KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP
01
1.
GIẢI THÍCH TÊN KINH :
"Diệu", đối với chữ
diệu nầy, chúng ta phải cần một phen, hạ khổ
công phu để nghiên cứu. "Diệu" tức là huyền
diệu, vi diệu, thâm áo không thể dò. Ngài Trí
Giả Ðại Sư, chỉ nói về một chữ diệu, mà phải mất
thời gian chín mươi ngày, tập thành một bộ Pháp
Hoa Huyền, là một bộ Kinh quan trọng trong ba bộ
Kinh lớn của tông Thiên Thai. Ðó là, chỉ nói một
chữ diệu, mà phải mất ba tháng mới nói xong, bạn
nói có diệu chăng !
Trước khi, giảng bất
cứ bộ Kinh gì, thì trước hết giảng về "thất
chủng lập đề" (bảy loại làm tên Kinh) và "ngũ
trùng huyền nghĩa" (năm tầng nghĩa huyền diệu),
đó là quy tắt giảng Kinh của tông Thiên Thai.
Bảy loại làm tên Kinh
là : Ðơn có ba, kép có ba, đầy đủ có một. Trước
hết nói về đơn có ba, tức là người, pháp và dụ.
Thứ nhất là đơn nhân (người) lập đề, ví như
"Phật Nói Kinh A Di Ðà." Phật là người, A Di Ðà
cũng là người, cho nên gọi là đơn nhân (người)
lập đề, chỉ dùng một người để đại biểu tên của
một bộ Kinh. Vì Kinh A Di Ðà nầy là nói về pháp
môn Tịnh Ðộ, nói về thế giới Cực Lạc, của Phật A
Di Ðà. Tại sao có thế giới Cực Lạc ? Vì khi Phật
A Di Ðà, tại nhân địa làm Tỳ Kheo Pháp Tạng, thì
phát bốn mươi tám đại nguyện. Những nguyện nầy
nguyện nào cũng độ tất cả chúng sinh vãng sinh
về thế giới Cực Lạc, tương lai sẽ thành Phật.
Cho nên, bộ Kinh nầy dùng Ðức Phật A Di Ðà, để
đại biểu tên của bộ Kinh nầy.
Khi Phật Pháp đến
thời kỳ diệt vong, thì Kinh Lăng Nghiêm là Kinh
mất đi trước hết, vì Kinh Lăng Nghiêm là Kinh
chánh nhân thành Phật, tức tốc chứng quả liễu
nghĩa, chúng sinh nghiệp chuyển nặng, cho nên
mất đi trước nhất. Cũng có thể nói là, vì kinh
Lăng Nghiêm nói quá tỉ mỉ, về đạo lý vạn sự vạn
vật của thế gian, có thể nói là, tiết lậu bí mật
của trời đất. Do đó, đến thời kỳ mạt pháp, thì
Kinh Lăng Nghiêm bị tiêu diệt đi trước nhất,
những Kinh khác cũng theo đó tiếp tục bị diệt;
cuối cùng chỉ còn lại Kinh A Di Ðà, lưu lại thế
giới nầy một trăm năm, cho nên Kinh A Di Ðà, là
Kinh mất đi sau cùng. Ðến lúc Kinh A Di Ðà cũng
chẳng còn nữa, thì còn lại sáu chữ "Nam Mô A Di
Ðà Phật", lưu lại trên thế gian nầy một trăm
năm, sau đó, sáu chữ diệt mất đi hai chữ, chỉ
còn lại "A Di Ðà Phật" bốn chữ, lại tồn tại trên
thế gian nầy một trăm năm. Cuối cùng, Phật Pháp
trên thế gian sẽ hoàn toàn diệt hết. Lúc đó, tam
tai bát nạn, tất cả tai hại sẽ xảy đến, thì thế
giới nầy theo đó mà huỷ diệt.
Do đó, chúng ta nên
đặc biệt chú ý về Kinh A Di Ðà. Vì thời đại mạt
pháp thì pháp môn Tịnh Ðộ, sẽ hợp cơ nhất đối
với tất cả mọi người. Nhưng thời đại mạc pháp
cũng có chánh pháp tồn tại. Giống như nước Mỹ
chúng ta đang ở, trước kia chưa hề nghe qua Phật
Pháp, bây giờ khắp nơi đều nghe nói về Phật
Pháp. Ðó là Phật Pháp mới truyền vào nước nầy,
cho nên bây giờ có rất nhiều người Mỹ thích ngồi
Thiền, thích nghiên cứu Phật Pháp, mở ra mùi gió
chánh pháp của Phật Giáo.
Kinh A Di Ðà là đơn
nhân (người) làm tên Kinh, còn đơn pháp làm tên
Kinh là Kinh gì ? Là Kinh Niết Bàn. Niết là
"không sinh", Bàn là "không diệt"; không sinh
không diệt, chẳng có pháp sinh diệt, đó là đơn
pháp làm tên Kinh.
Ðơn dụ làm tên Kinh là Kinh Phạm Võng. Phạm Võng
là một tấm lưới La Tràng, ở trước cung điện của
trời Ðại Phạm Thiên. Lưới La Tràng nầy, hình thù
tròn rỗng, bốn mặt có lỗ, cho nên gọi là lưới,
giống như lưới đánh cá, dùng để trang nghiêm.
Ðại Phạm Thiên Vương thích trang trí cung điện
của mình, cho trang nghiêm đẹp đẽ, cho nên treo
lưới La Tràng. Mỗi lỗ của tấm lưới đều có hạt
châu, hạt châu nầy phóng ra ánh sáng, cho nên
gọi là dạ minh châu, ban ngày cũng phóng ánh
sáng, ban đêm cũng phóng ánh sáng. Mỗi hạt châu
phóng vào mỗi lỗ, cho nên quang minh chiếu với
nhau, lỗ lỗ thông với nhau, ánh sáng với ánh
sáng chiếu soi lẫn nhau, lỗ và lỗ thông đạt với
nhau, đó gọi là Phạm Võng. Kinh Phạm Võng tức là
phẩm Bồ Tát giới. Tại sao Bồ Tát giới dùng Phạm
Võng để đại biểu làm tên Kinh ? Vì giới giống
như hạt châu phóng quang. Bạn giữ giới thanh
tịnh, thì có quang minh. Ở trên đã nói qua đơn
có ba : Người, pháp, dụ làm tên Kinh.
Kép có ba : Người (nhân) và pháp làm tên Kinh,
người và dụ làm tên Kinh, pháp và dụ làm tên
Kinh. Người và pháp làm tên Kinh tức là Kinh Văn
Thù Hỏi Bát Nhã. Bồ Tát Văn Thù là người, Bát
Nhã là pháp. Bồ Tát Văn Thù là Bồ Tát đại trí
huệ. Ngài hỏi về Bát Nhã. Bát Nhã là pháp trí
huệ, người có trí huệ mới hỏi được. Bộ Kinh nầy
dùng người và pháp để làm tên Kinh.
