LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
1.10. Nguyện
thứ mười: Phổ giai hồi hướng (21)
Chánh kinh:
Phục thứ Thiện nam
tử! Ngôn phổ giai hồi hướng giả: Tùng sơ lễ bái, nãi
chí tùy thuận, sở hữu công đức giai tất hồi hướng,
tận pháp giới, hư không giới, nhất thiết chúng sanh,
nguyện linh chúng sanh thường đắc an lạc, vô chư
bệnh khổ. Dục hành ác pháp, giai tất bất thành. Sở
tu thiện nghiệp, giai tốc thành tựu. Quan bế nhất
thiết chư ác thú môn, khai thị nhân thiên Niết Bàn
chánh lộ. Nhược chư chúng sanh nhân kỳ tích tập chư
ác nghiệp cố, sở cảm nhất thiết cực trọng khổ quả,
ngã giai đại thọ, linh bỉ chúng sanh tất đắc giải
thoát, cứu cánh thành tựu Vô Thượng Bồ Đề. Bồ Tát
như thị sở tu hồi hướng, hư không giới tận, chúng
sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh
phiền não tận, ngã thử hồi hướng vô hữu cùng tận.
Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn; thân ngữ ý
nghiệp vô hữu bì yểm.
Lại này Thiện nam
tử! Nói hồi hướng khắp tất cả là từ sự lễ bái ban
đầu cho đến tùy thuận, tất cả công đức thảy đều hồi
hướng tận pháp giới, hư không giới hết thảy chúng
sanh. Nguyện cho chúng sanh thường được yên vui,
không có các bệnh khổ. Muốn làm chuyện ác thảy đều
chẳng thành. Tu tập thiện nghiệp đều mau thành tựu.
Đóng chặt hết thảy cửa [dẫn vào] các đường ác, mở
bày đường chánh: trời, người, Niết Bàn. Nếu các
chúng sanh do vì các nghiệp ác tích tập, cảm lấy hết
thảy quả khổ rất nặng, tôi đều chịu thay, khiến các
chúng sanh đó đều được giải thoát, rốt ráo thành tựu
Vô Thượng Bồ Đề. Bồ Tát tu hồi hướng như thế, hư
không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh
nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận nhưng sự hồi
hướng này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp
nối, chẳng có gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp không hề
chán mệt.
Đây là hồi hướng pháp
giới, mà cũng là tóm gộp cả chín điều nguyện trước:
Từ lễ kính chư Phật, khen ngợi Như Lai, rộng tu cúng
dường, sám hối nghiệp chướng cho đến tùy thuận chúng
sanh, tất cả công đức thảy đều hồi hướng, trong tâm
chẳng tiêm nhiễm mảy may, có như thế tâm mới thanh
tịnh. Có người tu công đức, chỉ sợ công đức bị người
khác lấy mất, chẳng dám hồi hướng; vì tâm lượng nhỏ
nhen nên chẳng thể thành tựu. Có người sợ đem công
đức niệm Phật hồi hướng cho người khác, chính mình
chẳng có công đức. Thật ra, đó là quan niệm sai lầm.
Công đức: Công là công phu tu hành của chính mình,
Đức là cái mình thâu hoạch [do công sức tu hành ấy].
Quý vị có một phần công phu, nhất định có một phần
thâu hoạch, người khác chẳng lấy được. Quý vị có
muốn cho họ, họ cũng chẳng lấy được; còn phước đức
có thể cho người khác. Chẳng hạn như của cải của
chính mình có thể chia một nửa hoặc toàn bộ cho
người khác, người ta có thể hưởng thọ được. Nhà cửa
cũng có thể cho người khác ở, họ cũng có thể thọ
dụng được. Chỉ có công đức là không cách gì cho
người khác được.
Công đức là Giới -
Định - Huệ. Hãy nghĩ xem, công đức trì giới có chia
cho người khác được chăng? Công đức niệm Phật của
quý vị có đem cho người khác được hay chăng? Công
phu quý vị tu định có cho người khác được không?
Không có cách nào hết. Nếu công đức có thể cho được,
chúng ta cần gì phải tu hành nữa, cứ đợi Phật chia
cho chúng ta, chúng ta bèn thành Phật. Công đức là
ông tu ông được, bà tu bà
được,
chẳng tu chẳng được, nhất định phải cậy vào chính
mình, nhất định chẳng ỷ lại người khác được.
