LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
B. Giải thích kinh
văn
I. Phần trường hang
1. Mười đại nguyện vương
1.4. Nguyện thứ tư: Sám
hối nghiệp chướng
Chánh kinh:
Phục thứ, Thiện nam
tử! Ngôn sám trừ nghiệp chướng giả: Bồ Tát tự niệm,
ngã ư quá khứ, vô thỉ kiếp trung, do tham sân si,
phát thân khẩu ý, tác chư ác nghiệp vô lượng vô
biên. Nhược thử ác nghiệp hữu thể tướng giả, tận hư
không giới, bất năng dung thọ. Ngã kim tất dĩ thanh
tịnh tam nghiệp, biến ư pháp giới cực vi trần sát,
nhất thiết chư Phật, Bồ Tát chúng tiền, thành tâm
sám hối, hậu bất phục tạo, hằng trụ tịnh giới, nhất
thiết công đức. Như thị hư không giới tận, chúng
sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh
phiền não tận, ngã sám nãi tận, nhi hư không giới
nãi chí chúng sanh phiền não bất khả tận cố, ngã thử
sám hối vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu
gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp, vô hữu bì yểm.
Lại này Thiện nam
tử! Nói sám trừ nghiệp chướng là: Bồ Tát tự nghĩ,
tôi trong quá khứ, trong vô thỉ kiếp, do tham - sân
- si, tạo vô lượng vô biên các nghiệp ác nơi thân,
khẩu, ý. Nếu những ác nghiệp đó có thể tướng, cùng
tận hư không giới chẳng thể chứa đựng được. Tôi nay
đều dùng ba nghiệp thanh tịnh đối trước hết thảy chư
Phật, Bồ Tát chúng trong cực vi trần số cõi trong
khắp pháp giới thành tâm sám hối, về sau chẳng gây
tạo nữa, luôn trụ tịnh giới, hết thảy công đức. Như
thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng
sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, tôi sám
hối mới tận. Nhưng vì hư không giới cho đến phiền
não của chúng sanh chẳng thể tận nên sự sám hối này
của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng
có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng có mệt chán.
Nghiệp là tạo tác.
Tạo tác là Nghiệp. Phạm vi của tạo tác rộng lớn phi
thường. Nhất cử nhất động nơi thân: tạo tác nơi thân
là thân nghiệp, nói năng là khẩu nghiệp, trong tâm
khởi ý niệm vọng tưởng từ sáng đến tối chẳng ngớt,
đó là ý nghiệp. Chúng ta tạo nghiệp dẫu nhiều, nhưng
quy nạp lại, chẳng ngoài ba nghiệp thân - ngữ - ý.
Hễ ba loại nghiệp lớn này động bèn là tạo tác. Trong
tạo tác có thiện, có ác.
Nghĩ đến một việc
tốt, việc lợi ích chúng sanh thì là hảo sự, là thiện
nghiệp. Nghĩ đến một chuyện xấu, niệm niệm chỉ vì
mình thì là ác nghiệp. Vì tự mình thì có gì không
tốt? Vì sao đức Phật nói đó là ác nghiệp? Mục đích
học Phật là vượt thoát tam giới, khởi tâm động niệm
chỉ vì mình thì quý vị không cách gì vượt thoát tam
giới, thành Phật, thành Bồ Tát được! Bởi lẽ quý vị
tạo nghiệp gây chướng ngại chính mình. Kinh Kim Cang
nói: "Nếu Bồ Tát có tướng ta,
tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì
chẳng phải là Bồ Tát". Niệm niệm có Ngã, chấp
vào tướng Ta, đó là Ngã Chấp. Ngã Chấp chẳng phá thì
đừng nói đến Bồ Tát, ngay cả quả A La Hán cũng chẳng
đạt được. Tu học Phật pháp thành tựu quả báo thấp
nhất là A La Hán. Phá Ngã Chấp bèn chứng A La Hán.
Phá Pháp Chấp bèn chứng Pháp Thân đại sĩ, tức là
minh tâm kiến tánh, chứng quả vị Bồ Tát. Đức Phật
dạy chúng ta từ đầu đến cuối chỉ là phá Ngã Chấp và
Pháp Chấp mà thôi. Khởi tâm động niệm đều nghĩ đến
mình là ngày ngày tăng trưởng Ngã Chấp, chẳng thể
vượt thoát tam giới; như vậy, niệm niệm vì mình
chính là Ác. Khởi tâm động niệm nghĩ đến người khác,
Ngã dần dần mất đi, Ngã Chấp bị phá. Niệm niệm nghĩ
đến người khác là thiện, còn niệm niệm nghĩ đến mình
là ác, đó là nghiệp chướng.
Có một loại chướng
gọi là Phiền Não Chướng, khởi tâm động niệm đều là
phiền não. Lại có một thứ chướng gọi là Sở Tri
Chướng. Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng tánh chất
bất đồng: Bản thân phiền não là chướng ngại; Sở Tri
là trí huệ, bản thân nó chẳng phải là chướng ngại.