Người và dụ làm tên
Kinh là Kinh Như Lai Sư Tử Hống. Như Lai là một
trong mười danh hiệu của Phật. Pháp của Như Lai
nói giống như tiếng hống của sư tử, khi sư tử
hống thì trăm loài thú đều sợ hãi, bất cứ là
sài, lang, hổ, báo, ác thú gì cũng đều sợ hãi.
Kinh Như Lai Sư Tử Hống là người và dụ làm tên
Kinh.
Dùng pháp và dụ làm
tên Kinh, là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Diệu Pháp
là Pháp, Liên Hoa là dụ; dùng diệu pháp chi phối
liên hoa, làm đề mục cho bộ Kinh nầy. Cho nên,
bộ Kinh nầy dùng pháp và dụ làm tên Kinh, thuộc
vào một trong ba loại kép.
Ðầy đủ có một, là Ðại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh. Phương là phương pháp cũng là Phật
Pháp, Ðại Phương Quảng ba chữ nầy giải thích đơn
giản là : Phật Pháp sâu như biển cả, rộng lớn
như hư không chẳng có bờ mé. Phật là người, Hoa
Nghiêm là ví dụ. Hoa thì có hương thơm, đại biểu
đức tính viên mãn và công đức tu hành, để trang
nghiêm mười thân của Phật, cho nên bộ Kinh nầy
dùng : người, pháp, dụ ba loại đầy đủ hoàn toàn
để làm tên Kinh.
Người nghiên cứu Phật Pháp, nên nhớ bảy loại làm
tên Kinh (thất chủng lập đề), để có thể tuỳ thời
giảng Kinh. Nếu không hiểu bảy loại làm tên
Kinh, thì bạn chẳng phải là người nghiên cứu
Phật Pháp. Trong Ðại Tạng Kinh có rất nhiều
loại, Kinh điển cũng có mấy ngàn quyển, nhưng
không ra ngoài bảy loại làm tên Kinh nầy. Cho
nên, khi xem Kinh điển thì biết bộ Kinh đó dùng
gì để làm đề mục. Nhận thức được lập đề rồi, thì
sau đó tự nhiên sẽ đi sâu vào Tạng Kinh, trí huệ
như biển. Nếu tên Kinh không biết rõ ràng, ví
như gì gọi là Kinh Niết Bàn ? bạn nói không
hiểu, nội tên Kinh Niết Bàn đã không hiểu, vậy
bạn xem Kinh Niết Bàn lại có ích gì ? Nếu không
nhận thức được tên Kinh, thì chẳng thể đi sâu
vào Tạng Kinh, cũng chẳng được trí huệ như biển;
không được trí huệ như biển, thì bạn một đời học
Phật Pháp vẫn tối tăm mù mịt. Cho nên bảy loại
làm tên Kinh nầy rất quan trọng.
Nếu ai cũng nhận thức được bảy loại làm tên
Kinh, thì có thể nghiên cứu Phật Pháp. Còn có
năm tầng nghĩa huyền diệu (ngũ trùng huyền
nghĩa). Năm tầng nghĩa huyền diệu là :
1. Giải thích tên Kinh.
2. Giảng giải thể Kinh.
3. Nói rõ tông chỉ.
4. Luận về dụng đồ.
5. Biết rõ giáo tướng.
Tên là bộ Kinh nầy dùng gì làm tên ? Thể là pháp
thể của bộ Kinh nầy là gì ? Biết được pháp thể
rồi, thì phải biết tông chỉ của Kinh nói gì ?
Biết tông chỉ rồi, còn phải biết dụng đồ của
Kinh, biết dụng đồ rồi, còn phải biết giáo
tướng. Tại sao ? Giống như, chúng ta trước hết
phải có tên, như Trương Tam, Lý Tứ, mỗi người
đều có tên của họ. Biết được tên Trương Tam, thì
sẽ biết thân thể lớn cỡ nào ? cao bao nhiêu ?
nặng bao nhiêu ? thân thể của y ra sao ? mạnh
khoẻ hay không mạnh khoẻ ? dùng gì để sinh sống?
đi học hay đi làm ? Trong các nghề : sĩ, nông,
công, thương, y làm nghề gì ? Nếu y đi học thì
lấy sự đi học làm tông chỉ, đi học xong lại giúp
được gì ? Phải chăng đi ngủ ? chẳng phải, học
xong thì y sẽ phát triển dụng đồ của y. Học về
khoa học thì phát triển về khoa học, học triết
lý thì phát triển về triết lý, mỗi môn đều có
chỗ dụng của nó. Kinh cũng như thế, biết được
dụng đồ của Kinh, thì đề mục và tông chỉ cũng
biết được, cứu kính thân phận là gì ? Ví như
thầy giáo, giám đốc. Nói tóm lại mỗi người đều
có thân phận của mỗi người, đó là phán rõ sự
thành tựu tương lai của họ. Kinh cũng như thế,
bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, dùng pháp và dụ
trong bảy loại làm tên Kinh để làm đề Kinh.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở trong năm tầng nghĩa
lý huyền diệu, thì huyền nghĩa thứ nhất là giải
thích tên Kinh. Bộ Kinh nầy dùng Diệu Pháp Liên
Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví
dụ, vì Phật Pháp vi diệu thâm sâu, một số người
không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng liên hoa (hoa
sen) để ví dụ, do đó bộ Kinh nầy lấy pháp và dụ
làm tên.
Cứu kính thì diệu
pháp là gì ? diệu đến cỡ nào ? tốt đến cỡ nào ?
Nay tôi nói cho bạn biết, sự diệu nầy không thể
dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời bàn luận,
không thể dùng tâm để dò, nghĩ cũng nghĩ không
hiểu nổi; nghĩ muốn hiểu biết thì nói không đến
được sự diệu của nó. Tức nhiên nghĩ không hiểu
biết, vậy không cần nói, có nói cũng không ra !
Song, không thể không nói, nói không ra tức là
diệu. Nói không ra vẫn phải nói, sự nói chẳng
phải diệu mà là hình dung sự diệu và tư tưởng
diễn nói sự diệu nầy.
Cứu kính, ý nghĩa
thật sự về diệu là gì ? Ðó chỉ có Phật với Phật
mới thấu rõ cảnh giới thâm sâu nầy. Nay giảng
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, chỉ giảng chút ít mà
thôi. Song, sự chút ít nầy không biết phải giảng
bao nhiêu ngày. Vì chữ diệu nầy Ngài Trí Giả Ðại
Sư củ tông Thiên Thai, giảng mất chín chục ngày,
cũng chưa giảng xong chữ diệu, chỉ giảng một
phần nhỏ. Năm nay (1968) vào mùa hè tôi giảng
chín mươi sáu ngày mới xong bộ Kinh Lăng Nghiêm,
thật có thể nói nhanh như ngồi hoả tiển đi thám
hiểm mặt trăng. Vì tôi đã từng giảng Kinh Lăng
Nghiêm ở tại Hương Cảng phải mất mười bốn tháng
mới giảng xong.
