẳng độ người khác. Công đức của bố thí
là
đoạn
trừ cái tâm tham của chính mình. Chẳng có tâm tham,
tâm địa thanh lương tự tại. Bố thí là tự mình được
lợi, người khác được lợi ích rất hữu hạn. Nhổ trừ
tham - sân - si vĩnh viễn thoát luân hồi. Đoạn Sân
phải dùng Nhẫn Nhục, Nhẫn Nhục độ sân khuể. Ngu si
là vô minh, Bát Nhã độ ngu si.
Bồ Tát tu lục độ vạn
hạnh để độ chính mình, độ chính mình thì trước hết
phải đoạn phiền não ma. Phương pháp Bồ Tát Phổ Hiền
dạy chúng ta ở đây so ra cao hơn phương pháp tu hành
của Đại Thừa Bồ Tát rất nhiều. Ngài Phổ Hiền dạy
chúng ta thanh tịnh Ba La Mật. Có tham ái, sân khuể,
ngu si là tâm chẳng thanh tịnh. Nếu tâm thanh tịnh,
tự nhiên chẳng có tham, sân, si, phiền não ma. Niệm
A Di Đà Phật, nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ, tâm bèn
thanh tịnh thì mới có thể phá phiền não ma.
3) Tử ma:
Cũng là
đối
với người tu hành mà nói. Dù quý vị rất dụng công tu
hành, tinh tấn chẳng biếng nhác, nhưng phiền não khó
đoạn, phá Sở Tri Chướng cũng khó, công phu vẫn chưa
đắc lực, kinh điển vẫn chưa niệm xong, thọ mạng đã
hết. Chết đi, lại phải luân hồi. Dù quý vị làm toàn
việc tốt, chẳng phạm tội, đời sau được làm người, do
mê nơi cách ấm nên phải học Phật pháp lại từ đầu.
Tử ma rất đáng sợ,
chỉ có niệm Phật mới có thể đối phó tử ma. Nhất tâm
xưng niệm, nhất tâm cầu sanh, tương lai vãng sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới, là
đi
ngay trong lúc sống, chẳng phải chết rồi mới đi. Lúc
đi, mắt được thấy, tai được nghe, mũi vẫn thở, miệng
còn nói năng được, bảo với mọi người:
"A Di Đà Phật đến đón rồi, tôi
theo Ngài đi đây, tạ từ giã biệt mọi người".
Đi trong lúc sống là vậy đó. Vãng sanh thế giới Cực
Lạc chẳng chết, tử ma tránh xa.
4) Thiên ma:
Ba thứ ma kể trên đều
là ma nơi bản thân, chỉ có thiên ma là ở ngoài. Yêu
ma, quỷ quái bên ngoài đến chướng ngại ta, gây phiền
não cho ta. Nếu chúng tìm đến ta tức là trong tâm ta
ắt có nội gian lôi kéo chúng nó nên chúng nó mới có
sức. Trong tâm ta chẳng có nội gian, dù thiên ma sức
lớn đến đâu cũng không cách gì xâm nhập được, chúng
chẳng làm gì được hết. Nội gian chính là phiền não
của chúng ta! Tôi gặp rất nhiều người bị ma dựa, yêu
ma quỷ quái nhập thân, đau khổ vô cùng, tinh thần
suy sụp, thường nghe có tiếng người nói, hoặc thấy
hình tướng hiện ra, cả ngày lẫn đ
êm
đều chẳng yên ổn.
Ở Cựu Kim Sơn (San
Francisco) có một nam đồng tu đến bảo tôi ông ta bị
ma dựa đã hơn một năm, thỉnh rất nhiều pháp sư đến
đuổi ma, đều không làm gì được. Tôi hỏi:
- Có phải anh rất
thích thần thông hay chăng?
Anh ta nói:
- Thưa đúng, con
thích lắm.
Tôi nói:
- Có gì lạ đâu! Ưa
thích thần thông chính là nội gian dẫn ma đến. Chính
anh dẫn ma đến, người khác không cách gì đuổi nổi!
Từ giờ trở đi, phải trừ sạch ý niệm thần thông cảm
ứng đi, đừng nghĩ đến nó nữa, thành tâm thành ý niệm
Phật, ma ắt phải đi. Vì anh chẳng yêu mến chúng nó
nữa, chẳng thích chúng nó nữa, tự nhiên chúng phải
đi.
Phàm ai bị ma dựa,
tâm nhất định chẳng thanh tịnh. Quý vị tu cái tâm
thanh tịnh, ma không cách gì bén mảng được, tự nhiên
phải bỏ đi. Tâm thanh tịnh được chư Phật, Bồ Tát hộ
niệm, được thiện thần hộ pháp bảo vệ, ma phải bỏ đi;
thiên ma chẳng thể xâm phạm.
"Được giải thoát nơi đường thế gian": Trong
thế gian này tu tâm, tu nhân, chứng quả, thuận gió
căng buồm, chẳng có chướng ngại, đạt đến tự tại.
"Ví như hoa sen chẳng dính nước, cũng như nhật,
nguyệt chẳng dừng không": Hai câu này là hai
câu nổi tiếng của kinh Hoa Nghiêm, cổ đại đức khi
chú giải kinh điển thường trích dẫn. Hai câu này là
nói tỷ dụ nhằm dạy chúng ta cách tu tâm thanh tịnh.
Ví như hoa sen chẳng dính nước: hãy xem hoa sen,
nghĩ đến hoa sen, tâm chúng ta cũng phải thanh tịnh
giống như hoa sen. Rễ hoa sen sanh trưởng trong bùn
nhơ nơi đáy ao, cọng ngập trong nước, hoa vươn lên
khỏi mặt nước.
Phật ví bùn như lục
đạo (lục phàm), là nhiễm ô. Nước ví như bốn pháp
giới (tứ thánh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát,
Phật), là thanh tịnh. Hoa nở trên mặt nước tức là
chẳng nhiễm lục phàm, tứ thánh cũng chẳng nhiễm. Nói
cách khác, pháp thế gian chẳng nhiễm, Phật pháp cũng
chẳng nhiễm. Kinh Kim Cang nói:
"Pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp?" Phật
pháp chúng ta tạm thời dùng, thành tựu rồi Phật pháp
cũng bỏ luôn. Giống như mắc bệnh uống thuốc, bệnh
lành, uống thuốc làm chi nữa?
Dùng hoa sen để diễn
tả pháp, phải vượt khỏi lục phàm tứ thánh. Lục phàm
tứ thánh đều phải vượt thoát hết, đó là cảnh giới
nào vậy? Bất đắc dĩ phải gọi là Nhất Chân Pháp Giới.
Mười pháp giới là giả, chỉ có Nhất Chân Pháp Giới là
thật. Nhất là nhất tâm. Tịnh Độ Tông hay ở chỗ trực
tiếp tu nhất tâm bất loạn, dùng một câu Phật hiệu,
đấy là phương pháp, đấy là thủ đoạn, mục đích nhằm
đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn. Đạt đến Nhất Tâm tức là
Nhất Chân Pháp Giới, là siêu việt lục phàm tứ thánh
vậy.
Cũng như mặt trời,
mặt trăng chẳng dừng trên hư không: Nhật, nguyệt vận
hành trên không trung, nó chẳng ngưng lại! Chẳng
ngưng thì chẳng bị trở ngại. Đấy là
điều
đức Phật dạy chúng ta: Đối với hết thảy pháp thế
gian hay xuất thế gian đều chẳng nên chấp trước. Trụ
là chấp trước, tức là trong tâm quý vị có cái gì đó,
quý vị nghĩ đến nó chính là
"trước" (dính mắc).
Trong Thiền Tông, nếu
trong tâm có mảy may chấp trước nào bèn là sai, bởi
thế, Thiền Tông khó tu. Tịnh Tông dạy quý vị chấp
trước vào A Di Đà Phật, buông bỏ những chấp trước
khác, dùng chấp trước này thay thế cho tất cả hết
thảy chấp trước khác. Tâm chẳng chấp trước rất khó,
bởi thế dạy quý vị chấp trước A Di Đà Phật (Phật
hiệu). Niệm đến khi đại khai viên giải, niệm đến lúc
đại triệt đại ngộ, A Di Đà Phật cũng chẳng cần đến
nữa, bởi lẽ bệnh lành rồi, cần chi đến thuốc nữa!
Bậc Sơ Trụ Bồ Tát
trong Viên Giáo dùng phương pháp Niệm Phật phá một
phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, bèn đại khai
viên giải, đại triệt đại ngộ, đạt được Lý Nhất Tâm
Bất Loạn. Vô minh có bốn mươi mốt phẩm, quý vị chỉ
mới phá được một phẩm, bệnh tuy lành nhưng bệnh căn
(gốc bệnh) chưa trừ. Nói cách khác, tuy không cần
uống thuốc nhưng vẫn cần điều dưỡng. Để điều dưỡng
thì vẫn dùng một câu Phật hiệu! Câu Phật hiệu ấy lại
phá những phần vô minh kế tiếp, mãi cho đến khi
thành Phật. Lúc đó, hoàn toàn dứt sạch gốc bệnh rồi,
khôi phục sức khỏe rồi, đương nhiên chẳng cần đến
Phật hiệu nữa; nhưng vẫn chẳng vứt bỏ Phật hiệu, vẫn
tiếp tục niệm Phật, đó là
đại
từ đại bi niệm cho chúng sanh thấy.
Phật nào cũng niệm A
Di Đà Phật, nên chúng ta phải niệm A Di Đà Phật.
Phật niệm A Di Đà Phật để hóa độ chúng sanh, làm
gương cho chúng sanh thấy. Trong Di Đà Yếu Giải, đại
sư Ngẫu Ích viết:
"Thích Ca Mâu Ni Phật do niệm
A Di Đà Phật mà thành Phật". Đối với hết thảy
pháp, người học Phật chẳng nên chấp trước; nhưng
chúng ta nghiệp chướng tập khí rất nặng, chẳng chấp
trước mọi thứ thì chúng ta chưa làm được. Bởi thế,
phương pháp của Tịnh Tông hay ở chỗ dạy quý vị chấp
trì danh hiệu, quý vị chấp trước vào một câu Phật
hiệu, dốc tâm vào một chỗ, ngoại trừ danh hiệu ra,
hết thảy thứ gì khác đều chẳng chấp trước.
1.10.3. Nguyện
thành thục chúng sanh
Chánh kinh:
Tất trừ nhất thiết ác
đạo khổ,
Đẳng dữ nhất thiết
quần sanh lạc,
Như thị kinh ư sát
trần kiếp,
Thập phương lợi ích
hằng vô tận,
Ngã thường tùy thuận
chư chúng sanh,
Tận ư vị lai nhất
thiết kiếp,
Hằng tu Phổ Hiền
quảng đại hạnh,
Viên mãn vô thượng
đại Bồ Đề.
Thảy trừ hết thảy
khổ ác đạo,
Bình đẳng ban vui hết
thảy loài,
Trải qua sát trần
kiếp như thế,
Luôn lợi ích mười
phương vô tận,
Tôi thường tùy thuận
các chúng sanh,
Đến tận hết thảy kiếp
vị lai,
Luôn tu hạnh Phổ Hiền
rộng lớn,
Viên mãn đại Bồ Đề vô
thượng.
Sau khi chính mình đã
thành tựu, nhất định phải tận tâm tận lực giúp đỡ
người khác, lợi ích hết thảy chúng sanh. Giúp đỡ
người khác chính là công đức chân chánh, là phước
báo chân chánh. Đem tiền của giúp đỡ người khác, của
cải chúng ta cuồn cuộn kéo đến, vĩnh viễn dùng chẳng
hết. Bố thí pháp được thông minh trí huệ, bố thí Vô
Úy được mạnh khỏe trường thọ. Tu nhân nhất định phải
được quả báo. Thiện có thiện báo, ác có ác báo. Thế
gian chỉ là một cuộc nhân quả tuần hoàn lớn lao mà
thôi.
Tu phước đức chẳng
bằng tu công đức, trong công đức tự nhiên có phước
đức, trong phước đức chưa chắc có công đức. Chỉ tu
quả báo phước đức, đa số thường rất ngu si, có phước
nhưng chẳng có trí huệ chân chánh. Hưởng hết phước
rồi, vì kẻ đó không có trí huệ chân chánh, làm việc
gì cũng bị thiếu sót, cũng lầm lỗi, chẳng khỏi bị
luân hồi, chẳng khỏi đọa tam đồ, đó là chuyện rất
đáng sợ. Những nơi lạc hậu trong thế gian này, đời
sống vật chất khổ sở phi thường, như nhiều nơi ở Phi
Châu không có cơm ăn, không có áo mặc, thật đáng cho
người ta thương xót bi cảm. Chúng ta có nhiều tiền
dư hãy lấy ra chút ít giúp đỡ họ. Trong hết thảy
công đức, công đức dạy dỗ rất lớn. Chẳng hạn như
Thích Ca Mâu Ni Phật và Khổng Tử, không ai chẳng tôn
kính.
