LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
B. Giải thích kinh
văn
I. Phần trường hang
1. Mười đại nguyện vương
1.2. Nguyện thứ hai:
Xưng tán Như Lai
Chánh kinh:
Phục thứ, Thiện nam
tử! Ngôn xưng tán Như Lai giả, sở hữu tận pháp giới,
hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết sát
độ, sở hữu cực vi, nhất nhất trần trung, giai hữu
nhất thiết thế gian cực vi trần số Phật. Nhất nhất
Phật sở, giai hữu Bồ Tát hải hội vi nhiễu. Ngã đương
tất dĩ thậm thâm thắng giải, hiện tiền tri kiến, các
dĩ xuất quá Biện Tài thiên nữ vi diệu thiệt căn.
Nhất nhất thiệt căn xuất vô tận âm thanh hải. Nhất
nhất âm thanh, xuất nhất thiết ngôn từ hải, xưng
dương tán thán nhất thiết Như Lai chư công đức hải,
cùng vị lai tế, tương tục bất đoạn, tận ư pháp giới
vô bất châu biến.
Như thị hư không giới
tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận,
chúng sanh phiền não tận, ngã tán nãi tận, nhi hư
không giới nãi chí phiền não vô hữu tận cố, ngã thử
tán thán vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô
hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
Lại nữa Thiện nam tử!
Nói
"xưng tán Như Lai" là:
Tất cả cực vi trần trong tất cả hết thảy cõi nước
cùng tận pháp giới, hư không giới, mười phương ba
đời. Trong mỗi một vi trần đều có chư Phật nhiều như
số cực vi trần trong hết thảy thế gian, nơi mỗi đức
Phật đều có hải hội (19) Bồ Tát vây quanh. Tôi sẽ
đều dùng sự hiểu biết thù thắng (20) rất sâu, tri
kiến hiện tiền (21), [trước mỗi đức Phật] đều hiện
lưỡi vi diệu hơn lưỡi của Biện Tài thiên nữ (22).
Mỗi một lưỡi phát xuất vô tận biển âm thanh. Mỗi một
âm thanh phát xuất hết thảy biển ngôn từ, xưng dương
tán thán biển công đức của hết thảy Như Lai đến cùng
tận đời vị lai liên tục chẳng ngừng, tột cùng pháp
giới không đâu chẳng trọn khắp.
Như thế hư không giới
tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận,
chúng sanh phiền não tận, tôi khen ngợi mới tận.
Nhưng vì hư không giới cho đến phiền não chẳng có
cùng tận, sự tán thán này của tôi chẳng có cùng tận.
Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn, thân ngữ ý
nghiệp chẳng hề mệt chán.
Như Lai khác với chư
Phật như thế nào? Vì sao không nói
"xưng tán chư Phật"? Chư Phật và Như Lai có
sai khác. Kinh nói Phật, nói đến chư Phật là nói từ
mặt Tướng, nói trên mặt Sự. Nói đến Như Lai là nói
từ Tánh (bản tánh). Trên mặt sự tướng chúng ta phải
bình đẳng cung kính, chẳng phân biệt, chấp trước.
Chúng ta tôn kính Phật, Bồ Tát; phàm phu, quỷ thần
chúng ta cũng phải tôn kính. Tâm tôn kính và lễ mạo
và tôn kính chư Phật chẳng sai khác, cho đến kính
sự, kính vật cũng chẳng sai biệt. Đó gọi là
"lễ kính chư Phật".
Xưng tán không giống
như thế. Lễ kính là vô điều kiện, xưng tán có điều
kiện. Kẻ ác làm chuyện ác, chẳng thể khen ngợi việc
họ làm là rất tốt. Sát sanh và trộm cắp cũng chẳng
thể khen ngợi. Kẻ sát sanh và trộm cắp chúng ta phải
lễ kính, nhưng việc họ làm chúng ta chẳng thể khen
ngợi được. Xưng tán là có điều kiện, phải là thiện
hạnh và tương ứng với tự tánh thì mới xưng tán.
Chẳng tương ứng tự tánh thì chúng ta lễ kính nhưng
không xưng tán.
