1.9. Nguyện thứ chín: Hằng
thuận chúng sanh
Chánh kinh:
Phục thứ Thiện nam
tử! Ngôn hằng thuận chúng sanh giả: Vị tận pháp
giới, hư không giới, thập phương sát hải, sở hữu
chúng sanh chủng chủng sai biệt, sở vị: noãn sanh,
thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hoặc hữu y ư địa,
thủy, hỏa, phong nhi sanh trụ giả, hoặc hữu y không,
cập chư mãng mộc nhi sanh trụ giả, chủng chủng sanh
loại, chủng chủng sắc thân, chủng chủng hình trạng,
chủng chủng tướng mạo, chủng chủng thọ lượng, chủng
chủng tộc loại, chủng chủng danh hiệu, chủng chủng
tâm tánh, chủng chủng tri kiến, chủng chủng dục lạc,
chủng chủng ý hạnh, chủng chủng oai nghi, chủng
chủng y phục, chủng chủng ẩm thực, xử ư chủng chủng
thôn doanh, tụ lạc, thành ấp, cung điện, nãi chí
nhất thiết thiên long bát bộ, nhân phi nhân đẳng, vô
túc, nhị túc, tứ túc, đa túc, hữu sắc, vô sắc, hữu
tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng. Như thị
đẳng loại ngã giai ư bỉ, tùy thuận nhi chuyển chủng
chủng thừa sự, chủng chủng cúng dường, như kính phụ
mẫu, như phụng sư trưởng, cập A La Hán, nãi chí Như
Lai, đẳng vô hữu dị. Ư chư bệnh khổ, vị tác lương y.
Ư thất đạo giả, thị kỳ chánh lộ. Ư ám dạ trung, vị
tác quang minh. Ư bần cùng giả, linh đắc phục tạng.
Bồ Tát như thị bình đẳng, nhiêu ích nhất thiết chúng
sanh.
Hà dĩ cố? Bồ Tát
nhược năng tùy thuận chúng sanh, tắc vi tùy thuận
cúng dường chư Phật. Nhược ư chúng sanh tôn trọng
thừa sự, tắc vi tôn trọng, thừa sự Như Lai. Nhược
linh chúng sanh sanh hoan hỷ giả, tắc linh nhất
thiết Như Lai hoan hỷ.
Hà dĩ cố? Chư Phật
Như Lai dĩ đại bi tâm nhi vi thể cố. Nhân ư chúng
sanh, nhi khởi đại bi. Nhân ư đại bi, sanh Bồ Đề
tâm. Nhân Bồ Đề tâm, thành Đẳng Chánh Giác. Thí như
khoáng dã, sa tích chi trung, hữu đại thọ vương.
Nhược căn đắc thủy, chi diệp hoa quả tất giai phồn
mậu. Sanh tử khoáng dã, Bồ Đề thọ vương, diệc phục
như thị. Nhất thiết chúng sanh nhi vi thọ căn. Chư
Phật Bồ Tát nhi vi hoa quả. Dĩ đại bi thủy nhiêu ích
chúng sanh, tắc năng thành tựu chư Phật Bồ Tát trí
huệ hoa quả.
Hà dĩ cố? Nhược chư
Bồ Tát dĩ đại bi thủy nhiêu ích chúng sanh, tắc năng
thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cố. Thị cố
Bồ Đề thuộc ư chúng sanh. Nhược vô chúng sanh, nhất
thiết Bồ Tát chung bất năng thành Vô Thượng Chánh
Giác.
