LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
B. Giải thích kinh
văn
I. Phần trường hang
1. Mười đại nguyện vương
1.3. Nguyện thứ ba: Rộng
tu cúng dường (23)
Chánh kinh:
Phục thứ, Thiện nam
tử! Ngôn quảng tu cúng dường giả: Sở hữu tận pháp
giới, hư không giới, thập phương tam thế nhất thiết
Phật sát, cực vi trần trung, nhất nhất các hữu nhất
thiết thế giới cực vi trần số Phật, nhất nhất Phật
sở, chủng chủng Bồ Tát hải hội vi nhiễu, ngã dĩ Phổ
Hiền hạnh nguyện lực cố, khởi thâm tín giải, hiện
tiền tri kiến, tất dĩ thượng diệu chư cúng dường cụ,
nhi vi cúng dường.
Sở vị: hoa vân, man
vân, thiên âm nhạc vân, thiên tán cái vân, thiên y
phục vân, thiên chủng chủng hương, đồ hương, thiêu
hương, mạt hương. Như thị đẳng vân, nhất nhất lượng
như Tu Di Sơn vương. Nhiên chủng chủng đăng: tô
đăng, du đăng, chư hương du đăng, nhất nhất đăng chú
như Tu Di sơn, nhất nhất đăng du như đại hải thủy.
Dĩ như thị đẳng chư cúng dường cụ, thường vi cúng
dường.
Thiện nam tử! Chư
cúng dường trung, pháp cúng dường tối. Sở vị: Như
thuyết tu hành cúng dường, lợi ích chúng sanh cúng
dường, nhiếp thọ chúng sanh cúng dường, đại chúng
sanh khổ cúng dường, cần tu thiện căn cúng dường,
bất xả Bồ Tát nghiệp cúng dường, bất ly Bồ Đề tâm
cúng dường.
Thiện nam tử! Như
tiền cúng dường vô lượng công đức, tỷ pháp cúng
dường nhất niệm công đức, bách phận bất cập nhất,
thiên phận bất cập nhất, bách thiên câu-chi
na-do-tha phần, ca-la phần, toán phần, số phần, dụ
phần, ưu-ba-ni-sa-đ
à
phần diệc bất cập nhất. Hà dĩ cố?
Dĩ chư Như Lai tôn
trọng pháp cố, dĩ như thuyết hành xuất sanh chư Phật
cố. Nhược chư Bồ Tát hành pháp cúng dường, tắc đắc
thành tựu cúng dường Như Lai. Như thị tu hành, thị
chân cúng dường cố. Thử quảng đại tối thắng cúng
dường, hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng
sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã cúng
nãi tận, nhi hư không giới, nãi chí phiền não bất
khả tận cố, ngã thử cúng dường diệc vô hữu tận. Niệm
niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp
vô hữu bì yểm.
Lại này Thiện nam tử!
Nói rộng tu cúng dường là: Tất cả hết thảy các cõi
Phật trong mười phương ba đời tận cùng pháp giới, hư
không giới, trong mỗi một cực vi trần đều có chư
Phật nhiều như số cực vi trần trong hết thảy thế
giới, nơi mỗi đức Phật có các hải hội Bồ Tát vây
quanh. Tôi do sức hạnh nguyện Phổ Hiền khởi tín giải
sâu, tri kiến hiện tiền, thảy đều dùng vật cúng
dường thượng diệu để cúng dường.
Như là: mây hoa, mây
tràng hoa, mây âm nhạc trời, mây tàn lọng trời, mây
y phục trời, các thứ hương trời: hương xoa (24),
hương đốt, hương bột (25). Các mây như thế mỗi một
mây lượng như núi chúa Tu Di. Thắp các thứ đ
èn:
đ
èn
thắp bằng chất tô (26), đ
èn
dầu, các loại đ
èn
dầu thơm. Mỗi một tim đ
èn
như núi Tu Di, dầu trong mỗi đ
èn
như nước biển cả. Dùng các vật cúng dường như thế để
thường cúng dường.
Này Thiện nam tử!
Trong các pháp cúng dường, pháp cúng dường quý nhất.