Công đức có thể hồi
hướng. Đối với chính mình mà nói, hồi hướng nhằm mở
rộng tâm lượng, nhằm quét sạch sẽ tập khí phân biệt
chấp trước từ vô thỉ đến nay. Công đức tôi tu tôi
đều chẳng cần đến, công đức tôi tu tôi đều nhường
cho mọi người hưởng. Chẳng cần đến công đức, công
đức càng lớn. Chẳng những công đức không mất đi mà
phước đức cũng chẳng mất. Số phận quý vị có một trăm
vạn thì quý vị đem một trăm vạn bố thí hết, vài bữa
sau, lại có một trăm vạn khác. Vì sao vậy? Là do số
phận quý vị có; phận số có thì chẳng bị mất, mạng
không có thì có giữ kỹ cũng chẳng giữ được.
Người Tàu Đại Lục thờ
tài thần Phạm Lãi, vì ông này là tấm gương kiếm tiền
và dùng tiền, vừa có trí huệ vừa có phước báo. Thời
Xuân Thu Chiến Quốc, Việt vương Câu Tiễn có hai tay
trợ thủ, một là Phạm Lãi, hai là Văn Chủng. Hai mươi
năm sau, nước Việt phục hưng, diệt xong nước Ngô.
Khi đó, Phạm Lãi biết quốc vương có thể cùng chịu
hoạn nạn, nhưng chẳng thể cùng hưởng phú quý, bởi
thế bèn đổi tên họ trốn đi, lưu lại một phong thư
khuyên Văn Chủng cũng nên bỏ đi. Văn Chủng không
tin, quả nhiên mấy ngày sau, Câu Tiễn ban cho Văn
Chủng thanh bảo kiếm, buộc ông ta tự sát. Phạm Lãi
đổi tên thành Đào Châu Công, buôn bán giàu có lớn,
đem toàn bộ tài sản bố thí, cứu tế bần dân khốn khổ.
Tiền tài xài hết, lại buôn bán, chẳng mấy năm, lại
phát tài, cũng tán tài giống như cũ, ba lần tài tụ
tài tán.
Điều này cho thấy một
miếng ăn, một hớp uống không gì chẳng phải là tiền
định. Số phận có thì quyết định là có, số phận không
có chẳng thể cưỡng cầu, cầu không được đâu! Nếu số
mạng đã có thì có bỏ đi cũng chẳng bỏ được. Bởi thế
quý vị bố thí của cải sẽ trở lại, lại càng nhiều hơn
nữa, giống như lợi tức vậy đó. Biết được sự thật
này, quý vị mới can đảm phóng tâm mạnh dạn bố thí.
Nhưng chớ có đem lòng cầu may để thử, cứ mong một
vốn vạn lời thì vừa thử của cải chẳng còn gì hết.
Phải dùng tâm chân thành để bố thí cúng dường, đó là
tu phước.
Sở dĩ công đức tu tập
của chúng ta hồi hướng cho hết thảy chúng sanh, càng
hồi hướng công đức càng lớn là vì tâm lượng to lớn.
Tâm lượng to lớn, công đức cũng chuyển lớn theo, hết
thảy tùy tâm chuyển mà! Nếu chẳng hồi hướng, niệm
niệm chỉ vì mình, tâm lượng nhỏ nên công đức hữu
hạn. Đức Phật dạy chúng ta, chẳng cần biết tu công
đức lớn hay nhỏ, thậm chí điều thiện mảy may đều
phải hồi hướng Bồ Đề, hồi hướng chúng sanh, hồi
hướng pháp giới. Đấy là mở rộng tâm lượng của chính
mình, viên mãn công đức tu hành vậy.
"Nguyện cho chúng sanh thường được yên vui, không có
các bệnh khổ": Trong mỗi niệm, Bồ Đề đều hy
vọng chúng sanh thường được yên vui.
"Hết thảy chúng sanh" bao gồm động vật. Nếu
chúng ta ăn động vật, sát hại động vật, những động
vật ấy có bình yên sung sướng được chăng? Kinh Lăng
Già nói Bồ Tát chân chánh phát tâm chẳng nỡ ăn thịt
chúng sanh. Tuy thế nhà Phật chẳng buộc quý vị
trường trai, chỉ khuyên quý vị đừng sát sanh. Hễ nói
đến lòng đại từ đại bi thì Phật nói chẳng nỡ ăn thịt
hết thảy chúng sanh. Lương Võ Đế đọc đến đoạn kinh
văn này, cảm động sâu xa, phát tâm ăn chay trường,
đề xướng phong trào ăn chay trong nhà Phật. Thật sự
mang lòng thích thấy hết thảy chúng sanh bình yên
sung sướng, quý vị sẽ chẳng thể nhẫn tâm tổn hại
chúng nó, càng chẳng thể nhẫn tâm ăn thịt chúng.