Trước hết chúng ta giảng về chữ diệu, chữ diệu
nầy cứu kính phải giảng bao nhiêu ngày ? Hiện
tại cũng không cách chi biết trước được, giảng
được mấy ngày thì hay mấy ngày. Trước hết phải
nói về diệu. Gì là diệu ? Diệu pháp tức là diệu,
chúng sinh cũng là diệu, Phật cũng là diệu,
trong trời đất hết thảy tất cả, chẳng có gì mà
không diệu, gì cũng đều là diệu. Cho nên chữ
diệu nầy giảng ra thì vô cùng vô tận. Ðây cũng
là diệu, đó cũng là diệu, diệu cứu kính từ đâu
đến ? Từ tâm mà đến.
Làm thế nào bạn biết
là diệu pháp ? Vì bạn có tâm, cho nên tâm pháp
diệu, kế đến chúng sinh pháp diệu, sau đến Phật
pháp diệu.
Tâm pháp diệu như thế nào ? Tất cả sơn hà đại
địa, sâm la vạn tượng, nhà cửa phòng xá, hết
thảy vạn vật từ đâu đến ? Ðều từ một tâm niệm
hiện tiền của mỗi người sinh ra, từ trong tâm
của chúng sinh sinh ra. Làm thế nào sinh ra ?
Bạn sẽ nói :"Không biết !" Ðó là diệu. Biết hay
không biết đều là diệu. Tại sao bạn biết ? và
tại sao bạn không biết ? đó chẳng phải là diệu
sao ? đây tức là tâm pháp diệu.
Tâm pháp diệu, tâm diệu như thế nào ? Tâm của
con người đều là một không hai. Có người chỉ
trước ngực nói :"Tâm của tôi ở đây". Chân tâm
của bạn ở đâu ? Bạn đã nhận lầm tâm của bạn rồi
! Là nhận giặc làm con ! Giống như Tôn Giả A
Nan, trong Kinh Lăng Nghiêm. Tôn Giả A Nan nói
:"Tâm ở trong." Tức là chỉ quả tim bằng thịt,
quả tim nầy vô dụng. Sao lại nói nó là vô dụng ?
Vì nó chỉ là cục thịt. Ðó là do tụ tập nhiều
phiền não mà sinh ra quả tim; lại gọi là tâm
duyên lự, năng lực phan duyên tư lự giúp cho bạn
khởi vọng tưởng. Thức thứ sáu cũng gọi là tâm
tập khởi, là quả tim trợ giúp cho bạn khởi vọng
tưởng và sinh tâm tạp niệm, tâm duyên lự, tâm
tập khởi .v .v . Tâm nầy có rất nhiều tên gọi.
Do đó, tâm pháp mà tôi nói, bạn đừng cho rằng đó
là quả tim bằng thịt. Vậy riêng ngoài tôi còn có
tâm chăng ? Bạn không biết phải chăng ? Hãy xem
đó có phải là diệu chăng ? Cho đến mình có tâm
mà bạn còn chẳng biết, tức nhiên cho đến tâm
cũng chẳng biết, cho đến sinh mạng mà bạn cũng
chẳng biết rõ ! Khi sinh ra thì hồ đồ, chết đi
cũng hồ đồ, từ đâu đến cũng chẳng biết, đó là
diệu ! Khi chết cũng hồ đồ ra đi, chẳng biết đi
về đâu, đó cũng là diệu; khi sinh ra và chết đi
đều không biết, đó cũng là diệu ! Vậy khi còn
sống chẳng phải là diệu chăng ? Ðây lại càng
diệu ! Sao lại càng diệu hơn ? Ví như, lúc bạn
còn bé nhỏ, trong sự bất tri bất giác thì lớn
lên, sau lại trưởng thành người lớn; thành người
lớn rồi cũng không biết sao lại biến thành người
già. Bạn nói đó có diệu chăng ? Không những biến
thành người già, mà bạn còn sinh con đẻ cái nuôi
dưỡng chúng. Nếu chẳng phải diệu, sao bất tri
bất giác thì có nhiều sự biến hoá như thế ? Ðó
là diệu pháp. Bây giờ giảng diệu pháp nầy ra,
thì bạn cảm thấy có chút ý nghĩa, giống như việc
ở trên vừa nói, nhưng khi chưa nói ra thì bạn
vốn chẳng biết đó là diệu pháp.
Diệu pháp tức là
trong sự bất tri bất giác của bạn sinh ra một
thứ tác dụng. Những gì bạn thấy trước mắt đều là
diệu. Tại sao ? Sao bạn nhìn thấy được ? Nếu
không diệu thì bạn nhìn chẳng thấy. Vậy nhìn
không thấy thì chẳng phải diệu chăng ? Nhìn
không thấy lại càng diệu. Nhìn thấy và nhìn
không thấy đều là diệu, nghe được và nghe không
được cũng là diệu.
Cho nên trước mắt
nhìn thấy được, không những là nhìn thấy; làm
sao nhìn thấy được ? Trong Kinh Lăng Nghiêm có
nói :"Ai nhìn thấy được ? Ai cùng với bạn nhìn
thấy ?" Bạn nói đó có diệu chăng ? Tại sao gần
thì bạn nhìn thấy được ? còn xa thì bạn nhìn
chẳng thấy ? Ðó đều là diệu. Khi bạn nhìn thấy
màu vàng, thì có tác dụng màu vàng, bạn nhìn
thấy màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen thì những
thứ nầy ở trong tám thức của bạn, sinh ra dạng
của nó. Sao lại sinh khởi ra ? Ai kêu bạn sinh
ra thứ hình bóng đó ? đó có diệu chăng ?
Nghe cũng như thế.
Tại sao có âm thanh bạn thích nghe, có âm thanh
bạn chẳng thích nghe ? Ai kêu bạn thích và không
thích nghe ? Chẳng có ai ! Tại sao mình lại sinh
ra tâm thích và ghét ? Thấy sắc đẹp thì sinh tâm
ưa thích, thấy nhan sắc không đẹp thì sinh tâm
ghét chán. Do ai kêu bạn ? Bạn nói "tôi không
biết, chỉ là nghĩ như vậy". Nghĩ như vậy tức là
diệu. Hết thảy tất cả đều là diệu; đó là tâm
pháp diệu; do trong tâm sinh ra thiên biến vạn
hoá. Nếu không diệu sao lại sinh ra đủ thứ biến
hoá ?
