LƯỢC GIẢNG GIÁO NGHĨA
PHẨM PHỔ HIỀN HẠNH NGUYỆN
Nguyên tác:
Phổ Hiền Đại Sĩ
Hạnh Nguyện Đích Khải Thị
Chủ giảng:
Lão Pháp Sư
Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Dịch theo bản in
của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001
-o0o-
B.
Giải thích kinh văn
I. Phần trường hàng
1. Mười đại nguyện vương
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ
Tát Ma Ha Tát xưng thán Như Lai thắng công đức dĩ,
cáo chư Bồ Tát cập Thiện Tài ngôn:
- Thiện nam tử! Như
Lai công đức, giả sử thập phương nhất thiết chư
Phật, kinh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát
cực vi trần số kiếp, tương tục diễn thuyết, bất khả
cùng tận. Nhược dục thành tựu thử công đức môn, ưng
tu thập chủng quảng đại hạnh nguyện. Hà
đẳng
vi thập?
Nhất giả, lễ kính chư
Phật.
Nhị giả, xưng tán Như
Lai.
Tam giả, quảng tu
cúng dường.
Tứ giả, sám hối
nghiệp chướng.
Ngũ giả, tùy hỷ công
đức.
Lục giả, thỉnh chuyển
pháp luân.
Thất giả, thỉnh Phật
trụ thế.
Bát giả, thường tùy
Phật học.
Cửu giả, hằng thuận
chúng sanh.
Thập giả, phổ giai
hồi hướng.
Lúc bấy giờ, Phổ Hiền
Bồ Tát Ma Ha Tát khen ngợi công đức thù thắng của
đức Như Lai xong, bảo các Bồ Tát và Thiện Tài (11)
rằng:
- Này Thiện nam tử!
Công đức Như Lai giả sử mười phương hết thảy chư
Phật trong các số kiếp (12) nhiều như số cực vi trần
(13) trong bất khả thuyết bất khả thuyết (14) Phật
sát (15), diễn nói liên tục, cũng chẳng thể nói cùng
tận. Nếu muốn thành tựu môn công đức này, hãy nên tu
mười thứ hạnh nguyện rộng lớn. Những gì là mười?
Một là lễ kính chư
Phật.
Hai là xưng tán Như
Lai.
Ba là rộng tu cúng
dường.
Bốn là sám hối nghiệp
chướng.
Năm là tùy hỷ công
đức.
Sáu là thỉnh đức Phật
chuyển pháp luân.
Bảy là thỉnh đức Phật
ở lại nơi đời.
Tám là thường học
theo đức Phật.
Chín là hằng thuận
chúng sanh.
Mười là hồi hướng
khắp tất cả.
"Phổ Hiền Bồ Tát khen ngợi công đức thù thắng của
Như Lai xong": đây là câu để tiếp ý quyển
trước. Phẩm này thuộc quyển thứ bốn mươi. Nửa phần
sau quyển thứ ba mươi chín là bài kệ tụng rất dài
của Phổ Hiền Bồ Tát ca ngợi công đức thù thắng của
Như Lai. Chữ
"Như Lai" ở đây chỉ
chân tâm tự tánh của mỗi người chúng ta, công đức
của chân tâm mỗi người chúng ta là vô lượng vô biên;
lời ca tụng của Phổ Hiền Bồ Tát chỉ là một giọt nước
trong biển cả đó thôi. Phổ Hiền Bồ Tát nói nhiều như
vậy cũng nói không hết, mới chuyển đề tài, bảo cùng
các Bồ Tát trong hội và Thiện Tài rằng:
"Công đức Như Lai giả sử mười phương hết thảy chư
Phật trong các số kiếp như số cực vi trần trong bất
khả thuyết bất khả thuyết Phật sát, diễn nói liên
tục, cũng chẳng thể nói cùng tận".