Mong mỏi hết thảy
chúng sanh không có bệnh khổ; bệnh khổ do đâu mà có?
Tất cả hết thảy bệnh khổ từ vọng tưởng mà ra. Trừ
được vọng tưởng chấp trước khiến cho thân tâm thanh
tịnh, khôi phục tự nhiên, thể chất biến đổi, có thể
cả đời chẳng sanh bệnh. Y học chỉ trị đằng ngọn chứ
không trị gốc, Phật pháp trị liệu tận gốc rễ: Dạy
quý vị đừng khởi vọng tưởng. Do đây biết rằng: Phải
đem Phật pháp giới thiệu cho hết thảy chúng sanh,
phổ cập đến mỗi tầng lớp xã hội thì mới có thể thật
sự giúp cho chúng sanh lìa khỏi hết thảy bệnh khổ.
"Muốn làm chuyện ác thảy đều chẳng thành": Họ
có ác niệm, muốn làm chuyện bậy, Bồ Tát, thần Hộ
Pháp ngăn trở, khiến họ chẳng thể thành công được.
"Tu tập thiện nghiệp đều mau thành tựu". Động
một niệm thiện tâm (tâm lợi ích hết thảy chúng
sanh), Phật, Bồ Tát phù trợ quý vị, bởi lẽ điều đó
ứng với tâm Phật, tâm Bồ Tát, cảm ứng đạo giao. Nếu
chỉ vì chính mình, chỉ vì một nhà, bèn chẳng tương
ứng với tâm Phật, Bồ Tát. Tâm Phật rộng lớn không
ngằn mé, quý vị cứ quanh quẩn trong phạm vi rất nhỏ
chẳng thể khởi cảm ứng được.
"Đóng chặt hết thảy cửa [dẫn vào] các ác thú":
Chữ
"ác thú" được nói trong
kinh đây phạm vi rất rộng. Ba đường ác, ba đường
lành (do vẫn luân hồi trong lục đạo), A La Hán, Bích
Chi Phật (dù có thiền định rất sâu, nhưng chưa kiến
tánh), Bồ Tát (tuy kiến tánh, nhưng chưa viên mãn)
đều là Ác Thú cả. Kinh này để nói với hàng Đẳng Giác
Bồ Tát. Nói cách khác, từ Thập Địa trở xuống đều có
thể gọi là "ác thú".
Hiện tại chúng ta chẳng thể đặt tiêu chuẩn cao như
thế được, chỉ cần biết tam đồ lục đạo đích thật là
ác thú, nhất tâm nhất ý phải vượt thoát trong một
đời này, như vậy là tốt rồi! Vượt thoát chỉ có một
đường duy nhất là
đới
nghiệp vãng sanh. Đường dẫn vào ác thú phải bít
chặt. Bít chặt bằng cách nào? Xa lìa nó.
"Mở bày đường chánh: trời, người, Niết Bàn":
khuyên dạy chúng sanh niệm Phật vãng sanh, bất thoái
thành Phật. Do đấy tổ sư đại đức thường nhắc nhở
chúng ta chuyên tu Tịnh nghiệp. Niệm Phật kỵ nhất là
xen tạp. Nếu xen tạp danh lợi thế gian, ngũ dục, lục
trần thì chẳng thể thành tựu. Người niệm Phật niệm
rất nhiều loại kinh, lại còn niệm chú thì cũng là
xen tạp. Tối trọng yếu là tinh tấn nơi một môn. Ấn
Quang đại sư dạy chúng ta: Người chuyên tu niệm Phật
chỉ cần niệm một bộ kinh A Di Đà, ba biến chú Vãng
Sanh, rồi niệm Phật hiệu. Kỳ thật, công phu đều dồn
vào Phật hiệu. Niệm một bộ kinh và ba biến Vãng Sanh
chỉ nhằm để định tâm. Nếu tâm chúng ta suy nghĩ lung
tung, niệm Phật hiệu sẽ chẳng có cảm ứng. Nếu dùng
tâm thanh tịnh để chấp trì danh hiệu thì có cảm ứng.
