1.5. Nguyện thứ năm: Tùy hỷ
công đức
Chánh kinh:
Phục thứ, Thiện nam
tử! Ngôn tùy hỷ công đức giả: Sở hữu tận pháp giới,
hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết Phật
sát, cực vi trần số chư Phật Như Lai, tùng sơ phát
tâm, vị Nhất Thiết Trí, cần tu phước tụ, bất tích
thân mạng, kinh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật
sát cực vi trần số kiếp, nhất nhất kiếp trung, xả
bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần
số đầu, mục, thủ, túc. Như thị nhất thiết nan hành
khổ hạnh, viên mãn chủng chủng Ba La Mật môn, chứng
nhập chủng chủng Bồ Tát trí địa, thành tựu chư Phật
vô thượng Bồ Đề, cập bát Niết Bàn, phân bố xá lợi.
Sở hữu thiện căn ngã
giai tùy hỷ, cập bỉ thập phương nhất thiết thế giới,
lục thú, tứ sanh, nhất thiết chủng loại, sở hữu công
đức, nãi chí nhất trần, ngã giai tùy hỷ. Thập phương
tam thế, nhất thiết Thanh Văn, cập Bích Chi Phật,
hữu học, vô học, sở hữu công đức, ngã giai tùy hỷ.
Nhất thiết Bồ Tát sở tu vô lượng nan hạnh khổ hạnh,
chí cầu vô thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, quảng đại công
đức, ngã giai tùy hỷ. Như thị hư không giới tận,
chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng
sanh phiền não tận, ngã thử tùy hỷ vô hữu cùng tận.
Niệm niệm tương tục vô hữu gián đoạn, thân ngữ ý
nghiệp vô hữu bì yểm.
Lại này Thiện nam
tử! Nói tùy hỷ công đức là: Tất cả chư Phật Như Lai
nhiều như số cực vi trần trong hết thảy cõi Phật
trong mười phương ba đời tận pháp giới, hư không
giới, từ sơ phát tâm vì Nhất Thiết Trí (1) mà siêng
tu khối phước (2), chẳng tiếc thân mạng, trải các
kiếp nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết
bất khả thuyết cõi Phật, trong mỗi một kiếp, xả đầu,
mắt, chân, tay nhiều như số cực vi trần trong bất
khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Hết thảy khổ
hạnh khó làm như thế, viên mãn đủ mọi môn Ba La Mật,
chứng nhập mọi thứ trí địa (3) Bồ Tát, thành tựu vô
thượng Bồ Đề của chư Phật, và nhập Niết Bàn (4),
phân chia xá-lợi (5). Tất cả thiện căn, tôi đều tùy
hỷ. Và tất cả công đức của hết thảy chủng loại thuộc
sáu đường bốn loài trong mười phương hết thảy thế
giới, thậm chí [công đức nhỏ bằng] một hạt bụi, tôi
đều tùy hỷ. Tất cả công đức của mười phương ba đời
hết thảy Thanh Văn và Bích Chi Phật, hữu học, vô học
(6), tôi đều tùy hỷ. Hết thảy Bồ Tát đã tu vô lượng
khổ hạnh khó làm, chí cầu vô thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác, công đức rộng lớn tôi đều tùy hỷ.
Như thế, hư không
giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp
tận, chúng sanh phiền não tận, nhưng sự tùy hỷ này
của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối chẳng
có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán)
"Tùy hỷ chúng sanh"
đối trị bệnh ganh ghét. Điều này được đặc biệt nêu
ra đối với hàng Pháp Thân đại sĩ, cho thấy ghen ghét
không phải là căn bệnh nhỏ, bệnh nhẹ. Thấy chỗ hay
của người khác, trong tâm khó chịu, nghĩ cách chướng
ngại phá hoại, đó là bệnh rất nặng. Chẳng riêng gì
người thế gian mắc chứng bệnh nặng này, người học
Phật cũng không tránh khỏi. Bồ Tát cũng chẳng tránh
khỏi, thấy người khác có chỗ thù thắng, trong tâm
khó chịu. Nếu Bồ Tát chẳng mắc bệnh này, thì mười
nguyện Phổ Hiền sẽ chẳng có điều nguyện này.
Sau khi Lục Tổ Huệ
Năng được truyền y bát, rất nhiều sư huynh, sư đệ
muốn đoạt y bát là vì ghen ghét. Lúc Phật tại thế,
Đề Bà Đạt Đa ganh ghét Phật, luôn tìm cách phá hoại
chuyện hoằng pháp lợi sanh của Phật, nghĩ cách hại
chết Phật. Phật giáo truyền đến Trung Quốc, tổ tổ
tương truyền, chúng ta cũng thấy có rất nhiều chuyện
ghen ghét chướng ngại. Nghĩ đến bản thân chúng ta,
có ý niệm và hành vi ghen ghét hay chăng? Ghen ghét
là phiền não bẩm sanh của chúng sanh, chẳng dễ đoạn
trừ. Phổ Hiền Bồ Tát dạy chúng ta tùy hỷ công đức
nhằm nhổ tận gốc ghen ghét từ vô thỉ kiếp đến nay.
Thấy người khác có thiện hạnh, thiện sự, chúng ta
tùy hỷ, họ được công đức rất lớn thì chúng ta cũng
được công đức lớn giống hệt như vậy.
Cảnh giới tu nguyện
này của Bồ Tát là tột cùng hư không, khắp pháp giới.