1.10.4. Nguyện
chẳng lìa
Chánh kinh:
Sở hữu dữ ngã đồng
hạnh giả,
Ư nhất thiết xứ đồng
tập hội,
Thân, khẩu, ý nghiệp
giai đồng đẳng,
Nhất thiết hạnh
nguyện đồng tu học.
Sở hữu ích ngã thiện
tri thức,
Vị ngã hiển thị Phổ
Hiền hạnh,
Thường nguyện dữ ngã
đồng tập hội,
Ư ngã thường sanh
hoan hỷ tâm.
Tất cả ai đồng
hạnh với tôi,
Trong hết thảy nơi
cùng nhóm họp,
Nghiệp thân, miệng, ý
đều giống nhau,
Cùng chung tu học mọi
hạnh nguyện.
Mọi thiện tri thức
lợi ích tôi,
Vì tôi chỉ bày hạnh
Phổ Hiền,
Thường nguyện cùng
tôi chung nhóm họp,
Thường sanh tâm hoan
hỷ với tôi)
Chẳng lìa chư Phật,
chẳng lìa thiện tri thức. Thiện tri thức là những
người cùng tu hành với mình. Đại chúng cùng tu một
nơi, nhất định phải nhờ vào Lục Hòa Kính. Lục Hòa
Kính:
1) Kiến hòa đồng
giải:
Kiến giải tương đồng.
Cùng ưa thích một bộ kinh, cùng thích một bản chú
giải, cùng thích một phương pháp tu hành như nhau;
chí đồng đạo hợp. Đó là cơ sở để cùng chung tu hành.
2) Giới hòa đồng
tu:
Tuân thủ phép tắc,
cùng nhau tuân thủ những quy định, quy củ đã đặt ra.
3) Thân hòa đồng
trụ:
Cùng sống chung một
đạo tràng, cùng nghỉ ngủ một nơi, sửa đổi những tập
quán xấu; cùng nhau nghiên cứu thảo luận những vấn
đề đã học.
4) Khẩu hòa vô
tránh:
Mọi người cùng tu
dưỡng tinh thần nhường nhịn, chẳng cần phải tranh
chấp. Có ý kiến bất đồng bèn từ từ giải quyết.
5) Ý hòa đồng
duyệt:
Những người ở chung
một chỗ, mỗi một cá nhân pháp hỷ sung mãn, nhân vì
học vấn, đức hạnh ngày càng tiến bộ, tập khí phiền
não ngày một giảm thiểu.
6) Lợi hòa đồng
quân:
Bình đẳng thọ hưởng
cuộc sống vật chất, của cải, lợi ích đều chia đều.
Gia đình tu Lục Hòa Kính nhất định hưng vượng. Công
ty, cửa tiệm, tiệm buôn, những nhà chế tạo nổi tiếng
nếu đối xử với nhân viên bằng Lục Hòa Kính thì sự
nghiệp nhất định phát triển, khuếch trương.
1.10.5. Nguyện
cúng dường
Chánh kinh:
Nguyện thường diện
kiến chư Như Lai,
Cập chư Phật tử chúng
vi nhiễu,
Ư bỉ giai hưng quảng
đại cúng,
Tận vị lai kiếp vô bì
yểm,
Nguyện trì chư Phật
vi diệu pháp,
Quang hiển nhất thiết
Bồ Tát hạnh,
Cứu cánh thanh tịnh
Phổ Hiền đạo,
Tận vị lai kiếp
thường tu tập.
Nguyện thường gặp
gỡ các Như Lai,
Cùng chúng Phật tử
vây quanh Phật,
Thảy đều khởi cúng
dường rộng lớn (9),
Hết kiếp vị lai chẳng
chán mệt.
Nguyện trì diệu pháp
của chư Phật,
Rạng rỡ hết thảy hạnh
Bồ Tát,
Rốt ráo thanh tịnh
đạo Phổ Hiền,
Hết vị lai kiếp
thường tu tập.
"Nguyện thường gặp gỡ các Như Lai, cùng chúng Phật
tử vây quanh Phật": Phật tử là Bồ Tát. Chư
Phật, Bồ Tát thời thời khắc khắc hiện diện trước
chúng ta, vây quanh chúng ta. Quý vị phải biết như
thế! Biết rồi, phải gieo phước.
"Thảy đều khởi cúng dường rộng lớn": Câu này
là trọng tâm của bài kệ. Rộng tu cúng dường là gieo
phước. Trong các cách cúng dường, tối khẩn yếu là
pháp cúng dường. Hết thảy các sự cúng dường bằng tài
vật chẳng bằng được pháp cúng dường. Trong các pháp
cúng dường, trọng yếu nhất là cúng dường bằng cách
tu hành. Thấy người lành, bắt chước họ học pháp
lành, thấy kẻ ác bèn tự cảnh tỉnh, đó gọi là cúng
dường, là chân chánh cúng dường. Trong cảnh giới tu
tâm thanh tịnh, trong cảnh giới đoạn ác tu thiện.
Thật ra, toàn bộ pháp
tu hành nói gọn lại chỉ có tám chữ: thành kính,
thanh tịnh, bình đẳng, từ bi. Đối với người lành,
chân thành cung kính, đối với người ác cũng chân
thành cung kính. Nếu cung kính người thiện, chán
ghét người ác thì quý vị chẳng cúng dường, chẳng tu
hành!
"Hết kiếp vị lai chẳng chán mệt": Tâm lớn
lao, không chán mệt. Tâm không giới hạn là lớn. Giới
hạn là phân biệt; chẳng phân biệt tâm bèn lớn. Tận
hư không giới, khắp pháp giới đều là nhất tâm. Phân
biệt, chấp trước, vọng tưởng khiến cái tâm rộng lớn
của chúng ta biến thành nhỏ hẹp. Hai người ở cùng
một chỗ chẳng chịu đựng nổi nhau là vì tự vạch một
giới hạn giữa họ. Bỏ cái giới hạn đó đi thì tận hư
không trọn pháp giới vốn chỉ là chính ta đó thôi.
Kinh dạy:
"Nên quán tánh pháp giới, hết
thảy chỉ là tâm tạo". Tận hư không trọn pháp
giới, y báo, chánh báo trang nghiêm, chỉ do tâm
hiện, chỉ do thức biến. Tâm tánh chính là bản lai
diện mục của chính mình, là bản thể tự ta sẵn có,
bởi thế tột cùng kiếp vị lai chẳng hề chán mệt.
"Nguyện trì diệu pháp của chư Phật": Tình và
vô tình đều là chư Phật. Mỗi một đức Phật đều thị
hiện vi diệu pháp. Đèn cầy tỏa sáng, dần dần cháy
hết từng chút một, đó là vi diệu pháp của nó. Bàn,
ghế sắp xếp ở đây hết sức tề chỉnh để quý vị thư thả
ngồi nghe kinh, đó là vi diệu pháp của nó. Hết thảy
chúng sanh ngồi ở đây, tỏ vẻ mừng giận, buồn vui sai
khác, đấy là vi diệu pháp của họ. Làm thế nào dùng
pháp môn vi diệu của chư Phật để mở bày vô lượng trí
huệ của chúng ta, biến thành thiền định rất sâu của
chúng ta, đấy là
"nguyện trì". Trong lúc
lục căn tiếp xúc với cảnh giới lục trần, thành tựu
vô lượng trí huệ, thành tựu thiền định rất sâu.
"Quang hiển nhất
thiết Bồ Tát hạnh (rạng rỡ hết thảy hạnh Bồ Tát):
Quang là trí quang Bát Nhã. Hiển là sáng rỡ thấu lộ
ra ngoài, chẳng ẩn giấu.
Nói cách khác là khởi
tác dụng. Bồ Tát hạnh: Thân, ngữ, ý, hành vi ba
nghiệp đều là giác chẳng mê.
"Rốt ráo thanh tịnh đạo Phổ Hiền": Đạo Phổ
Hiền rốt ráo là công đức thù thắng. Phổ Hiền có các
địa vị: Vị tiền Phổ Hiền, đương vị Phổ Hiền, và
đạo
hậu Phổ Hiền. Ở đây là
đương
vị Phổ Hiền, tức Đẳng Giác Bồ Tát. Nhà Phật tu học
chỉ là tu cái tâm thanh tịnh đó thôi. Tâm thanh tịnh
là nhất tâm bất loạn, tâm thanh tịnh là Thiền. Tâm
thanh tịnh, thân bèn thanh tịnh, thân thanh tịnh thì
cảnh giới bên ngoài không gì chẳng thanh tịnh, đó là
tịnh độ. Kinh dạy: "Tâm tịnh
thì cõi nước tịnh" và
"cảnh theo tâm chuyển" chẳng sai! Muốn tâm
được thanh tịnh thì ngoài chí thành ra còn phải bình
đẳng; chẳng bình đẳng nhất định chẳng thể thanh tịnh
được. Chẳng phân biệt, chấp trước là bình đẳng. Muốn
tu tâm bình đẳng thì phải tu tâm từ bi; tâm từ bi
dùng để khảo nghiệm sự thanh tịnh bình đẳng của quý
vị. Quý vị có từ bi thì mới có thể tiếp xúc hết thảy
mọi người, sự vật. Trong hết thảy người, hết thảy
sự, hết thảy vật, tu tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng,
dùng mọi sự để luyện tâm; nếu thật sự thanh tịnh,
công phu thành tựu thì gọi là Phổ Hiền Bồ Tát. Lại
bỏ sạch một niệm sanh tướng vô minh đi thì gọi là
"rốt ráo thanh tịnh".
Đấy là mục tiêu tu hành cùng cực của chúng ta, đó
cũng là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
"Hết vị lai kiếp thường tu tập": Câu này nói
sau cùng, ý nghĩa rất rộng sâu. Đã đạt đến rốt ráo,
rốt ráo là viên mãn. Đã viên mãn rồi sao lại phải
thường tu tập? Viên mãn rồi lại phải phát tâm thường
tu tập; đó gọi là
đại
từ đại bi, làm gương cho người khác, giúp người chưa
viên mãn; đó gọi là
đạo
hậu Phổ Hiền.
Đã thành Phật, trở
lại địa vị Bồ Tát thì gọi là
"thả chiếc bè từ", cũng có những vị Bồ Tát
hiện diện quanh các vị. Bồ Tát không có tướng nhất
định, tùy loại hóa thân. Quý vị dùng tâm thanh tịnh
nhìn hết thảy chúng sanh thì mỗi một chúng sanh đều
như Phật, Bồ Tát. Bởi vậy, Phật, Bồ Tát ở quanh
chúng ta, Phật, Bồ Tát vốn chẳng lìa chúng ta, nhưng
chính chúng ta chẳng nhận biết. Chư Phật, Bồ Tát thị
hiện, tu học Giác - Chánh - Tịnh.
Lược Giảng Giáo Nghĩa
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, phần 3 hết
(1) Bảy báu thượng
diệu: tức là vàng, bạc, san hô (một thứ báu màu
hồng, lấy từ biển), xa cừ (một thứ báu giống như
bạch ngọc, có nhiều vằn, giống như căm xe tỏa ra),
mã não (một thứ báu màu hồng nhạt, hình dạng giống
như óc con ngựa), xích châu (ngọc trai màu đỏ),
ma-ni (còn dịch là Như Ý Châu, một loại ngọc quý
sáng chói, trong suốt, tương truyền có tác dụng lắng
trong nước đục, lấy từ Long Cung hoặc từ khối mỡ
trên đầu cá Ma Kiệt. Theo truyền thuyết, Như Ý Châu
có thể mưa ra các thứ báu tùy lòng mong muốn. Ma
Kiệt là một loại cá rất lớn, có con dài đến mười bảy
do-tuần). Nói thất bảo cũng chỉ là ước lệ, nêu lên
những thứ được coi là quý nhất, chứ các bảo vật dùng
để cúng dường không chỉ hạn lượng trong mấy món này.
(2) Nhìn vào sách mà
niệm là Đọc, không nhìn vào sách mà niệm là Tụng.
(3) Vô Gián có nghĩa
là không dừng nghỉ, không gián đoạn. Ngũ Vô Gián tức
là A Tỳ Địa Ngục, một loại địa ngục dành cho người
phạm tội cực nặng. Gọi là năm thứ vô gián vì:
1. Thời vô gián:
Chúng sanh trong địa ngục ấy suốt ngày suốt đ
êm
chịu đựng hình phạt trải qua không biết bao nhiêu
kiếp số, không lúc nào tạm ngừng.