Thiện nam tử! Nhữ ư
thử nghĩa, ưng như thị giải. Dĩ ư chúng sanh tâm
bình đẳng cố, tắc năng thành tựu viên mãn đại bi. Dĩ
đại bi tâm tùy chúng sanh cố, tắc năng thành tựu
cúng dường Như Lai. Bồ Tát như thị tùy thuận chúng
sanh, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng
sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã thử
tùy thuận vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô
hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
Lại này Thiện nam
tử! Nói hằng thuận chúng sanh nghĩa là tận pháp
giới, hư không giới, mười phương biển cõi Phật, tất
cả chúng sanh mọi thứ sai biệt, tức là: noãn sanh,
thai sanh, thấp sanh, hóa sanh (13), hoặc có loài
nương nơi đất, nước, gió, lửa mà tồn tại, hoặc có
loài nương vào không trung và các thứ cỏ cây để tồn
tại. Mọi thứ sanh loại, mọi thứ sắc thân (14), mọi
thứ hình dạng, mọi thứ tướng mạo, mọi thứ tuổi thọ,
mọi thứ tộc loại, mọi thứ danh hiệu, mọi thứ tâm
tánh, mọi thứ tri kiến, mọi thứ dục lạc, mọi thứ ý
hạnh, mọi thứ oai nghi (15), mọi thứ y phục, mọi thứ
thức ăn, sống trong mọi thứ thôn doanh, làng xóm,
thành ấp, cung điện, cho đến hết thảy thiên long bát
bộ, nhân phi nhân v.v… không chân, hai chân, bốn
chân, nhiều chân, có sắc, không sắc (16), có tưởng,
không tưởng, chẳng phải có tưởng chẳng phải không
tưởng (17). Với những loài như thế, tôi đều ở nơi đó
tùy thuận thực hiện mọi thứ thừa sự (18), mọi thứ
cúng dường như kính cha mẹ, như thờ sư trưởng, và A
La Hán, thậm chí giống như Như Lai chẳng sai khác.
Với những kẻ bệnh khổ, tôi làm lương y. Với kẻ lạc
đường, chỉ cho đường đúng. Trong nơi tăm tối, bèn
làm quang minh. Với kẻ bần cùng khiến được kho tàng.
Bồ Tát bình đẳng lợi ích hết thảy chúng sanh như
thế.
Vì sao vậy? Nếu Bồ
Tát có thể tùy thuận chúng sanh thì chính là tùy
thuận cúng dường chư Phật. Nếu tôn trọng thừa sự
chúng sanh chính là tôn trọng thừa sự Như Lai. Nếu
làm cho chúng sanh hoan hỷ chính là khiến cho hết
thảy Như Lai hoan hỷ.
Vì sao vậy? Vì chư
Phật Như Lai lấy tâm đại bi làm thể. Nhân nơi chúng
sanh mà khởi đại bi; nhân nơi đại bi, sanh tâm Bồ
Đề; nhân tâm Bồ Đề thành Đẳng Chánh Giác. Ví như
trong chốn đồng hoang sa mạc (19), có đại thọ vương
(20), nếu rễ cây hút được nước thì cành, lá, hoa,
quả thảy đều sum suê. Thọ vương Bồ Đề trong chốn
đồng hoang sanh tử cũng giống như thế. Hết thảy
chúng sanh là rễ cây, chư Phật, Bồ Tát là hoa quả.
Dùng nước đại bi lợi ích chúng sanh thì có thể thành
tựu hoa quả trí huệ Phật, Bồ Tát.
Vì sao vậy? Chư Phật,
Bồ Tát dùng nước đại bi lợi ích chúng sanh thì có
thể thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì
thế Bồ Đề thuộc nơi chúng sanh. Nếu không có chúng
sanh thì hết thảy Bồ Tát trọn chẳng thể thành Vô
Thượng Chánh Giác.
Này Thiện nam tử! Đối
với nghĩa này ông nên hiểu như thế. Do tâm bình đẳng
đối với chúng sanh nên có thể thành tựu viên mãn đại
bi; vì dùng tâm đại bi tùy thuận chúng sanh nên có
thể thành tựu sự cúng dường Như Lai. Bồ Tát tùy
thuận chúng sanh như thế hư không giới tận, chúng
sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh
phiền não tận, sự tùy thuận này của tôi chẳng có
cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn.
Thân ngữ ý nghiệp chẳng có chán mệt.
Nguyện thứ tám là hồi
hướng Bồ Đề. Hằng thuận chúng sanh là hồi hướng
chúng sanh. Nguyện thứ mười là hồi hướng pháp giới.