Ấy là: cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời
dạy, cúng dường bằng cách làm lợi chúng sanh, cúng
dường bằng cách nhiếp thọ chúng sanh, cúng dường
bằng cách chịu khổ thế cho chúng sanh, cúng dường
bằng cách siêng tu thiện căn, cúng dường bằng cách
chẳng xả nghiệp Bồ Tát, cúng dường bằng cách chẳng
lìa Bồ Đề tâm.
Này Thiện nam tử! Vô
lượng công đức cúng dường như trên so với công đức
của pháp cúng dường trong một niệm chẳng bằng một
phần trăm, chẳng bằng một phần ngàn, cũng chẳng bằng
được một phần của trăm ngàn câu-chi na-do-tha, ca-la
phần, toán phần, số phần, dụ phần, ưu-ba-ni-sa-đ
à
phần (27). Vì sao thế?
Vì các Như Lai tôn
trọng pháp, vì tu hành đúng như lời dạy sẽ sanh ra
chư Phật. Nếu các Bồ Tát hành pháp cúng dường thì
được thành tựu cúng dường Như Lai. Tu hành như thế
là chân cúng dường vậy. Sự cúng dường rộng lớn tối
thắng này, hư không giới tận, chúng sanh giới tận,
chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự
cúng dường của tôi mới hết. Nhưng vì hư không giới
cho đến phiền não chẳng thể tận nên sự cúng dường
này của tôi cũng chẳng có tận. Niệm niệm nối tiếp,
chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt
chán.
Cúng dường là tu
phước. Con người chẳng thể không có phước, không có
phước thường gặp khổ sở. Có phước báo, cuộc sống của
quý vị sẽ tự tại vô cùng, hạnh phúc sung sướng vô
cùng. Phước báo do đâu có? Phước báo là do tu bố thí
cúng dường mà
được.
Trong Lục Độ của Đại Thừa Bồ Tát, thứ nhất là Bố
Thí. Sự bố thí của Phổ Hiền Bồ Tát gọi là Cúng
Dường. Tâm bố thí của Phổ Hiền Bồ Tát chân thành,
thanh tịnh, rộng lớn, bình đẳng, dùng tâm như thế để
bố thí thì gọi là Cúng Dường; không có tâm như thế
thì gọi là Bố Thí. Bố thí phước báo nhỏ, cúng dường
phước báo lớn; bởi lẽ tâm lượng bố thí nhỏ, tâm
lượng cúng dường rất lớn. Phước báo tỷ lệ thuận với
tâm lượng, tâm lượng lớn thì phước báo lớn.
Có rất nhiều thứ
phước báo, kinh Phật quy nạp thành ba loại lớn: giàu
có, thông minh trí huệ, mạnh khỏe sống lâu. Sống lâu
mạnh khỏe chẳng cần đến người khác trông nom, săn
sóc, thật sự là phước báo. Phật dạy chúng ta: ba thứ
phước báo là quả báo, chẳng tu nhân làm sao quý vị
có được quả báo?
A)
"Tài bố thí" (bố thí bằng tài vật) được giàu
có. Người đại phú quý trong thế gian vận may, mạng
tốt, làm gì cũng sanh lợi; quý vị làm gì cũng lỗ lã,
cụt vốn. Nói thật ra, chẳng phải do cơ hội, chẳng
phải là vận may, cũng chẳng phải do thông minh trí
huệ, mà do trong đời quá khứ họ tu nhân, nên trong
đời này đương nhiên họ được phước báo đó. Dùng tài
vật của chính mình bố thí cúng dường sẽ hưởng thọ
quả báo giàu có vĩnh viễn chẳng hết. Hiện tại, nhờ
cậy con cái nuôi mình lúc tuổi già là chuyện khó
mong, người thế gian cứ nghĩ bên mình phải có chút
tiền của mới chắc ăn, vạn nhất gặp phải tai nạn
ngoài ý muốn như hỏa tai, nước lụt, bị giặc cướp
đoạt mất, tiền của mất hết, quý vị làm cách nào đây?
Vẫn chẳng chắc ăn chi hết. Gởi trong ngân hàng cũng
chẳng chắc ăn, ngân hàng cũng có thể bị đóng cửa.