Nếu tâm quý vị rất
thanh tịnh, chẳng có tạp niệm, chẳng có vọng tưởng
thì kinh lẫn chú chẳng cần niệm nữa. Thời xưa, tổ sư
đại đức một ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu,
chẳng niệm kinh, niệm chú. Không ít người niệm Phật
chỉ nhờ một câu A Di Đà Phật này, lúc lâm chung vãng
sanh chẳng sanh bệnh, biết trước lúc đi, đứng vãng
sanh hoặc ngồi vãng sanh rất nhiều. Đài Loan bốn
mươi năm qua, có mười mấy vị đứng hoặc ngồi vãng
sanh, quá nửa những người đó là những bà cụ rất già,
không biết chữ, kinh lẫn chú đều chẳng niệm, tâm
định. Bởi thế, người niệm Phật chẳng đọc sách báo,
tạp chí, chẳng xem các kinh sách khác.
Dân Quốc năm thứ nhất
(1912), Đàm Hư đại sư truyền giới tại chùa Cực Lạc ở
Cáp Nhĩ Tân, thỉnh thầy của Ngài là Đế Nhàn Lão Hòa
Thượng làm Đắc Giới Hòa Thượng. Trong thời gian
truyền giới, có một vị xuất gia tên là Tu Vô đến
giới trường giúp việc. Vị này rất dốt nát, trước khi
xuất gia làm thợ nề, không biết chữ; gì cũng không
biết, chỉ biết niệm A Di Đà Phật. Sư tình nguyện
trong thời gian truyền giới sẽ săn sóc những bệnh
nhân bị trúng gió, cảm mạo.
Được mấy ngày, Sư xin
phép Hòa Thượng cho nghỉ, nói mình cần phải đi. Đàm
Hư Đại Sư là người có hàm dưỡng, chẳng trách móc gì.
Đương gia sư là Định Tây Pháp Sư tánh tình nóng nảy,
nghe nói Sư phải đi, đối với Sư chẳng khách khí gì,
nói ngay:
"Chúng tôi truyền giới suốt
mười ba ngày, vẫn chưa viên mãn, sao giữa chừng lại
bỏ đi vậy?" Sư đáp:
"Chẳng phải tôi đi qua chỗ khác đâu mà là về Tây
Phương Cực Lạc thế giới". Hai vị pháp sư ngẩn
ngơ, hỏi ngày nào Sư đi? Sư nói đại khái không hơn
mười bữa nữa, xin chúng thường trụ sắp sẵn hai trăm
cân củi khô chuẩn bị thiêu hóa. Hòa Thượng rất bội
phục, trông thấy Sư đầu óc đất sét, cái gì cũng
không biết, thân thể khỏe mạnh, cũng chẳng đổ bệnh,
biết trước lúc mất. Ngày hôm sau, Sư lại tìm hai vị
pháp sư nói ngày hôm nay Sư sẽ đi, xin chuẩn bị gấp
cho. Lại xin mấy vị tăng thường trụ đến trợ niệm
giùm để đưa Sư đi. Sư trải đệm trong phòng chứa củi,
ngồi xếp bằng. Những người trợ niệm tiễn đưa xin Sư
để lại một bài kệ làm kỷ niệm, thầy Tu Vô nói một
câu:
"Năng thuyết bất năng hành,
bất thị chân trí huệ" (Nói được làm không
được, chẳng phải chân trí huệ). Nói xong bèn im
lặng.
Niệm Phật chừng mười
lăm phút, Sư bèn đi, ngồi mà vãng sanh. Suốt đời chỉ
một câu Phật hiệu, cái gì cũng chẳng biết, thật là
niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn. Sư tuy không biết chữ,
chẳng thể giảng kinh thuyết pháp, lâm chung biểu
diễn một phen, không biết là
độ
được bao nhiêu chúng sanh nữa! Ngài hiện thân thuyết
pháp, làm gương vậy.
Quý vị tu thiện pháp,
chư Phật, Bồ Tát nhất định giúp quý vị viên mãn
thành tựu. Hết thảy ác pháp chúng ta phải xa lìa, vì
hết thảy chúng sanh chỉ dạy con đường lớn niệm Phật
vãng sanh bất thoái thành Phật.
"Nếu các chúng sanh do vì các nghiệp ác tích tập,
cảm lấy hết thảy quả khổ rất nặng, tôi đều chịu
thay, khiến các chúng sanh đều được giải thoát, rốt
ráo thành tựu Vô Thượng Bồ Đề": Chúng sanh mê
hoặc tạo nghiệp, cảm lấy quả báo luân hồi.
Hoặc nghiệp khổ là mê
hoặc tạo nghiệp chịu khổ. Khổ là chịu lấy quả báo.