2. Hình vô gián: Hình
tức là thân hình. Trong địa ngục này bốn phía có
tường bằng sắt vây quanh, dài một vạn tám ngàn dặm,
cao một ngàn dặm, khoảng giữa lửa bốc cháy hừng hực,
chỉ có một cái giường sắt, kích thước mỗi bề một vạn
dặm, một người thọ phạt thấy thân mình nằm chật
giường ấy, ngàn vạn người thọ tội ai nấy thấy thân
mình đầy chật giường ấy, không khác gì nhau.
3. Thọ khổ vô gián:
trong địa ngục, các tên gọi hình phạt, các thứ khí
cụ để trừng phạt, như núi đao, rừng gươm, vạch than,
chảo dầu mỗi thứ mình đều phải lần lượt nếm mùi,
liên tiếp không gián đoạn.
4. Thú quả vô gián ("thú"
có nghĩa là tiến đến, "thú
quả" nghĩa là lúc sống tạo nghiệp gì, lúc
chết sẽ chịu quả đó). Bất luận nam nữ già trẻ, giàu
nghèo, sang hèn, cũng chẳng cần biết là thiên thần
hay địa quỷ, hễ vào địa ngục đều phải chịu mọi thứ
khổ báo.
5. Mạng vô gián: tội
nhân sa vào địa ngục này, phải thọ tội cả trăm kiếp,
ngàn kiếp, vạn kiếp, mỗi một ngày sống đi chết lại
vạn lần.
(4) Cưu Bàn Trà, dịch
là Thủ Cung Thần (thần giữ cung điện), hình dáng xấu
ác. Tỳ Xá Xà là quỷ ăn tinh khí, chuyên hút lấy tinh
khí nơi thân người, là một trong những loài ngạ quỷ.
Bộ Đa (dịch là Đại Thân hay Tự Sanh), cũng là một
loài quỷ thích ăn thịt, uống máu người, là loại quỷ
độc ác nhất.
(5) Phụ tướng: phụ là
giúp đỡ, hộ trì. Phụ Tướng là các quan thân cận giúp
nhà vua cai trị, xử lý sự vụ triều chánh.
(6) Bồ Đề Đạo Tràng:
nơi đức Phật thành Phật, như đức Phật Thích Ca ngồi
dưới gốc cây Tất Bát La (Pipala) thiền định chứng
đạo, nên cây ấy có tên là cây Bồ Đề.
(7) Kệ gọi đủ là kệ
tụng. Tụng có nghĩa là ca ngợi, xưng tụng. Có tám
loại kệ tụng:
1. Cô Khởi: bài kệ
độc lập, không nhắc lại ý nghĩa đã giảng trong kinh
văn.
2. Trùng Tụng: nhắc
lại những ý nghĩa đã giảng trong phần trường hàng.
3. Phức Tụng: Trước
khi giảng, hoặc khi giảng khá sâu rồi, có những
thính chúng chưa thể hiểu rõ, bèn dùng kệ tụng nói
nghĩa hơi cạn một chút để người nghe lãnh hội.
4. Quảng Tụng: Dùng
kệ tụng để giảng rộng thêm ý nghĩa đã nói trong phần
Trường Hàng.
5. Lược Tụng: Nhắc sơ
lược lại những ý đã giảng thật chi tiết trong phần
Trường Hàng.
6. Kết Tụng: Dùng kệ
tụng kết thúc lại một đoạn kinh văn để người nghe dễ
ghi nhớ.
7. Siêu Tụng: phần kệ
tụng được nói trước khi giảng.
8. Truy Tụng: phần kệ
tụng tiếp theo ngay phần Trường Hàng. Ý nghĩa có thể
liên quan hay không liên quan đến phần Trường Hàng.
Nếu nói rộng, các loại tụng kể trên ngoại trừ Cô
Khởi và Siêu Tụng đều là Truy Tụng cả.
(8) Sát trần: bụi
trong một cõi Phật, tức là
đem
một cõi Phật nghiền nát thành bụi, số bụi đó gọi là
"sát trần".
(9) Cúng dường rộng
lớn: Cúng dường rộng lớn vì gồm đủ sáu điều:
1. Tâm lớn: Người
cúng dường chư Phật, phát nguyện tâm cúng dường chư
Phật rất lớn, thường cúng dường chẳng gián đoạn, tâm
vĩnh viễn chẳng mệt mỏi, chán nản.
2. Vật phẩm cúng
dường lớn: Tài cúng dường, pháp cúng dường, hết thảy
đều rất hoàn bị.
3. Phước điền lớn.
4. Nhiếp thủ công đức
thù thắng của mười nguyện vương Phổ Hiền rất to lớn.
5. Nhân lớn: Nhân tu
hành của Bồ Tát thanh tịnh vì cúng dường để tu Phật
đạo. Bởi thế kết thành quả Bồ Đề cũng rất thanh
tịnh.
6. Thời lớn: Luôn
cúng dường chẳng ngừng nghỉ, đến tận vị lai kiếp
không ngừng nghỉ.
1.10.6. Nguyện lợi
ích
Chánh kinh:
Ngã ư nhất thiết chư
hữu trung,
Sở tu phước trí hằng
vô tận,
Định, huệ, phương
tiện cập giải thoát,
Hoạch chư vô tận công
đức tạng,
Nhất trần trung hữu
trần số sát,
Nhất nhất sát hữu nan
tư Phật,
Nhất nhất Phật xử
chúng hội trung,
Ngã kiến hằng diễn Bồ
Đề hạnh.
Tôi ở trong hết
thảy các cõi (1),
Tu tập phước trí hằng
vô tận,
Định, huệ, phương
tiện và giải thoát,
Được vô tận các kho
công đức,
Trong mỗi trần có
trần số cõi,
Mỗi một cõi có nan tư
Phật,
Mỗi một đức Phật ngự
chúng hội,
Tôi thấy thường diễn
hạnh Bồ Đề.
Năm đoạn đầu thiên
trọng tự học, thành tựu chính mình. Trong nguyện
này, mình đã thành tựu rồi thì phải giúp đỡ người
khác giống như chư Phật, Bồ Tát. Tự mình đã tu
thành, không còn việc gì nữa thì phải giúp đỡ người
khác sao cho họ cũng không còn có việc gì nữa. Phật,
Bồ Tát một ngày từ sáng đến tối bận suốt, nhưng cũng
chẳng vui lắm ư! Vô sự mà bận, bận nhưng vô sự, tự
tại thay! Khoái lạc khôn sánh! Chúng sanh bận bịu vì
hữu sự, vì hữu sự nên bận, bởi thế bù
đầu
héo mặt, chẳng được tự tại, khổ chẳng thể nói!
"Tôi ở trong hết thảy các cõi": Chữ
"nhất thiết hữu" (hết thảy cõi) chỉ tam giới
lục đạo. Có nghiệp nhân đương nhiên có quả báo. Các
Hữu là cảnh giới phàm phu, chẳng phải là cảnh giới
của thánh nhân. Câu này ý nói: Thả bè từ trong tam
giới lục đạo để độ chúng sanh. Độ là phục vụ, giúp
đỡ. Giúp đỡ hết thảy chúng sanh, vì hết thảy chúng
sanh phục vụ, thì gọi là "độ
chúng sanh".
"Tu tập phước trí hằng vô tận": Câu này nói
đến sự tu học trong quá khứ, luôn tu vô tận phước
trí. Vô tận công đức do trí huệ sanh ra. Định là
phước, do Định mà có phước. Tâm chẳng định, chẳng có
phước. Người niệm Phật tu nhất tâm bất loạn, nhất
tâm bất loạn chính là phước báo lớn nhất; làm chủ
được nhân sanh vũ trụ, đó là
đại
phước, vô lượng phước. Trên thực tế, lợi ích chúng
sanh cũng chính là lợi ích chính mình, đúng là
"người dạy cùng kẻ học cùng
phát triển". Quý vị nhất định phải phát tâm
hoằng pháp lợi sanh, việc đó có vô tận công đức đối
với sự tu học phước huệ của chính quý vị.
Câu
"định, huệ, phương tiện và giải thoát": nói
đến sự phát khởi tác dụng của phước huệ. Quyền trí
là ứng dụng trí huệ vào sanh hoạt thường nhật, vào
sự đãi người, tiếp vật, đó gọi là
"phương tiện giải thoát". Giải thoát là tự
tại.
"Được vô tận các kho công đức": Ba câu trước
nói về tu nhân, câu này luận về quả báo. Người đó tu
học đúng là có thâu hoạch, cái thâu hoạch được là vô
tận công đức. Tạng là tỷ dụ, giống như kho báu. Nói
một cách cụ thể,
"công đức tạng" là trí
huệ vô tận, đức năng vô tận, tài nghệ vô tận, phú
quý vô tận. Thứ nào cũng đều chân thật, đều là
đạt
được ngay trong một đời. Y báo, chánh báo trang
nghiêm nơi thế giới Cực Lạc cũng hiển hiện trong vô
tận công đức tạng, tuyệt đối chẳng phải giả.
"Trong mỗi trần có trần số cõi": Một Phật sát
là một đại thiên thế giới. Trong một hạt vi trần có
vi trần số đại thiên thế giới. Kinh Hoa Nghiêm dạy:
Đó là cảnh giới một và nhiều chẳng trở ngại lẫn
nhau, cũng là cảnh giới sự sự vô ngại. Trong lớn
hiện nhỏ, chúng ta hiểu được; nhưng trong nhỏ hiện
lớn, chúng ta không cách gì hiểu được. Muốn dùng tỷ
dụ để diễn tả tìm chẳng ra tỷ dụ, nhưng đó là sự
thật.
"Mỗi một cõi có nan tư Phật":
"Nan tư"
(không thể nghĩ tưởng) là chẳng thể nghĩ bàn. Trong
mỗi một cõi có vô lượng vô biên Phật.
"Mỗi một đức Phật ngự chúng hội": Mỗi một đức
Phật trong lúc thuyết pháp giáo hóa độ sanh có vô
lượng vô biên hải hội Bồ Tát vây quanh. Trong mỗi
một hạt vi trần đúng là mầu nhiệm chẳng thể nghĩ
bàn.
"Tôi thấy thường diễn hạnh Bồ Đề": Ngài trông
thấy, Ngài nhập cảnh giới đó,
"diễn" là biểu diễn. Ngài cũng vào trong các
chúng hội ấy, cũng thị hiện tu Phổ Hiền hạnh, giúp
Phật giáo hóa. Đó là quyền trí phương tiện giải
thoát hạnh, cảnh giới ấy tối thiểu phải là bậc Bồ
Tát Sơ Trụ trong Viên Giáo mới có thể làm nổi. Từ
bậc Sơ Trụ trở lên trong Viên Giáo chính là người
niệm Phật đạt đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn, nói nghiêm
túc thì phải là Bát Địa Bồ Tát mới có thể thật sự
chứng nhập cảnh giới này. Phật tuyệt đối chẳng nói
dối, chúng ta dù là sơ học, đọc đến câu này vẫn phải
bắt chước. Chỉ cần thấy nơi nào có đại chúng tụ tập,
chẳng cần biết quý vị hiểu được bao nhiêu, cũng phải
giảng cho mọi người đôi chút để cùng tu học pháp
Giác - Chánh - Tịnh, thuyết minh công đức lợi ích
của lễ kính, tán thán cho đến hồi hướng, tự lợi, lợi
người. Hiện thời chúng ta có thể tu học cái nguyện
lợi ích này như thế đó.
1.10.7 Nguyện
chuyển pháp luân
Chánh kinh:
Phổ tận thập phương
chư sát hải,
Nhất nhất mao đoan
tam thế hải,
Phật hải cập dữ quốc
độ hải,
Ngã biến tu hành kinh
kiếp hải,
Nhất thiết Như Lai
ngữ thanh tịnh,
Nhất ngôn cụ chúng âm
thanh hải,
Tùy chư chúng sanh ý
nhạo âm,
Nhất nhất lưu Phật
biện tài hải,
Tam thế nhất thiết
chư Như Lai,
Ư bỉ vô tận ngữ ngôn
hải,
Hằng chuyển lý thú
diệu pháp luân,
Ngã thâm trí lực phổ
năng nhập.
Khắp tận mười
phương biển các cõi,
Mỗi đầu lông có biển
ba đời,
Biển Phật và biển các
cõi nước,
Tôi tu hành khắp suốt
biển kiếp,
Hết thảy Như Lai ngữ
thanh tịnh,
Một lời trọn đủ biển
âm thanh,
Thuận theo tiếng
chúng sanh ưa thích,
Mỗi âm sanh biển Phật
biện tài,
Ba đời hết thảy các
Như Lai,
Trong biển ngôn ngữ
vô tận kia,
Hằng chuyển lý thú
diệu pháp luân,
Sức trí sâu tôi đều
nhập được.