Một câu nói của Phổ
Hiền Bồ Tát đã vạch trần chỗ hay của việc thành
Phật. Công đức của tự tánh chúng ta, mười phương hết
thảy chư Phật trải vô lượng kiếp cùng xưng nói cũng
chẳng thể nói hết được. Học Phật là
để
minh tâm kiến tánh, kiến tánh bèn thành Phật; phải
làm sao cho vô lượng vô biên công đức trong tự tánh
chúng ta đều hiện tiền, đều hưởng được tác dụng của
những công đức đó. Tự tánh khởi tác dụng thì có ích
lợi gì? Khiến cho chúng ta ngay trong một đời này
đạt được hạnh phúc, khoái lạc chân chánh, vĩnh viễn
chẳng có phiền não, chẳng khởi vọng tưởng, gia đình
mỹ mãn, sự nghiệp thuận lợi, xã hội yên ổn, tốt đẹp,
thế giới hòa bình; những lợi ích nhỏ nhặt như thế
đều có thể đạt được. Lợi ích lớn nhất là trường sanh
bất lão, vĩnh viễn chẳng chết. Đấy đều là những lợi
ích công đức sẵn có nơi tự tánh. Chẳng thể không học
Phật pháp là do lý do này, vì thế nhất định phải nỗ
lực tu học. Câu nói này của Phổ Hiền Bồ Tát khiến
chúng ta nhận thức rõ: Công đức của tự tánh chẳng
thể nghĩ bàn.
Phổ Hiền Bồ Tát lại
bảo cùng chúng ta: Muốn chứng đắc công đức của tự
tánh thì phải tu mười thứ hạnh nguyện rộng lớn, công
đức của tự tánh mới hiện tiền viên mãn. Trong năm
khoa mục Tịnh Tông Học Hội thực hành thì khoa mục
cuối cùng là mười đại nguyện vương. Mười đại nguyện
vương là tầng lầu thứ năm, là tột đỉnh viên mãn.
Tầng thứ năm cất dựa trên tầng thứ tư; tầng thứ tư
là Bồ Tát Lục Độ. Tầng thứ ba là Tam Học Giới - Định
- Huệ. Tầng thứ hai là Lục Hòa Kính. Tầng thứ nhất
là ba phước. Ba phước là cơ sở. Cứ y chiếu theo
phương pháp này mà nỗ lực tu học thì ngay trong một
đời sẽ đạt đến cảnh giới viên mãn.
1.1. Nguyện thứ
nhất: Lễ kính chư Phật
Chánh kinh:
Thiện Tài bạch ngôn:
- Đại Thánh! Vân hà
lễ kính, nãi chí hồi hướng?
Phổ Hiền Bồ Tát cáo
Thiện Tài ngôn:
- Thiện nam tử! Ngôn
lễ kính chư Phật giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không
giới, thập phương tam thế, nhất thiết Phật sát, cực
vi trần số chư Phật Thế Tôn, ngã dĩ Phổ Hiền hạnh
nguyện lực cố, thâm tâm tín giải, như đối mục tiền,
tất dĩ thanh tịnh thân ngữ ý nghiệp, thường tu lễ
kính. Nhất nhất Phật sở, giai hiện bất khả thuyết
bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số thân; nhất
nhất thân biến lễ bất khả thuyết bất khả thuyết Phật
sát cực vi trần số Phật.
Hư không giới tận,
ngã lễ nãi tận. Dĩ hư không giới bất khả tận cố, ngã
thử lễ kính vô hữu cùng tận. Như thị nãi chí chúng
sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh
phiền não tận, ngã lễ nãi tận, nhi chúng sanh giới
nãi chí phiền não vô hữu tận cố, ngã thử lễ kính vô
hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn.
Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
Thiện Tài bạch rằng:
- Thưa đại thánh! Thế
nào là lễ kính cho đến hồi hướng?
Phổ Hiền Bồ Tát bảo
Thiện Tài rằng:
- Này Thiện nam tử!
Nói
"lễ kính (16) chư Phật" là: [Đối với] chư
Phật Thế Tôn nhiều như số cực vi trần trong tất cả
hết thảy cõi Phật tột cùng pháp giới, hư không giới
(17), mười phương ba đời, tôi do sức hạnh nguyện Phổ
Hiền, thâm tâm tín giải (18), như đối trước mắt, đều
dùng thân ngữ ý nghiệp thanh tịnh, thường tu tập sự
lễ kính. Nơi mỗi một đức Phật, đều hiện thân như số
cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi
Phật, mỗi một thân lễ khắp chư Phật nhiều như số cực
vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi
Phật.
Hư không có tận, sự
lễ kính của tôi mới tận. Vì hư không chẳng thể tận
nên sự lễ kính này của tôi chẳng có cùng tận. Như
thế cho đến chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp
tận, chúng sanh phiền não tận, sự lễ kính của tôi
mới tận. Nhưng chúng sanh giới cho đến phiền não
chẳng có cùng tận, nên sự lễ kính này của tôi chẳng
có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng hề gián đoạn.
Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán).