Chắc ăn nhất là tu Bố Thí, dùng của cải bố thí cúng
dường hết thảy đại chúng, tích trữ như vậy mới chắc
ăn; lúc mình cần đến sẽ có người cho mình, cúng
dường mình. Rất nhiều người chẳng hiểu rõ đạo lý
này, cho là không chắc ăn, chẳng dám làm. Chẳng dám
làm là không tin Phật, bởi lẽ bố thí được giàu có là
do chính đức Phật nói. Có tiền bèn bố thí, bố thí
sạch sành sanh, trong tâm thật là khoái lạc, đến lúc
đó
"trong nhà Phật, có cầu ắt ứng", nghĩ đến cái
gì, cái đó bèn đến.
Tôi học Phật hai mươi
sáu năm, Chương Gia đại sư dạy tôi:
"Trong nhà Phật có cầu ắt ứng là thật đấy, nhưng
phải biết tu, phải biết tu nhân! Anh chẳng cần phải
sợ hãi, phải tin tưởng Phật, Phật chẳng lừa dối
chúng ta". Tôi nghe lời thầy, sanh hoạt vô
cùng tiết kiệm, bớt tiền ra bố thí, dùng để phóng
sanh, giúp đỡ tiền thuốc men cho người nghèo, tiền
dư nhiều mới mua sách. Cho đến tận bây giờ vẫn bố
thí như vậy. Năm trước, ở Đức Châu (Texas), Mỹ quốc,
các đồng tu tại đó muốn lập đạo tràng, là chuyện
tốt, nhưng tôi không có tiền. Vừa mới nghĩ vậy, chưa
đầy ba tháng sau, có rất nhiều người gởi tiền cho,
đương nhiên có tiền lập Phật đường. Phòng ốc đó là
do Phật, Bồ Tát kiến tạo. Nếu dùng tiền tài để hoằng
pháp lợi sanh là thích đáng nhất. Tôi học Phật, nghe
theo lời thầy, y giáo phụng hành bốn mươi năm, chính
tôi được cảm ứng, đúng là "hữu
nguyện tất thành". Phước nhất định phải gieo
nơi ruộng phước; hoằng pháp lợi sanh là phước điền.
Tiền của tôi đều dùng để in kinh.
B)
"Pháp bố thí": Nếu có cơ duyên đem phương
pháp lý luận tu học của chính mình, những điều hay
mình đạt được trình bày với mọi người, khiến mọi
người cũng chiếu theo phương pháp lý luận tu học ấy.
Ấy gọi là Pháp Bố Thí. Mấy năm gần đây, tôi đến các
nơi trên thế giới giảng kinh, phổ biến giới thiệu
Tịnh Độ Tông, đó là Pháp Bố Thí.
C)
"Vô Úy Bố Thí": Trong tâm chúng sanh có ngờ
vực, có sợ hãi, có khó khăn, nếu chúng ta có năng
lực bèn giúp họ giải quyết, khiến tâm họ được bình
an, thân được an ổn; sự giúp đỡ như thế gọi là Vô Úy
Bố Thí.
Tu Tài Bố Thí được
giàu có, tu Pháp Bố Thí được thông minh trí huệ, tu
Vô Úy Bố Thí được sống lâu mạnh khỏe, ba thứ quả báo
ấy chúng ta đều cần; vì vậy, phải nỗ lực tu học ba
thứ Bố Thí thì mới có quả báo thù thắng. Nếu chẳng
tu nhân, mỗi ngày cầu Phật, Bồ Tát, cúng dường
hương, hoa, nước, quả, nịnh nọt Phật, Bồ Tát hòng
các Ngài bảo hựu ban cho quý vị phước báo, chẳng hề
có chuyện như vậy đâu! Phật, Bồ Tát dạy chúng ta tu
nhân, tu nhân mới được quả!