Trong Đại kinh (kinh Vô Lượng Thọ) đức Phật dạy
chúng ta phải đem công đức tu học hồi hướng về ba
chỗ: Bồ Đề, chúng sanh, pháp giới. Vì sao phải hồi
hướng? Phàm phu chẳng thể thành Phật, thành Bồ Tát
là do Ngã Chấp quá nặng, khởi tâm động niệm chỉ nghĩ
đến mình. Do đấy, từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta
đời đời kiếp kiếp tu hành, dù chỉ Sơ Quả cũng chẳng
chứng được. Đức Phật dạy chúng ta pháp môn Hồi Hướng
chính là dạy chúng ta phải phá Ngã Chấp, khiến chúng
ta khởi tâm động niệm chẳng nghĩ đến mình, khởi tâm
động niệm chẳng vì tự mình, mà vì Bồ Đề, vì chúng
sanh, vì pháp giới, mở rộng tâm lượng. Chỉ có mở
rộng tâm lượng thì vọng tâm mới phá trừ, chân tâm
mới hiện tiền, có vậy mới có thể vượt thoát tam
giới, mới hòng thành Phật, thành Bồ Tát. Bởi vậy,
pháp môn Hồi Hướng trọng yếu phi thường.
Nguyện đem công đức
này,
Trang nghiêm tịnh độ
Phật,
Trên đền bốn ân nặng,
Dưới cứu khổ tam đồ.
Nếu có ai thấy nghe,
Đều phát tâm Bồ Đề,
Hết một báo thân này,
Cùng sanh nước Cực
Lạc.
Đấy là bài kệ hồi
hướng chúng ta thường niệm mỗi khi niệm Phật, niệm
kinh, giảng kinh xong.
"Nguyện đem công đức này, trang nghiêm tịnh độ Phật"
là hồi hướng pháp giới.
"Trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ tam đồ"
là hồi hướng chúng sanh. Phật pháp niệm niệm chẳng
quên hiếu kính. Tứ Ân: ân thứ nhất là ân cha mẹ.
Phật pháp chẳng khéo học tức là bất hiếu. Lên đ
ài
giảng kinh, nếu chẳng giảng khéo, giảng sai lầm tức
là bất hiếu đối với cha mẹ, bất kính đối với sư
trưởng. Người nghe kinh dưới đ
ài,
nếu chẳng chú tâm nghe, cũng là bất hiếu bất kính.
Ân thứ hai là ân thầy dạy. Phật là thầy của chúng
ta, phải báo ân thầy. Ân thứ ba là ân quốc gia.
Chính quyền cai trị tốt đẹp, ai nấy đều giữ pháp,
người người đều hành thiện, mọi người an cư lạc
nghiệp, đấy là ân đức của chánh phủ. Ân thứ tư là ân
chúng sanh, tức là ân đức của nhân dân. Cơm ăn áo
mặc của chúng ta, hết thảy những thứ cần dùng cho
cuộc sống đều phải dựa vào đại chúng trong xã hội,
đại chúng trong xã hội có ân đức đối với lẫn nhau.
"Hạ tế tam đồ khổ"
(Dưới cứu khổ tam đồ): Tế là cứu tế, siêu độ. Tam Đồ
là
địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chúng ta nỗ lực tu học hòng
có năng lực giúp họ lìa khổ được vui.
"Nếu có ai thấy nghe, đều phát tâm Bồ Đề" là
hồi hướng Bồ Đề. Tám câu kệ hồi hướng đủ cả ba thứ
hồi hướng. Niệm kệ hồi hướng phải từ nội tâm chân
chánh phát nguyện, tâm và miệng tương ứng, công đức
vô lượng vô biên. Câu cuối cùng quy kết thế giới Cực
Lạc:
"Hết một báo thân này, cùng sanh nước Cực Lạc".
Tám câu kệ này viên mãn phi thường.
Đức Phổ Hiền nói:
"Tất cả chúng sanh mọi thứ sai biệt", ở đây
nói đến hữu tình chúng sanh trong chín pháp giới.