Diệu quá nhiều, nếu
muốn nói thì dù nói mấy trăm năm, cũng nói chẳng
xong sự diệu nầy. Nếu nói xong thì chẳng phải
diệu. Ðức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm,
giảng Kinh hơn ba trăm hội, đều không ra ngoài
chữ diệu nầy. Cho nên, chữ diệu nầy bao quát Tam
Tạng mười hai bộ Kinh, bao quát tất cả Phật
pháp, tất cả Phật pháp không vượt ra chữ diệu
nầy. Cho nên Ngài Trí Giả Ðại Sư giảng đến chín
mươi ngày, dù giảng chín mươi năm, cũng giảng
không xong chữ diệu nầy. Vậy nói đến Kinh Pháp
Hoa, chắc suốt đời nầy cũng không được nghe,
cũng chẳng có cơ hội nghe hết được, chín mươi
năm cũng nói chẳng xong một chữ diệu, vậy thử
hỏi Kinh văn chẳng biết giảng bao lâu mới xong ?
Ðừng sợ, thời đại hiện nay tất cả sự việc đều
nói cho nhanh. Giảng Kinh mau là diệu, giảng
chậm cũng là diệu. Tức nhiên, Ðức Phật giảng
Kinh cũng chẳng vượt ra sự diệu nầy, hiện tại
tôi giảng Kinh sao lại kìa khỏi sự diệu nầy ?
Lìa khỏi sự diệu nầy thì chẳng diệu, lìa không
khỏi tức là diệu.
Pháp tuy nhiên là
diệu, muốn biết diệu pháp thì trước hết phải
buông xả sự diệu. Buông chẳng đặng là diệu,
nhưng buông xả đặng thì mới là thật diệu; nếu
không tin thì bạn hãy thử buông xả thân tâm.
Trong chẳng có thân tâm, ngoài chẳng có thế
giới; người không, pháp cũng không, tất cả đều
không. Bạn nói đó chẳng phải là diệu chăng ? Sự
diệu nầy, nếu buông xả thân tâm đặng, thì mới
đắc được sự diệu chân chánh của tự tánh vốn có.
Nếu bạn trong chẳng có thân tâm, ngoài chẳng có
thế giới, song chẳng lìa khỏi thân tâm thế giới.
Ðây chẳng phải nói lìa khỏi thân tâm nầy của ta,
lìa khỏi thế giới nầy, mới không có thân tâm thế
giới; mà là tại thân tâm nầy, tại thế giới nầy
mà chẳng có.
"Mắt thất hình sắc chẳng dính mắc,
Tai nghe âm thanh tâm chẳng hay".
Ðó là cảnh giới sớm sẽ đạt được, trong chẳng có
thân tâm, ngoài chẳng có thế giới. Ðây là việc
chẳng dễ dàng, cho nên mới diệu. Dễ cũng là
diệu, không dễ cũng là diệu, tất cả hết thảy đều
diệu, thảy đều không vượt ra ngoài diệu pháp
nầy. Cho nên, chữ diệu nầy chẳng có cách chi
giảng xong được.
Vì diệu không dễ gì nói, cho nên là diệu. Không
dễ dì nói, bây giờ cũng phải nói, cũng là diệu.
Nói tóm lại, Diệu ! Diệu ! Diệu ! Tất cả đều
diệu. Ðây lại có dụng gì ? Bạn hỏi vấn đề nầy,
đó mới là thật diệu.
Tu hành, tham thiền, đả toạ, là đi tìm sự diệu
nầy. Ðức Phật tu khổ hạnh sáu năm tại núi Tuyết,
là tìm cầu sự diệu nầy. Tất cả Bồ Tát hành Bồ
Tát đạo, cũng là tìm cầu sự diệu nầy. Các bậc A
La Hán buông xả tất cả, cũng là đi tìm sự diệu
nầy. Tất cả phàm phu, Thánh nhân muốn tu hành,
cũng vì tìm cầu sự diệu nầy. Cho nên thành được
quả vị Phật cũng gọi là diệu. Là diệu gì ? là
Diệu Giác. Bồ Tát là Ðẳng Giác, chưa đạt được
Diệu Giác. Cho nên hiện tại trước hết phải hiểu
sự diệu nầy.
Diệu có hữu dụng gì ? Chẳng có hữu dụng gì,
song, gì cũng đều cần nó. Sự diệu nầy, phải nói
rằng là đại dụng của nó, đại tạo hoá, trời đất
vạn vật, hết thảy tất cả đều từ diệu nầy mà sinh
ra. Cho nên đừng cho rằng nhờ Thiên Chúa, Ðịa
Chúa, Nhân Chúa sáng tạo thế giới nầy. Kỳ thật,
tất cả đều từ diệu nầy sinh ra. Chữ diệu nầy
cũng chỉ có Phật mới có thể cán đán được. Phật
tánh vốn có của chúng ta, là diệu giác Phật
tánh. Có lối minh bạch chữ diệu nầy, thì bảo sao
mà dễ thế ! Nếu bạn minh bạch quá dễ dàng chữ
diệu nầy, thì nói chẳng phải diệu chăng ? chẳng
phải. Nếu bạn minh bạch chữ diệu nầy quá đễ
dàng, thì đó là càng diệu. Tại sao ? Vì bạn
chẳng phí sức thì đã minh bạch, đó chẳng phải là
diệu chăng ? Bạn phí rất nhiều công phu mới minh
bạch, đây lại càng diệu. Cho nên, giảng như thế
nào cũng đều diệu, đầu đầu thị đạo.
Bạn nói trước mắt
những gì chẳng phải diệu ? Ðèn, bàn ghế, tất cả
đều là biểu hiện của diệu pháp. Nếu bạn minh
bạch được diệu pháp nầy, thì tất cả đều diệu;
không minh bạch diệu pháp nầy, thì tất cả đều là
thô. Bạn cảm thấy bạn đã minh bạch, nhưng thật
ra bạn chưa minh bạch, nếu bạn nghiên cứu bổn
thể của nó, thì đều từ một chữ diệu nầy mà sinh
ra.
Mùa hè năm nay (1968), giảng bộ Kinh Lăng Nghiêm
mất hết chín mươi sáu ngày. Trong Kinh Lăng
Nghiêm nói về năm mươi ấm ma, những ấm ma nầy,
đều siêu hơn thiên ma ngoại đạo hiện nay. Vì
thần thông của năm mươi thứ ấm ma đó thật là lợi
hại, có thứ trên đầu phóng quang, nếu quang minh
của nó phóng trúng đầu của bạn, thì đầu của bạn
cũng sẽ phóng quang. Nhưng những thứ thần thông
nầy, đều là ma ở trong Phật giáo, hà huống ngoại
đạo bây giờ, đều không thể phóng quang. Chúng
sinh giống như con nhặng, bay loạn xạ đông tây
nam bắc, bay tới bay lui, cũng chẳng tìm được
lối thoát, đáng thương những người nầy theo
người mù. Nếu như bạn nói bạn không biết, muốn
cầu pháp thì hãy theo học với tôn giáo hiểu
biết, một số người không hiểu biết, bèn dùng
người mù dẫn người mù. Vì người hiểu biết và có
trí huệ trên thế giới nầy rất ít, còn người
không hiểu biết và ngu si thì rất nhiều. Người
có trí huệ thì thích nghe chân lý, người chẳng
có trí huệ thì thích nghe đạo lý của người mê
muội . Ðạo lý của người mê là gì ? Ví như họ nói
người tu hành không cần đoạn dâm dục, có thể tuỳ
tiện, vì nói như thế thì cho rằng nó là tốt. Chủ
trương của Phật giáo là đoạn dâm dục, nếu không
đoạn dâm dục mà tu hành, thì như trong Kinh Lăng
Nghiêm có nói :"Như nấu cát mà muốn thành cơm,
dù trải qua trăm ngàn ức kiếp cũng chỉ là cát
nóng". Vì dục lạc không cứu kính của nhân gian
và khoái lạc cứu kính xuất thế gian không thể
nào dung hợp với nhau.