Chuyển pháp luân là giáo học. Bài kệ thứ
nhất nói về những nơi chuyển pháp luân. Những nơi để
chuyển pháp luân có thể nói là vượt ngoài tận hư
không trọn pháp giới.
"Khắp tận mười phương biển các cõi": trước
hết nói đến đại thế giới.
"Mỗi đầu lông có biển ba đời": cũng có nghĩa
giống như trong một vi trần bao gồm tam thiên đại
thiên thế giới ở phần trên.
"Biển Phật và biển các cõi nước": Phật hải
tiêu biểu cho hữu tình (hữu tình thế gian), quốc độ
hải tượng trưng cho vô tình (khí thế gian). Chín
pháp giới là hữu tình thế gian, các vị Phật của Tạng
Giáo, Thông Giáo, Biệt Giáo cũng là hữu tình thế
gian, chỉ có Phật thuộc Viên Giáo mới không là hữu
tình thế gian.
"Ngã biến tu hành kinh kiếp hải" (tôi tu hành
khắp suốt biển kiếp):
"Ngã biến" là
"biến nhất thiết xứ"
(trọn khắp hết thảy nơi),
"Kinh kiếp": thời gian dài lâu, suốt hết thảy
thời; hết thảy xứ, hết thảy thời đều tu hành. Mê tà
nhiễm là bệnh, là lầm lạc. Tu hành là sửa đổi những
hành vi sai trái. Giác - Chánh - Tịnh là tiêu chuẩn
để chúng ta tu hành.
Trong bài kệ thứ hai,
Phật pháp thù thắng vì nó viên dung, đúng là chẳng
thể nghĩ bàn, vì mỗi cá nhân mà thiết lập cách giáo
hóa, trọn chẳng dùng một phương pháp để giáo hóa hết
thảy chúng sanh. Nếu dùng một phương pháp [mà có thể
giáo hóa hết thảy chúng sanh], cần gì phải giảng tám
vạn bốn ngàn pháp môn, vô luợng pháp môn? Có thể
nói: Chỉ có một nguyên tắc bất biến, tức là Giác -
Chánh - Tịnh. Chỉ cần đạt được Giác - Chánh - Tịnh
thì giáo học bèn viên mãn, hiệu quả bèn hiện tiền.
Phương pháp chẳng phù hợp căn tánh thì công phu
luống uổng, chẳng thể thành tựu. Phật có đủ vô lượng
trí huệ, vô lượng đức năng, vô lượng biện tài, ứng
bệnh cho thuốc, Phật tiếp xúc người thuộc căn tánh
nào bèn giảng cho người ấy pháp đúng như thế ấy.
Trong bài kệ thứ ba,
"Ba đời hết thảy các Như Lai": Tam thế chư
Như Lai là quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật.
Chúng ta thấy tất cả hết thảy chúng sanh đang hiện
hữu đều là vị lai Phật. Vị lai Phật là hiện tại
Phật, là quá khứ Phật, ba đời như một, ba đời chẳng
hai. Nếu chia ba đời thành ba phần, quý vị chẳng thể
nhất tâm, chẳng thể nhập cảnh giới đó. Hiểu rõ một
chính là ba, ba chính là một, tâm quý vị bèn thanh
tịnh vì tâm quý vị chẳng có phân biệt. Có quá khứ,
hiện tại, vị lai, nhưng chẳng có phân biệt, mầu
nhiệm ở chỗ đó. Ba đời hết thảy các Như Lai hiện
diện trước chúng ta.
"Trong biển ngôn ngữ vô tận kia": Mỗi một
ngày từ sáng đến tối, quý vị nghe vô tận ngôn ngữ,
nếu nghe hiểu được, quý vị sẽ giống như Phổ Hiền Bồ
Tát.
"Hằng chuyển lý thú diệu pháp luân": Họ đều
thuyết pháp cho quý vị nghe đấy. Thuyết những pháp
nào? Dạy cho tâm địa quý vị thanh tịnh. Tất cả hết
thảy chúng sanh thảy đều nói kinh Hoa Nghiêm. Một
ngày từ sáng đến tối, toàn là nghe kinh Hoa Nghiêm,
toàn là dạy chúng ta lễ kính chư Phật, xưng tán Như
Lai, rộng tu cúng dường cho đến hồi hướng khắp tất
cả, thành kính, thanh tịnh, bình đẳng, từ bi, nhưng
quý vị nghe chẳng hiểu gì cả! Bất cứ ai đang cãi cọ,
ta cũng đều nghe như kẻ đó đang giảng kinh Hoa
Nghiêm. Nếu được như vậy, quý vị thật sự lãnh hội
được lý thú diệu pháp luân nơi đó.
"Sức trí sâu tôi đều nhập được": Phải có trí
huệ sâu mới có thể nhập được cảnh giới ấy.
1.10.8. Nguyện
Tịnh Độ
Chánh kinh:
Ngã năng thâm nhập ư
vị lai,
Tận nhất thiết kiếp
vi nhất niệm,
Tam thế sở hữu nhất
thiết kiếp,
Vi nhất niệm tế ngã
giai nhập.
Ngã ư nhất niệm kiến
tam thế,
Sở hữu nhất thiết
Nhân Sư Tử,
Diệc thường nhập Phật
cảnh giới trung,
Như huyễn giải thoát
cập oai lực.
Tôi có thể thâm
nhập vị lai,
Tột hết thảy kiếp làm
một niệm,
Tất cả hết thảy kiếp
ba đời,
Làm thành một niệm,
tôi đều nhập.
Trong một niệm tôi
thấy ba đời,
Tất cả hết thảy Nhân
Sư Tử,
Cũng thường nhập
trong cảnh giới Phật,
Như huyễn giải thoát
và oai lực.
Hai bài kệ này xem ra
chẳng ngoài ý nguyện Tịnh Độ, phải quan sát kỹ mới
hiểu được thế nào là Tịnh Độ; điều này liên quan mật
thiết đến việc niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương
của chúng ta; kinh văn quả thật gồm chứa những ý
nghĩa thanh tịnh. Bài kệ thứ nhất nói về pháp giới
tánh. Kinh Đại Thừa dạy:
"Nên quán tánh pháp giới, hết
thảy chỉ do tâm tạo". Tánh tức là bản thể;
pháp giới tánh tức là bản thể của pháp giới. Phạm vi
bao quát của pháp giới vô cùng rộng lớn; hết thảy
pháp bao hàm trong không gian và thời gian đều gọi
là pháp giới. Bài kệ thứ nhất giống như phần trên:
Cảnh giới được niệm là cảnh giới lý sự vô ngại, sự
sự vô ngại.
"Tôi có thể thâm nhập vị lai": Vị lai còn
chưa đến, do một câu này, cho thấy đương nhiên Bồ
Tát cũng có thể thâm nhập quá khứ. Nói cách khác,
quá khứ, hiện tại, vị lai vốn là một, chẳng phải là
ba. Mê thì tựa hồ có ba giai đoạn, ngộ thì chỉ một,
nhất chân mà! Kinh Kim Cang nói:
"Ba tâm bất khả đắc". Quá khứ tâm, hiện tại
tâm, vị lai tâm, ba tâm ấy bất khả đắc, tìm lấy ba
đời cũng chẳng thể được. Về tướng thì có, nhưng về
Lý thì không. Mê thì có, ngộ rồi chẳng còn có nữa.
Tiếp đó, Ngài nói thâm nhập bằng cách nào?
"Tột hết thảy kiếp làm một niệm": Vừa mới mở
đầu kinh đã giảng về Nhất Chân pháp giới, toàn là
nói về một: nhất chân, nhất âm, nhất niệm. Nhưng
pháp môn Niệm Phật đây dạy trực tiếp phải tu một
thứ, tức là tu nhất tâm bất loạn đấy! Toàn thể pháp
giới gọi là Nhất Chân, Nhất Chân pháp giới. Nhất
Chân pháp giới là Sở Nhập (đối tượng để được chứng
nhập), Nhất Tâm Bất Loạn là Năng Nhập (chủ thể thực
hiện sự chứng nhập đó). Nhất Tâm Bất Loạn là Phổ
Hiền hạnh nguyện. Phương pháp thuận tiện nhất để tu
học Phổ Hiền hạnh nguyện là niệm A Di Đà Phật. Nếu
thật sự niệm cho tốt một câu A Di Đà Phật, thì trong
một câu A Di Đà Phật đã bao gồm trọn vẹn mười đại
nguyện vương, không sót một điều nào của hạnh nguyện
Phổ Hiền. Bởi lẽ, mười đại nguyện vương dẫn về Cực
Lạc, Nhất Tâm Bất Loạn cũng là vãng sanh Cực Lạc,
chẳng khác gì nhau.
Muốn nghĩ đến vị lai,
hoặc muốn trở về quá khứ, phải dùng phương pháp nào
đây? Chỉ một niệm là
được.
Hễ "một" thì chẳng có
giới hạn, chứ hai niệm bèn có giới hạn. Hễ có giới
hạn thì không cách gì đạt được quá khứ, vị lai cả.
Tiêu trừ giới hạn thì quá khứ, vị lai, hiện tại đều
hiện tiền. Nói "thâm nhập"
vốn là dư thừa, bởi lẽ chúng đã hiện tiền rồi.
Đại Kinh nói:
"Mười pháp giới một hiện chín ẩn". Chúng ta
hiện đang sống trong nhân pháp giới (pháp giới loài
người), nhân pháp giới hiện tiền chúng ta trông thấy
rất rõ ràng, còn chín pháp giới kia chẳng thấy. Chín
pháp giới vẫn tồn tại, vì sao lại ẩn? Là vì quý vị
có giới hạn! Tiêu trừ được giới hạn thì mười pháp
giới thảy đều hiện tiền, ấy là Nhất Chân pháp giới.
Làm thế nào mới chứng
được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác? Nhất niệm bèn
chứng đắc, nhị niệm là trật rồi. Những ai tam tâm
nhị ý chính là phàm phu. Tiểu Thừa, Thanh Văn, Duyên
Giác, Quyền Giáo Bồ Tát đều dùng tam tâm nhị ý. Tam
tâm là tâm ý thức, tâm là A Lại Da thức, Ý là Mạt Na
thức, Thức là thức thứ sáu. Thanh Văn, Duyên Giác,
lục đạo phàm phu thảy đều dùng cái tâm ấy, tâm đó
gọi là vọng tâm. Nhất niệm là chân tâm.
Ai sử dụng nhất niệm?
Chính là Thật Giáo Bồ Tát, cũng như hàng Pháp Thân
đại sĩ được nói trong kinh này: trong Viên giáo thì
từ Sơ Trụ trở lên, trong Biệt Giáo thì từ Sơ Địa trở
lên đều dùng Nhất Tâm này. Dùng được chân tâm thì là
chân tu hành. Tột cùng hết thảy kiếp làm thành một
niệm, hiểu theo mặt văn tự nghĩa là kiếp và niệm
viên dung. Một kiếp thời gian dài lâu, một niệm thời
gian ngắn ngủi. Thời gian dài và thời gian ngắn là
một chứ không phải là hai, bởi thế Ngài mới có thể
nhập được quá khứ, đến được vị lai. Trên mặt thời
gian chẳng có chướng ngại, sự sự vô ngại.
"Tất cả hết thảy kiếp ba đời, làm thành một niệm,
tôi đều nhập": hết thảy kiếp quá khứ, hết
thảy kiếp hiện tại, hết thảy kiếp vị lai. Kinh Thiên
Phật Danh nói đến ba ngàn vị Phật, quá khứ một ngàn
vị Phật, hiện tại một ngàn vị Phật, vị lai một ngàn
vị Phật. Phật thuyết pháp như vậy đều là tùy thuận
chúng sanh mà phương tiện nói, bởi lẽ trong cảnh
giới của chúng sanh đúng thật là như thế. Phật
thuyết pháp chia thành hai loại lớn, Phật dùng Nhị
Đế để thuyết pháp: Chân Đế và Tục Đế. Tục Đế là tùy
thuận sự thấy biết của chúng sanh mà nói, Chân Đế là
thuận theo cảnh giới chính Ngài đã chứng để nói.
Chân, Tục chẳng hai. Ở đây hoàn toàn giảng pháp môn
Bất Nhị, cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn,
chúng ta chẳng dễ gì lãnh hội nổi.
Một và nhiều tương
tức (một tức là nhiều, nhiều tức là một), niệm và
kiếp viên dung, sự lý vô ngại, sự sự vô ngại. Đấy
vốn là cảnh giới của chúng ta. Hôm nay chúng ta
trông thấy thần thông rộng lớn chẳng thể nghĩ bàn,
nhờ đó chúng ta hiểu được mình vốn là như thế. Hiện
tại đâu đâu ta cũng gặp chướng ngại, gặp phải cảnh
đáng thương như thế, rất phải nên hổ thẹn. Sa chân
đến nông nỗi này là vì chúng ta chẳng biết dụng tâm,
dùng nhầm cái tâm, dùng nhầm vọng tâm. Chúng ta càng
phân biệt nhiều, càng chấp trước nhiều, vọng tưởng
càng nhiều, đau khổ càng nhiều. Phân biệt, chấp
trước, vọng niệm càng ít thì tinh thần càng sung
sướng, càng ít phiền não.