Các thứ sanh loại: Sanh loại có bốn thứ khác nhau là
noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh. Các thứ
sắc thân: thân thể, diện mạo khác nhau, chỉ nói tóm
gọn trong phạm vi nhân loại thôi, màu da đã khác
nhau, có người da trắng, người da vàng, người da
đen. Các thứ hình dạng: Người thuộc chủng tộc nào,
quốc gia nào chúng ta nhìn biết ngay, người Trung
Quốc có hình dạng người Trung Quốc, người Ấn Độ có
hình dạng người Ấn Độ. Các thứ tướng mạo: Tướng mạo
bất đồng. Các thứ thọ lượng: Có kẻ trường thọ, có kẻ
đoản mạng. Chủng tộc sai khác, danh hiệu bất đồng,
những suy nghĩ trong tâm chẳng giống nhau, kiến giải
chẳng tương đồng, tư tưởng sai khác, yêu thích khác
biệt, cho đến những tập quán thói quen sanh hoạt
cũng bất đồng, thức ăn cũng bất đồng.
Bồ Tát dạy chúng ta:
"Với những loài như thế tôi đều tùy thuận theo họ":
Đối với các loài chúng sanh sai khác đều phải tùy
thuận hết. Tùy thuận như thế nào? Phải nhẫn. Nếu quý
vị không nhịn chịu, quý vị chẳng thể tùy thuận được.
"Thường học theo Phật"
là
đặt
nặng Bố Thí. Cái gì Phật cũng buông xuống hết thì
trong Lục Độ đó chính là học Xả.
"Hằng thuận chúng sanh"
là học lấy Nhẫn Nhục trong Lục Độ. Chúng ta nhẫn
được như thế, nhẫn được thì sẽ thuận được. Thuận
theo chúng sanh, chúng sanh sẽ hoan hỷ. Đặc biệt là
người học Phật, nếu chẳng thể nhẫn nại, ắt sẽ bị
người trông thấy khinh cười. Nêu một thí dụ nông cạn
dễ thấy nhất: Đến xứ nào thuận theo phong tục xứ đó.
Anh ăn cái gì, tôi ăn cái đó; chớ đừng tôi thích ăn
cái gì, anh phải thay tôi làm cái đó, gây thêm phiền
phức cho người ta. Phải thuận theo chúng sanh!
Mình thích nằm giường
cứng, đến xứ này, người ta cho quý vị nằm giường lò
xo nệm mềm, quý vị cũng phải cam chịu, chẳng thể
buộc người khác đổi giường chiếu khác cho quý vị
được. Lễ tiết, thù tạc, mọi thứ phải tùy thuận. Đối
với người ta phải dùng tâm hiếu kính mà tùy thuận,
tùy thuận hết thảy mọi người giống như tùy thuận cha
mẹ. Kính hết thảy chúng sanh giống như kính trọng
thầy dạy. Tu hành nhất định phải tu cái tâm thanh
tịnh của chính mình ngay nơi quảng đại quần chúng
sai biệt. Trong hoàn cảnh cực bất thanh tịnh, tâm ta
thanh tịnh thì công phu thành tựu rồi; chẳng phải là
vào núi sâu hang thẳm tu hành, hoàn cảnh thanh tịnh,
nhưng tâm suy bậy nghĩ bạ, tâm chẳng thanh tịnh đâu
à! Tâm thanh tịnh phải tu trong chốn hồng trần. Tâm
bình đẳng phải tu trong hoàn cảnh cực bất thanh
tịnh.
Bình đẳng đối với kẻ
oán người thân, không gì là bất bình đẳng cả. Bởi
thế, oan gia là thiện tri thức, là thầy tốt, quý vị
nhờ đó được bình đẳng. Tu hành như vậy chính là như
kinh Hoa Nghiêm dạy: Dùng sự để luyện tâm, phải trải
qua đủ mọi sự vật sai biệt, mọi chuyện sai biệt, ở
trong đó mới có thể thật sự tu hành đến mức thanh
tịnh bình đẳng. Đạt đến thanh tịnh bình đẳng thì Lục
Độ của Bồ Tát viên mãn. Lục Độ là nhân, thanh tịnh
bình đẳng giác là quả báo.