Còn có những người nghiên cứu tu tập ở trong
Phật pháp, mà cứ thực hành trên miệng lưỡi, chứ
chẳng thật tâm hành trì, chẳng y chiếu theo
phương pháp của Phật dạy mà hành trì, đó chẳng
khác gì là ma, cũng không thể liệt họ vào trong
Phật giáo đồ. Giống như có những người thấy Phật
mà chẳng lạy, họ nói họ tin Phật, thứ người nầy
hậu quả tương lai không thể tưởng tượng được,
cuối cùng sẽ đi vào đường súc sinh, ngạ quỷ hoặc
rơi vào địa ngục, chẳng có ai dám bảo đảm. Tại
sao ? Vì học Phật pháp, thì phải y chiếu theo
phương pháp Phật dạy mà thực hành. Nếu coi "cái
ta" lớn hơn Phật thì thật là quá sai lầm ! Người
học Phật pháp, không những thấy Phật phải cung
kính lễ lạy, mà gặp Bồ Tát cũng phải lạy Bồ Tát,
thấy A La Hán cũng phải lạy A La Hán, thấy bậc
đại thiện nhân, đại tu hành nên cung kính khâm
phục họ, đừng nên cống cao ngã mạn, khinh khi,
tự cao tự đại. Bất cứ, người nào học Phật pháp
đều phải khiêm nhường, cung kính, hoà hợp.
Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm thứ hai mươi nói về vị
Bồ Tát Thường Bất Khinh. Vị Bồ Tát Thường Bất
Khinh nầy là tiền thân của Ðức Phật, suốt một
đời tu hành Bồ Tát đạo. Một đời Ngài chuyên môn
hành Bồ Tát đạo "thường bất khinh" (thường không
khinh khi ai). Ngài hành như thế nào ? Ngài
chuyên môn cung kính mười đại Nguyện Vương của
Bồ Tát Phổ Hiền. Mười đại Nguyện Vương là :
1. Lễ kính các Ðức Phật : Tức là cung kính đảnh
lễ chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai, mười
phương ba đời tất cả các đức Phật.
2. Khen ngợi Như Lai : Có người hỏi :"Phật cũng
thích người khen ngợi chăng ?" Không sai ! Vì
bạn thích khen ngợi Phật thì chính là thích khen
ngợi chính mình. Nếu như bạn không muốn khen
ngợi mình, thì đừng khen ngợi Phật. Phật và
chúng sinh đều như nhau. Bạn nói :"Tôi là Phật,
vậy tôi không cần lạy Phật". Ðó thì không đúng.
Tự tánh của bạn là Phật, nhưng bạn chẳng tu
hành, thì chưa chứng được Phật quả như Ðức Phật.
Nếu ai ai cũng đều là Phật, thì Ðức Phật cần gì
đến núi Tuyết tu khổ hạnh sáu năm, ngồi dưới cội
bồ đề bốn mươi chín ngày mới khai ngộ thành
Phật.
Ðức Phật trong quá khứ tu đủ thứ khổ hạnh, tu đủ
thứ thiền định, tu đủ thứ Bát Nhã trí huệ, tu đủ
thứ bố thí, giới luật, nhẫn nhục, tinh tấn và đủ
thứ pháp môn. Ðời nầy còn phải vào núi Tuyết tu
khổ hạnh sáu năm, ngồi dưới cội bồ đề thấy sao
mai mọc mà ngộ đạo, phải phí rất nhiều thủ tục !
Mà bạn trong vòng sáu ngày làm không xong, mà
bạn cho bạn là Phật, thật là quá tiện nghi. Cho
nên, có những người nói họ chính là Phật, thật
là không biết hổ thẹn, không biết mắc cỡ. Trong
khi đó, Ðức Phật trong đời quá khứ đã từng làm
Bồ Tát Thường Bất Khinh, tức là vĩnh viễn luôn
luôn không khinh thường bất cứ chúng sinh nào.
Ngài thấy Phật thì lễ Phật, thấy Bồ Tát thì lễ
Bồ Tát, thấy A La Hán thì lễ A La Hán, thấy Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni và tất cả mọi người cũng đều
cung kính lễ lạy và nói :"Tôi không dám khinh
các vị, các vị đều sẽ thành Phật". Sự phát tâm
ấy thật là chân thật, một chút hư giả cũng chẳng
có, chân thật cung kính tất cả chúng sinh. Song,
Ngài chiêu lại quả báo rất là thậm tệ, vì có
những vị Tỳ Kheo kiêu mạn nói :"Ông Tỳ Kheo nầy
chẳng hiểu Phật pháp, thọ ký bậy bạ cho người
ta". Do đó, Ngài bị đánh, khi Ngài lạy xuống thì
bị họ đá Ngài, thậm chí bị đá rụng răng. Ðã lạy
người ta còn bị người đánh. Sau đó, Ngài ở đằng
xa thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni thì lạy, khi họ đến
gần thì Ngài bỏ chạy, để khỏi bị họ đánh. Ngài
vẫn hành Bồ Tát đạo không khinh mạn tất cả chúng
sinh, đó là tiền kiếp của Ðức Phật tu sáu độ vạn
hạnh, chứ chẳng phải một sớm một chiều mà thành
Phật. Cho nên những người đó cho rằng mình là
Phật, họ chẳng nhận thức được Phật, tự mình lừa
dối mình, tự tôn đại, đó là có : tướng ta, tướng
người, tướng chúng sinh, chẳng phải là cảnh giới
của Phật. Cho rằng mình là Phật mà không tu
hành, cứ tạo tội nghiệp, so với hằng ngày bạn ôm
bom nguyên tử, bom kinh khí còn nguy hiểm hơn,
những người nầy tương lai chắc chắn sẽ đoạ địa
ngục, thật là :
"Thiên đường có lối bạn chẳng đi,
Ðịa ngục không cửa dấn thân vào".
Khi tôi giảng Kinh Lăng Nghiêm đã từng nói qua
bài kệ nầy :
"U mê truyền u mê,
Một truyền hai chẳng hiểu,
Thầy rớt vào địa ngục,
Trò cũng chạy theo vào".