Phiền não do tự quý
vị sanh, chẳng phải người ngoài tạo ra. Người khác
chửi quý vị, quý vị có nhận lấy thì quý vị mới phiền
não; giống như người ta tặng quà cho mình, mình nhận
lấy vậy. Nếu quý vị chẳng tiếp nhận, làm sao phiền
não sanh? Vì sao người ta chửi người khác, quý vị
chẳng sanh phiền não? Là vì người khác bị chửi,
chính mình chẳng sanh phân biệt, chấp trước. Danh tự
là giả danh. Nương vào danh tự để chửi thì chửi
không được, nương vào thân thể để chửi thì thân thể
là giả tướng Tứ Đại Ngũ Ấm hòa hợp, thân cũng chẳng
phải là Ta. Người ta chửi quý vị, quý vị chẳng nhận
lấy bèn được đại tự tại. Quý vị dùng vọng tâm bèn
tiếp nhận; quý vị dùng chân tâm thì trong chân tâm
một pháp chẳng lập. Vốn chẳng có một vật, chỗ nào
nhuốm bụi trần? Đó là chân tâm, trong chân tâm vốn
chẳng có một vật, không gì dính vào được, bởi thế tự
tại. Người học Phật phải biết dùng tâm.
"Trong một niệm tôi thấy ba đời, tất cả hết thảy
Nhân Sư Tử": Hiện tại chúng ta dùng pháp môn
Niệm Phật, niệm A Di Đà Phật tức là huấn luyện
"nhất niệm"
của chúng ta. Muốn khôi phục
"nhất niệm" chẳng dễ dàng gì, bởi lẽ phiền
não tập khí từ vô lượng kiếp đến nay sức chúng quá
lớn. Đi, đứng, nằm, ngồi đều khởi vọng niệm. Dùng
phương pháp nào để khôi phục
"nhất niệm"? Dùng một câu Phật hiệu. Một câu
Phật hiệu này là thủ đoạn, là phương pháp. Trong lúc
chúng ta khởi vọng niệm, chẳng cần phải quán sát ý
niệm ấy là thiện niệm hay ác niệm, đáng khởi hay
không nên khởi, niệm nào cũng mặc kệ, cứ một niệm
vừa khởi lên bèn thay bằng A Di Đà Phật, dùng một
câu A Di Đà Phật để thay thế cái niệm đó, sao cho
không khởi niệm thì thôi, hễ khởi niệm bèn thành A
Di Đà Phật. Đó cũng là "nhất
niệm".
Nhưng đấy chẳng phải
là
"nhất niệm" thật sự, chỉ là tương tự
"nhất niệm", từ quá
trình tương tự mới có thể chứng đắc nhất niệm chân
thật. Nhất niệm chân thật là vô niệm. Nếu chúng ta
nghĩ đến vô niệm thì cái vô niệm đó cũng là một ý
niệm lầm lạc, chẳng phải là
"nhất niệm" chân chánh. Nhất niệm chân chánh
là hữu niệm lẫn vô niệm đều chẳng có, chẳng những
lìa hết thảy hữu niệm mà cũng lìa vô niệm luôn, đấy
mới là nhất niệm.
"Nhân Sư Tử": Sư tử trong loài người, là ví
dụ dùng để chỉ Phật. Lúc niệm đến nhất niệm, tất cả
hết thảy các Như Lai trong ba đời quý vị đều thấy
hết. Nhất niệm là thanh tịnh, nhị niệm chẳng thanh
tịnh. Tâm tịnh cõi nước tịnh, tịnh độ vốn từ đó mà
có. Câu nào cũng bao gồm ý nghĩa thanh tịnh. Công
phu, cương lãnh tu hành đều nằm trong
"nhất niệm". Thời thời khắc khắc chẳng quên
mất nhất niệm là tốt. Trong giai đoạn hiện tại thì
thời thời khắc khắc chẳng quên A Di Đà Phật, hết
thảy mọi niệm đều quy về A Di Đà Phật.
"Cũng thường nhập trong cảnh giới Phật": Tâm
tịnh, thân bèn thanh tịnh. Thân thanh tịnh, trong
tâm chẳng có phiền não, thân chẳng có bệnh khổ. Thân
tâm thanh tịnh thì ngoại cảnh chẳng có gì không
thanh tịnh, ngay khi đó, Tịnh Độ lập tức hiện tiền.
Đấy là nguyên tắc, nguyên lý được giảng bởi Hoa
Nghiêm, cảnh chuyển theo tâm. Trong kinh Lăng
Nghiêm, đức Phật nói:
"Nếu chuyển được cảnh thì
giống hệt Như Lai". Bởi thế chúng ta phải
chuyển cảnh, chớ để cảnh chuyển mình.
Chuyển cảnh bằng cách
nào? Cảnh giới có hai thứ thuận và nghịch, cũng tức
là thuận duyên và nghịch duyên. Hai thứ cảnh giới
hiện tiền, sáu căn của chúng ta tiếp xúc, hiểu rành
rẽ phân minh cảnh giới (thật sự thấy tướng rốt ráo,
tướng viên mãn); như thế thì trí huệ tăng trưởng,
như như bất động, đó là Nhất Niệm. Rèn luyện Nhất
Tâm Bất Loạn từ nơi đó, ấy là chuyển cảnh giới.
Trong thuận cảnh, đối với thể, tướng, dụng, nhân
duyên, quả báo, sự lý của thuận cảnh, quý vị hoàn
toàn thấy rõ ràng, thì gọi là rành rẽ phân minh.
Rành rẽ phân minh, tự mình như như bất động, quyết
định chẳng khởi tâm động niệm phân biệt nơi tướng
cảnh giới. Chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng
phân biệt, chẳng chấp trước, lại càng rành rẽ phân
minh thì cảnh giới trở thành Phật, Bồ Tát, càng làm
cho chúng ta thành tựu vô lượng trí huệ, thiền định
rất sâu. Tu hành chỉ là có biết dụng tâm nơi cảnh
giới hay không!
Phật pháp sợ quý vị
chấp tướng, nên từ đầu đến cuối Đại Thừa Phật pháp
chỉ phá chấp trước mà thôi. Lìa hết thảy phân biệt,
chấp trước, chân tướng bèn sáng tỏ. Có như vậy mới
thường nhập trong cảnh giới Phật, cảnh giới ấy là
cảnh giới của chư Phật Như Lai. Quý vị nhập được
cảnh giới Phật mà quý vị không là Phật, thì còn ai
là Phật nữa đây? Khéo dụng tâm thì cảnh giới nhãn
tiền, cuộc sống thực tế đều thành kinh Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm hết. Thấy sắc, nghe tiếng,
không gì chẳng phải [là kinh Hoa Nghiêm]. Trong mỗi
một vi trần có trần số Phật đều vì chúng ta giảng
kinh Hoa Nghiêm, đều vì chúng ta chuyển diệu pháp
luân. Do trong tâm ta khởi tâm động niệm nên tự mình
bèn sanh chướng ngại, gây chướng ngại cho diệu pháp
của hết thảy Như Lai, tự mình chẳng thấy, chẳng
nghe, như điếc, như ngây. Phải nhập cảnh giới, phải
giữ được nhất niệm thì mới nên.
"Như huyễn giải thoát": Cảnh giới được chứng
bởi bậc địa thượng Bồ Tát (2) đều có một chữ Huyễn,
ý nói y báo, chánh báo trang nghiêm trong mười pháp
giới có Tướng, nhưng không có Thể.
Thể là không, bởi vậy
cái Hữu ấy là Huyễn Hữu, chẳng phải là Chân Hữu.
Hiểu được hết thảy pháp đều là huyễn hữu, quý vị sẽ
thọ dụng tự tại, bởi quý vị chẳng chấp trước. Chẳng
chấp trước thì đối với hết thảy pháp, quý vị chẳng
chấp trước được mất, nên chẳng mê hoặc, chẳng tạo
nghiệp, chẳng sanh phiền não, chẳng thọ quả báo.
Trong hết thảy pháp, quý vị du hý thần thông, tự tại
lắm! Có thể hưởng thọ hết thảy pháp, nhưng chớ có
chấp trước, hễ chấp trước bèn sanh phiền não. Phải
hiểu hết thảy pháp trọn chẳng thể được. Cũng giống
như nằm mộng, mộng là giả, thời gian nằm mộng ngắn,
lúc tỉnh bèn biết mộng là giả.
Nếu trong mộng, quý
vị nhận biết mình đang mộng, thì trong mộng quý vị
sẽ có thể tận hưởng hết mức. Trong mộng được vàng,
quý vị chẳng sanh hoan hỷ; quý vị biết đó là giả.
Trong mộng thấy cọp ăn quý vị, quý vị cũng rất khảng
khái, phát tâm từ bi đem thân nuôi nó, bởi quý vị
hiểu đấy là giả, chính mình không có chết, chỉ là du
hý thần thông. Cuộc sống hiện tại của chúng ta thật
sự là mộng cảnh, thời gian dài hơn một chút đó thôi,
sao quý vị còn chưa biết mình đang nằm mộng? Nếu quý
vị giác ngộ thế gian giống như mộng cảnh, đối với
danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần thế gian, quý
vị cũng có thể tận tình hưởng thọ, nhưng trọn chẳng
có ý niệm chấp trước.
Trong thế gian này,
hết thảy vạn vật, chúng ta có quyền sử dụng, nhưng
chẳng có quyền sở hữu. Chẳng có một thứ gì là sở hữu
của quý vị cả! Nếu nói có sở hữu thì chỉ là một ý
niệm hư vọng, lầm lạc; ngay đến thân thể còn chẳng
sở hữu được, huống gì vật ngoài thân? Vì quyền sở
hữu mà tranh giành đến đầu rơi máu chảy, một ngày từ
sáng đến tối tạo phiền não, thật chẳng đáng gì! Lầm
lạc quá lớn, đó gọi là mê hoặc điên đảo. Nếu dẹp
được cái tâm được - mất là dẹp được tám mươi phần
trăm phiền não. Dẹp được tám mươi phần trăm phiền
não thì tội nghiệp cũng tiêu trừ quá nửa.
Chẳng phải là con
người đến chết mới biết
"mọi sự là không", thật
ra, mỗi ngày chúng ta đều chết một lần. Lúc quý vị
ngủ, chẳng giống như đã chết rồi sao? Lúc ngủ say,
còn cái gì là quý vị? Những thứ quý vị sở hữu đâu cả
rồi? Một khi quý vị đã mộng say rồi, quý vị hoàn
toàn ly khai thế giới hiện thực này. Thế giới này
chẳng có một thứ là quý vị cả. Quý vị phải thường
suy nghĩ đạo lý này thì mới có thể chân chánh lãnh
hội sự giải thoát như huyễn của Bồ Tát: Ngài thọ
dụng hết thảy đại tự tại, Ngài tuyệt đối chẳng chiếm
hữu cái gì, ngay cả thân thể của chính Ngài. Thân
thể cũng chẳng phải là mình thì cái gì là mình vậy?
Tận hư không khắp pháp giới chẳng có một pháp nào
chẳng là mình cả!
Nếu một ngày nào đó,
quý vị nhận ra mình đang nằm mộng, tất cả cảnh giới
trong mộng đúng hay sai đều là chính mình cả thôi!
Mộng do tâm chính mình biến ra, vậy thì trong mộng
cảnh chẳng có pháp nào chẳng phải là mình. Trong
mộng có mình, có người khác, có sơn hà
đại
địa, không gì chẳng phải là mình. Toàn tâm tức mộng,
toàn mộng tức là tâm. Tâm là Thể, là Năng Biến, mộng
cảnh là Sở Biến, là tướng phần, là hiện tượng.
Phật pháp nói:
"Toàn vọng tức là chân, toàn chân tức là vọng".
Nói Chân là nói về Tâm. Tâm Năng Biến là chân, mộng
cảnh Sở Biến là vọng. Chân - vọng chẳng hai, chân -
vọng nhất như. Nhập cảnh giới này thì gọi là chứng
đắc Pháp Thân thanh tịnh. Một pháp là vạn pháp, vạn
pháp chính là tự mình. Bởi vậy, đạt đến nhất niệm
nhất tâm (Lý Nhất Tâm Bất Loạn) thì tận hư không
khắp pháp giới chỉ là chính mình mà thôi, đó là Pháp
Thân, Pháp Thân chẳng sanh chẳng diệt.