Phải coi hết thảy
chúng sanh như chư Phật, như Bồ Tát. Trong mắt Phật,
mọi chúng sanh đều là Phật. Lúc Phật thành Phật,
Ngài thấy hết thảy chúng sanh nơi đại địa cùng thành
Phật đạo. Điều này cũng như kinh Hoa Nghiêm đã nói:
"Tình và vô tình cùng viên mãn Chủng Trí",
không có gì chẳng phải là Phật. Trong con mắt phàm
phu, Phật, Bồ Tát cũng là phàm phu. Trong pháp giới
có Phật hay chăng? Có phàm phu hay chăng? Không có
chi cả! Không có Phật, không có phàm phu, pháp giới
là bình đẳng. Vì sao lại có sai biệt?
Là vì tâm tưởng quý
vị bất bình đẳng. Bởi thế pháp giới bình đẳng biến
thành pháp giới sai biệt. Pháp giới bình đẳng là
thật, pháp giới sai biệt là giả, là do vọng tâm phân
biệt, chấp trước biến hiện. Học Phật phải trừ khử
sai biệt thì cảnh giới bình đẳng thật sự mới hiện
tiền. Mười nguyện Phổ Hiền có thể giúp chúng ta đạt
đến cảnh giới rốt ráo viên mãn. Trong pháp giới bình
đẳng thấy sai biệt là chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi
hóa độ chúng sanh, là
độ
tha viên mãn. Trong pháp giới sai biệt thấy bình
đẳng là chính mình tu hành chứng quả, là tự độ viên
mãn.
Đối với hết thảy
chúng sanh khổ nạn, chúng ta phải tận tâm tận lực
giúp đỡ họ. Khổ nạn do đâu mà có? Chẳng tìm được
bệnh căn thì chẳng có cách gì để có thể triệt để
giúp đỡ họ được. Tất cả hết thảy chúng sanh khổ nạn
vốn là do mê hoặc, điên đảo. Nói cách khác, đối
người, đối sự, đối vật, nghĩ sai, thấy sai, làm sai.
Có lục đạo chúng sanh là do mức độ lầm lạc sâu hay
cạn, rộng hay hẹp mà biến thành lục đạo. Trời người
cách nghĩ, cách nhìn sai lầm khá cạn, còn súc sanh,
ngạ quỷ cách nghĩ sai lầm sâu hơn; chúng sanh trong
địa ngục cách nghĩ hoàn toàn lầm lạc. Phải nhờ vào
giáo dục của đức Phật mới có thể dạy chúng sanh khôi
phục Chánh Tri Chánh Kiến, có cách nghĩ, cách nhìn
chánh xác đối với hết thảy sự lý nhân sanh vũ trụ.
Muốn cứu vớt chúng sanh khổ nạn thì nhất định phải
giúp họ phá mê khai ngộ. Nói cách khác, phải đem nền
giáo dục của đức Phật giới thiệu cho họ, giúp họ tu
học, tự nhiên họ sẽ giải quyết được vấn đề.
Tại gia cư sĩ làm
lụng, buôn bán kiếm lời muốn làm nhiều việc tốt có
được hay chăng? Nên làm việc tốt lớn lao là hoằng
pháp lợi sanh! Làm bằng cách nào? In kinh sách, in
các thiện thư dạy người sửa lỗi, sao chép băng thâu
âm, thâu hình giảng kinh tặng người khác, đó là việc
tốt nhất định phải làm, đó là hoằng pháp lợi sanh.
Cũng có thể dùng danh nghĩa công ty, tên tiệm để in
sách, đăng quảng cáo cho công ty trên băng ghi âm,
ghi hình, kết duyên các nơi, thì cũng giống như thay
cho công ty tuyên truyền quảng cáo, lợi tức nhất
định tăng trưởng. Đem băng ghi âm, ghi hình giảng
kinh phát trên đ
ài
phát thanh hay đ
ài
truyền hình, khiến nhiều người mở máy TV, bật radio
bèn được nghe giảng kinh, thuyết pháp, công đức càng
lớn. Chẳng nhất định phải là người có tiền mới làm
được công đức lớn lao; người không tiền chẳng thể tu
đại công đức, hiểu vậy là sai. Trong nhà Phật nói
đến tu công đức là nói tu từ tâm, cốt sao tận tâm
tận lực thì công đức bèn lớn. Tâm lực chưa dốc sạch
thì công đức sẽ nhỏ. Viên mãn đại công đức mỗi cá
nhân đều có thể tu được, đều có thể thành tựu viên
mãn, đó gọi là tâm đại từ bi, là chân chánh hằng
thuận chúng sanh. Muốn thật sự giúp chúng sanh giải
quyết hết thảy khổ nạn thì phải dựa vào sự giáo dục
của đức Phật.