Phật nói: Quá khứ, hiện tại, vị lai mười phương vô
lượng vô biên thế giới, sự lớn việc nhỏ không gì quý
vị chẳng biết, không gì quý vị chẳng làm được. Trí
huệ của chúng ta vốn có năng lực lớn lao như thế,
lớn như hư không pháp giới. Sở Tri chẳng phải là
chướng, vấn đề là Sở Tri biến thành bất tri. Nói
cách khác, nhất định có một thứ chướng ngại khiến
cho đức năng của trí huệ bị ngăn trở, chướng ngại đó
gọi là Sở Tri Chướng. Thứ chướng ngại ấy rốt cục là
gì? Chướng ngại ấy chính là vô minh. Hiện tại chúng
ta cái gì cũng không hiểu, cái gì cũng không rõ
ràng. Vô minh là Sở Tri Chướng. Vô minh từ đâu mà
có? Kinh Lăng Nghiêm dạy:
"Tri kiến lập tri, thị vô minh
bổn": nếu cho mình là thông minh, có trí huệ,
người khác chẳng hiểu biết như mình, Phật gọi đó là
vô minh; thật ra, cái gì quý vị cũng chẳng biết cả.
Bởi lẽ những gì tưởng là hiểu đó chỉ là Thế Trí Biện
Thông (biện tài thế gian), chẳng phải là trí huệ
chân chánh. Thế Trí Biện Thông chẳng những không
phải là trí huệ, trong quá trình tu học, nó còn là
một trong tám nạn. Mắc nạn là chướng ngại, tổ sư đại
đức thường khuyên nhắc kẻ sơ học chẳng cần phải xem
kinh điển nhiều, cũng chẳng cần phải nghe nhiều
người giảng kinh thuyết pháp. Xem kinh càng nhiều,
vọng niệm càng nhiều, biến thành Sở Tri Chướng,
chướng ngại bổn tánh, chướng ngại quý vị mở mang trí
huệ. Phật dạy chúng ta hãy từ một môn mà thâm nhập,
tu định. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, môn nào cũng đều
tu Định. Niệm A Di Đà Phật là tu Định, tôi dạy quý
vị niệm kinh Vô Lượng Thọ không cần phải niệm kinh
gì khác cũng là tu Định.
Sám hối là gì? Sám là
Sám Ma, là dịch âm tiếng Phạn. Hối là tiếng Trung
Quốc. Chữ Sám Ma có ý nghĩa rất gần với chữ Hối Cải,
bởi thế các vị pháp sư dịch kinh dùng chữ Sám Hối để
dịch chữ Sám Ma, tức là Hoa - Phạn hợp dịch. Biết
lỗi ắt sửa, sau này chẳng tái phạm, là chân sám hối.
Trong nhà Phật có không ít nghi quỹ sám hối, do cổ
đức từ bi thương xót kẻ sơ học, dạy chúng ta phương
pháp, nguyên tắc sám hối. Chúng ta cần phải hiểu
tinh thần sám hối: Sám hối chẳng phải là
đối
trước Phật, Bồ Tát kể lại một lượt những lỗi lầm
mình đã phạm hôm qua, ngày nay, cầu Phật, Bồ Tát tha
thứ, xóa hết tội lỗi. Làm như vậy là sai rồi, nghĩ
đến tội nghiệp một lượt thì cũng giống như lại tạo
tội ấy một lần nữa. Làm thế nào để sám trừ nghiệp
chướng được? Bất luận trót tạo tội nghiệp gì cũng
đừng nghĩ đến nữa, cứ chắc thật niệm A Di Đà Phật,
nhất định về sau chẳng tái phạm nữa thì nghiệp
chướng mới thật sự sám trừ được.
"Bồ Tát tự nghĩ, tôi trong quá khứ, trong vô thỉ
kiếp, do tham - sân - si, tạo vô lượng vô biên các
nghiệp ác nơi thân, khẩu, ý. Nếu những ác nghiệp đó
có thể tướng, cùng tận hư không giới chẳng thể chứa
đựng được": Đây là Phổ Hiền Bồ Tát tự nói về
chính mình, Ngài còn như thế huống gì chúng ta?
Chúng ta đời đời kiếp kiếp chất chứa ác nghiệp vô
lượng vô biên. May là chủng tử ác nghiệp chất chứa
trong A Lại Da Thức chẳng có thể tích. Nếu chúng có
thể tích nhỏ bằng một hạt vi trần thôi thì những hạt
vi trần chất chứa từ vô thỉ kiếp đến nay, hư không
chẳng chứa đựng được nổi. Chúng ta tạo nghiệp, một
ngày hai mươi bốn tiếng, chẳng gián đoạn phút giây
nào. Lúc ngủ cũng nằm mộng tạo nghiệp! Trong những
nghiệp đã tạo, ác nghiệp nhiều, thiện nghiệp ít. Nói
chung, khởi tâm động niệm nghĩ đến mình thì nhiều,
nghĩ đến người khác thì ít. Quá nửa là tổn người lợi
mình, được mấy lúc tổn mình lợi người? Phản tỉnh kỹ
càng, lời Bồ Tát quả là thiên chân vạn xác (ngàn vạn
phần đúng đắn), chúng ta ác nghiệp rất nhiều, từ hôm
nay trở đi, phải phát nguyện tu sám hối.