"Trong các cúng dường, pháp cúng dường quý nhất":
mọi người chỉ biết Tài Bố Thí được giàu có, Pháp Bố
Thí được thông minh trí huệ, chẳng biết sự viên dung
trong quả báo để chuyên tâm tu Pháp Bố Thí. Có trí
huệ, quý vị chẳng bần cùng, có trí huệ nhất định quý
vị có thể điều thân điều tâm, nên bèn được khỏe mạnh
trường thọ. Do đây biết rằng: Cái quý báu nhất trong
thế gian chẳng phải là giàu có mà là trí huệ. Một
lời của Phổ Hiền Bồ Tát nói toạc ra: Trong các cúng
dường, pháp cúng dường thù thắng nhất.
Phạm vi của Pháp Cúng
Dường rộng lớn vô biên, Bồ Tát nêu tượng trưng bảy
loại:
1) Cúng dường bằng
cách tu hành đúng theo lời dạy:
Những đạo lý đức Phật
giảng trong kinh điển, chúng ta phải hiểu rõ, phải
thể hội. Phật, Bồ Tát dạy chúng ta nên làm những
việc gì, chúng ta phải làm theo đó, những việc nào
chẳng nên làm, chúng ta tuyệt đối chẳng làm. Chiếu
theo lời Phật, Bồ Tát giáo huấn, sửa đổi cho đúng
cách nghĩ, cách nhìn, cách nói, cách làm lầm lạc của
chúng ta. Đó gọi là
"cúng dường bằng cách tu hành
đúng theo lời dạy". Cúng dường bằng hương,
hoa, nước, trái cây chỉ nhằm biểu hiện lòng cung
kính của chúng ta mà thôi, Phật, Bồ Tát chẳng cần
đến những thứ ấy đâu!
Trong mỗi niệm, Phật,
Bồ Tát hy vọng chúng ta mau thành Phật, trở thành
giống như các ngài. Chúng ta học Phật với mục đích
thành Phật, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là
một phương cách trọng yếu để thành Phật. Kinh điển
để y cứ trong Tịnh Độ Tông là Tịnh Độ Ngũ Kinh và
một Luận, những điều nói trong đó chúng ta đều có
thể hiểu được, đều có thể làm theo được, đó là
"cúng dường bằng cách tu hành đúng theo lời dạy".
Năm ngoái, ở Tân Gia Ba có một bà cụ nghe nói pháp
môn Niệm Phật, hoan hỷ vô cùng, ở nhà suốt một ngày
từ sáng đến tối niệm A Di Đà Phật, niệm bảy tháng
biết trước lúc mất, chẳng bệnh, ngồi vãng sanh. Bởi
thế, hiện tại ở Tân Gia Ba và Mã Lai Á người niệm
Phật rất đông. Đài Loan cũng có người niệm Phật nửa
năm, đứng mà qua đời. "Như
thuyết tu hành" là y giáo phụng hành, là cúng
dường chân chánh vậy.
2) Cúng dường bằng
cách lợi ích chúng sanh:
Bồ Tát niệm niệm độ
chúng sanh, niệm niệm đều muốn giúp đỡ chúng sanh
khiến cho chúng sanh đạt lợi ích tốt nhất. Lợi ích
tốt nhất là giúp họ niệm Phật, giúp người khác biết
trước lúc mất, giúp người khác chẳng đổ bệnh, đứng
hay ngồi vãng sanh, đó mới là lợi ích lớn nhất; còn
hết thảy những hưởng thọ vật chất hay tinh thần
khác, chết đi đều phải luân hồi trong lục đạo. Quý
vị ban cho họ những lợi ích khác, bất quá họ hưởng
thụ mấy mươi năm rồi thôi, sau mấy mươi năm, lưu
chuyển dài lâu. Giúp họ thoát ly biển khổ, vượt
thoát luân hồi, thành Phật, làm Tổ, đó là lợi ích
tối thù thắng.
Lợi ích chúng sanh
chính là phổ độ chúng sanh. In kinh điển, đắp tượng,
hoặc ấn loát hình Phật, giảng kinh, thuyết pháp (bất
luận quy mô lớn nhỏ), lưu thông băng ghi âm hoặc
băng ghi hình giảng pháp, dùng truyền hình truyền bá
hoằng dương Phật pháp đều là cúng dường bằng cách
lợi ích chúng sanh. Tu loại cúng dường này là chân
thật cúng dường chư Phật. Chúng ta đem Phật pháp
giới thiệu cho chúng sanh, tạo cơ hội cho chúng sanh
học Phật, giúp họ mau được thành Phật, là phù hợp
bổn nguyện của hết thảy chư Phật trong mười phương,
bởi thế chư Phật dùng bổn nguyện lực gia trì quý vị,
quý vị sẽ được ba thứ tự tại: Tài tự tại, Huệ tự
tại, mạnh khỏe trường thọ tự tại.