Phương pháp tu hành
này có thể thấy từ năm mươi ba lần tham học của
Thiện Tài đồng tử. Năm mươi ba vị thiện tri thức thị
hiện các hạnh, các nghiệp, có những hạnh nghiệp đáng
nên tán thán, có những hạnh nghiệp chẳng thể tán
thán. Thiện Tài đồng tử lễ kính năm mươi ba vị thiện
tri thức, đảnh lễ ba lạy, hữu nhiễu ba vòng, thái độ
cung kính hoàn toàn tương đồng như kính Phật và tán
thán bọn họ. Thế nhưng, đối với ba người, Thiện Tài
chỉ bình đẳng đảnh lễ nhưng không tán thán: Thắng
Nhiệt Bà La Môn đại diện cho ngu si, Cam Lộ Hỏa
Vương nóng tánh, đại diện cho sân khuể; Phạt Tô Mật
Đa nữ là kỹ nữ, đại diện tham ái. Tham - Sân - Si là
ba độc phiền não, Thiện Tài chẳng xưng tán.
Xưng tán là khen ngợi
cái hay, ngôn hạnh của người đó rất đáng học theo,
đáng làm gương cho chúng ta thì mới được đại chúng
tán thán. Ngôn hạnh chẳng đáng cho mọi người bắt
chước theo thì chẳng thể tán thán. Sự xưng tán của
Phổ Hiền Bồ Tát là xứng tánh, chẳng giống với việc
khen ngợi bình thường, bởi lẽ dụng tâm chẳng tương
đồng, mục đích chẳng tương đồng, cảnh giới cũng
chẳng tương đồng, giống như chư Phật khen ngợi nhau.
Chủ - bạn chứa đựng lẫn nhau, hết thảy chư Phật cũng
khen ngợi lẫn nhau. Kinh A Di Đà vốn là kinh
"được hết thảy chư Phật hộ niệm". Không vị
Phật nào chẳng giảng kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng
Thọ. Giảng kinh là tán thán A Di Đà Phật, tán thán y
chánh trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Cùng một đạo lý đó, A Di Đà Phật cũng tán thán mười
phương hết thảy chư Phật Như Lai.
Trong Phật pháp
thường nói đến pháp môn Tổng Trì, Tổng Trì là nắm
giữ vững tổng cương lãnh. Tổng trì tán thán thì ngôn
ngữ rất đơn giản nhưng ý nghĩa sẽ viên mãn như giảng
kinh. Tổng trì tán thán là chấp trì danh hiệu. Hết
thảy các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng trong
bốn mươi chín năm đều nằm trong một câu Phật hiệu
"A Di Đà Phật". Niệm câu Phật hiệu này là
niệm hết tất cả hết thảy kinh đức Thế Tôn đã giảng
trong bốn mươi chín năm, phương tiện đơn giản, mới
biết danh hiệu có công đức to lớn như thế. Niệm A Di
Đà Phật là xưng tán Như Lai.
Xưng tán Như Lai lại
còn có một tầng ý nghĩa sâu phi thường. Như Lai là
Chân Như bản tánh. Chân Như bản tánh của hết thảy
chư Phật và Chân Như bản tánh của chính chúng ta là
một, chẳng phải hai. Xưng tán Như Lai là xưng tán
tánh đức của Chân Như bản tánh của chính mình. A Di
Đà Phật chính là chúng ta, Tây Phương Cực Lạc thế
giới cũng là chính chúng ta, nên nói:
"Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ". Tự tánh là
Như Lai, duy tâm cũng là Như Lai. Niệm Phật là khuôn
phép xưng tán Như Lai cao nhất. Niệm kinh Vô Lượng
Thọ, kinh A Di Đà cho đến đọc tụng hết thảy kinh
điển Đại Thừa đều là xưng tán Như Lai. Chúng ta dùng
cái tâm thanh tịnh chân thành rộng lớn khôn sánh để
xưng niệm, đọc tụng sẽ tương ứng với nguyện này.