Học tùy hỷ theo cách nào? Trong kinh có nêu một thí
dụ:
"Chư Phật Như Lai từ sơ phát tâm vì Nhất Thiết Trí
mà siêng tu khối phước, chẳng tiếc thân mạng".
"Phát tâm" là phát vô
thượng Bồ Đề tâm (phát tâm cầu Vô Thượng Bồ Đề),
cũng tức là phát tâm cầu trí huệ viên mãn rốt ráo.
Có trí huệ viên mãn rốt ráo thì mới có thể thấu hiểu
triệt để chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Sau khi
phát tâm, phải siêng tu phước huệ. Phật còn được gọi
là Nhị Túc Tôn, chữ Nhị chỉ phước và huệ, Túc là
trọn đủ, viên mãn. Thành Phật tức là phước đức và
trí huệ viên mãn. Vì tu phước và tu huệ bèn chẳng
tiếc thân mạng, làm được chuyện khó làm, tu được
chuyện khó tu, dũng mãnh tinh tấn, chư Phật Như Lai
thành tựu như thế đó. Sau khi thành Phật, rộng độ
chúng sanh chẳng ngưng nghỉ, thị hiện trong sáu
đường. Nên dùng thân nào để được độ, bèn hiện thân
đó, nên dùng thân Phật để độ bèn hiện thân Phật để
thuyết pháp.
Phật từ sơ phát tâm
thẳng đến khi độ sanh, bao nhiêu công đức chúng ta
đều phải tùy hỷ, phải học tập. Ngài làm như thế nào,
ta cũng làm theo như thế ấy. Người ta phát tâm được
thì ta cũng phát tâm được, người ta tu hành được thì
ta cũng tu hành được. Chúng ta chẳng những không
ghen ghét mà còn tận tâm tận lực giúp đỡ, thành toàn
cho người ta. Mọi người tu trì thì chúng ta có thật
sự bị chướng ngại gì chăng? Chẳng chướng ngại gì!
Nếu lắng lòng quan sát, [sẽ thấy] chẳng chướng ngại
người khác; thật ra, chỉ có mình chướng ngại chính
mình mà thôi. Phật từng thí dụ: Ví như có kẻ ngậm
nước phun lên trời, có phun được lên trời hay không?
Chẳng những không phun được mà trái lại nước còn rớt
trúng mặt mình. Phải chuyển đổi ý niệm, thành toàn
sự tốt đẹp cho người, người ta có việc gì tốt mình
phải giúp đỡ, phải thành tựu cho người ta. Người ta
tốt, trong xã hội ai nấy đều tốt, ta cũng hưởng lây,
ta cũng tốt luôn. Tinh thần chủ yếu của nguyện này
là dạy chúng ta hiểu rõ đạo lý này, nỗ lực tu học,
thành tựu công đức chân thật cho chính mình.
Nhìn lại xã hội trước
mắt, tùy hỷ công đức phải có trí huệ, chẳng thể làm
việc theo tình cảm; nếu không, sẽ thường mắc hại.
Nêu một ví dụ thật: Ở Đạt Lạp Tư (Dallas) có một
đồng tu đang lái xe thấy một đứa bé đi theo người
lớn bị té, do hảo tâm bèn dừng xe đỡ đứa bé dậy, hỏi
nó có bị thương hay không. Lúc đó, người lớn chạy
tới, đổ hô vị đồng tu ấy xô đứa bé té bị thương, nhờ
luật sư thưa ra tòa, bắt bồi thường tám vạn Mỹ kim.
Tại Mỹ quốc, trông thấy người già hoặc trẻ con té,
lập tức gọi điện thoại báo cảnh sát, kêu cảnh sát
đến đỡ người đó.
Nho gia dạy người:
"Thành tựu điều tốt đẹp cho người, chẳng thành toàn
điều xấu cho người". Ai làm việc gì bất hảo
đối với đại chúng, xã hội, chúng ta đừng giúp đỡ kẻ
đó. Còn nếu ai làm việc gì có lợi cho xã hội, cho
đại chúng thì chúng ta chớ nên ngăn trở, chướng ngại
người ấy, chớ ghen ghét họ mà phải tùy hỷ. Tùy hỷ
chẳng phải là trông thấy vui mừng là xong, phải tận
tâm tận lực giúp đỡ kẻ đó, khiến cho sự nghiệp của
kẻ đó được thành tựu viên mãn. Tận tâm tận lực là tu
tùy hỷ công đức viên mãn.
Bản thân mình không
có tiền, chạy cơm ba bữa đã là vấn đề, nên về tài
lực chẳng thể giúp đỡ người khác được, nhưng chúng
ta có thể khen ngợi người khác:
"Ông X. đó là người tốt, làm việc tốt. Quý vị có
năng lực hãy nên giúp đỡ ông ta". Đó cũng là
tùy hỷ công đức. Cho thấy tùy hỷ công đức là chuyện
ai cũng có thể tu được, lúc nào, chỗ nào cũng có thể
tu được. Trong cửa Phật, công đức của Phật, Bồ Tát,
công đức của tổ sư đại đức, còn trong thế pháp thì
công đức của chính phủ (thay thế bá tánh thực hiện
sự nghiệp phước lợi), bậc thiện nhân trưởng giả dùng
tài sản và năng lực tạo phước cho xã hội đại chúng
đều đáng tùy hỷ, khen ngợi. Bồ Tát dạy chúng ta phải
nỗ lực tinh tấn tu học, phải niệm niệm tiếp nối,
chẳng hề gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp chẳng hề chán
mệt.