Hiếu dưỡng cha mẹ,
phụng sự sư trưởng là hiếu kính; hiếu kính đến mức
viên mãn rốt ráo là lễ kính chư Phật. Trong Đại Thừa
Giới Kinh, đức Phật khai thị rõ ràng:
"Hiếu thuận phụ mẫu, sư tăng, hiếu thuận với hết
thảy chúng sanh. Hiếu gọi là Giới". Giới luật
Đại Thừa tạo dựng trên cơ sở hiếu đạo. Chữ Hiếu
thuộc loại Hội Ý: phía trên là chữ Lão, phía dưới là
chữ Tử, ghép thành chữ Hiếu. Trong chữ Hiếu, các đời
tương thông, đời chữ Lão và
đời
chữ Tử cùng một thể. Một đời trên (Lão) còn có một
đời trên nữa, quá khứ vô thỉ; một đời dưới lại có
một đời dưới nữa, vị lai vô chung. Vô thỉ vô chung
là một chỉnh thể. Nhìn theo chiều dọc, tổ tiên và
con cháu đời sau là một thể; nhìn theo chiều ngang
là anh em, thân thích, bè bạn; anh em của anh em,
thân thích của thân thích, bè bạn của bè bạn, ngang
khắp mười phương. Dọc suốt ba đời, ngang cùng mười
phương là toàn thể của pháp giới. Chữ Hiếu là một
phù hiệu tiêu biểu toàn thể pháp giới. Chỉ có thành
Phật mới có thể tột cùng viên mãn đạo Hiếu.
Vì sao chúng ta phải
học Phật? Vì chúng ta muốn viên mãn tột cùng đạo
Hiếu, vì biết tận hư không, khắp pháp giới chỉ là
chính mình mà thôi! Bởi thế, chính Phổ Hiền Bồ Tát
tự nói: Muốn
"lễ kính chư Phật" thì
phải sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thể
viên mãn được nguyện ấy. Phổ Hiền Bồ Tát là một nhân
vật đại biểu cho những người vãng sanh Tây Phương
Cực Lạc thế giới trong mười phương thế giới. Phổ
Hiền Bồ Tát còn như thế, huống gì chúng ta? Chúng ta
muốn viên mãn tột cùng đạo Hiếu, chỉ còn cách noi
theo Phổ Hiền Bồ Tát; không noi theo Ngài mà toan
thành Phật, chẳng có hy vọng gì đâu!
Trong kinh Phật dạy,
từ Sơ Phát Tâm cho đến khi thành Phật là ba đại A
Tăng Kỳ kiếp, trong quá khứ chúng ta đã tu cả vô
lượng A Tăng Kỳ kiếp, cớ sao chẳng thành Phật? Là vì
phiền não không đoạn, đời đời luân hồi lục đạo. Nhận
thức Tịnh Độ từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta biết kinh
Hoa Nghiêm cuối cùng là niệm Phật cầu sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, vì thế ta mới chết một lòng
khăng khắng niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc
thế giới, Phổ Hiền Bồ Tát độ chúng ta vậy.
Lễ kính chư Phật, chư
Phật là ai? Phật dạy minh bạch:
"Hết thảy chúng sanh vốn là Phật"; phàm các
hiện tượng do các duyên hòa hợp mà sanh khởi thì gọi
là
"chúng sanh". Chúng ta
nghĩ coi: Có pháp nào chẳng phải là do các duyên hòa
hợp sanh ra hay không? Chỉ có hư không mới chẳng
phải là do các duyên hòa hợp sanh ra. Thân thể của
chúng ta, khăn mặt, giảng đường đều là do các duyên
hòa hợp sanh ra, đều gọi là chúng sanh. Kinh Hoa
Nghiêm có một câu rất trọng yếu như sau:
"Tình dữ vô tình, đồng viên
chủng trí". Tình là hữu tình chúng sanh, chỉ
động vật, hữu tình chúng sanh trong mười pháp giới.
Vô Tình là vô tình chúng sanh, chỉ thực vật, khoáng
vật. "Đồng viên chủng trí"
là thành Phật. Hữu tình chúng sanh có thể tu hành,
có thể niệm Phật, có thể thành Phật, còn vô tình
chúng sanh làm sao thành Phật được? Khăn mặt, bàn
ghế, khi nào chúng mới thành Phật?
Giờ đây nhờ phẩm Hạnh
Nguyện này chúng ta mới vỡ lẽ: hữu tình chúng sanh
là chư Phật, vô tình chúng sanh cũng là chư Phật.