"Tôi nay đều dùng ba nghiệp thanh tịnh đối trước hết
thảy chư Phật, Bồ Tát trong cực vi trần số cõi trong
khắp pháp giới thành tâm sám hối, về sau chẳng gây
tạo nữa, luôn trụ tịnh giới, hết thảy công đức":
Đây là Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp sám hối.
Trước hết, quý vị phải có ba nghiệp thân - khẩu - ý
thanh tịnh. Đó là cơ sở để sám hối nghiệp chướng.
Nếu không, nghiệp chướng chỉ càng tăng thêm, chẳng
thể giảm thiểu. Ba nghiệp lấy ý nghiệp làm chủ. Tâm
thanh tịnh thì thân và ngữ tự nhiên thanh tịnh. Lục
Tổ Thiền Tông là Huệ Năng đại sư sau khi đắc pháp
nơi ngài Hoàng Mai, do huynh đệ của Sư chẳng phục,
rượt đuổi muốn đoạt lại y bát. Trong số ấy có sư Huệ
Minh, trước khi xuất gia là tướng quân tứ phẩm. Huệ
Năng bị ông ta đuổi kịp, ẩn vào lùm cỏ bên đường, bỏ
y bát trên tảng đá cho Huệ Minh lấy đi. Huệ Minh giơ
tay nắm lấy y bát, giở lên không được. Y bát rất
nhẹ, Tứ Phẩm tướng quân cầm chẳng nổi, trong tâm
liền cảnh giác, biết là do thần hộ pháp giữ gìn nên
sức người chẳng thể lay động nổi, bèn năn nỉ Huệ
Năng đại sư bước ra, nói:
- Tôi chẳng vì y bát,
vì cầu pháp mà
đến.
Thấy chiều gió xoay
bánh lái thật lẹ! Trước hết Huệ Năng đại sư dạy ông
ta tịnh lại, định cái tâm lại đã. Sau khi tâm Huệ
Minh định rồi, bèn hỏi Huệ Minh:
- Chẳng nghĩ thiện,
chẳng nghĩ ác (tâm thanh tịnh thì chẳng còn có ý
niệm thiện hay ác), chính ngay trong lúc đó, cái gì
là bổn lai diện mục của thượng tọa Huệ Minh?
Do lời nói đó, Huệ
Minh bèn đại ngộ. Ba nghiệp của ông ta thanh tịnh,
nhân đó bèn đại ngộ. Ý niệm thiện ác chẳng khởi, tâm
thanh tịnh hiện tiền. Huệ Minh ba nghiệp thanh tịnh,
bèn đối trước Huệ Năng sám hối nghiệp chướng, nghiệp
chướng thật sự tiêu trừ, tâm thanh tịnh hiện tiền,
bèn minh tâm kiến tánh. Chỉ cần chuyển được ý niệm
bèn khai ngộ chứng quả.
Tại gia cư sĩ lúc làm
việc phải nỗ lực làm việc, làm việc xong, buông hết
thảy vọng niệm xuống, điều gì cũng chẳng cần nghĩ
tới nữa, thiện hay ác đều chẳng suy lường, dùng cái
tâm thanh tịnh đó niệm Phật, một niệm tương ứng một
niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật,
nghiệp chướng của quý vị sao không thể tiêu trừ cho
được! Nghiệp chướng tiêu trừ, tâm thanh tịnh hiện
tiền, tâm thanh tịnh khởi tác dụng là trí huệ, đối
với công việc bình thường của quý vị, quý vị làm
càng được viên mãn, càng tự tại. Lúc trước làm việc
rất khổ, nay làm rất sung sướng. Trước kia thấy công
việc rất phiền não, nay thấy công việc rất tự tại.
Vì sao vậy? Là vì nghiệp chướng tiêu trừ rồi.
"Về sau chẳng gây tạo nữa": Bình thường tiểu
Bồ Tát tu hành, dạy quý vị sau này chẳng tái tạo
nữa, còn Phổ Hiền Bồ Tát nói
"về sau chẳng gây tạo nữa" có nghĩa là từ nay
trở đi, phải gìn giữ cái tâm thanh tịnh, chẳng còn
có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nữa! Thiện hay
ác đều chẳng suy lường, vĩnh viễn gìn giữ cái tâm
thanh tịnh, vĩnh viễn dùng cái tâm thanh tịnh ấy để
chấp trì danh hiệu, đó là chân chánh
"về sau chẳng gây tạo nữa" thì mới có thể sám
trừ nghiệp chướng; từ vô thỉ kiếp đến nay, nghiệp
chướng dù nhiều dù nặng đều có thể sám trừ.