Khi ông thầy rớt vào địa ngục, nói với đồ đệ
rằng :"Tại sao con cũng vào đây"? đồ đệ nói
:"Con theo thầy học đạo, thì đương nhiên cũng
theo thầy đến đây". Ông thầy nói :"Lầm rồi ! Lầm
rồi ! Ðây là địa ngục mà !" Ðồ đệ hỏi :"Tại sao
thầy dẫn con xuống địa ngục ? Ông thầy đáp :"Cho
đến ta cũng chẳng biết sao lại đến chỗ nầy, bây
giờ muốn ra cũng chẳng được". Không những chính
ông ta ra không được, mà tất cả đồ đệ theo học
với ông ta cũng bị luôn. Ðó là những kẻ tự xưng
là Phật, không nhận thức được Phật, cũng chẳng
hiểu Phật pháp.
Ở trên là nói phải tu theo mười đại nguyện vương
của Bồ Tát Phổ Hiền.
1. Lễ kính các Ðức Phật.
2. Khen ngợi Như Lai.
3. Rộng tu cúng dường : Ðây chẳng phải nói hôm
nay cúng dường, ngày mai thì không cúng dường ;
chẳng phải cúng dường một vị Phật, mà là cúng
dường tất cả vị Phật, đều phải cúng dường khắp
hết thảy.
4. Sám hối nghiệp chướng : Tại sao chúng ta phải
lễ Phật ? Là vì muốn biểu hiện, phát lồ sám hối
những lỗi lầm đã gây ra, từ vô lượng kiếp cho
đến ngày nay. Từ nay sửa đổi lỗi lầm làm lại con
người mới.
5. Tuỳ hỷ công đức : Tức là thấy những việc từ
thiện hãy nên làm, làm được bao nhiêu thì hay
bấy nhiêu. Hành Bồ Tát đạo là phải lợi ích cho
người, giúp người, chẳng phải chỉ muốn làm lợi
cho mình. Phàm là giúp đỡ người, chẳng ích kỷ
lợi mình đều là tuỳ hỷ công đức.
6. Thỉnh chuyển bánh xe pháp : Khi bạn biết vị
Pháp Sư nào đó giảng Kinh được, thì liên hệ với
nhiều người thỉnh vị Pháp Sư đó thuyết pháp. Học
Phật pháp phải học với các vị Pháp sư thông hiểu
Phật pháp, đừng tự cho rằng mình hiểu Phật pháp.
Do đó, thỉnh vị Pháp sư chân chánh hiểu Phật
pháp giảng Kinh thuyết pháp, tức là thỉnh chuyển
bánh xe pháp.
7. Thỉnh Phật ở lại đời : Bây giờ Phật chẳng còn
ở đời, thì thỉnh Phật pháp ở lại đời.
8. Thường học theo Phật : Ðức Phật hành Bồ Tát
đạo, nhẫn những gì người không nhẫn được, làm
những gì người không làm được, tu đủ thứ pháp
môn, cho nên phải học theo Ngài.
9. Luôn thuận chúng sinh : Luôn luôn tuỳ thuận
chúng sinh, hy vọng khiến cho họ hiểu Phật pháp.
10. Thảy đều hồi hướng : Ðem tất cả công đức của
mình hồi hướng cho tất cả chúng sinh, khiến cho
họ sớm thành Phật đạo.
Giải thích tên "Diệu Pháp Liên Hoa Kinh" thì chữ
thứ nhất là diệu. Chữ diệu quá rộng lớn, nói
ngang nói dọc, nói xuôi nói ngược cũng đều diệu.
Pháp của Ðức Phật nói đều là diệu pháp, diệu
pháp bao hàm tất cả, cho đến ba tạng mười hai bộ
đều bao quát ở trong diệu pháp.
Ba tạng là :
Tạng Kinh,
Tạng luật và
Tạng luận.
Tạng Kinh là nói về định học.
Tạng luật là nói về giới học.
Tạng luận là nói về huệ học.
Kinh, luật, luận, bao hàm đạo lý vô lượng vô
biên, vô cùng vô tận, mà công đức ở trong giới
định huệ cũng vô cùng vô tận. Tức nhiên, Kinh
luật luận là diệu pháp, thì giới định huệ cũng
là diệu pháp. Về giới định huệ các bạn đã nghe
qua rất nhiều, vậy thử hỏi cứu kính làm được tới
đâu rồi ? Chúng ta nghe Phật pháp, không những
phải minh bạch mà còn phải y theo pháp tu hành
thì mới thật sự có sở đắc. Biết mà chẳng tu hành
thì cũng như không biết. Tại sao ? Vì đó cũng
như biết thức ăn là ngon, nhưng phải ăn thì mới
thật sự thọ dụng. Phật pháp cũng như thế, biết
một chút thực hành một chút thì đó mới là người
thực hành. Nếu biết mà không thực hành thì đối
với bạn, đối với Phật pháp chẳng có ích gì,
giống như người bằng đá không khác, hình dáng
tuy là người mà chẳng nói được, chẳng đi được.
Diệu gồm có : Tâm pháp diệu, chúng sinh diệu và
Phật pháp diệu. Phân ra mà nói thì có ba, hợp
lại thì chỉ có một. Dù phân ra hoặc hợp lại để
giảng, đều là diệu pháp. Cả ba là diệu pháp, một
cũng là diệu pháp.
Ba tạng mười hai bộ. Ba tạng là : Kinh, luật,
luận, bao quát giới định huệ ba học vô lậu.
Mười hai bộ Kinh là :
1. Khế Kinh.
2. Trùng tụng.
3. Phúng tụng.
4. Nhân duyên.
5. Bổn sự.
6. Bổn sinh.
7. Vị tằng hữu.
8. Thí dụ.
9. Luận nghị.
10. Tự thuyết.
11. Phương quảng.
12. Thọ ký.
Tuy mười hai bộ Kinh ý nghĩa thâm sâu, nhưng chủ
yếu là nhớ và hiểu rõ nghĩa lý của Phật. Phật
pháp không nhất định chú trọng về học vấn, mà
chú trọng về chân thật hành trì. Lục Tổ Huệ Năng
chưa từng đi học, chẳng biết chữ, thế mà Ngài
giảng Kinh thuyết pháp. Vì Ngài chẳng biết chữ,
khi giảng Kinh thì nhờ họ đọc Kinh văn, họ đọc
một câu thì Ngài giảng một câu. Pháp của Ngài
giảng rất hợp với ý của Phật, họp với Phật pháp.