Khi nào vô tình thành Phật vậy? Y báo chuyển theo
chánh báo. Ngày nào chúng ta thành Phật, liền nhận
thấy sơn hà
đại
địa, hết thảy cỏ cây, vi trần thảy đều thành Phật
cả, đó là hiện tượng thành Phật. Nếu ngày nào tự
thấy mình thành Phật, thấy người khác vẫn chưa thành
Phật, thì nói thật ra, quý vị đang nằm mộng, quý vị
khởi vọng tưởng, chắc chắn chẳng phải là thành Phật.
Những điều kinh Hoa Nghiêm dạy hoàn toàn là cảnh
giới hiện lượng của Phật, Bồ Tát, là những điều các
Ngài chính mắt thấy, chính tai nghe, hoàn toàn là
chân tướng sự thật, chẳng phải là cảnh giới của phàm
phu.
Làm thế nào để học
tập pháp môn này? Pháp môn ấy là pháp của Pháp Thân
đại sĩ tu tập; chúng ta là phàm phu, một phẩm phiền
não chưa đoạn, chúng ta có thể tu được chăng? Được
chứ! Sách giáo khoa thuộc phân ban tiến sĩ trong nhà
Phật, chúng ta là học trò mẫu giáo cũng áp dụng
được, rất kỳ diệu! Kinh điển Phật giáo chẳng thể
nghĩ bàn, là kinh điển viên dung. Sách giáo khoa cho
kẻ sơ học chính là kinh điển để thành Phật, pháp môn
bắt đầu từ việc học cung kính. Dùng tâm chân thành,
tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm cung kính đối đãi
hết thảy mọi người, đó là lễ kính chư Phật. Chúng ta
đối với Phật, Bồ Tát cung kính phi thường, nhưng đối
với người khác kém hơn một tí, thì chẳng phải là
hạnh Phổ Hiền. Hạnh Phổ Hiền là hạnh bình đẳng.
Mỗi khóa kinh sáng
chúng ta dùng tâm kiền thành cung kính nhất để lễ
Phật, sau đấy, dùng cái tâm đó đối đãi người khác.
Bất luận đối đãi cha mẹ, người nhà, quyến thuộc,
bằng hữu, đồng sự, hết thảy người thiện kẻ ác trong
xã hội, đều dùng một tấm lòng chân thành, thanh
tịnh, bình đẳng, cung kính để đối đãi, đó là hạnh
Phổ Hiền. Ngoài con người ra, cũng phải dùng cái tâm
chân thành, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm cung
kính để đối đãi hết thảy vạn vật. Khăn mặt là chư
Phật, dùng khăn xong đừng vo thành một cục vứt lung
tung, phải xả sạch, phơi khô, xếp ngay ngắn, đó là
thể hiện lòng cung kính đối với nó. Bàn ghế cũng là
chư Phật, phải chùi sạch, xếp ngay ngắn đó là lòng
cung kính đối với nó. Đối với sự, bất cứ sự việc nào
mình đảm trách cũng phải tận tâm tận lực làm cho
viên mãn, đó là cung kính đối với sự, chẳng thể qua
loa tắc trách, đừng đ
ùn
đẩy lẫn nhau.
Pháp môn này khó,
chẳng dễ tu, nó vốn là pháp tu của Đẳng Giác Bồ Tát;
chúng ta học lớp mẫu giáo, phải gắng hết sức mình
dẫu chưa thể thực hiện viên mãn. Học được một phần
là
được
một phần lợi ích; lợi ích lớn lao chẳng thể nghĩ
bàn. Nêu một thí dụ: Nếu có thể dùng cái tâm chân
thành, thanh tịnh, bình đẳng, cung kính để đối đãi
người và sự vật thì quý vị vĩnh viễn chẳng sanh
phiền não, trong tâm khoái lạc khôn sánh, ngay lập
tức đạt được hạnh phúc, khoái lạc. Hiện tại vì sao
quý vị chẳng hạnh phúc, sung sướng? Là vì trong tâm
quý vị phân biệt kẻ này tốt, người kia xấu, suốt một
ngày từ sáng đến tối phân biệt, chấp trước, phiền
não vọng tưởng chẳng ngừng, làm sao quý vị hạnh
phúc, sung sướng cho được? Nếu muốn tu hạnh phúc,
sung sướng thì hạnh Phổ Hiền là nhanh chóng hữu hiệu
nhất. Quý vị cứ thử mở rộng tâm lượng đi. Chỉ cần
quý vị chân chánh phát tâm, Phổ Hiền Bồ Tát bèn gia
trì quý vị. Kinh dạy: "Tôi do
sức hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải, như đối
trước mắt". Thần lực Phổ Hiền Bồ Tát gia trì,
chúng ta nỗ lực đôi chút, gắng sức đôi chút, cũng có
thể đạt được mấy phần.