"Hằng trụ tịnh giới, hết thảy công đức": Hằng
là thường hằng, vĩnh viễn. Trụ là tâm ta an trụ
trong giới thanh tịnh. Giới là pháp, trì giới là giữ
pháp. Hằng trụ tịnh giới là vĩnh viễn dùng cái tâm
thanh tịnh giữ pháp, dùng tâm thanh tịnh tuân thủ
giáo pháp của Phật, tuân thủ pháp luật, quy định của
quốc gia và quan niệm đạo đức của phong tục tập quán
dân gian. Giữ pháp nhưng chẳng mất tâm thanh tịnh
thì gọi là
"hằng trụ tịnh giới, thành tựu
hết thảy công đức". Một phần công phu được
một phần thâu hoạch, mười phần công phu được mười
phần thâu hoạch.
Bồ Tát phát nguyện tu
khoa mục
"sám hối nghiệp chướng"
này giống như phần trên "niệm
niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn" dũng mãnh
tinh tấn tu học, "thân ngữ ý
nghiệp chẳng có mệt chán": Ngài thành tựu vô
lượng công đức thù thắng, tự nhiên chẳng có cảm giác
mệt mỏi, chẳng thấy chán nản. Ngài đạt được công đức
chân thật nên pháp hỷ sung mãn, đồng thời lại còn
được hết thảy Như Lai oai thần gia trì. Chúng ta
chiếu theo phương pháp này tu học cũng sẽ nhất định
được chư Phật gia trì.
Lược Giảng Giáo Nghĩa
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, phần 1 hết
Chú thích:
Trong phần chú thích
này, những phần nào không phải lời chú thích của lão
cư sĩ Hoàng Trí Hải sẽ được ghi rõ xuất xứ.
(*) Ở đây, chúng tôi
không rõ có sự nhầm lẫn trong ấn loát hay không, đa
số các sách ghi là hai mươi mốt ngày (hoặc
"tam thất"
(3 lần bảy ngày)). Bản in này ghi là
"nhị thất nhật", nên
chúng tôi dịch theo là "mười
bốn ngày".
(**) Nếu gọi đầy đủ
là Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền
Hạnh Nguyện Phẩm, tương ứng với phẩm Nhập Pháp Giới
trong bản Tứ Thập Hoa Nghiêm; phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện là quyển thứ 40 của phẩm này.
(1) Bản Lục Thập Hoa
Nghiêm dịch vào đời Đông Tấn được ngài Phật Đà Bạt
Đà La dịch vào thời Đông Tấn, gồm 7 xứ, 8 hội, 34
phẩm. Bản này gọi là Cựu Dịch.
Bát Thập Hoa Nghiêm
do ngài Thật Xoa Nan Đà dịch dưới thời Đường, nhằm
trào Võ Tắc Thiên. Khi Sư dịch xong, chính Võ Hậu đã
cầm bút ngự phê bài Khai Kinh Kệ
"Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp…" lên bìa
cuốn kinh này (theo Hòa Thượng Tịnh Không). Bản này
gọi là Tân Dịch. Bản Tứ Thập Hoa Nghiêm tuy ghi là
một phẩm, đặt tên là Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát
Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, nhưng thật ra
gồm hai phần: phần thứ nhất (39 quyển đầu) tương ứng
với phẩm Nhập Pháp Giới trong Bát Thập Hoa Nghiêm và
Phổ Hiền Thập Chủng Hạnh Nguyện (quyển này là quyển
40, thường được tách ra lưu truyền như một phẩm
riêng, thường gọi là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm). Tứ
Thập Hoa Nghiêm do ngài Bát Nhã Tam Tạng xứ Kế Tân
dịch từ Phạn sang Hán.
(2) Cách phân chia
các hội ở đây dựa theo bản Bát Thập Hoa Nghiêm, Hòa
Thượng Tịnh Không cho biết:
1) Hội thứ nhất tại
Bồ Đề đạo tràng gồm sáu phẩm, mười một quyển. Phổ
Hiền Bồ Tát giảng về y báo nhân quả của đức Tỳ Lô
Giá Na Phật.
2) Hội thứ hai giảng
tại điện Quang Minh, cũng là do Phổ Hiền Bồ Tát nói
về chánh báo nhân quả của Phật, gồm ba phẩm. Nửa
phần sau hội thứ hai, Văn Thù Bồ Tát giảng Thập Tín,
địa vị Thập Tín, giảng phát tâm, giảng về Sơ Phát
Tâm, tổng cộng ba phẩm.
3) Hội thứ ba trên
trời Đao Lợi, giảng trên cung trời Đao Lợi do Pháp
Hội Bồ Tát chủ giảng. Vì thế, hội thứ ba do Pháp Hội
Bồ Tát giảng Thập Trụ, có sáu phẩm, ba quyển.
4) Hội thứ tư tại
trời Dạ Ma, do Công Đức Lâm Bồ Tát giảng pháp môn
Thập Hạnh, cũng gồm bốn phẩm, ba quyển.
5) Hội thứ năm trên
trời Đâu Suất – Di Lặc Bồ Tát sống trên trời Đâu
Suất – Hội này do Kim Cang Tạng Bồ Tát giảng pháp
môn Thập Hồi Hướng, có ba phẩm, gồm mười hai quyển.