Muốn xưng tán đến mức
viên mãn chẳng dễ dàng gì. Dẫu chẳng dễ dàng chúng
ta vẫn phải nỗ lực, làm được một phần là tốt một
phần. Chân chánh phát tâm tu học sẽ được Phổ Hiền Bồ
Tát, A Di Đà Như Lai, hết thảy chư Phật gia trì. Học
Phật chẳng những nhằm để chính mình tu học đạt được
lợi ích chân thật, mà còn là
để
báo ân Phật, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân hết thảy
chúng sanh, phải đem những điều hay chân thật phổ
biến, đề cao, giới thiệu cho mọi người. Đề cao, giới
thiệu là xưng tán Như Lai. Tổ chức pháp hội diễn
giảng kinh điển là xưng tán, khuyên người niệm Phật
là xưng tán, cho đến tại bất cứ thời gian, địa điểm
nào, chúng ta chắp tay niệm một câu A Di Đà Phật đều
là xưng tán cả. Xưng tán như thế được oai thần của
Phật gia trì, được cảm ứng hiện tiền là biện tài.
Trước kia chẳng khéo ăn nói, nay nói rất khéo, đó là
Phật lực gia trì. Còn có một sự thật do chính tôi
thể nghiệm: Kinh điển Phật pháp (thiện pháp) tôi nói
rất dễ, ác pháp một câu nói không được. Với thiện
pháp có biện tài, với ác pháp không có vậy!
Cảnh giới của nguyện
này cũng rộng lớn giống như nguyện trước. Phổ Hiền
Bồ Tát nói:
"Xưng dương tán thán biển công
đức của hết thảy Như Lai đến tận cùng đời vị lai,
liên tục chẳng đoạn, tột cùng pháp giới, không đâu
chẳng trọn khắp". Chúng ta có làm được như
thế hay không? Điều này thật sự tùy thuộc tâm lượng
của chúng ta. Giống như sóng vô tuyến điện, chỉ cần
chẳng bị núi cao ngăn trở, sóng điện phát xạ truyền
xa vô lượng vô biên; nếu trong khoảng đó bị chướng
ngại thì sóng điện bị gián cách. Tâm của chúng ta
cũng giống như thế: Trong tâm có phân biệt, có chấp
trước, có phiền não như núi cao, âm ba xưng dương
liền bị chướng ngại, bèn có phạm vi, chẳng thể trọn
khắp pháp giới tột cùng hư không. Nếu tâm quý vị rất
thanh tịnh, chẳng có phân biệt, chấp trước, chẳng có
vọng tưởng, công đức xưng dương đúng là trọn khắp
pháp giới, tột cùng hư không. Do đây biết rằng: mấu
chốt thật sự là Nhất Tâm, dùng ba tâm (tức tâm vọng
tưởng, chấp trước, phân biệt) thì chướng ngại trùng
trùng, chẳng thể trọn khắp.
Phật dạy chúng ta:
Quyền Giáo Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, lục đạo
phàm phu đều dùng tám Thức. Tám Thức quy nạp lại là
ba tâm hai ý. Ba tâm là A Lại Da Thức, Mạt Na Thức
và Đệ Lục Thức. Nhị Ý chỉ Mạt Na Thức (thức căn) và
Đệ Lục Thức (ý thức). Chẳng dùng tam tâm nhị ý là
dùng Chân Như bản tánh, chỉ cần dùng được Chân Như
bản tánh quyết định sẽ trọn khắp pháp giới. Sách
Lăng Nghiêm Chánh Mạch chú giải kinh Lăng Nghiêm của
Giao Quang đại sư căn cứ vào nghĩa kinh, dạy chúng
ta "bỏ Thức dùng Căn".
Bỏ Thức là trong sanh hoạt thường nhật, thấy Sắc
nghe Tiếng chớ dùng tám Thức mà phải dùng Chân Tánh.
Phàm phu mắt thấy là dùng Nhãn Thức để thấy, tai
nghe là dùng Nhĩ Thức để nghe, tức là dùng sáu Thức.
Đại sư dạy chúng ta dùng tánh Thấy để nhìn, dùng
tánh Nghe để nghe, xoay trở lại như vậy, lập tức
thành Phật. Bỏ Thức, dùng Tánh của Căn. Tánh của Căn
là thật, chẳng phải hư vọng. Đại Sư đề xướng rất
hay, đích thực là bổn ý giảng kinh Lăng Nghiêm của
Thế Tôn, chẳng hiểu sai lạc.