3) Cúng dường bằng
cách nhiếp thọ chúng sanh:
Lợi ích chúng sanh là
phổ biến, đề cao, giới thiệu rộng khắp, còn nhiếp
thọ chúng sanh không giống như thế. Chẳng những chỉ
giới thiệu Phật pháp cho họ mà còn chỉ đạo họ tu
hành, lãnh đạo họ, khiến họ cùng tu hành. Nhiếp thọ
là quan hệ vô cùng thân thiết, thật sự thiết lập
quan hệ thầy trò hoặc đạo hữu cùng tu học với nhau.
Chẳng những dùng ngôn ngữ giúp đỡ họ, ta còn dùng
hành động để giúp đỡ, làm gương tu học Phật pháp cho
họ thấy. Đó gọi là cúng dường bằng cách nhiếp thọ
chúng sanh.
4) Cúng dường bằng
cách chịu khổ thay cho chúng sanh:
Bồ Tát có lời nguyện
chịu tội chịu khổ thế cho chúng sanh. Chịu khổ thay
cho quý vị, về mặt Sự, mỗi người tạo nghiệp, mỗi
người phải hứng lấy quả báo; chư Phật, Bồ Tát không
cách gì chịu khổ thay cho quý vị. Thế nhưng, đúng là
Bồ Tát có thể chịu thay cho quý vị một phần. Chẳng
hạn như, sáng sớm đi mua thức ăn, dự tính mua năm
mươi đồng, trong tâm nghĩ:
"Người khổ sở rất nhiều, ta
mua ít đi một chút, mua cái gì rẻ một chút, tốn hai
mươi lăm đồng thôi, bớt ra hai mươi lăm đồng để giúp
người khác". Đó là chịu khổ thay cho người
khác. Quý vị vốn có thể ăn hết năm mươi đồng, ăn
những thứ rất ngon, bây giờ bớt mồm bớt miệng một
nửa, quý vị ăn thứ dở một chút, đó là chịu khổ thế
cho chúng sanh. Vốn có thể ở nhà xa hoa lộng lẫy,
đổi sang ở cái nhà nhỏ che nắng đụt mưa là
được
rồi, dành bớt tiền để giúp chúng sanh khốn khó; cho
thấy đúng là có thể chịu khổ thế một phần.
Mỗi ngày bớt xài một
đồng bèn có thể dùng một đồng tu phước; bớt xài mười
đồng bèn có thể dùng mười đồng để bố thí cúng dường.
Tự mình tiết kiệm để giúp đỡ người khác; đó là chịu
khổ thay cho chúng sanh; còn như chúng sanh tạo
nghiệp thiện hay ác, ta chẳng thể chịu thay cho họ
được. Chính mình tiết kiệm một chút, có chút ít dư
ra để hỗ trợ hoằng dương Phật pháp, giúp đỡ chúng
sanh khốn khó; đó là Bồ Tát cúng dường bằng cách
phát nguyện chịu khổ thế cho chúng sanh.
5) Cúng dường bằng
cách siêng tu thiện căn:
Trong một đời này, tu
hành có thể thành công hay không là do mấu chốt này.
Thiện căn: tất cả hết thảy thiện pháp do từ cái gốc
này sanh ra [nên gọi là thiện căn]. Căn có nghĩa là
sanh ra, [chữ Căn] dùng với ý nghĩa tỷ dụ. Giống như
thực vật có rễ thì mới có thể tăng trưởng, nẩy mầm,
nở hoa, kết trái. Bồi dưỡng thiện căn là một đại sự
tu học trọng yếu phi thường. Thiện căn có thiện căn
thế gian và thiện căn xuất thế gian.