Tuy chịu khổ vẫn chẳng giác ngộ, vẫn cứ mê hoặc, nên
nghiệp tạo ra càng nặng, đời sau càng khổ. Giống như
nước xoáy, càng xoáy càng chìm xuống, chẳng thể trồi
lên. Nếu một đời này chẳng thể vãng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới, tiền đồ của chúng ta thật đáng lo
ngại, ắt đời này chẳng biết đời sau ra sao, bởi lẽ
chúng ta khởi tâm động niệm ác nhiều thiện ít.
Phải hiểu nỗi khổ của
chúng sanh do đâu mà có, phải tìm ra căn nguyên; sau
đấy mới phát tâm chịu khổ thế cho chúng sanh. Chịu
bằng cách nào? Thả chiếc bè từ phổ độ chúng sanh.
Chúng sanh nên dùng thân nào để đắc độ, Bồ Tát bèn
thị hiện thân phận đó. Quý vị là con người, Ngài
cũng mang thân người. Quý vị đọa trong đường súc
sanh, Ngài cũng biến thành súc sanh. Đó là chịu khổ
thế cho chúng sanh, mục tiêu là giúp chúng sanh khai
ngộ. Nói tóm lại, khuyên người niệm Phật, khuyên
người cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Ngã quỷ, súc sanh
cũng có thể độ được. Trong nhà Phật có một cuốn sách
nhỏ mang tựa đề Vật Do Như Thử (Loài vật còn như
thế) thuật chuyện động vật niệm Phật vãng sanh. Lúc
Đế Nhàn pháp sư làm trụ trì chùa Đầu Đà tại Ninh Ba,
tỉnh Triết Giang, trong chùa có một con gà trống.
Mỗi sáng lúc gà gáy, mọi người thức dậy tụng khóa
sáng; gà trống cũng tham gia khóa lễ sáng tối. Lúc
đại chúng niệm Phật, nó cũng kêu cục cục niệm theo.
Giữa trưa đại chúng thọ trai, nó cũng đến, cơm rau
vô ý rớt xuống đất, nó bèn ăn sạch sẽ. Có một ngày
tụng kinh khóa tối xong, đại chúng đều đi xuống hết,
con gà chẳng đi, vẫn nhiễu Phật. Thầy Hương Đăng xua
nó đi, nó mặc kệ thầy, nó đến giữa Phật đường lạy ba
lạy: gật đầu ba lần, đứng yên vãng sanh. Gà trống
còn có thể vãng sanh, nếu chúng ta không khéo học sẽ
chẳng bằng được nó đấy! Đế Nhàn pháp sư theo đúng lễ
tiết dành cho người xuất gia chôn gà trống sau núi.
Loài động vật này quá nửa phần đời trước là người
xuất gia, đại khái lúc lâm chung do một niệm lầm lạc
bèn đọa thân súc sanh.
Trong lục đạo, Phật,
Bồ Tát thị hiện mọi thứ thân hóa độ chúng sanh, giúp
cho hết thảy chúng sanh niệm Phật vãng sanh thành
Phật, đó mới là rốt ráo viên mãn. Tu các pháp môn
khác, trong một đời chưa thấy có ai có thể chứng
quả, chẳng thấy có ai có thể vượt thoát luân hồi lục
đạo. Trong cuốn Niệm Phật Luận, Đàm Hư lão Hòa
Thượng viết:
"Trong một đời, tôi gặp nhiều
đắc Thiền Định, nhưng chưa gặp được ai khai ngộ. Học
Thiền nếu chẳng khai ngộ thì chẳng thể liễu sanh
thoát tử, chẳng thể thoát tam giới. Đắc Thiền Định
chỉ có thể sanh lên trời Tứ Thiền". Chỉ riêng
mình pháp môn Niệm Phật ổn thỏa, thích đáng, nhanh
chóng, ai cũng có thể tu được, ai cũng có thể thành
tựu. Trong hội Hoa Nghiêm, sau cùng Bồ Tát Phổ Hiền
cũng đặc biệt đề xướng pháp môn Niệm Phật.
"Hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh
phiền não tận, sự hồi hướng này của tôi chẳng có
cùng tận": Nguyện thứ mười được kết thúc cũng
giống như những nguyện trước. Phát tâm nhất định
phải dài lâu, tu hành phải
"niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn".
Chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn. Đại
Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta
"tịnh niệm tiếp nối", bốn chữ này là bí quyết
niệm Phật. Tịnh là chẳng xen tạp, nếu xen tạp tâm
bèn chẳng thanh tịnh. Tối đơn thuần, tối tinh thuần
là một câu Phật hiệu. Hiện tại chúng ta phải niệm
thêm một quyển kinh là vì tâm chẳng thanh tịnh. Nếu
tâm thanh tịnh, tuyệt đối chẳng xen tạp, ngay cả
kinh A Di Đà cũng không cần đến nữa. Trong tâm từ
sáng đến tối, trong mười hai thời, trừ một câu Phật
hiệu ra, không nghĩ đến gì khác, người đó công phu
thành phiến, đạt đến Nhất Tâm, đó là chân chánh thực
hiện công phu. Đứng mất, đi mất, biết trước lúc mất
là công phu đạt đến cảnh giới ấy.
Chúng ta chẳng bằng
được những người ấy là vì chúng ta có tạp niệm, Phật
hiệu vừa niệm một phen đã gián đoạn. Lúc làm việc,
buông xuôi Phật hiệu, hùng hục gắng sức làm việc,
làm việc xong, buông bỏ công tác, lập tức đề khởi
Phật hiệu, chẳng có một tạp niệm. Lúc niệm Phật
trong tâm chớ nên lấn cấn còn nhiều chuyện mình chưa
làm, lúc làm việc lại niệm Phật hiệu. Nếu vậy, Phật
hiệu niệm cũng không tốt, việc làm cũng chẳng ra gì,
đôi bề đều mất cả.
Đến đây là giới thiệu
xong mười nguyện. Phần sau, Phổ Hiền Bồ Tát lại có
nhiều khai thị trọng yếu, cũng là
đem
những chỗ khẩn yếu trong mười nguyện đặc biệt chỉ
dạy cho chúng ta.
Lược Giảng Giáo Nghĩa Phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện, phần 2 hết.
(1) Nhất Thiết Trí là
trí thấy rõ tất cả hết thảy pháp trong mười phương
pháp giới chỉ thuần là lý tánh Chân Không (gọi là lý
tánh Chân Không có nghĩa là lìa khỏi hết thảy những
tướng hư giả do cái thấy biết sai lầm, chẳng chấp
vào những tướng hư giả ấy, chứ không phải là Ngoan
Không, tức phủ nhận toàn bộ vạn hữu).
(2) Khối phước: Dịch
chữ
"phước tụ". Tu tập bao nhiêu công đức tích
lũy lại nên gọi là "phước tụ".
(3) Trí địa: Chữ Trí
chỉ Nhất Thiết Trí (trí thông hiểu tướng Không của
hết thảy pháp, là trí của hàng Thanh Văn, Duyên
Giác), Đạo Chủng Trí (hiểu hết thảy đạo pháp sai
biệt, là trí của hàng Bồ Tát), Nhất Thiết Chủng Trí
(hiểu rõ tổng tướng, biệt tướng, đoạn Hoặc, giác Mê,
là trí của Phật). Địa là
địa
vị. Nói là "các thứ trí địa
của Bồ Tát" là vì có đến bốn mươi địa vị.
(4) Nhập Niết Bàn:
Tiếng Phạn là Bát Niết Bàn (Parinirvana), còn dịch
là Diệt Độ. Diệt là diệt phiền não, diệt sanh tử; Độ
là
độ
sanh. Có khi còn dịch là Viên Tịch hay Nhập Diệt.
(5) Xá Lợi: Những
phần còn lại của xương đức Phật sau khi thiêu, rất
kiên cố, đa phần hình tròn, nhiều màu. Sau khi đức
Phật nhập diệt, A Nậu Lâu Đà và Ma Ha Ca Diếp chủ
trì việc thiêu kim thân, thiêu xong, thu được rất
nhiều xá lợi. Việc phân bố xá lợi nhằm tạo cơ hội
cho chúng sanh sau khi đức Phật nhập diệt, được gieo
duyên đảnh lễ thân Phật. Về sau thường được dùng
theo nghĩa rộng để chỉ xương cốt còn lại sau khi
thiêu hóa của các vị Tổ Sư, các cao tăng.
(6) Hữu học, vô học:
Hữu học chỉ người tu hành còn chưa viên mãn, chưa
liễu sanh thoát tử. Vô Học là bậc thánh giả đã chứng
quả La Hán trở lên, đã học viên mãn, không còn phải
học tập, tấn tu những cách để đoạn trừ phiền não như
trước khi chưa chứng quả La Hán.
(7) Thị hiện: Thị là
làm cho người khác thấy, Hiện là bày ra. Thị hiện là
biến hiện, hóa hiện, làm theo một cách nào đó cho
người khác thấy.