Điểm đặc sắc của hạnh
nguyện Phổ Hiền là mỗi một hạnh nguyện đều kiến lập
trên cơ sở thanh tịnh bình đẳng quảng đại cung kính;
đấy là
điểm
khác biệt so với hạnh nguyện của các Bồ Tát khác. Bồ
Tát có thể bình đẳng lợi ích hết thảy chúng sanh là
vì có thể tùy thuận. Tùy thuận chẳng phải là chuyện
dễ làm được. Người Trung Quốc nói đến hiếu đạo, bên
chữ Hiếu lại thêm chữ Thuận. Chẳng Thuận tức là bất
hiếu. Phải có trí huệ cao độ, từ bi chân chánh, thì
mới có thể thật sự thuận theo hết thảy chúng sanh.
Phổ Hiền Bồ Tát lại
dạy chúng ta:
"Nếu Bồ Tát có thể tùy thuận
chúng sanh thì chính là tùy thuận cúng dường chư
Phật". Phật đã nói hết thảy chúng sanh vốn là
Phật, do đây biết rằng: Hằng thuận chúng sanh đúng
thực là tùy thuận cúng dường chư Phật. Dùng cái tâm
lễ kính chư Phật ấy, thái độ ấy để tùy thuận hết
thảy chúng sanh thì thật là phi thường; đó chính là
tu hành đến nơi đến chốn. Nếu chẳng tu hành đến nơi
đến chốn thì vẫn còn có tâm phân biệt, tâm chấp
trước. Là Phật hay là Bồ Tát thì ta phải cung kính,
nhưng với kẻ phàm phu, người bại hoại ta có phải
cung kính hay chăng? Một niệm phân biệt, chấp trước,
hạnh Phổ Hiền đánh mất ngay, bởi lẽ chẳng có tâm
bình đẳng. Chư Phật coi chúng sanh như cha mẹ đối
với con cái. Nếu có thể đối xử với hết thảy chúng
sanh hòa mục như người một nhà, Phật tâm bèn hoan hỷ
sẽ khiến cho hết thảy Như Lai hoan hỷ. Phật niệm
niệm mong trông thấy chúng sanh viên thành Phật đạo.
Điều đức Phật thích thấy chúng ta làm nhất là hằng
thuận chúng sanh.
"Chư Phật Như Lai dùng tâm đại bi để làm thể":
Ở đây nói đến chỗ dụng tâm bất đồng giữa ta và Phật.
Chúng ta dụng tâm: ý niệm đầu tiên là nghĩ đến mình,
chẳng bao giờ nghĩ ngay đến người khác. Dù có nghĩ
đến người khác thì kẻ đó phải là người thân thiết
của mình, có dính líu đến mình. Người không quan hệ
đời nào nghĩ đến! Huống hồ, lại còn súc sanh, ngạ
quỷ, địa ngục, nếu quý vị thật sự nghĩ đến họ, còn
ăn thịt chúng sanh được sao? Nhất định chẳng thể
được!
Hằng thuận chúng
sanh: Súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục cũng là chúng
sanh, đều phải bình đẳng tùy thuận. Từ chỗ này chúng
ta mới thật sự nhận thấy hạnh Phổ Hiền khó tu. Chúng
ta nỗ lực tu học, chỉ có thể học được ít phần, một
phần trăm, hai phần trăm là cùng; nếu muốn tu được
năm mươi phần trăm, chúng ta tu không nổi! Phật dùng
cái tâm bình đẳng từ bi, chẳng có phân biệt. Lòng từ
bi lìa hết thảy phân biệt chấp trước thì gọi là
đại
từ đại bi. Đối với hết thảy hữu tình chúng sanh
trong chín pháp giới, Phật đều khởi từ bi, từ từ bi
xuất sanh Bồ Đề tâm, do từ bi bèn triệt để giác ngộ,
giác ngộ hết thảy chúng sanh và mình cùng một thể.