Lục Tổ tuy không biết chữ mà giảng Kinh thuyết
pháp, là vì Ngài đắc được tâm ấn của Phật, của
Tổ, diệu pháp dùng tâm ấn tâm ; cho nên pháp của
Ngài nói đều là diệu pháp. Lục Tổ đắc được tâm
pháp của Ngũ Tổ, y bát của Ngũ Tổ được truyền
cho Ngài ; Ngài ở với đám thợ săn mười lăm năm,
trong đoạn thời gian đó, Ngài dụng công tu hành,
khai mở đại trí huệ. Chúng ta người tu đạo nên
nhớ đừng muốn mau, người xưa có nói :"Ðừng muốn
mau, muốn mau tất không thành". Dụng công tu
hành cũng giống như bắn cung, căng quá thì đứt,
chùng quá thì lỏng lẻo, đừng căng đừng chùng mới
thành công. Do đó có câu :"Tiến nhanh thì lùi
cũng mau". Ở Trung Quốc có con phù du, con phù
du nầy sáng sớm sinh ra, chiều tối thì chết đi,
sinh ra nhanh mà chết cũng sớm. Do đó, chúng ta
người tu đạo phải lão thật dụng công, ngàn vạn
đừng đi đường tắt nhỏ của bàng môn tả đạo, để
mong thành tựu cho nhanh, trên thật tế thì chẳng
đạt được mục đích. Chúng ta phải y chiếu theo
con đường lớn lục độ vạn hạnh mà tu hành, đây
mới là diệu pháp. Trung đạo tức là diệu pháp,
lìa xa trung đạo thì chẳng phải là diệu pháp.
Vào đời nhà Hán, có hai người đều làm quan trong
triều, một người là Viên Án và người kia là
Triều Thố. Viên Án tìm cách giết hại Triều Thố,
về sau Viên Án xuất gia làm Hoà Thượng. Vì ông
ta luôn luôn thấy quỷ, thấy hồn quỷ của Triều
Thố muốn đến để giết ông ta, dù ban ngày hay ban
đêm cũng thế, khiến cho ông ta cảm thấy chính
mình đã làm việc sai lầm, do đó mà sám hối đi
xuất gia. Sau khi ông ta xuất gia rồi, thì chẳng
còn thấy hồn quỷ nữa, mới quyết tâm dụng công tu
hành. Vì một niệm sai lầm giết người mà xuất
gia, cho nên ông ta hy vọng đời sau cũng muốn
làm hoà thượng chứ chẳng muốn làm quan. Quả
nhiên, đời thứ hai ông ta trở thành một đại Pháp
Sư đi hoằng pháp khắp nơi, là một vị khổ tu hành
chẳng tham danh lợi dưỡng. Ðời này ông ta cũng
chẳng thấy hồn quỷ của Triều Thố. Trải qua mười
đời như thế, vì ông ta khổ công tu hành, có chút
đạo đức, cho nên mỗi đời thân phận càng cao. Ðến
đời thứ mười một thì ông ta làm Quốc sư, là thầy
của hoàng đế. Hoàng đế thưởng cho ông ta chiếc
ghế báu làm bằng gỗ trầm hương (đương thời gỗ
trầm hương ở bên Tàu là một thứ gỗ quý trọng
nhất, chỉ có hoàng đế mới ngồi ghế tạo bằng gỗ
này). Khi Quốc sư ngồi trên ghế báu thì tinh
thần cảm thấy quá sung sướng, ông ta nghĩ :"Hiện
tại trên đời Pháp Sư tôn quý được ngồi trên ghế
báu này chẳng mấy vị, đây thật là tốt biết bao"!
Khi ông ta sinh một tâm niệm cống cao, cho rằng
hiện nay chỉ mình ta tôn quý trong thiên hạ,
liền lúc đó oan hồn của Triều Thố mười đời về
trước chưa siêu thoát, nay đến tìm ông ta, đột
nhiên trên đầu gối ông ta nổi lên mụt ghẻ mặt
người, có miệng, mũi và biết nói, luôn luôn nói
với ông ta :"Ông đừng nghĩ cách trốn tôi nữa,
tôi đã theo ông mười đời, ông chưa đền mạng cho
tôi". Quốc sư Ngộ Ðạt mắc phải bệnh mụt nhọt
này, ngày đêm la đau, thật khó mà chịu đựng, dù
tụng Chú Ðại Bi, Chú Lăng Nghiêm và tụng Kinh
cũng chẳng tiêu tội được, vì ông ta nghiệp quá
nặng. Ðó là do ông ta sinh một tâm niệm cống cao
ngã mạn, cho nên thần hộ pháp cũng xa lìa, không
bảo hộ nữa. Khi đó, ông ta nhớ đến Tôn Giả Ca
Nặc Ca, ông ta đã từng hầu hạ Tôn Giả, đương
thời Tôn Giả toàn thân bị bệnh ghẻ chảy máu chảy
mủ lại có mùi hôi thối. Quốc Sư Ngộ Ðạt vẫn hầu
hạ Tôn Giả hết mình, rửa ráy thuốc thang phục
dịch mọi việc, khiến cho Tôn Giả lành bệnh. Kỳ
thật, Tôn Giả Ca Nặc Ca chẳng phải thật có bệnh,
Ngài thị hiện để độ Quốc Sư Ngộ Ðạt. Quả nhiên
Quốc Sư đối tốt với Ngài, sau khi Tôn Giả lành
bệnh mới nói với Quốc Sư :"Khi ông có nạn thì
đến núi Trà Sơn ở Tứ Xuyên tìm ta, ta sẽ có biện
pháp giải quyết". Lúc đó Quốc Sư Ngộ Ðạt bị mụt
ghẻ mặt người chẳng cách chi trị được, bèn nhớ
đến tìm Tôn Giả Ca Nặc Ca. Tôn Giả dùng nước tam
muội tắm cho ông ta thì mụt ghẻ mặt người lành
khỏi. Cho nên người tu đạo bất cứ như thế nào
cũng đừng sanh tâm cống cao ngã mạn.
Ở trên, đã giảng đại khái về ý nghĩa tâm pháp
diệu. Bây giờ giảng về chúng sinh pháp diệu.
Chúng sinh là gì ? Chúng sinh là do các thứ nhân
duyên hòa hợp mà sinh, cho nên gọi là chúng
sinh. Chúng sinh phân làm mười hai loài :
1. Noãn sinh (sinh bằng trứng),
2. Thai sinh (sinh bằng thai),
3. Thấp sinh (sinh bằng ẩm ướt),
4. Hóa sinh (biến hóa sinh ra),
5. Hữu sắc (có sắc),
6. Vô sắc (không có sắc),
7. Hữu tưởng (có tưởng),
8. Vô tưởng (không có tưởng),
9. Phi hữu sắc (chẳng có sắc),
10. Phi vô sắc (chẳng không sắc),
11. Phi hữu tưởng (chẳng có tưởng),
12. Phi vô tưởng (chẳng không tưởng).
Mỗi loài trong mười hai loài, lại có đủ thứ sự
khác nhau. Ví như : loài sinh bằng trứng, có
loài biết bay, có loài chẳng biết bay. Loài biết
bay lại có muôn ngàn loại khác nhau, không ai có
thể biết rõ hết hoàn toàn. Bạn nói có diệu chăng
? Phân biệt không rõ ràng là diệu, phân biệt rõ
ràng cũng diệu. Ðó là loài sinh bằng trứng, còn
loài bằng thai, sinh bằng biến hóa, bằng ẩm thấp
.v.v., cho đến tất cả chúng sinh cũng như thế.