(8) Tỳ Lô Giá Na
(Vairochana): Hán dịch là Biến Nhất Thiết Xứ, ý nói:
quang minh của Phật chiếu thấu khắp hết thảy mọi
nơi; hoặc còn dịch là Đại Nhật Như Lai. Tỳ Lô Giá Na
là Pháp Thân của Phật Thích Ca, Thích Ca là Ứng Thân
của Phật Tỳ Lô Giá Na. Lô Xá Na là Báo Thân. Ngoài
ra, còn có mười loại thân:
1) Chúng sanh thân:
thân tướng của chúng sanh trong lục đạo.
2) Quốc độ thân:
Trong các thế giới khác nhau, vì thích ứng với căn
cơ sai biệt của chúng sanh, Lô Xá Na Phật hóa hiện
thân tướng khác nhau. Nói đúng ra, Quốc Độ Thân
chính là thân Phật. Gọi là sai khác vì tùy theo thân
lượng của chúng sanh từng quốc độ mà thân Phật lớn
nhỏ, hào quang chiếu xa hay gần, chúng sanh chỉ thấy
được Ứng Thân hay thấy được cả Báo Thân.
3) Nghiệp báo thân: Thân cảm ứng do nghiệp báo.
4) Thanh Văn Thân.
5) Duyên Giác thân.
6) Bồ Tát thân.
7) Như Lai thân.
8) Trí thân: thân do trí huệ tu chứng viên minh cảm
thành.
9) Pháp Thân.
10) Hư không thân: tướng thanh tịnh lìa cấu, chẳng
có hình tướng, nhưng thanh tịnh trọn khắp pháp giới,
giống như hư không.
(9) Chuyển Luân Thánh
Vương: Vị vua cai quản toàn bộ tam thiên đại thiên
thế giới, oai lực rất lớn, hưởng thọ phước báo rất
lớn, có ngàn con, có đủ bảy báu vật, một trong số đó
là bánh xe báu (bảo luân); luân có khả năng xoay
tròn, bay lên hư không, đưa vua đi khắp nơi. Ngôi
Luân Vương có bốn loại: Kim, Ngân, Đồng, Thiết.
Thiết Luân Vương chỉ cai quản được Nam Thiệm Bộ Châu
(Diêm Phù Đề).
(10) Sát Lợi: Giai
cấp thứ hai trong xã hội Ấn Độ, gọi đủ là Sát Đế Lợi
(Ksatriya), Hán dịch là Điền Chủ hoặc Vương Chủng,
giai cấp nắm quyền lực quân sự và chính trị, trực
tiếp cai trị xã hội Ấn Độ cổ thời.
Bà La Môn: Hán dịch
là Tịnh Hạnh, giai cấp thứ nhất của Ấn Độ, đa phần
là người tu hành, nắm giữ đặc quyền tế lễ, biên
chép, diễn giải kinh điển Ấn Độ Giáo.
Trưởng giả: Người đạo
đức cao, tuổi lớn, giàu có thì gọi là Trưởng Giả.
(11) Thiên long bát
bộ: Tám bộ chúng thường theo nghe giảng Phật pháp:
A) Thiên: các hữu
tình thuộc hai mươi tám tầng trời.
B) Long: Loài rồng, thường sống trong biển cả, ao,
hồ, sông, nước, có thần thông, tánh tình dữ dội nóng
nảy.
C) Dạ Xoa: Loài quỷ bay được trên không, thích ăn
người.
D) Càn Thát Bà: Nhạc thần của Đế Thích.
E) A Tu La: Người tu phước báo rất nhiều nhưng tâm
sân hận quá lớn bèn đọa trong loài này, có phước báo
như chư Thiên, nhưng thân hình thô xấu, thích đánh
nhau với Đế Thích.
F) Ca Lâu La: Giống chim to, rất hung bạo, thích ăn
nuốt rồng.
G) Khẩn Na La: Cũng là nhạc thần của Đế Thích, nhưng
chỉ tấu pháp nhạc, diễn giảng Phật pháp.
H) Ma Hầu La Già: Một loại rắn thần lớn.
(12) Thành thục: hiểu
theo nghĩa đen là làm cho chín muồi, hiểu theo nghĩa
rộng là tác động sự vật gì khiến cho thành công.
Kinh dùng với ý nghĩa đức Phật quán sát căn cơ của
chúng sanh, biết là
đến
lúc chúng sanh thành tựu chứng quả, bèn dùng các
phương tiện thuyết pháp, giáo hóa, thị hiện khiến
cho chúng sanh được thành tựu, chứng đắc đạo quả,
công đức viên mãn.