6) Hội thứ sáu tại
trời Tha Hóa Tự Tại, do Kim Cang Tạng Bồ Tát làm hội
chủ, giảng pháp môn Thập Địa. Hội này chỉ có một
phẩm, nhưng là một phẩm rất dài đến cả sáu quyển.
7) Hội thứ bảy lại là
điện
Phổ Quang Minh, trong hội này, đức Phật làm chủ,
giảng về Đẳng Giác, về Diệu Giác. Phần này gồm mười
một phẩm, mười ba quyển.
8) Hội thứ tám cũng
tại điện Phổ Quang Minh, Phổ Hiền Bồ Tát giảng, chủ
yếu nói về các pháp môn tu hành. Phổ Hiền Bồ Tát nói
hai ngàn pháp môn tu hành. Phần này chỉ có một phẩm,
gồm bảy quyển.
9) Hội thứ chín tại
rừng Thệ Đa, tức là vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, diễn tả
cuộc cầu pháp tham học với năm mươi ba vị thiện tri
thức của Thiện Tài Đồng Tử.
(3) Theo đại sư Thanh
Lương phán định, kinh Hoa Nghiêm chia làm bốn khoa:
A) Cử Quả Khuyến Yếu
Sanh Tín Phần (Phần nêu quả để khuyên phải sanh lòng
tin), tức là Tín phần: Gồm hai hội đầu trong mười
hội, giảng về Y Báo, Chánh Báo trang nghiêm của Phật
Tỳ Lô Giá Na, thuyết minh thế giới của đức Phật để
hành nhân từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên ngưỡng mộ quả
báo, phát sanh lòng tin chân thật.
B) Tu Nhân Khế Quả
Sanh Giải Phần (phần tu nhân, khế nhập quả, sanh
hiểu), còn gọi là Giải Phần: Giảng về lý luận, nhân
như thế nào, quả như thế nào. Phần này gồm các hội
thứ ba, tư, năm, và sáu.
C) Thác Pháp Tấn Tu
Thành Hạnh Phần, tức là nói về Hạnh của bậc Diệu
Giác, Đẳng Giác, gồm toàn bộ kinh văn thuộc hội thứ
bảy và hội thứ tám.
D) Y Nhân Chứng Nhập
Thành Đức Phần, tức Chứng Phần, nói về cách dùng Tu
Đức để hiển Tánh Đức, cụ thể là việc tham học của
Thiện Tài Đồng Tử và mười đại nguyện Phổ Hiền.
(4) Lục Tướng: sáu
tướng của sự vật trong vạn hữu:
A) Tổng tướng: một
pháp duyên khởi đầy đủ nhiều đức, như thân người đầy
đủ các căn.
B) Đồng tướng: nhiều
đức hòa hợp nương nhau tạo thành một pháp, nhưng
không chống trái nhau.
C) Dị tướng: nhiều
đức khác nhau tạo thành một pháp, như các căn tạo
thành thân người, nhưng mỗi căn mỗi khác.
D) Thành tướng: nhiều
đức nương nhau tạo thành một tướng, như sáu căn hợp
thành thân người.
E) Hoại tướng: mỗi
căn đều trụ nơi bản vị, không dời đổi, nên không
thành tổng tướng.
Thập Huyền Môn: xin
xem phần Chú Giải kinh Vô Lượng Thọ của cư sĩ Hoàng
Niệm Tổ, quyển thứ nhất.
Tứ pháp giới: tức Sự
vô ngại, Lý vô ngại, Lý Sự vô ngại và Sự Sự vô ngại.
(5) Đại Phương Quảng:
Đại gồm ba nghĩa:
A) Pháp thân của Phật
rộng lớn vô lượng vô biên. Tất cả hết thảy cảnh giới
thảy đều trọn khắp đầy đủ. Bởi thế gọi là Đại.
B) Các môn trí huệ
của Phật vừa cao vừa rộng, nhiều vô cùng vô tận nên
gọi là Nhất Thiết Chủng Trí (thấu đạt chân tánh của
hết thảy pháp), nên gọi là Đại.
C) Đức Phật chứng
được diệu pháp tối thắng, không cảnh giới Bồ Tát nào
vượt trỗi hơn được, chỉ mình đức Phật có khả năng
hóa độ mọi chúng sanh ứng theo căn cơ nên gọi là
Đại.
Phương là quỹ tắc
(Quỹ là
đường
xe đi). Ý nói đạo lý chân thật, hết thảy chúng sanh
tuân thủ, thực hành theo thì mới mong được giải
thoát, mới khỏi bị đọa lạc.
Chữ Quảng ý nói kinh
Phật ý nghĩa rộng sâu không thể suy lường được.
Hợp ba chữ này, Đại
Phương Quảng ý nói: Tâm tánh Phật và tâm tánh chúng
sanh đồng một thể, tâm tánh ấy bao trùm pháp giới,
phủ trọn mười phương; Phật thụ dụng được tâm ấy,
chúng sanh do mê hoặc nên vẫn là phàm phu. Phải
nương theo tâm tánh ấy để được chân thật thọ dụng
như chân Phật.