Điều này chúng ta không biết được.
Nếu chúng ta biết
được, tâm đồng thể đại bi sẽ tự nhiên sanh khởi, bởi
lẽ hết thảy chúng sanh và ta là một thể. Đã là một
thể, sao còn có thể tàn hại chúng sanh? Bởi vì tàn
hại chúng sanh chính là tàn hại chính mình. Trong
thế gian há có kẻ nào ngu ngốc đến nỗi chính mình tự
hại mình? Biết
"hết thảy chúng sanh chính là
mình" là
điều
chư Phật Như Lai đã chứng, là cảnh giới khó thể lãnh
hội, rất khó hiểu. Làm sao chúng sanh lại có biến
thành chính mình cơ chứ! Trong kinh luận, Phật
thường dùng tỷ dụ để thuyết pháp, hy vọng mọi người
do tỷ dụ sẽ ngộ nhập cảnh giới ấy.
Ví như người nằm
mộng, lúc tỉnh mộng thì vẫn nhớ rất rõ những sự
tình, cảnh tượng trong mộng. Trong mộng thấy có
chính mình, cũng mộng thấy rất nhiều người, rất
nhiều chúng sanh, cũng mộng thấy sơn hà
đại
địa, cũng mộng thấy hư không, cảnh giới trong mộng
phảng phất như cảnh giới hiện tiền, bản thân mình
trong mộng ấy nào phải do cha mẹ sanh ra. Người,
động vật, sơn hà
đại
địa, hư không trong mộng do đâu mà có? Toàn thể mộng
cảnh đều do tự tâm quý vị biến hiện đó thôi. Tâm ấy
chẳng phải là chân tâm mà là vọng tâm, bởi lẽ chân
tâm chẳng có mộng. Công phu tu hành đạt đến mức độ
tương đương hoặc niệm Phật đến mức Nhất Tâm Bất Loạn
sẽ chẳng có mộng. Những người tu hành chứng quả A La
Hán cũng không có mộng.
Do đó biết rằng: mộng
là vọng tâm. Vọng tâm từ đâu có? Chân tâm và vọng
tâm chúng ta đều tìm chẳng ra. Bởi lẽ tâm chẳng có
tướng, chỉ là lúc nằm mộng bèn thấy được, lúc nằm
mộng tâm biến thành tướng. Mộng cảnh chính là tâm
của quý vị, cái tâm của quý vị biến ra mộng cảnh.
Tất cả hết thảy cảnh giới trong mộng đều từ quý vị,
đều là cảnh giới do cái tâm của chính quý vị biến
hiện ra. Trừ chính mình, cái gì cũng chẳng có. Trong
kinh luận, Phật thường nói:
"Toàn vọng tức chân, toàn chân tức vọng".
Xuyên qua mộng cảnh, lắng lòng suy nghĩ, chúng ta sẽ
hiểu đôi phần ý nghĩa hai câu Phật vừa nói trên.
Vọng là hiện tượng. Hiện thời sơn hà
đại
địa, chúng sanh lăng xăng, động vật, thực vật,
khoáng vật bày ra trước mắt chúng ta là do đâu mà
có? Là do tự tánh của chúng ta biến hiện. Kinh Kim
Cang chép: "Phàm những gì có
tướng đều là hư vọng". Tướng Vọng là do tự
tánh của chúng ta sau khi bị mê bèn hiện ra tướng
cảnh giới. Vĩnh Gia đại sư nói:
"Trong mộng rõ ràng có sáu
nẻo, tỉnh rồi đại thiên trống rỗng". Đại
triệt đại ngộ, viên mãn thành Phật, đại thiên thế
giới chẳng còn nữa, bởi lẽ chân tánh tỉnh mộng.