Thiện căn xuất thế
gian lấy thiện căn thế gian làm cơ sở. Thiện căn thế
gian là không tham, không sân, không si, đó gọi là
ba thiện căn. Đức Phật dạy chúng ta siêng tu ba
thiện căn, đó là cúng dường. Đối với hết thảy pháp
thế gian, danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần,
chẳng khởi tâm tham. Đối với hết thảy những hoàn
cảnh chẳng như ý, ác nhân, ác sự, chẳng khởi tâm sân
khuể. Đối với hết thảy sự lý, thông đạt, hiểu rõ,
chẳng mê hoặc, chẳng điên đảo, chẳng nghĩ lầm, chẳng
thấy lầm, chẳng ngu si. Đó gọi là ba căn bản của
thiện pháp thế gian. Người học Phật phải tích cực nỗ
lực tu học, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, tin
tưởng nhân quả báo ứng sâu xa.
Vì sao mọi người nghe
Phật giảng thiện nhân thiện quả lại chẳng dám làm?
Là vì chưa hiểu rõ sự và lý của nhân quả, chưa đủ
tín tâm. Chứ nếu hiểu rõ sẽ tận sức dốc lòng thực
hành. Ví như Tài Bố Thí, mọi tài vật của mình đều
đem bố thí hết sạch, ngày mai lấy gì ăn đây? Điều
này rất hiện thực, ngày mai ăn ở đâu đây? Vừa nghĩ
đến ngày mai, tiền bố thí bèn sớt lại một chút, ngày
mai còn phải ăn mà! Nghĩ đến ngày hôm sau nữa, lại
còn có ngày sau nữa, bèn chẳng dám bố thí. Đấy là
chưa rõ sự lý. Tôi thường khuyên đồng tu bồi dưỡng
ba thiện căn thì trước hết phải đọc sách Liễu Phàm
Tứ Huấn ba trăm bận, sẽ có tín tâm, sẽ tận tụy đối
với sự lý nhân quả báo ứng. Bố thí là tu nhân, phước
báo tự nhiên hiện tiền, nhân duyên quả báo mảy may
chẳng sai. Quý vị càng lo sợ càng chẳng dám bố thí,
thì phước báo càng có hạn lượng.
Thiện căn xuất thế
gian là
điều
Bồ Tát tu, chỉ có một điều thôi: Tinh Tấn. Tinh tấn
là thiện căn của Bồ Tát. Tu hành dựa theo phương
pháp lý luận chẳng sai lầm thì càng tinh tấn càng
sung sướng, càng giống như Phổ Hiền Bồ Tát, chẳng có
mệt chán. Quý vị nghĩ xem: đời người nhiều tự tại,
lắm khoái lạc là do tinh tấn mà có. Chẳng tinh tấn
bèn biếng nhác, bê trễ, công phu tu hành không đắc
lực, phiền não lắm, khổ nạn cũng nhiều. Bởi thế, đâm
ra hoài nghi Phật pháp, tín tâm dao động, thoái
chuyển đọa lạc.
Tinh Tấn: Tấn là cầu
tiến bộ, Tinh là thuần chẳng tạp. Tiến bộ như thế
mới hữu dụng. Trong chuyện này, có bạn đồng tu rất
nỗ lực, dụng công phi thường, nhưng chẳng phải là
tinh tấn! Họ học rất nhiều, nên là tạp tấn. Phí rất
nhiều thời gian, tinh thần, hiệu quả chẳng lý tưởng
mấy. Phật pháp đáng quý nhất là tinh tấn!
6) Cúng dường bằng
cách chẳng bỏ Bồ Tát nghiệp:
Nghiệp là sự nghiệp,
sự nghiệp của Bồ Tát là giáo hóa chúng sanh. Bồ Tát
trong thế gian làm giáo viên, chỉ có một mục tiêu:
giúp đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ, lìa khổ
được vui. Bồ Tát thị hiện trong thế gian có thể dùng
các thứ thân phận bất đồng, thân phận tại gia, xuất
gia, và các thân phận già, trẻ, nam, nữ, các hạnh,
các nghiệp. Nếu Bồ Tát thị hiện trong giới thương
nhân bèn là lãnh tụ của thương nhân, dạy quý vị kiếm
lời như thế nào, dùng tiền ra sao. Các Ngài có trí
huệ: kiếm tiền lời như thế nào rất khổ, kiếm lời như
thế nào rất sung sướng, tiêu tiền như thế nào mà
tiêu rất đau khổ, tạo rất nhiều tội nghiệp; tiêu
tiền như thế nào mà tu được rất nhiều công đức,
tương lai được đại phước báo, vị thương nhân Bồ Tát
hiểu rõ. Già, trẻ, trai, gái, các hạnh, các nghiệp
đều có Bồ Tát, Bồ Tát chỉ vẽ khuôn phép cho quý vị.