Mỗi một cá nhân chúng
ta đều có Pháp Thân, tiếc là ta mê mất Pháp Thân.
Người ngộ là ngộ Pháp Thân, người mê là mê Pháp
Thân, mê ngộ chẳng hai. Mê là mê
điều
này, mà ngộ cũng là ngộ điều này. Lúc mê, cái chi
cũng chẳng ít, lúc ngộ cái gì cũng chẳng nhiều,
chẳng tăng giảm chút nào, mê - ngộ bất nhị. Kinh Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm chỉ giảng một sự việc
này; nhập cảnh giới này được đại tự tại. Giải thoát
là tự tại.
"Oai lực": Oai là oai đức, mà cũng là năng
lực. năng lực chẳng thể nghĩ bàn, quý vị có năng lực
đến nỗi trong vũ trụ vạn hữu chẳng có một sự nào quý
vị chẳng làm được. Năng lực ấy là
đức
năng của tự tánh. Chẳng hạn như: Người sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, ăn mặc tự nhiên, nghĩ muốn
ăn thứ gì, thứ đó liền biến hiện ra ngay trước mặt.
Đó là oai lực. Nhìn thấy liền no, những thứ ấy tự
động biến mất. Khoa học gia giải thích đạo lý này
như sau: Đó là sự chuyển biến giữa năng lượng và vật
chất. Khoa học gia hiểu được lý luận, nhưng chẳng
biết cách biến như thế nào.
Đức Phật dạy chúng
ta: Nhất tâm là Năng Biến. Hiện thời chúng ta dùng
vọng tâm nên chẳng biến được, hễ nhất tâm bèn khôi
phục được năng lực ấy. Bây giờ đến nơi xa xôi chúng
ta phải ngồi máy bay, phải mất mấy tiếng đồng hồ mới
đến nơi. Nếu dùng nhất niệm thì tận hư không, trọn
pháp giới, chẳng cần phải dựa vào bất cứ máy móc
nào, trong khoảng một niệm liền đến ngay. Ở chỗ này
chẳng thấy thân thể, ở chỗ kia thân thể hiện hữu,
thật quá nhiệm mầu, tốc độ vượt xa tốc độ ánh sáng.
Đó chính là oai lực.
1.10.9. Nguyện
thừa sự
Chánh kinh:
Ư nhất mao đoan cực
vi trung,
Xuất hiện tam thế
trang nghiêm sát,
Thập phương trần sát
chư mao đoan,
Ngã giai thâm nhập
nhi nghiêm tịnh,
Sở hữu vị lai Chiếu
Thế Đăng,
Thành đạo chuyển pháp
ngộ quần hữu,
Cứu cánh Phật sự thị
Niết Bàn,
Ngã giai vãng nghệ
nhi thân cận.
Trong một cực vi
đầu sợi lông,
Xuất hiện ba đời cõi
trang nghiêm,
Mười phương đầu lông
trần số cõi,
Tôi đều thâm nhập để
nghiêm tịnh,
Tất cả Đấng Soi Đời
vị lai,
Thành đạo chuyển pháp
giác quần sanh,
Phật sự rốt ráo hiện
Niết Bàn,
Tôi đều đi đến hòng
thân cận.
Bài tụng này nói về
nguyện Thừa Sự, tức là thân cận chư Phật Như Lai,
hoặc có thể hiểu là thân cận hết thảy thiện tri thức
cũng được. Bài kệ thứ nhất hoàn toàn nói về cảnh
giới.
"Trong một cực vi đầu sợi lông": rất ư là nhỏ
bé. Vi trần đã rất nhỏ, cực vi so với vi trần càng
nhỏ hơn nữa, gọi là
"lâm hư trần", không có
gì nhỏ bằng. Đem vi trần chẻ ra thì gọi là
"sắc tụ vi", sắc tụ vi
lại chia nhỏ ra gọi là cực vi vi.
"Vi" nói ở đây là cực
vi vi, gần với hư không (quá nhỏ, hầu như không có
gì), chẳng thể chia nhỏ hơn nữa. Chia nhỏ ra là
không có gì hết, biến thành hư không.
Trong cực vi lại:
"Xuất hiện ba đời cõi trang nghiêm" (xuất
hiện tam thế trang nghiêm sát): Sát là sát độ
(ksetu), tức tam thiên đại thiên thế giới, là khu
vực giáo hóa của một đức Phật. Tam thiên đại thiên
thế giới thanh tịnh trang nghiêm nằm trong một cực
vi vi. Vi trần
"cực vi vi" chẳng phóng
đại, tam thiên đại thiên thế giới chẳng rút nhỏ, lớn
- nhỏ chẳng hai. Đó là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn,
là cảnh giới hiện lượng của Phật, chẳng thể dùng lý
luận để suy lường được nổi.
"Mười phương đầu lông trần số cõi": Trong
mười phương có vô lượng vô biên các cực vi trần nơi
những đầu sợi lông như thế, trong mỗi một cực vi nơi
đầu một sợi lông ấy, các cõi Phật ba đời được hiện
ra đương nhiên là vô lượng vô biên.
"Tôi đều thâm nhập để nghiêm tịnh": Phổ Hiền
Bồ Tát nói Ngài đều có thể thâm nhập [những cõi ấy],
đều có thể tham dự vào việc trang nghiêm các cõi
Phật. Tịnh Độ của mỗi một đức Phật, Ngài đều đến
được, không sót một cõi nào. Những điều đó đều từ
nhất tâm hiển hiện. Nhất tâm là quý báu, hết thảy
của cải thế gian đều là giả, nhất tâm mới là của báu
chân chánh, hãy nên tu nhất tâm.
"Tất cả Đấng Soi Đời vị lai": Chiếu Thế Đăng
là biệt hiệu của Phật.
"Thành đạo chuyển pháp giác quần sanh": Chư
Phật sau khi thị hiện thành Phật, nhất định chuyển
pháp luân giáo hóa chúng sanh. Mục đích của việc
giáo hóa là giác ngộ quần hữu. Chữ
"hữu" chỉ chúng sanh. Có nghiệp nhân Dục Giới
bèn thọ sanh trong Dục Giới. Có nghiệp nhân Sắc Giới
bèn thọ sanh trong Sắc Giới. Phật thuyết pháp khiến
cho ba cõi sáu đường hết thảy chúng sanh khai ngộ.
"Phật sự rốt ráo hiện Niết Bàn": Phật sự là
sự nghiệp giáo hóa chúng sanh; rốt ráo là viên mãn.
Giáo hóa viên mãn rồi, tối hậu bèn thị hiện nhập
Niết Bàn. Thích Ca Mâu Ni Phật trụ thế tám mươi năm,
những chúng sanh căn cơ chín muồi được độ không còn
sót một ai, đã độ hết cả rồi. Dẫu Phật chẳng tại
thế, cứ tu học đúng theo kinh điển Phật cũng được
thành tựu giống như thế. Tín nguyện trọn vẹn trăm
phần trăm là kẻ
"căn cơ chín muồi".
Sau khi Phật diệt độ,
pháp môn thật sự có thể tiếp dẫn kẻ căn cơ thuần
thục chỉ có mỗi mình pháp môn Tịnh Độ. Đối với pháp
môn Tịnh Độ tin tưởng sâu xa chẳng nghi ngờ, phát
nguyện cầu sanh, không ai không sanh về. Chỉ cần
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới bèn được độ
thoát, chẳng khác gì thành tựu của hàng đệ tử được
Phật Thích Ca Mâu Ni độ khi Ngài còn tại thế, thậm
chí còn thù thắng hơn. Tướng căn cơ chín muồi là:
chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Nếu tu hành tin
tưởng sâu, nguyện thiết tha, chẳng gián đoạn, chẳng
xen tạp, người ấy là căn tánh thượng thượng, trong
vòng ba năm nhất định có thành tựu lớn.
"Tôi đều đi đến hòng thân cận" là câu nói
tổng kết. Phổ Hiền Bồ Tát thân cận thừa sự chư Phật
Như Lai, chẳng bỏ sót một vị Phật nào.
1.10.10. Nguyện
thành Chánh Giác
Chánh kinh:
Tốc tật châu biến
thần thông lực,
Phổ môn biến nhập Đại
Thừa lực,
Trí hạnh phổ tu công
đức lực,
Oai thần phổ phú đại
từ lực,
Biến tịnh trang
nghiêm thắng phước lực,
Vô trước vô y trí huệ
lực,
Định huệ phương tiện
oai thần lực,
Phổ năng tích tập Bồ
Đề lực,
Thanh tịnh nhất thiết
thiện nghiệp lực,
Tồi diệt nhất thiết
phiền não lực,
Hàng phục nhất thiết
chư ma lực,
Viên mãn Phổ Hiền chư
hạnh lực.
Sức thần thông
trọn khắp mau chóng,
Sức phổ môn nhập khắp
Đại Thừa,
Sức trí hạnh tu mọi
công đức,
Sức đại từ oai thần
che khắp,
Sức trang nghiêm khắp
tịnh thắng phước,
Sức trí huệ không
vướng, không nương,
Sức định huệ phương
tiện oai thần,
Sức tích tập Bồ Đề
rộng khắp,
Sức thanh tịnh hết
thảy thiện nghiệp,
Sức dẹp tan hết thảy
phiền não,
Sức hàng phục hết
thảy các ma,
Sức viên mãn các hạnh
Phổ Hiền.
Bài tụng nói về
nguyện thành Chánh Giác. Kinh văn nêu lên mười hai
sức, chín loại đầu nói về nghiệp dụng, ba loại sau
nói về
"kết nhân thành quả".
Nghiệp là sự nghiệp, hành động, hoạt động. Trong hết
thảy hoạt động đều được đại tự tại.
Thứ nhất, Ngài có
"sức thần thông trọn khắp mau chóng":
"Tốc tật" là mau chóng.
Các cõi Phật trong mười phương, Ngài vừa nghĩ đến
liền đến, còn có thể trở về quá khứ, đi đến vị lai,
mười phương ba đời thông đạt vô ngại, cứ nghĩ đến
bèn đến được, đủ thấy sức hoạt động của Ngài thật
chẳng thể nghĩ bàn. Nhất niệm nhất tâm chẳng có
chướng ngại, tam tâm nhị ý bèn có chướng ngại.
"Sức phổ môn nhập khắp Đại Thừa": Giảng về
pháp môn. Pháp môn vô lượng vô biên, bởi thế gọi là
"phổ môn". Vô lượng vô biên pháp môn Ngài đều
có thể thông đạt. Vô lượng pháp môn đều lưu xuất từ
nhất tâm. Bây giờ, chúng ta từ bất cứ pháp môn nào
mà nhập, hễ nhập được thì cái mà ta chứng đắc chính
là nhất tâm; bởi thế mới nói:
"Thông một môn, hết thảy môn đều thông"
(thông đạt). Môn nào cũng thông với nhất tâm, nhất
chân, bởi thế gọi là "bất nhị
pháp môn". Mở ra nhiều môn như thế là vì
phương tiện tiếp dẫn. Phật đại từ đại bi chẳng ép
buộc quý vị học một môn nào, nếu miễn cưỡng học, sẽ
học chẳng giỏi. Vô lượng pháp môn khiến cho mỗi cá
nhân tu học đều sung sướng, thoải mái. Nếu thấy học
Phật rất khổ thì phải phản tỉnh, nhất định là mình
đã đi theo con đường chưa đúng.
"Sức trí hạnh tu mọi công đức": Tu hành nhất
định phải dựa vào trí huệ. Trí hạnh là Bát Nhã Ba La
Mật, nếu hành vi ba nghiệp thân - khẩu - ý là hành
vi mê lầm thì phải sửa đổi, giác chứ không mê thì
gọi là
"trí hạnh". Hết thảy
hành vi đều chiếu theo lý trí, chẳng bị mê hoặc, gọi
là "phổ tu" (tu khắp
cả). Có vậy mới thành tựu công đức. Công đức chỉ
định huệ. Định là tâm thanh tịnh, tức là nhất tâm.
Huệ là
điều
gì cũng đều hiểu rõ.
"Sức đại từ oai thần che khắp": Đặt nặng từ
bi, phải dùng tâm đại từ bi đối đãi hết thảy chúng
sanh. Trông thấy người ác, hay nói tổng quát là thấy
những chuyện trái mắt, đó đều là những cảnh giới dạy
ta tu tâm đại từ bi. Nếu trong những hoàn cảnh ấy,
quý vị tu thành tựu tâm đại từ bi thì kẻ ác trở
thành thiện tri thức của quý vị, là Bồ Tát. Không có
họ, quý vị chẳng thể tu thành tâm từ bi.
"Biến tịnh trang nghiêm thắng phước lực" (sức
trang nghiêm khắp tịnh thắng phước): Phước báo lớn
nhất, thù thắng nhất là thân tâm thanh tịnh. Tâm địa
thanh tịnh mới là sự hưởng thọ chí cao vô thượng.
