LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
1.8. Nguyện thứ tám: Thường
tùy Phật học
Chánh kinh:
Phục thứ, Thiện nam
tử! Ngôn thường tùy Phật học giả: Như thử Sa Bà thế
giới, Tỳ Lô Giá Na Như Lai tùng sơ phát tâm, tinh
tấn bất thoái, dĩ bất khả thuyết bất khả thuyết thân
mạng, nhi vi bố thí: bác bì vi chỉ, tích cốt vi bút,
thích huyết vi mặc, thư tả kinh điển, tích như Tu
Di. Vị trọng pháp cố, bất tích thân mạng, hà huống
vương vị, thành ấp, tụ lạc, cung điện, viên lâm,
nhất thiết sở hữu? Cập dư chủng chủng nan hành khổ
hạnh, nãi chí thọ hạ thành đại Bồ Đề, thị chủng
chủng thần thông, khởi chủng chủng biến hóa, hiện
chủng chủng Phật thân, xử chủng chủng chúng hội:
hoặc xử nhất thiết chư đại Bồ Tát chúng hội đạo
tràng, hoặc xử Thanh Văn, cập Bích Chi Phật chúng
hội đạo tràng, hoặc xử Chuyển Luân Thánh Vương, tiểu
vương quyến thuộc chúng hội đạo tràng, hoặc xử
Sát-lợi, cập Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ chúng hội
đạo tràng, nãi chí hoặc xử thiên long bát bộ, nhân
phi nhân đẳng chúng hội đạo tràng. Xử ư như thị
chủng chủng chúng hội, dĩ viên mãn âm như đại lôi
chấn, tùy kỳ nhạo dục, thành thục chúng sanh, nãi
chí thị hiện nhập ư Niết Bàn. Như thị nhất thiết,
ngã giai tùy học như kim Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na.
Như thị tận pháp
giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết
Phật sát, sở hữu trần trung, nhất thiết Như Lai,
giai diệc như thị. Ư niệm niệm trung, ngã giai tùy
học. Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận,
chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã
thử tùy học, vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục,
vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp, vô hữu bì yểm.
Lại này Thiện nam
tử! Nói thường học theo Phật nghĩa là: Như đức Tỳ Lô
Giá Na (8) trong thế giới Sa Bà này, từ sơ phát tâm,
tinh tấn chẳng lùi, dùng bất khả thuyết bất khả
thuyết thân mạng để bố thí: lột da làm giấy, chẻ
xương làm bút, chích máu làm mực, biên chép kinh
điển, chất như núi Tu Di. Vì tôn trọng pháp nên
chẳng tiếc thân mạng, huống gì ngôi vua, thành, ấp,
xóm, làng, cung điện, vườn, rừng, hết thảy sở hữu và
đủ
mọi khổ hạnh khó làm. Cho đến ngồi dưới gốc cây
thành đại Bồ Đề, thị hiện thần thông, khởi mọi thứ
biến hóa, hiện các thứ thân Phật ở trong các chúng
hội: Hoặc ở giữa chúng hội đạo tràng của hết thảy
các đại Bồ Tát, hoặc ở giữa chúng hội đạo tràng của
Thanh Văn và Bích Chi Phật, hoặc ở giữa chúng hội
đạo tràng của Chuyển Luân Thánh Vương (9), tiểu
vương, và quyến thuộc, hoặc chúng hội đạo tràng của
Sát Lợi (10), Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ, cho đến
chúng hội đạo tràng của thiên long bát bộ (11), nhân
phi nhân v.v… Ở trong đủ mọi chúng hội như thế, dùng
tiếng viên mãn như sấm rền lớn, tùy lòng ưa thích
của mỗi loại mà thành thục (12) chúng sanh, cho đến
thị hiện nhập Niết Bàn. Hết thảy như thế, tôi đều
học theo như đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na ngày nay.
Như thế tận hư không
giới, chúng sanh giới, mười phương ba đời hết thảy
cõi Phật, trong tất cả vi trần, hết thảy Như Lai
cũng đều như thế. Trong niệm niệm tôi đều học theo.
Như thế tận hư không giới, chúng sanh giới tận,
chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự
tùy học này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm
tiếp nối chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chưa
hề chán mệt).