Trong phần Tự, đại sư
Giao Quang có kể một câu chuyện đáng cho chúng ta
thức tỉnh, học theo. Giao Quang đại sư mắc bệnh
nặng, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn Ngài vãng sanh. Công
phu niệm Phật chẳng lầm, Phật đến tiếp dẫn, Ngài sực
nghĩ các bản chú giải kinh Lăng Nghiêm từ cổ đến nay
đều chưa nói lên được bổn ý của Phật. Ngài hướng về
A Di Đà Phật xin hẹn, mong ở lại thế gian để viết
bản chú giải mới cho kinh Lăng Nghiêm, chú giải xong
mới đi. A Di Đà Phật gật đầu cho phép, Sư được lành
bệnh. Đó cũng là sanh tử tự tại, đến đi tự do. Bởi
thế, âm thanh xưng tán chẳng thể trọn khắp pháp giới
thì chúng ta phải coi lại mình đang dùng cái tâm gì.
Cổ đại đức dạy chúng ta hai nguyên tắc lớn để học
Phật:
1) Nghe kinh phải
"tiêu quy tự tánh": nghe xong phải tương ứng
với tự tánh, trọn chẳng được vừa nghe vừa suy nghĩ
lung tung.
2) Tu hành chẳng quản
là niệm Phật, trì chú hay tham thiền, tám vạn bốn
ngàn pháp môn đều phải
"chuyển Thức thành Trí".
Đấy cũng như nói chẳng dùng tám Thức, chẳng dùng ba
tâm hai ý, phải dùng Tự Tánh, dùng căn tánh của sáu
căn vậy.
"Vì hư không giới cho đến phiền não chẳng có cùng
tận, sự tán thán này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm
niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn": Bồ Tát
dạy chúng ta nhất tâm xưng niệm, chẳng gián đoạn,
chẳng xen tạp, chẳng hoài nghi mà tu học pháp môn
này. "Thân ngữ ý nghiệp chẳng
hề mệt chán": chẳng có chán nản, mệt mỏi. Nếu
dụng công đắc lực đúng pháp, xác thực là chẳng mệt,
chẳng chán. Có đồng tu niệm Phật đắc lực, một câu
Phật hiệu trong lúc ngủ vẫn niệm, mệt mỏi cũng vẫn
niệm, niệm đến thân tâm tự tại, khoái lạc khôn sánh.
Người chân chánh niệm Phật, càng niệm tinh thần càng
phấn chấn, thân thể càng khỏe mạnh.
Thân thể chúng ta do
vì có vọng tưởng, chấp trước, phiền não nên thân thể
phát sanh biến hóa, biến thành chẳng bình thường, có
bệnh tật. Hiện tại, địa cầu bị môi trường ô nhiễm,
mất cân bằng sanh thái, địa cầu đổ bệnh cũng chẳng
bình ổn. Xú khí tằng (tầng ozone) bị lủng, trời cũng
bất bình thường. Thân thể có bệnh mà thể chất biến
đổi sẽ tự nhiên khôi phục bình thường. Thế nào là tự
nhiên? Trong tâm chẳng có sự là tự nhiên. Tâm vốn là
vô sự. Lục Tổ đại sư nói: "Bổn
lai vô nhất vật" (vốn không có một vật). Vốn
không có một vật là tự nhiên. Nếu như tâm quý vị
thanh tịnh, chẳng có vật gì, thân quý vị sẽ tự nhiên
khôi phục, tế bào nơi thân thể đổi mới tổ chức, trở
thành ổn định vô cùng, thân thể bèn khang kiện, cũng
chẳng đổ bệnh, sống lâu.
Người trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới ai nấy vô lượng thọ, ai nấy
trường sanh bất lão, nguyên nhân là do họ vĩnh viễn
giữ gìn tự nhiên. Muốn biến đổi thể chất chỉ có tu
tâm thanh tịnh. Thế gian bàn chuyện thuốc men, tẩm
bổ đều chẳng đáng tin. Người tánh tình ôn hòa thiện
lương chẳng dễ sanh bệnh; người nóng nảy, hung hăng,
tánh tình bất hảo thường hay đau bệnh. Biết được
chân tướng sự thật, liền hiểu nên làm như thế nào.
Thân ngữ ý nghiệp không mệt chán là cương lãnh tu
học, cũng là công phu chân chánh, phải nỗ lực học
tập.