"Biến tịnh": thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh,
hết thảy cảnh giới thanh tịnh, chẳng có một pháp nào
không thanh tịnh, chẳng có một chỗ nào không thanh
tịnh.
"Sức trí huệ không vướng, không nương": Tự
hành, dạy người đều phải không vướng mắc, dựa dẫm
thì mới có thể thành tựu trí huệ viên mãn. Tự mình
tu hành tâm thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh tâm địa
thanh tịnh, quyết định chẳng chấp trước. Tam Quy Y
là quy y Giác - Chánh - Tịnh nơi tự tánh.
"Sức định huệ phương tiện oai thần": Câu này
thiên trọng vấn đề giáo hóa chúng sanh. Không có
định huệ thì phương tiện trở thành có vấn đề. Nhà
Phật thường nói:
"Từ bi lắm họa hại, phương
tiện thành hạ lưu". Phải có định và huệ thì
Phật mới có thể nhiếp thọ hết thảy chúng sanh. Định
huệ khởi tác dụng chính là phương tiện từ bi.
"Sức oai thần": Oai là
chữ để hình dung, Thần là chẳng thể nghĩ bàn, chỉ
phương pháp giáo học. Thân giáo, ngôn giáo, pháp
phương tiện chẳng thể nghĩ bàn.
"Sức tích tập Bồ Đề rộng khắp" (Phổ năng tích
tập Bồ Đề lực): Phổ là phổ biến, tùy thời tùy chỗ tu
tập vô thượng Bồ Đề.
"Sức hàng phục hết thảy các ma" (3)
A) Ngũ Ấm Ma: là bản
thân chúng ta. Thân thể ta do ngũ ấm, tứ đại tụ tập
thành. Hàng phục được Ngũ Ấm Ma thì sanh tử tự tại.
B) Phiền Não Ma: Dẹp
yên được ma phiền não thì xa lìa được bệnh khổ nơi
thân tâm.
C) Tử Ma.
D) Thiên ma: Là oán
thân trái chủ từ vô thỉ kiếp đến nay. Quý vị muốn
vượt thoát tam giới, chúng bèn đến quấy rối. Lúc lâm
chung thấy thân quyến đã chết của mình, thật ra là
oán gia trái chủ biến hiện thành thân quyến, người
nhà của mình đến lôi kéo người chết đi theo để trả
thù. Lúc lâm chung bệnh ngặt nghèo cho thấy mình
chưa hàng phục được ma. Người niệm Phật công phu
giỏi, biết trước lúc chết, không bệnh mà mất. Phải
dùng cái tâm thanh tịnh để hàng phục ma. Tâm thanh
tịnh ma chẳng dám quấy quý vị.
"Sức viên mãn các hạnh Phổ Hiền": Nhân hạnh
thù thắng của Phổ Hiền đều tu được, Phổ Hiền hạnh vô
lượng vô biên, vậy thì phải một ngày hay một kiếp
mới có thể tu được viên mãn? Niệm và kiếp viên dung,
một niệm cũng như vô lượng kiếp, vô lượng kiếp cũng
như một niệm. Tâm thanh tịnh bèn tu viên mãn, tâm
chẳng thanh tịnh bèn tu vô lượng kiếp.
Chánh kinh:
Phổ năng nghiêm tịnh
chư sát hải,
Giải thoát nhất thiết
chúng sanh hải,
Thiện năng phân biệt
chư pháp hải,
Năng thậm thâm nhập
trí huệ hải,
Phổ năng thanh tịnh
chư hạnh hải,
Viên mãn nhất thiết
chư nguyện hải,
Thân cận cúng dường
chư Phật hải,
Tu hành vô quyện kinh
kiếp hải,
Tam thế nhất thiết
chư Như Lai,
Tối thắng Bồ Đề chư
hạnh nguyện,
Ngã giai cúng dường
viên mãn tu,
Dĩ Phổ Hiền hạnh ngộ
Bồ Đề.
Nghiêm tịnh trọn khắp các biển cõi,
Giải thoát hết thảy
biển chúng sanh,
Khéo hay phân biệt
các biển pháp,
Thâm nhập biển trí
huệ rất sâu,
Thanh tịnh trọn khắp
các biển hạnh,
Viên mãn hết thảy các
biển nguyện,
Thân cận cúng dường
các biển Phật,
Tu hành không mệt
trải biển kiếp,
Ba đời hết thảy các
Như Lai,
Các hạnh nguyện Bồ Đề
tối thắng,
Tôi đều cúng dường,
tu viên mãn,
Dùng Phổ Hiền hạnh
ngộ Bồ Đề.
Ba bài kệ này tổng
kết mười khoa mục nhỏ trong phần
"phổ giai hồi hướng". Chữ
"hải" biểu thị rộng sâu chẳng có ngằn mé. Phổ
Hiền hạnh nguyện phải dùng tâm thanh tịnh mà tu,
dùng cái tâm chân thành mà tu. Chân thành, thanh
tịnh chẳng có chướng ngại, chẳng có phân biệt, chẳng
có chấp trước; bởi thế tâm lượng rộng sâu vô biên.
Dùng tâm như thế để tu hành thì bất cứ hạnh nào cũng
đều tương ứng tự tánh, bởi thế hạnh nào cũng sâu
rộng không ngằn mé. z
"Nghiêm tịnh trọn khắp các
biển cõi": Nghiêm là trang nghiêm, Tịnh là
thanh tịnh. "Chư sát"
là các cõi nước Phật. Câu này ý nói trang nghiêm cõi
Phật. Các cõi Phật vô lượng vô biên, bởi thế dùng
chữ "hải" để làm tỷ dụ
hình dung. Câu này mang ý nghĩa rất sâu, rất rộng.
Trong một lỗ chân lông có vô lượng vô biên các cõi
nước Phật; mỗi một lỗ chân lông đều giống như thế.
Đó là "đại tiểu tương dung"
(lớn nhỏ chứa đựng lẫn nhau),
"đại tiểu vô ngại". Đại thế giới trang nghiêm
và tiểu thế giới trang nghiêm chỉ là một việc. Có
thể trang nghiêm tiểu thế giới sẽ có thể trang
nghiêm đại thế giới; trang nghiêm được đại thế giới
nhất định trang nghiêm được tiểu thế giới.
Đại thế giới và tiểu
thế giới cái nào khó, cái nào dễ? Thưa cùng quý vị,
không có khó dễ gì cả! Nếu đại thế giới là khó, tiểu
thế giới là dễ, tức là có sai biệt, làm sao bình
đẳng được? Xứng tánh chẳng có sai biệt. Vì thế nói
"hết thảy vạn pháp bình đẳng nhất vị". Sát
(cõi nước) là hoàn cảnh sanh sống của chúng ta. Lớn
thì cũng là hoàn cảnh sanh sống, mà nhỏ thì cũng là
hoàn cảnh sanh sống. Phải từ đây mà hiểu câu này thì
mới được thọ dụng.
Hoàn cảnh sanh sống
phải tính từ tấm áo lót mình của chúng ta trở đi. Áo
lót mình thuộc hoàn cảnh sanh sống. Những gì ngoài
thân thể ra đều là hoàn cảnh sanh sống cả. Trang
nghiêm cõi Phật phải bắt đầu từ hoàn cảnh sanh sống.
Hoàn cảnh sanh sống của chúng ta chưa tốt làm sao
trang nghiêm cõi Phật cho được? Y phục là hoàn cảnh
sanh sống của chúng ta; mặc áo thì y phục phải sạch
sẽ, tề chỉnh, thay giặt quần áo cho sạch sẽ, khô
ráo, xếp gọn ghẽ cất vào tủ, đó là trang nghiêm. Ăn
cơm, lau bàn cho sạch, chớ để dính dầu mỡ, tro bụi;
bát đĩa phải rửa sạch, úp ngay ngắn. Đối người, đối
sự, đối vật, chẳng những tâm phải thanh tịnh, mà còn
phải chân thành. Với sự cũng phải làm cho đến thật
viên mãn. Chẳng tận tâm tận lực làm là tâm ta chẳng
thành, chẳng kính.
Bồ Tát nói Ngài có
năng lực trang nghiêm khắp các biển cõi, chúng ta
phải học theo. Trong sanh hoạt, mọi sự mọi vật phải
cẩn thận lưu ý, điều gì cũng rất viên mãn là
đã
thực hiện được việc trang nghiêm cõi Phật vậy. Kinh
Hoa Nghiêm dạy rất rõ: "Một là
hết thảy, hết thảy tức là một". Trong cuộc
sống, ta đạt được thanh tịnh trang nghiêm thì mười
phương các cõi Phật đương nhiên thanh tịnh trang
nghiêm. Nói từ căn bản thì trang nghiêm chỉ là cái
tâm thanh tịnh. Tâm tịnh, thân bèn thanh tịnh. Thân
tâm thanh tịnh, lẽ nào hoàn cảnh sống của chúng ta
chẳng thanh tịnh? Tự nhiên nó phải thanh tịnh theo.
Đối người, đối vật đều thanh tịnh. Đó là
"phổ năng" (khắp có
thể), chúng ta phải nên tu học. Học Phật là học ở
chỗ này.
"Giải thoát hết thảy biển chúng sanh": Hết
thảy chúng sanh, đặc biệt là phàm phu lục đạo, cuộc
sống chẳng tự tại, quý vị phải giúp họ được giải
thoát. Vì sao họ chẳng được tự tại? Là vì có rất
nhiều ràng buộc, giống như bị dây rợ chằng trói,
chẳng cử động được, chẳng tự do. Cái gì ràng buộc
vậy? Phiền não, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước,
ưu lự, vướng víu… đều là dây trói. Những dây trói đó
đều do mê mất tự tánh mà sanh khởi. Bồ Tát là người
đã chân chánh giác ngộ, bởi thế phải giúp những
chúng sanh ấy khai ngộ.
Trước hết, phải hiểu
vì sao chúng sanh chẳng khai ngộ? Giống như thầy
thuốc chữa bệnh, trước hết phải tìm ra gốc bệnh.
Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn đã nêu ra cái gốc
bệnh, Ngài giảng rất minh bạch. Đức Phật nói:
"Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng của
Như Lai, đều vì vọng tưởng, chấp trước, mà chẳng thể
chứng đắc". Nói cách khác, mỗi một cá nhân
đều là Phật. Đức Phật có trí huệ nhiều và lớn, mỗi
cá nhân chúng ta ai nấy đều có.
Đức tướng là thân
tướng khỏe mạnh nhất, viên mãn nhất, chúng ta ai nấy
đều có, toàn là thân kim cang bất hoại cả! Có những
đồng tu thân thể hư nhược, tinh thần chẳng phấn
chấn, quanh năm bệnh tật, gốc bệnh là do vọng tưởng,
chấp trước. Bỏ được vọng tưởng, chấp trước, trí huệ
bèn khôi phục, sức khỏe khôi phục, vô lượng công đức
nơi tự tánh, vô lượng đức năng thảy đều khôi phục
hết. Phật pháp chỉ là dạy chúng ta đoạn trừ vọng
tưởng, chấp trước mà thôi.
Bồ Tát giúp hết thảy
chúng sanh được đại tự tại như thế nào? Phải dẹp trừ
gốc bệnh của chúng sanh, dạy chúng sanh hiểu rõ tình
trạng sự thật. Vọng tưởng, chấp trước do chính mình
khởi thì phải do chính mình đoạn. Chúng ta chẳng
biết gốc bệnh là vọng tưởng, chấp trước; Phật, Bồ
Tát một lời vạch trần, đấy là các ngài gia trì chúng
ta, giúp đỡ chúng ta. Từ nay trở đi, chúng ta dẹp
được vọng tưởng là thành công. Vọng chẳng phải là
chân, phàm là có tưởng đều là vọng, chân tâm chẳng
có tưởng.
Ngày ngày niệm A Di
Đà Phật thì câu Phật hiệu này là chân hay là vọng? Ở
đây, tôi thưa thật cùng quý vị, chỉ có một câu Phật
hiệu này chẳng vọng; vì nếu vọng tưởng những cái
khác, quý vị phải luân hồi lục đạo. Lục đạo luân hồi
lẫn mười pháp giới đều chẳng phải là chân, Nhất Chân
Pháp Giới mới là chân. Thế giới Cực Lạc của Phật A
Di Đà là Nhất Chân Pháp Giới.
Chúng ta nghĩ đến
Phật A Di Đà, niệm Phật A Di Đà, tuyệt đối chẳng
phải là khởi vọng tưởng; ngoài ra tất thảy đều là
vọng tưởng. Tự mình đắc độ, từ nay trở đi chẳng khởi
vọng tưởng. Quá khứ đã qua rồi, chẳng cần phải nghĩ
đến nữa, hệt như một giấc mộng. Vị lai vẫn chưa tới,
nghĩ đến để làm gì? Nói đến hiện tại thì hiện tại đã
chẳng có, đã qua mất rồi.