"Thường học theo Phật"
là hồi hướng Bồ Đề. Bồ Đề là Phật. Học Phật muốn
thật sự thành tựu nhất định phải có thầy tốt chỉ
dạy; lại còn phải có đồng học, đồng tham đạo hữu tốt
thường ra sức dùi mài nghiên cứu thảo luận. Ngoài
ra, còn phải có những gương tốt khiến cho chúng ta
tu học thật sự có mục tiêu. Như Mạnh Tử học Khổng Tử
là một thí dụ: Mạnh Tử chiếu theo trước tác của
Khổng Tử, tu hành đúng theo lời dạy, có điều gì
không hiểu bèn thỉnh giáo đệ tử của Khổng Tử. Thiện
tri thức khó cầu, chẳng tìm được thiện tri thức thì
cầu nơi cổ nhân. Như Ngẫu Ích đại sư học Liên Trì
đại sư: Đương thời Liên Trì đại sư đã vãng sanh,
ngài xem Liên Trì Đại Sư Toàn Tập, thờ Liên Trì đại
sư làm thầy, nghe theo lời răn dạy của Liên Trì đại
sư, tu hành theo đúng lời thầy dạy, bèn thành công,
trở thành vị tông sư đương thời.
Thầy Lý Bỉnh Nam dạy
tôi lấy Ấn Quang pháp sư làm thầy, dạy tôi đọc Ấn
Quang Văn Sao, y chiếu lời Ấn Quang pháp sư răn dạy
mà tu hành. Phổ Hiền Bồ Tát là Đẳng Giác Bồ Tát, dạy
chúng ta thường học theo Phật, bảo chúng ta học theo
Phật. Phật đã tu chứng đến mức viên mãn rốt ráo,
chúng ta lấy Phật làm gương hòng un đúc chính mình.
Phật dùng tâm như thế nào, dùng thái độ như thế nào
để xử sự, đãi người tiếp vật, chúng ta học theo
Ngài. Thường nhật Phật sanh hoạt như thế nào, chúng
ta cứ học theo Ngài. Quý vị học đức Phật đúng từng
bước, từng nét thì xin chúc mừng quý vị, quý vị đã
thành Phật rồi đấy!
Phổ Hiền Bồ Tát dạy
chúng ta học theo đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai tu học
trong thế giới Sa Bà này, nhưng không giới thiệu A
Di Đà Như Lai cho chúng ta. Mười đại nguyện vương
dẫn về Cực Lạc, rõ ràng là khuyên chúng ta đến Tây
Phương Cực Lạc thế giới thân cận A Di Đà Phật, nhưng
ở đây thường học theo Phật, Ngài bèn dạy chúng ta
học theo Tỳ Lô Giá Na Phật. Nghĩa này phải hiểu như
thế nào? Chư vị phải nhớ kỹ: Học Phật tiếp nhận sự
giáo dục của Phật, tối khẩn yếu là
đừng
quên mất gốc. Phổ Hiền Bồ Tát là học trò của Tỳ Lô
Giá Na, bởi thế Ngài dạy chúng ta học theo thầy
Ngài. Tỳ Lô Giá Na là Báo Thân Phật, Thích Ca Mâu Ni
là Ứng Hóa Thân Phật, là thân ứng hóa của Tỳ Lô Giá
Na Phật. Đây là lấy Phật làm tấm gương tu hành cho
chúng ta. Chúng ta phải học theo đúng như Ngài.
"Từ sơ phát tâm": Lúc Phật phát tâm tối sơ,
chúng ta phải học theo Ngài phát tâm. Sau khi đức
Phật đã phát tâm, trong một thời gian dài
"tinh tấn chẳng lùi", chúng ta cũng học làm
theo đúng như thế. Thành Phật chẳng phải một hai
ngày là
đạt
được, cũng chẳng phải là một hai đời thành tựu được
đâu. Mỗi một vị Phật tu hành chứng quả đều là vô
lượng kiếp. Thời gian dài lâu không cách gì tưởng
tượng được. Bởi thế chúng ta phải phát tâm dài xa,
phải có tâm nhẫn nại, việc này chẳng thể gấp rút
được, phải nghiêm túc nỗ lực tu học. Lúc Phật còn tu
nhân, sau khi phát tâm, thời gian tu hành dài lâu,
phương pháp tu hành vô lượng vô biên.
Ở đây, Phổ Hiền Bồ
Tát nêu ra một thí dụ:
"Dùng thân mạng để bố thí",
tức là Nội Tài Bố Thí. Trong truyện ký có ghi lại
những chuyện tu hành của Thích Ca Mâu Ni Phật trong
đời đời kiếp kiếp, rất đáng để học theo. Lúc còn tu
nhân, Phật tu Bồ Tát đạo, vì lưu thông kinh điển,
trong chốn núi sâu tìm không ra giấy, Ngài tự lột da
mình làm giấy, tách đầu xương làm bút, chích huyết
làm mực để biên chép kinh giáo các vị cổ Phật đã nói
để lưu truyền cho hậu thế ngõ hầu khỏi bị thất
truyền. Đời đời kiếp kiếp tu hành như thế, biên chép
kinh điển chồng chất cao như núi Tu Di, đời đời kiếp
kiếp chẳng coi trọng nhục thân của chính mình, vị
pháp vong thân. Thân thể còn chẳng coi trọng, huống
gì vật ngoại thân? Vật ngoài thân càng chẳng để vào
mắt. Khổ hạnh khó làm như thế, Ngài làm được. Nghĩ
đến bản thân chúng ta học Phật, gặp phải chút khó
khăn gì bèn bỏ cuộc ngay; so với Phật lúc tu nhân,
chúng ta kém xa quá! Chẳng lạ gì Ngài thành Phật,
chúng ta vẫn cứ luân hồi trong lục đạo.