"Đều dùng thân ngữ ý nghiệp thanh tịnh, thường tu
tập sự lễ kính": Lễ là lễ mạo, lễ tiết. Chẳng
những đối với người phải có lễ, mà
đối
với vật cũng phải có lễ. Nếu tâm chí thành cung
kính, biểu hiện bên ngoài sẽ hợp với lễ tiết. Tâm
thanh tịnh là chân tâm, trong tâm thanh tịnh chẳng
có thị phi nhân ngã, phân biệt, chấp trước. Bồ Tát
dùng tâm thanh tịnh để tu tập lễ kính thường chẳng
gián đoạn. Tu học Phật pháp thành hay bại cốt ở tâm
nhẫn nại. Có nhiều người lúc mới phát tâm rất dũng
mãnh, được mấy ngày bèn ngã lòng. Nếu có thể giữ
được cái tâm ban đầu chẳng thoái chuyển thì không có
một ai chẳng thành Phật chỉ trong một đời. Ở đây,
Phổ Hiền Bồ Tát làm gương, khuyến khích chúng ta
phải gìn giữ cái tâm ban đầu. Ngài nói:
"Hư không giới tận, sự lễ kính của tôi mới tận".
Hư không giới chẳng thể tận, chúng ta phát nguyện tu
đại hạnh Phổ Hiền, cũng chẳng thể thoái chuyển. Ngài
lại nói: "Chúng sanh giới tận,
chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, sự
lễ kính của tôi mới tận". Thế giới nhân khẩu
ngày càng tăng trưởng, chúng sanh giới chẳng tận.
Phiền não của chúng sanh cũng mỗi ngày một nhiều
hơn. Chỉ có học Phật đắc lực, phiền não mới giảm
thiểu. Phiền não ít đi, trí huệ bèn tăng trưởng.
Phiền não của chúng sanh chẳng thể tận, chúng ta bắt
chước Phổ Hiền Bồ Tát lễ kính, đương nhiên cũng
chẳng có ngày cùng tận.
Phổ Hiền Bồ Tát lại
khuyên lơn chúng ta:
"Niệm niệm tiếp nối, chẳng có
gián đoạn". Đấy là bí quyết công phu. Người
niệm Phật thực hiện được hai câu này trong vòng từ
ba tháng đến nửa năm, công phu niệm Phật đắc lực,
quyết định đạt được công phu thành phiến. Hai câu
này ý nghĩa hoàn toàn tương đồng với câu
"nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm
tiếp nối" của Đại Thế Chí Bồ Tát trong hội
Lăng Nghiêm.
"Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề chán mệt": Thân
phải thực hiện; chúng ta thấy ai cũng phải lễ kính;
ngôn ngữ phải cân nhắc, tâm phải thật sự thanh tịnh,
bình đẳng, cung kính. Phổ Hiền Bồ Tát dụng tâm thanh
tịnh cho nên chẳng mệt mỏi, chẳng buồn phiền. Chúng
ta dụng tâm phân biệt, tâm nhiễm ô, nên trong một
thời gian dài sẽ mệt mỏi. Trong công việc hằng ngày
dùng tâm thanh tịnh, tâm hoan hỷ, tâm lợi ích chúng
sanh mà làm, dù công việc vừa nhiều vừa nặng nề,
cũng chẳng thấy mệt mỏi, chán nản. Đó là
được
mấy phần lợi ích do công phu tu học Phổ Hiền hạnh.
Cảnh giới của Phổ
Hiền Bồ Tát rộng lớn, đấy chính là
điểm
khác biệt so với hạnh của các Bồ Tát khác. Phổ Hiền
hạnh là hạnh xứng tánh. Bản tánh Chân Như rộng lớn
phi thường, Phật thường nói:
"Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới" (tâm
gồm khắp hư không, lượng trọn các cõi nước nhiều như
cát). Mỗi một hạnh nguyện của Phổ Hiền hạnh đều
tương ứng với tự tánh; bởi thế, mỗi một hạnh nguyện
đều bao trùm hư không pháp giới. Chẳng những tâm địa
Phổ Hiền Bồ Tát chân thành, thanh tịnh, bình đẳng,
từ bi, mà còn rộng lớn vô lượng. Dùng cái tâm như
vậy để tu hành thì hạnh môn ấy mới gọi là Phổ Hiền
Hạnh!