Kinh Kim Cang dạy:
"Tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai, ba tâm bất
khả đắc". Nghĩ đến quá khứ, nghĩ đến hiện
tại, nghĩ đến vị lai đều là vọng tưởng. Quá khứ,
hiện tại, vị lai đều chẳng nghĩ đến, tự tại thay!
Việc gì chẳng liên quan đến cuộc sống của mình, ta
chẳng cần biết đến. Chẳng phải là nhân vật ta phải
nhận biết, ta chẳng cần biết đến, tâm bèn thanh
tịnh. Cổ nhân nói: "Càng biết
nhiều việc, phiền não càng lắm".
Tôi khuyên các đồng
tu: chẳng cần phải xem truyền hình, đừng nghe radio,
chớ xem báo chí. Nghe kinh là
để
đoạn nghi sanh tín, tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật
Tướng. Dùng tín tâm thanh tịnh chấp trì danh hiệu
bèn có thể giúp cho hết thảy chúng sanh phá mê khai
ngộ, lìa khổ được vui. Nói chung, phải nhận thức rõ
ràng chính mình và hoàn cảnh sanh sống của chính
mình, ngàn kinh muôn luận chỉ nói một chuyện này, đó
chính là luận đề trung tâm của Phật pháp vậy.
"Khéo hay phân biệt các biển pháp": Pháp
là hết thảy pháp. Trong hết thảy pháp, có pháp chân
thật, có pháp sai biệt; chân thật là Thể. Phật nói
vạn pháp đều không, nói Không là nói về Thể, đó là
chân thật. Hết thảy vạn pháp đều chẳng phải thật tồn
tại. Kinh Kim Cang nói: "Phàm
những gì có tướng đều là hư vọng… Hết thảy pháp hữu
vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng" đều là nói về
thể tánh của các pháp. Đó là chỗ giống nhau. Nếu từ
Tướng và tác dụng của hết thảy pháp mà nói thì có
sai biệt.
Trong vũ trụ, vạn
pháp sai biệt vô lượng, vô biên, có nhiễm - tịnh,
chân - vọng, tà - chánh, thị - phi, thiện - ác, quý
vị phải có năng lực phân biệt. Chỉ có giáo dục mới
có thể làm cho quảng đại chúng sanh phân biệt các
pháp sai biệt là
đúng
hay sai, thiện hay ác, lợi hay hại. Phân biệt được
thiện - ác, nhất định có thể đoạn ác tu thiện; phân
biệt được lợi - hại, tự nhiên sẽ hướng đến cái tốt,
tránh cái xấu. Chẳng nhận thức pháp sai biệt, sẽ
thường coi xấu là tốt, coi ác là lành, lúc quả báo
hiện tiền, có hối chẳng kịp nữa. Người niệm Phật
nhiều, người vãng sanh ít là do chính mình tạo
nghiệp chướng mà thôi. Vì sao tạo nghiệp? Vì chẳng
hiểu rõ sự tướng chân thật. Bởi thế, chúng ta phải
thường coi trọng giáo dục.
"Thâm nhập biển trí huệ rất sâu": Mục
đích của việc thọ trì Phật pháp là khai trí huệ,
nhưng trí huệ vốn sẵn có, chứ chẳng phải từ bên
ngoài đưa đến. Đọc nhuần kinh điển, đọc nhuần cổ
văn, tu Căn Bản Trí là bước khởi đầu để
"thâm nhập biển trí huệ rất sâu"; từ Vô Lượng
Thọ kinh, Tứ Thư, Ngũ Kinh mà khởi sự. Chỉ có khôi
phục nền giáo học Khổng Mạnh và Đại Thừa, chúng ta
mới đạt được hạnh phúc chân chánh. Lợi ích công đức
thù thắng nói đến trong kinh Phật chúng ta có thể
đạt được, dẫu chẳng đạt được viên mãn, nhưng nhất
định đạt được ít phần. Gia đình mỹ mãn, sự nghiệp
thành công, đều nhờ những sách giáo khoa ấy.
"Thanh tịnh trọn khắp các biển hạnh": Có
thể phân biệt tà - chánh, thị - phi, có thể thành
tựu trí huệ chân thật rồi thì sau đấy tự nhiên quý
vị có năng lực thanh tịnh ba nghiệp thân - khẩu - ý.
Tâm thanh tịnh: tư tưởng, kiến giải thanh tịnh,
chẳng bị nhiễm ô, chẳng bị cảnh giới bên ngoài lay
động. Ngữ thanh tịnh: nói năng câu nào, chữ nào cũng
đều lợi ích chúng sanh, đều là dẫn dụ, chỉ dạy chúng
sanh hướng thiện, dẫn dụ chúng sanh chứng chân; hành
vi nhất định là gương mẫu cho thế gian. Đấy là thanh
tịnh trọn khắp các biển hạnh; có vậy rồi thì nguyện
vọng của chúng ta mới hòng đạt được viên mãn.
"Viên mãn hết thảy các biển nguyện": Bốn
hoằng thệ nguyện: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng
thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Mười đại nguyện Phổ Hiền, bốn mươi tám nguyện A Di
Đà, chúng ta muốn chân chánh tu hành thì cũng có thể
viên mãn những nguyện đó; huống chi những sở nguyện
sở cầu thế gian, trọn chẳng hư uổng. Trong nhà Phật,
hữu cầu tất ứng, nhất định nguyện vọng sẽ được thỏa
mãn. Cầu nguyện chẳng thể mãn nguyện ắt phải là do
có chướng ngại. Trừ được chướng ngại rồi, có nguyện
ắt thành, chuyện gì cũng xứng tâm vừa ý.
"Thân cận cúng dường các biển Phật": Đây
cũng như nói muốn chân thật tu hành thì phải nỗ lực
đem những tập khí xấu, những hành vi chẳng tốt trong
cuộc sống sửa đổi cho đúng, đó gọi là
"tu hành". Muốn sửa đổi cho đúng thì phải bắt
đầu từ việc thân cận thiện hữu. Gần son thì đỏ, gần
mực thì đen. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta thân cận
chư Phật (thiện tri thức) thì mới chẳng bắt chước
cái xấu, đạo nghiệp quyết định thành tựu. Ngài dạy
chúng ta cúng dường chư Phật, cúng dường chân chánh
là y giáo phụng hành, thầy chỉ dạy sao phải nỗ lực
làm như thế. Thân cận một vị giáo sư tốt chỉ đường,
thân cận bạn lành thiết tha chính là mấu chốt cho
việc tu hành thành công trong một đời.
"Tu hành không mệt trải biển kiếp": Đây
là Tinh Tấn. Phát tâm dài lâu, tâm thường hằng, tâm
nghị lực, vĩnh viễn chẳng lùi, dũng mãnh tinh tấn,
chớ sợ người khác phỉ báng. Chúng ta tu học là nhằm
viên mãn thành tựu đạo nghiệp, là chân thật cống
hiến cho hết thảy chúng sanh. Sự cống hiến ấy chẳng
cần người khác biết, cũng chẳng cần ai tán thán.
Người khác phỉ báng, lăng nhục, chửi rủa quý vị thì
phải gấp cảm ơn, bởi lẽ nghiệp chướng được họ tiêu
trừ giùm.
Phổ Hiền dạy cho
chúng ta tấm gương như sau: Khi chưa thành Phật,
tu hành trải vô lượng kiếp, thành Phật rồi, lại lui
xuống làm Bồ Tát, lại phải tu hành, lại phải khởi sự
từ đầu, thật là phi thường! Chẳng cần biết là trước
khi thành Phật hay đã thành Phật rồi, Ngài tu hành
vĩnh viễn chẳng gián đoạn. Hiện tại chúng ta tu hành
vì chính mình, các Bồ Tát tu hành vì chúng sanh. Ở
đây, Phổ Hiền Bồ Tát thị hiện, cũng là trì giới niệm
Phật, cầu sanh Tịnh Độ, nêu gương tốt cho chúng ta.
"Ba đời hết thảy các Như Lai": Ý nghĩa
trọng yếu trong bài kệ này là ba người cùng đi, ắt
có người là thầy ta, đó cũng chính là
điều
Thiện Tài đã hiển thị trong kinh này: Hết thảy chúng
sanh đều là thiện tri thức của chúng ta, hết thảy
chúng sanh trong hết thảy thời, hết thảy chỗ đều là
"học xứ" (nơi để chúng
ta học tập). Tam thế chư Phật: Quá khứ chư Phật và
hiện tại chư Phật đều đã thành Phật, vị lai chư Phật
là hết thảy chúng sanh, còn chưa thành Phật. Tất cả
hết thảy chúng sanh đều là vị lai Phật. Trọng điểm
của câu này là vị lai Phật. Hết thảy chúng sanh còn
chưa thành Phật, có kẻ ác, có người lành, đều là học
xứ của chúng ta cả. Quá khứ Phật, hiện tại Phật,
trong kinh điển đức Thế Tôn đã giới thiệu, đã trần
thuật những giáo huấn của hết thảy chư Phật đối với
chúng sanh, chúng ta đọc đến thì phải như thuyết tu
hành.
Hiện tại hết thảy đại
chúng (vị lai Phật), thiện tâm, thiện nguyện, thiện
hạnh của họ, ta trông thấy, nghe thấy phải sanh tâm
hoan hỷ, khởi tâm cung kính, muốn học theo. Nếu
chúng ta không có những thiện hạnh thì phải học
theo. Những thiện nhân ấy là thiện tri thức của
chúng ta. Gặp phải kẻ ác khởi ác tâm ác niệm, tạo
tác hết thảy tội nghiệp, chúng ta trông thấy, nghe
thấy phải phản tỉnh, chúng ta có những lỗi ấy hay
chăng? Nếu có, phải gấp sửa lỗi đổi mới. Những kẻ ác
đó cũng là thầy ta (thiện tri thức). Chẳng có ai
chẳng phải là thầy! Chẳng có ai chẳng phải là thiện
tri thức, đều thời thời khắc khắc chỉ dạy, giúp đỡ
chúng ta. Chỉ có mình ta là học trò; trừ ta ra, ai
nấy đều là thầy mình hết. Bài kệ này chủ yếu dạy
chúng ta đạo lý này.
"Các hạnh nguyện Bồ Đề tối thắng": Tối
thù thắng là quý vị biết học theo người thiện, chẳng
học người ác. Gặp được người thiện phải học theo;
gặp kẻ ác, phải phản tỉnh mình có những điều ác như
thế chăng, họ dạy chúng ta kiểm điểm tâm hạnh của
chính mình. Con người rất thường hay chẳng thấy lỗi
mình. Thấy lỗi người khác phải quay trở lại xét kỹ
mình có hay không có, phải tìm cho ra. Tìm thấy lỗi
mình phải sửa đổi. Những kẻ đó là ân nhân của ta,
không có họ chúng ta chẳng thể phát hiện lỗi lầm của
mình. Đấy là sự khai ngộ thù thắng. Tất cả hết thảy
hạnh nguyện phải tu theo cách ấy.
"Tôi đều cúng dường, tu viên mãn": Đối
với hết thảy chúng sanh, bình đẳng cúng dường, bình
đẳng lễ kính, bồi dưỡng cái tâm thanh tịnh, tâm bình
đẳng của chính mình. Người lành, kẻ ác, chúng ta
biết phải học theo ai; thuận cảnh, nghịch cảnh, cũng
phải biết nên tu như thế nào. Thuận cảnh hay nghịch
cảnh đều là cảnh giới tốt, người thiện lẫn kẻ ác đều
là người tốt. Người tu học như thế nhất định viên
mãn thành Phật ngay trong một đời, bởi lẽ tất cả
chướng ngại thảy đều chẳng có. Chướng ngại nằm trong
tâm mình, tự mình tạo chướng ngại, cảnh giới bên
ngoài thật sự chẳng có chướng ngại.
Chúng ta chẳng biết
là tự mình chướng ngại mình, cứ sợ chướng ngại bên
ngoài làm khó mình, người này chướng ngại ta, việc
nọ chướng ngại ta, hoàn cảnh kia chướng ngại ta, đâu
đâu cũng đều là tìm pháp ngoài tâm, chẳng biết
chướng ngại thật sự phát sanh từ trong tâm! Nội tâm
thanh tịnh, chân thành, sẽ đột phá tất cả hết thảy
chướng ngại bên ngoài; hết thảy chướng ngại đều biến
thành trợ duyên, đều giúp cho quý vị, đều thành tựu
quý vị.
Sáu bài kệ tiếp theo
đây quy kết Văn Thù, Phổ Hiền, nguyện đồng nhị
thánh.