Nếu luận về Thể -
Tướng - Dụng thì Đại là Thể của tâm tánh: Tâm tánh
ấy thanh tịnh, chẳng ô nhiễm mảy may, chưa hề tăng
giảm. Phương là Tướng của tâm tánh, còn có thể nói
là Lượng của tâm tánh. Tướng ấy còn lớn hơn cả hư
không, có thể nói là không ngằn mé. Tướng ấy nói
rộng ra là ngang khắp mười phương, dọc suốt ba đời.
Quảng là Dụng của Tánh: Tâm ấy có thể tạo lập hết
thảy pháp, bao gồm cả mười pháp giới, chẳng thể nghĩ
bàn.
(6) Theo Hòa Thượng
Tịnh Không, chữ Kệ ở đây phải hiểu là cách tính kích
thước một văn bản của Ấn Độ thời cổ, một bài kệ là
bốn câu, như nay ta nói kinh Hoa Nghiêm có mười vạn
kệ, mười vạn tức là bốn mươi vạn câu, bốn mươi vạn
câu dài ngắn khác nhau. Chữ Kệ này khác với Kệ Tụng
là một thể loại văn vần nhằm trùng tuyên ý nghĩa đã
được giảng trong phần Trường Hàng.
(7) Phật Đà Bạt Đà La
(Buddhabhadra 359-429): Hán dịch là Giác Hiền, cao
tăng Ấn Độ, sống vào thế kỷ thứ 5, người ở thành Na
Ha Lợi, con cháu họ Thích, thuộc dòng dõi Cam Lộ
Phạn Vương. Sư xuất gia năm bảy tuổi, đặc biệt giỏi
về Thiền và Luật. Cùng với Tăng Già Bạt Đà La, Sư
đến Kế Tân thọ pháp với ngài Phật Đại Tiên. Sau nhận
lời thỉnh của Trí Nghiêm, ngài đến Trường An hoằng
pháp năm 408. Vì không quen với phong tục Trường An
và không hợp với các đệ tử của La Thập nên Sư cùng
hơn 40 đệ tử rời Trường An đến ở Lô Sơn với Sơ Tổ
Tịnh Độ Huệ Viễn. Năm 415, Sư đến chùa Đạo Tràng,
Kiến Khang (nay là Nam Kinh), dịch Lục Thập Hoa
Nghiêm; cùng ngài Pháp Hiển dịch Luật Ma Ha Tăng Kỳ,
Đại Bát Nê Hoàn kinh, tất cả gồm 13 bộ, 125 quyển.
Sư thị tịch năm 429 đời Lưu Tống, thọ 71 tuổi.
(8) Thật Xoa Nan Đà
(Siksananda 652-710): Người xứ Vu Điền (nay thuộc
tỉnh Tân Cương), năm 652, Sư đem Phạn bản kinh Hoa
Nghiêm đến Trung Quốc, cùng Bồ Đề Lưu Chi, Nghĩa
Tịnh… dịch sang Hán văn tại chùa Đại Biến Không. Sư
còn dịch nhiều bản kinh Đại Thừa khác. Năm 705, Sư
trở về nước, sau Sư lại được nghênh thỉnh ba lần. Sư
mất năm 710, sau khi trà tỳ cuống lưỡi không hư
hoại, học trò Sư đưa kinh cốt về Vu Điền xây tháp
cúng dường (theo Huệ Quang tự điển).
(9) Thanh Lương đại
sư: Pháp húy Trừng Quán (738-839), tổ thứ tư tông
Hoa Nghiêm. Còn có hiệu là Đại Hưu, được phong Thanh
Lương quốc sư. Sư xuất gia năm 14 tuổi, với Bái
thiền sư chùa Bảo Lâm. Tuy tinh tường Luật, Thiền,
Mật, ngài đặc biệt chú trọng giáo nghĩa của ngài
Pháp Tạng. Năm 776, Sư chuyên tu Phương Đẳng Sám
Pháp tại chùa Đại Hoa Nghiêm ở Ngũ Đài, giảng kinh
Hoa Nghiêm rất nhiều lượt. Sư tham gia dịch trường
Tứ Thập Hoa Nghiêm của ngài Bát Nhã và viết Trinh
Nguyên Tân Dịch Hoa Nghiêm Kinh Sớ 10 quyển. Năm
799, Sư được vua thỉnh vào điện, giảng kinh Hoa
Nghiêm, vua bỗng nhiên giác ngộ, cho rằng
"diệu pháp làm mát lòng trẫm"
nên ban đức hiệu Thanh Lương Quốc Sư. Chú sớ của đại
sư về kinh Hoa Nghiêm rất nhiều, rất đồ sộ (theo Huệ
Quang tự điển).