Trong nhà Phật, sự
nghiệp của Bồ Tát được tượng trưng bằng việc
"hoằng pháp lợi sanh", chẳng thể buông bỏ
việc này. Gia nghiệp của Phật là hoằng dương Phật
pháp, tận tâm tận lực làm tốt việc ấy, đó là sự
nghiệp của Bồ Tát. Có nhiều người nói:
"Tôi chẳng có tiền, chẳng thể cất đạo tràng. Đối với
đạo tràng cũng chẳng giúp gì được. Tôi cũng chẳng có
trí huệ, chẳng thể giảng kinh, thuyết pháp, làm sao
hoằng pháp lợi sanh cho được?" Quý vị đem
lịch trình giảng kinh ở chỗ này báo cho người khác
biết, khuyên bạn bè, người nhà, quyến thuộc, hàng
xóm đi nghe kinh, đó là sự nghiệp của Bồ Tát quý vị
thừa sức làm được. Họ đến rất tốt, không đến cũng
chẳng sao, sự nghiệp Bồ Tát ta đã làm được rồi. Có
thể thấy là sự nghiệp Bồ Tát ai cũng làm được, chẳng
khó!
Ta thấy người khác
bèn chắp tay niệm A Di Đà Phật, đó là sự nghiệp Bồ
Tát, chẳng cần biết họ thích nghe hay không, họ đều
nghe tiếng niệm lọt qua. "Nhất
lịch nhĩ căn, vĩnh vi đạo chủng" (một phen
lọt qua, vĩnh viễn trở thành giống đạo); chủng tử A
Di Đà Phật gieo chắc nơi A Lại Da Thức của kẻ đó,
đấy là sự nghiệp Bồ Tát. Sự nghiệp cốt tại tận tâm
tận lực, chẳng khó tu đâu!
7) Cúng dường bằng
cách chẳng lìa Bồ Đề tâm
Bồ Đề là tiếng Phạn,
dịch sang tiếng Trung Quốc nghĩa là Giác Ngộ. Trong
sanh hoạt thường nhật, đối người, đối sự, đối vật,
giữ gìn tâm tỉnh giác cao độ, chẳng mê hoặc, đó là
cúng dường bằng cách chẳng lìa Bồ Đề tâm. Một niệm
chẳng giác bèn mê, niệm niệm bất giác bèn tạo tội
nghiệp, bởi thế phải thời thời khắc khắc giữ vững
tâm tỉnh giác. Giữ vững bằng cách nào? Một ngày từ
sáng đến tối, một câu A Di Đà Phật ghim chắc trong
tâm, chẳng hề bỏ mất, quý vị bèn giữ vững được tâm
tỉnh giác cao độ. A Di Đà Phật vừa mất, vọng tưởng
tạp niệm bèn khởi lên. Vọng tưởng tạp niệm là mê,
một câu Phật hiệu là giác.
Trong hết thảy pháp
môn, vì sao chư Phật riêng xưng tán Niệm Phật? Pháp
môn Niệm Phật này dễ dàng, đi, đứng, nằm, ngồi, bất
luận ở nơi đâu, hoàn cảnh nào, một câu A Di Đà Phật
trong tâm quý vị đều chẳng để dứt, tu học thuận
tiện. Xin thưa cùng quý vị đó là phương cách vô cùng
cụ thể để cúng dường bằng cách chẳng lìa Bồ Đề tâm.