Mười phương thế giới
rốt cục là thật hay giả? Giả hay thật đều chẳng thể
nói được. Quý vị nói là thật ư, nó là giả đấy; bảo
là giả ư, nó thật có đấy! Bởi thế, chớ khởi nghi
tình là thật hay giả, cứ biết chân tướng sự thật là
được
rồi! Hư không pháp giới do tự tánh biến hiện, hết
thảy hữu tình chúng sanh cũng do tự tánh biến hiện.
Phật dạy: "Mười phương ba đời,
cùng chung một Pháp Thân" là nói đến một sự
thật. Phải thành Phật mới thật sự biết được.
Bởi thế, Phật giúp đỡ
chúng sanh, vì hết thảy chúng sanh giảng kinh thuyết
pháp, giúp họ khai ngộ, giúp họ tu hành chứng quả.
Đối với Phật mà nói, đó là nghĩa vụ của Ngài, là
chuyện Ngài phải làm. Ngài chẳng kể công, giống như
mẹ hiền chăm sóc con thơ, không điều nhỏ nhặt nào
lại chẳng quan tâm. Nếu quý vị hỏi Phật vì sao từ bi
phổ độ hết thảy chúng sanh? Phật sẽ đáp:
"Vì họ đồng thể với ta". Độ người chính là
độ
mình. Hiểu rõ chân tướng sự thật mới hiểu hằng thuận
chúng sanh chính là cúng dường chư Phật, khiến cho
hết thảy chư Phật hoan hỷ. Bởi vậy, Phật do đồng thể
đại bi mà xuất sanh Bồ Đề tâm, triệt để giác ngộ. Do
Bồ Đề tâm, thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Đấy chính là con đường quang minh rộng lớn để thành
Phật của chư Phật. Bây giờ chúng ta cũng đi theo con
đường này, ắt sẽ thành Phật.
Tùy thuận chúng sanh
chẳng thiệt thòi đâu. Trước mắt thấy tựa hồ thua
thiệt, thật sự chẳng thua thiệt. Nhịn được, nhường
được, tùy duyên được thì sẽ thành tựu đức hạnh cho
chính mình. Nào ai biết chịu thiệt chính là chiếm
tiện nghi. Với pháp thế gian, ta chịu thiệt một tí,
nhưng trong Phật pháp ta chiếm đại tiện nghi.
Thế pháp chướng ngại
Phật pháp. Với thế pháp, chúng ta lùi một bước,
nhường một bước thì chướng ngại đối với Phật pháp
bớt được một tầng, liền được đại tự tại. Trong kinh
Vô Lượng Thọ, cương lãnh tu hành là tâm thanh tịnh,
tâm bình đẳng. Lìa khỏi hết thảy chúng sanh thì tu
hành bình đẳng thanh tịnh ở chỗ nào? Không có chỗ
nào để tu cả! Tâm thanh tịnh phải tu nơi nhiễm cảnh,
tâm bình đẳng phải tu trong hoàn cảnh cực bất bình
thì mới là công phu, mới hòng chân chánh thọ dụng.
Ngày nào đó, chúng ta thấy thế giới này, thấy hết
thảy chúng sanh tâm thật sự bình đẳng thì tâm đại từ
đại bi sẽ hiện tiền.
Phải tu bao lâu mới
đạt đến cảnh giới ấy? Mỗi người mỗi khác! Người lợi
căn đạt cảnh giới này rất nhanh, kẻ độn căn thì mười
năm, hai mươi năm, cũng có khi cả đời tu chẳng
thành, nguyên nhân là vì chẳng buông xuống nổi. Muốn
thật sự đạt được thanh tịnh bình đẳng thì nhất định
phải thấy thấu suốt, buông xuống. Thân tâm, thế giới
hết thảy buông xuống hết; pháp thế gian, pháp xuất
thế gian cứ hễ còn có mảy may ý niệm, có mảy may
chấp trước, nghi hoặc, là quý vị chưa buông xuống
được. Phải thấy thấu suốt, buông xuống rồi thì mới
có thể dùng tâm đại bi tùy thuận hết thảy chúng
sanh, mới có thể được như Phổ Hiền Bồ Tát nói: thành
tựu cúng dường hết thảy Như Lai.