(10) Tông Mật đại sư
(780-841): Gọi đủ là Khuê Phong Tông Mật, tổ thứ năm
của tông Hoa Nghiêm. Năm 806, Sư đi thi, giữa đường
qua Toại Châu, nghe Hòa Thượng Đạo Viên thuyết pháp,
bèn xuống tóc xuất gia. Năm 810, sư tham bái ngài
Thanh Lương Trừng Quán, thọ trì giáo học Hoa Nghiêm.
Chú giải kinh Viên Giác của Sư được coi là khuôn mẫu
cho các tác phẩm chú giải kinh Viên Giác sau này. Sư
đề xướng Thiền Giáo Nhất Trí và
được
coi là một thiền sư nổi danh thuộc dòng thiền Thần
Hội (theo Huệ Quang tự điển).
(11) Thiện Tài đồng
tử: là
đương
cơ của pháp hội này. Theo phẩm Nhập Pháp Giới của
bản Bát Thập Hoa Nghiêm, ở Phước Thành có một vị
trưởng giả có năm trăm con trai, trong đó có một đứa
bé tên là Thiện Tài. Lúc mới sanh ra, các thứ của
cải trân dị từ đất vọt lên, do vậy đặt tên là Thiện
Tài. Của cải ấy do công đức tu tập từ nhiều đời nên
cảm ứng. Khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát giảng pháp tại An
La Lâm thuộc phía Đông phước Thành, Thiện Tài đến
nghe, nghe xong bèn phát đại tâm. Tuân lời Bồ Tát
dạy, Thiện Tài cứ đi mãi về phương Nam tham bái năm
mươi ba vị thiện tri thức. Vị thiện tri thức số 28
chính là Quán Âm Bồ Tát. Vị thiện tri thức cuối cùng
là Phổ Hiền Bồ Tát. "Đương cơ"
hay còn gọi là
đối
cơ nghĩa là người có tánh tình tư chất có thể lãnh
thọ được pháp đang giảng trong pháp hội ấy.
(12) Kiếp: Một tiểu
kiếp là một ngàn sáu trăm tám mươi vạn năm. Hai mươi
tiểu kiếp là một trung kiếp. Bốn trung kiếp là một
đại kiếp, tức mười ba vạn bốn ngàn bốn trăm vạn năm.
(134.400 x 10.000 =1.344.000.000)
(13) Cực vi trần: Vi
trần là một hạt bụi rất nhỏ. Cực vi trần nghĩa là
phần chia ra rất nhỏ của một vi trần. Có thể hình
dung như thế này: Gộp bảy cực vi trần lại ta có một
kim trần, gộp bảy kim trần ta được một thủy trần,
gộp bảy thủy trần lại ta được một thố mao trần (tức
là vừa bằng đầu cọng lông con thỏ).
(14) Bất khả thuyết
bất khả thuyết: một con số cực lớn. Theo phẩm A Tăng
Kỳ bản Bát Thập Hoa Nghiêm, một trăm lạc-xoa (tức
một trăm ngàn) là một câu-chi, câu-chi lần câu-chi
là một A Du Đa. A Du Đa lần A Du Đa là một Na Do
Tha. Na Do Tha lần Na Do Tha là một Tần Bà La… Cứ
tính lần như thế cho đến Bất Khả Lượng lần Bất Khả
Lượng là một Bất Khả Lượng Chuyển. Bất Khả Lượng
Chuyển lần Bất Khả Lượng Chuyển là một Bất Khả
Thuyết. Bất Khả Thuyết lần Bất Khả Thuyết là một Bất
Khả Thuyết Chuyển. Bất Khả Thuyết Chuyển lần Bất Khả
Thuyết Chuyển là một Bất Khả Thuyết Bất Khả Thuyết.
(15) Phật sát: khu vực hóa độ của một đức Phật. Sát
gọi đủ là Sát-độ (ksetu), nhỏ nhất là một tam thiên
đại thiên thế giới.
(16) Lễ là biểu hiện
của sự tôn kính. Thể hiện sự tôn kính đức Phật bằng
những cách chắp tay, cúi đầu, cúc cung (cung là thân
thể, gập mình lại thì gọi là cúc cung), phủ phục
(thân thể nằm rạp xuống đất), phản chưởng (ngửa hai
lòng bàn tay hướng lên trên), đảnh lễ (đầu mặt chạm
xuống đất), tiếp túc (hai tay đặt hai bên mặt mình,
lòng bàn tay ngửa lên, đầu áp sát đất, như ôm lấy
chân đức Phật). Kính là lòng chí thành. Đây là cách
hiểu theo mặt văn tự của chữ
"lễ kính".
(17) Giới có thể hiểu
là giới hạn. Bất cứ vật gì có thể nêu tên được thì
đều gọi là Pháp. Như vậy bất cứ cảnh giới, sự vật,
sự tình nào đều có thể gọi là pháp. Pháp giới hàm ý
tất cả vạn hữu. Hư không giới tức là toàn thể hư
không.
(18) Thâm tâm là tâm
thiết tha sâu đậm. Tín là tin, giải là hiểu biết rõ
ràng. Dùng lòng tin hiểu sâu đậm, hiểu biết tường
tận nên thấy chư Phật rõ ràng giống như các Ngài
đang hiện diện trước mặt.