Tôi giới thiệu A Di
Đà Phật cùng quý vị đồng tu. Bởi lẽ Tỳ Lô Giá Na
Phật chẳng dễ học, kinh điển của Ngài là Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Một ngày niệm tám tiếng,
chỉ niệm một lần thôi cũng phải mất nửa tháng [mới
niệm xong toàn bộ kinh Hoa Nghiêm]. Chúng ta thờ A
Di Đà Phật làm thầy, Thích Ca Mâu Ni Phật, Tỳ Lô Giá
Na, mười phương hết thảy chư Phật Như Lai thấy quý
vị chọn lựa như vậy mỗi Ngài đều vỗ tay, hoan hỷ
rằng quý vị đã chọn đúng. Từ vô lượng kiếp đến nay,
đời đời kiếp kiếp chúng ta chưa từng chọn lựa đúng,
lần này chọn lựa đúng. Chọn đúng thì phải tu hành
đúng như lời dạy, một đời này quyết định thành Phật,
lẽ nào chư Phật chẳng hoan hỷ, chẳng tán thán?
Đối với chính mình
phải có tín tâm, A Di Đà Phật chẳng khó học, kinh
điển của ngài là kinh Vô Lượng Thọ. Kinh Hoa Nghiêm
là cốt tủy của Đại Tạng Kinh, kinh Vô Lượng Thọ là
cốt tủy của kinh Hoa Nghiêm. Quá khứ, Hoằng Nhất đại
sư khuyên người học Phật nên nhập môn bằng Hoa
Nghiêm Kinh Sớ Sao. Đáng tiếc con người hiện đại
chẳng rành văn ngôn cho lắm, đọc Hoa Nghiêm Kinh Sớ
Sao chẳng hiểu. Kinh Vô Lượng Thọ nói rõ ràng, gần
gũi dễ hiểu, có thể nói là vô cùng khế cơ đối với
người hiện thời. Hôm nay tôi khuyên các vị thường
học theo Phật là học Phật A Di Đà, tu học theo sự
giáo huấn của kinh Vô Lượng Thọ.
Kinh Vô Lượng Thọ
phải thường xuyên niệm, phải niệm cho thật thuộc.
Niệm Phật, niệm kinh là niệm cho hết vọng niệm,
chẳng tạo nghiệp luân hồi sáu nẻo. Kinh điển niệm
thuộc thì trong sanh hoạt thường nhật, khởi tâm động
niệm đều nghĩ đến những điều kinh giáo huấn: Chúng
ta có nên khởi những ý niệm này hay không? Chúng ta
có nên nói lời này hay không? Chúng ta có nên làm
việc này hay không? Phải tích cực tu học lời Phật A
Di Đà giáo huấn, lâu ngày chầy tháng, quý vị sẽ tự
nhiên biến đổi. Tâm phàm phu, tập khí phàm phu dần
dần giảm thiểu, tập khí A Di Đà Phật ngày dần càng
sâu, càng gần với đức Phật. Kinh điển chẳng thuộc,
chúng ta khởi tâm động niệm chẳng có tiêu chuẩn;
niệm thuộc thì mới có thể thường tùy Phật học. Phải
học phát tâm như Phật, phải học tu trì như Phật,
phải học chứng quả như Phật, phải học hoằng pháp lợi
sanh như Phật, mọi thứ đều phải học theo Ngài như
thế. Cho đến tám tướng thành đạo chúng ta cũng phải
học tập theo. Tám tướng thành đạo là diễn kịch, là
biểu diễn cho hết thảy chúng sanh xem, chẳng những
chỉ có ngôn giáo mà còn có thân giáo. Học A Di Đà
Phật là học mười phương ba đời hết thảy Phật; bởi
Phật Phật đạo đồng, một tức là nhiều, nhiều chính là
một. Biết được đạo lý này, chúng ta bèn rất an tâm,
tâm lý yên ổn, chẳng hoài nghi, chẳng lo lắng, dùng
tâm chân thành cung kính để học.