Do đây biết rằng: Trên cúng mười phương hết thảy chư
Phật, dưới cúng hết thảy chúng sanh trong chín pháp
giới, tất cả đều cúng dường hết. Một câu Phật hiệu
cúng dường trọn khắp. Công đức lợi ích của Phật hiệu
rất ít người biết. Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện này từ
đầu đến cuối đều là xưng tán danh hiệu công đức
chẳng thể nghĩ bàn, từng câu từng chữ trong kinh văn
đều kết quy công đức của danh hiệu.
Cảnh giới tu học cũng
giống như phần trên. Hư không giới, chúng sanh giới,
chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não chẳng thể
cùng tận, sự rộng tu cúng dường của chúng ta cũng
chẳng có cùng tận; cũng là nhất tâm nhất ý, niệm
niệm tiếp nối chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp
chẳng có mệt chán. Phải tích cực nỗ lực, phải tinh
tấn tu học.
Nguyện
"rộng tu cúng dường" này trọng yếu vô cùng.
Hạnh môn Bồ Tát lấy Lục Độ làm cương lãnh, pháp thứ
nhất trong Lục Độ là Bố Thí. Vì sao đặt Bố Thí làm
pháp đầu tiên trong Lục Độ? Thật ra, chư Phật Như
Lai không có pháp nào có thể nói được, hết thảy pháp
nói ra không gì chẳng phải là
"đối bệnh cho thuốc" đó thôi! Chúng sanh có
bệnh gì bèn trao thuốc chữa trị bệnh đó, bệnh lành,
thuốc cũng chẳng cần đến nữa! Bệnh chúng sanh rất
nhiều, gốc của tất cả hết thảy bệnh đều là keo tham.
Hết thảy chúng sanh tu hành chẳng thể khai ngộ chứng
quả, tạo lục đạo luân hồi, đọa tam ác đạo đều vì bị
bệnh tham làm hại. Vì thế, bố thí là một liều thuốc
hay để trị bệnh keo tham. Không tham - sân - si thì
hết thảy thiện pháp sanh; có tham - sân - si thì hết
thảy thiện pháp chẳng sanh, hết thảy ác pháp bèn
sanh.
Trong các cúng dường,
pháp cúng dường thù thắng nhất. Trong các pháp cúng
dường,
"tu hành đúng theo lời dạy"
là trọng yếu nhất, tức là y giáo phụng hành. Mục
đích học Phật bất đồng, sở cầu bất đồng, chọn lựa
pháp môn cũng bất đồng. Đạo tràng này của chúng ta
chọn lựa Tịnh Độ tông, mục đích là hy vọng tương lai
có thể vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh
điển để chúng ta y cứ là năm kinh một luận. Nhất
định phải chiếu theo kinh điển mà nỗ lực thực hiện,
đó gọi là Tu Hành. Tu là "tu
chánh" (sửa đổi cho đúng), Hành là hành vi.
Tu Hành là sửa đổi hành vi của chúng ta cho đúng.
Tiêu chuẩn của Chánh là gì? Tất cả những gì Phật
giáo huấn trong kinh đều là tiêu chuẩn đúng đắn cả.
Cách nghĩ, cách nhìn,
cách làm của Phật quyết định là chánh xác; hãy buông
bỏ tư tưởng, hiểu biết của chúng ta, chiếu theo cách
nghĩ, cách nhìn của Phật để sửa đổi quan điểm, hành
vi của chính mình thì gọi là Tu Hành. Tu hành ở ngay
nơi khởi tâm động niệm, ngay nơi đãi người tiếp vật,
chớ chẳng phải là mỗi ngày niệm kinh, gõ mõ, xướng
tán, dập đầu, chắp tay. Làm ra vẻ tu hành, nhưng
trong tâm khởi vọng tưởng thì chẳng phải là tu hành
thật sự.
Cúng dường bằng cách
như thuyết tu hành có thể nói là sự bố thí cúng
dường mà hết thảy Bồ Tát đã tu đến mức rốt ráo viên
mãn. Chẳng hạn như chúng ta thọ trì kinh Vô Lượng
Thọ, tất cả hết thảy giáo huấn của Phật trong kinh,
mỗi một điều, mỗi một câu chúng ta đều thực hiện
được thì Sáu Ba La Mật, Mười Ba La Mật, mười đại
nguyện vương đều hoàn toàn viên mãn.