(19) Hội ở đây là
pháp hội, tức là nơi Phật thuyết pháp. Hội ấy rộng
lớn đông đảo vô cùng nên thêm chữ Hải đằng trước để
hình dung hội ấy to lớn như biển cả. Hải hội vây
quanh nghĩa là các vị Bồ Tát, Thanh Văn, các loài
chúng sanh đến nghe pháp, đông không thể tính đếm
được. Kinh Hoa Nghiêm hay dùng chữ Hải để hình dung
những gì rộng lớn, phạm vi quá rộng.
(20) Giải nghĩa là
hiểu rõ, phân biệt rành rẽ; Thắng là thù thắng (tốt
đẹp đặc biệt). Nghĩa là khéo hiểu biết, phân biệt
hết thảy mọi sự, mọi pháp trong thế giới một cách
thù thắng.
(21) Tri kiến hiện
tiền: Dùng ý thức để phân biệt là Tri, dùng nhãn
thức để phân biệt gọi là Kiến.
"Hiện tiền" là những gì hiện diện trước mắt.
Gộp ý hai câu này có
nghĩa là dùng tâm khéo quyết định, dùng sức thấy
biết rõ ràng như sự vật đang đối ngay trước mắt.
(22) Biện Tài thiên
nữ (Shri Devi): Là một thiên nữ trong cung Tự Tại
Thiên Vương (trời Tự Tại thuộc tầng thứ sáu trong
hai mươi tám tầng trời, tính từ dưới lên), còn gọi
là Thiện Khẩu. Cô này có thể biến hóa đủ loại tướng
lưỡi, mỗi một lưỡi phát ra vô cùng vô tận các thứ âm
thanh, mỗi một âm thanh phát ra lại có cả mấy trăm
thứ tiếng nhạc hòa theo. Trong các âm thanh của Biện
Tài thiên nữ phát ra, lại còn có những lời lẽ hay
khéo ca ngợi công đức Phật.
(23) Quảng tu cúng
dường: Quảng có nghĩa là rất nhiều, rất rộng. Cúng
dường (đúng ra phải đọc là Cung Dưỡng): Cung là cung
phụng, Dưỡng là hiếu dưỡng như con cái đối với cha
mẹ.
(24) Hương xoa (Đồ
hương): loại hương để bôi lên thân, có hai loại dùng
gỗ Chiên Đàn Hương nghiền thành bột trộn với sáp để
bôi. Loại thứ hai là dùng các thứ hương nghiền thành
bột để tạo thành sáp bôi hoặc xông quần áo cho thơm
tho. Ở Ấn Độ do khí hậu nóng, mồ hôi nhiều nên các
loại đồ hương nhằm khử mùi hôi nơi thân thể rất
thịnh hành. Chiên Đàn là tiếng Phạn, Tàu dịch là Dữ
Lạc (ban cho sự vui vẻ). Gỗ loại cây này rất thơm,
cũng có thể dùng để chế hương đốt, có hai loại đỏ và
trắng. Loại trắng trị bệnh nhiệt, loại đỏ trị bệnh
phong. Do trừ được bệnh, khiến cho thân thể nhẹ
nhàng thơ thới nên gọi là Dữ Lạc.
(25) Hương bột (Mạt
hương): Hương nghiền thành bột dùng để đốt, hay dùng
để hòa với đất sét thành bùn thơm để đắp đ
àn
tràng, nặn tượng.
Chú ý các vật cúng ở
đây được gọi là Mây hàm ý: vật cúng nhiều xếp tầng
tầng lớp lớp dày đặc chật kín cả không trung như
mây. Số lượng vật cúng quá nhiều không thể tính kể
được nên nói
"lượng như núi Tu Di".
(26) Tô: chất tinh
luyện từ sữa, vừa ăn được, vừa dùng để thắp đ
èn.
(27) Đây đều là danh
mục những con số. Câu-chi (koti) là mười vạn, tức
một trăm ngàn; cũng có thuyết nói một câu-chi là một
ngàn vạn. Một ngàn vạn ức là một na-do-tha (một Ức
là một ngàn vạn). Ca-la phần là một con số cực nhỏ,
theo sách Huệ Uyển Âm Nghĩa:
"Chẻ một sợi lông trên người làm trăm phần thì gọi
là Ca La". Toán phần là con số nhỏ nhất có
thể tính được bằng toán học. Số phần là con số nhỏ
nhất có thể tìm được bằng các công thức số học. Dụ
phần là con số nhỏ nhất có thể hình dung được bằng
thí dụ. Ưu-ba-ni-sa-đ
à,
dịch là Cận Phần, tức là một hạt vi trần chẻ thành
bảy phần, mỗi phần lại chẻ thành bảy, gần bằng với
một Lân Hư Trần. Ý của đoạn này là công đức của Tài
Cúng Dường chẳng bằng được một phần nhỏ nhất của
Pháp Cúng Dường.