(13) Noãn sanh: loài
sanh bằng trứng, như các loài chim chẳng hạn.
Thai sanh: loài sanh con bằng cách mang thai, như
thú, người.
Thấp sanh: loài sanh nơi ẩm ướt, như muỗi mòng.
Hóa sanh: loài sanh do biến hóa như chư Thiên, tội
nhân trong địa ngục.
(14) Sắc thân: Nói
theo quan điểm thế tục là thân có đủ mắt, tai, mũi,
lưỡi… Nói theo Phật pháp, các thân do tứ đại (đất,
nước, gió, lửa) và ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị,
xúc) hợp thành.
(15) Dục lạc: Các thứ
ham thích, ưa muốn.
Ý hạnh: Ý là các thứ suy nghĩ trong tâm, Hạnh là
những hành vi biểu hiện ra ngoài.
Oai nghi: Oai là dáng
vẻ trang nghiêm, tề chỉnh. Nghi là có nghĩa là lễ
mạo, đúng lễ. Oai nghi ở đây thường được hiểu là bốn
hành động đi, đứng, nằm, ngồi đều tuân thủ đúng lễ
tiết, trang trọng, đúng mực.
(16) Có sắc: thuộc về
Sắc Giới. Từ địa ngục lên đến Tự Tại Thiên thuộc về
Dục Giới, từ tầng trời phía trên Tự Tại Thiên lên
đến tầng trời hai mươi tám (Sắc Cứu Cánh Thiên)
thuộc về Sắc Giới. Chư thiên Sắc Giới chỉ có nam
nhân, không có nữ nhân, không có ý tưởng dâm dục, có
sắc thân có thể trông thấy được, nên gọi là Sắc
Giới.
Vô sắc: tức là Vô Sắc
Giới, thuộc bốn tầng trời phía trên Sắc Cứu Cánh
thiên. Người trong cõi trời này có tâm tưởng, sống
bằng Thiền Định, không có sắc thân.
(17) Hữu Tưởng: tức
trời Thức Vô Biên Xứ, tầng trời thứ nhất của Vô Sắc
Giới. Người cõi này trong năm Uẩn chỉ có Thức và
Tưởng, Vô Tưởng: Vô Sở Hữu Xứ Thiên, chư Thiên cõi
này không có tâm phân biệt, vọng tưởng, nên gọi là
Vô Tưởng, đã khuất phục được thức thứ bảy (Mạt Na,
tức chấp ngã).
Phi Hữu Tưởng Phi Vô
Tưởng: Chư thiên trong cõi trời này công phu tu Định
lực rất sâu, chế ngự được thức thứ tám, khiến cho
thức thứ tám tưởng chừng như đã diệt nên gọi là Phi
Hữu Tưởng, nhưng thật ra thức thứ tám vẫn còn hiện
hữu một cách vi tế nên gọi là Phi Vô Tưởng.
(18) Thừa sự: hầu hạ,
phụng sự.
(19) Nguyên văn:
"Khoáng dã sa tích", Khoáng là chỗ hoang vu,
hiu quạnh. Tích là những khối đá nhỏ. Như vậy,
khoáng dã sa tích là chỗ trống trải, hoang vu, đầy
những cát đá.
(20) Cái gì to lớn
nhất thường gọi là Vương, như núi Tu Di gọi là Sơn
Vương; Thọ Vương là cái cây cực to trong các loài
cây.
(21) Hồi hướng: Có
bốn loại hồi hướng:
1) Hồi Sự Hướng Lý:
chuyển hết thảy các sự tướng đã tu về nơi Lý. Chẳng
hạn trong nguyện
"rộng tu cúng dường",
Tài Bố Thí là sự tướng, tiếp đó nói đến Pháp Cúng
Dường tức là Hồi Sự Hướng Lý.
2) Hồi Tự Hướng Tha: đem công đức mình đã tu hồi
hướng cho mười phương ba đời hết thảy chúng sanh.
3) Hồi Nhân Hướng Quả: Lúc thoạt đầu tu công đức là
để
cầu phước báo, nay cái nhân của tu công đức là cầu
thành Phật.
4) Hồi Tiểu Hướng Đại: Trước kia tu hạnh Tiểu Thừa
nhỏ hẹp, chí nguyện tự độ, nay hướng đến hạnh Đại
Thừa, rộng độ chúng sanh.