Con người là thai
sinh, tất cả súc sinh cũng là thai sinh. Loài
sinh bằng trứng như thế nào ? Trứng do tưởng mà
sinh, vì có tưởng nghĩ, có nên có sự sinh bằng
trứng. Sinh bằng thai là do ái tình mà sinh. Ai
ai cũng cho rằng ái tình là việc khoái lạc nhất,
nhưng thực tế, mặt trái của khoái lạc nhất là
đau khổ nhất. Hiện nay, tại nước Mỹ có rất nhiều
người thức tỉnh về ái tình chẳng tự do, do đó
thoát khỏi ái tình, đi đến bờ tỉnh thức. Một số
thanh niên nam nữ, tùy tiện nói về ái tình, tùy
tiện kết hợp, rồi tùy tiện chia tay, nói rằng đó
là tự do, kỳ thật, đó là hiểu lầm tự do. Nam nữ
đều chẳng kết hôn, không giữ quy cụ, đó không
những chẳng phải là tự do mà là lầm lẫn trong sự
lầm lẫn. Tại sao ? Vì nếu kết hôn rồi, tuy không
tự do vẫn là con đường từ ngàn xưa. Nếu hiểu lầm
ái tình, nói không kết hôn thì có thể tùy tiện,
đó là muốn chết sớm một chút, muốn phá hoại thân
thể của mình sớm một chút, thân thể mà đã bại
hoại thì sẽ chết sớm một chút, tình hình này nếu
không sớm cứu vãn, thì tai họa sẽ không nhỏ, đó
là nói về thai do tình mà có.
Bất cứ là người hoặc
là súc sinh, vì súc sinh cũng có tình, tại sao
chúng có tình ? Vì thứ tình này do điên đảo tập
khí quá sâu, từ vô lượng kiếp cho đến nay. Khi
làm người thì tình dục quá nặng, cho nên bị đọa
lạc vào súc sinh ; nếu trong đường súc sinh chưa
thức tỉnh thì tình dục sẽ càng nặng, thì sẽ càng
ngu si ám độn.
Thấp sinh và hóa
sinh, sinh ra như thế nào ? Cũng vì tâm dâm dục
quá nặng. Bất cứ chúng sinh nào cũng vì có tình,
do đó :
"Nghiệp sạch tình không tức là Phật,
Nghiệp nặng tình mê là phàm phu".
Ai bị tình làm mê là phàm phu, nếu bạn chẳng còn
dính mắc về tình nữa, xem nó là không tức là
Thánh nhân.
Loài người và loài
súc sinh, đều có ngàn vạn khác biệt, song, cũng
chẳng lìa khỏi diệu pháp này, đều bao hàm ở
trong diệu pháp, cho nên chúng sinh pháp cũng là
diệu pháp.
Bạn không nghiên cứu
nó thì chẳng biết ra sao, nếu mà nghiên cứu thì
mỗi loài đều có đạo lý của nó. Tại sao lại làm
người ? Tại sao lại làm chó ? Tại sao lại làm
heo ? làm bò ? Trong đó đều hàm tàng một diệu
pháp. Ðạo lý diệu pháp này, chẳng dễ gì minh
bạch được, không dễ dàng minh bạch tức là diệu
pháp. Bạn nói tôi minh bạch được, minh bạch cũng
là diệu pháp. Diệu pháp là một cảnh giới không
thể nghĩ bàn, cảnh giới không thể nghĩ bàn này,
giống như ở trong phần chúng sinh.
Nói đến Phật pháp diệu, Phật pháp là gì ? Cái gì
lại chẳng phải là Phật pháp ? Tất cả các pháp
đều là Phật pháp. Phật có tất cả hết thảy các
pháp, chẳng có gì mà chẳng phải là Phật pháp.
Cứu kính có bao nhiêu ? Tổng quát lại thì có tám
vạn bốn ngàn pháp môn. Trong tám vạn bốn ngàn
pháp môn, thì pháp môn nào diệu nhất ? Pháp môn
nào cũng đều diệu nhất. Trước kia có người hỏi
tôi :"Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, môn nào
là số một ? là cao nhất ?" Tôi đáp :"Bạn cho
rằng môn nào hợp với bạn, thì pháp môn đó đệ
nhất, cao nhất ; còn pháp môn nào chẳng hợp với
bạn, thì pháp môn đó thấp nhất". Phải xem căn
tánh của bạn. Phật nói ra tám bạn bốn ngàn pháp
môn, là để đối trị tám vạn bốn ngàn bệnh của
chúng sinh. Bệnh của bạn trị rồi thì pháp môn đó
chẳng còn giá trị nữa. Nếu bệnh của bạn vẫn còn,
thì pháp môn đó có thể trị bệnh của bạn, thì
pháp môn đó là đệ nhất. Cho nên tám vạn bốn ngàn
pháp môn, thì có tám vạn bốn ngàn đệ nhất, cũng
có tám vạn bốn ngàn chướng ngại, và tám vạn bốn
ngàn tối cao vô thượng.
Hiện tại giảng đến
Phật pháp diệu, tức cũng có tám vạn bốn ngàn
pháp diệu. Tại sao ? Vì pháp bình đẳng, chẳng có
cao thấp, pháp pháp đều là toa thuốc. Bạn có
bệnh gì thì uống thuốc đó, thuốc nầy dùng để trị
bệnh của bạn, nếu lành bệnh thì thuốc hay, nếu
bạn dùng lầm thuốc, thì dù thuốc hay cũng biến
thành thuốc độc.
Hôm nay có người hỏi tôi : Ăn thịt có thể khai
ngộ chăng ? Tôi nói :"Nếu kẻ ăn thịt một lần
nuốt được một con heo, một con dê hoặc một con
bò, nếu có miệng lớn như thế thì có thể ; nếu
không có miệng lớn như thế thì chẳng có ai bảo
đảm có thể khai ngộ. Lục Tổ Huệ Năng sống với
bọn thợ săn hơn mười năm, do đó Ngài ăn thịt,
song, Ngài ăn rau bên thịt. Vì Ngài sống với thợ
săn, thợ săn họ dùng thịt làm thức ăn, nếu Ngài
không ăn thịt thì chẳng có gì để ăn, về sau Ngài
tự trồng chút ít rau cải cũng chẳng nấu riêng,
Ngài bỏ rau vào trong nồi thịt, khi ăn, Ngài vớt
rau ăn, đó gọi là rau bên thịt. Lục Tổ Ngài ăn
rau bên thịt, vì Ngài là người đã khai ngộ thành
Phật, thì Ngài ăn thịt, ăn gì cũng có thể được.
Chúng ta chẳng có trí huệ đức hạnh như Ngài Lục
Tổ, chẳng khai ngộ, mà cứ tham ăn hưởng thụ, ăn
vật ngon vào trong bụng cũng biến thành bẩn
thỉu, chẳng có ý nghĩa gì hết". Tâm của chúng ta
có thể đến mười pháp giới. Mười pháp giới không
ra ngoài một niệm tâm hiện tiền. Ví như, chúng
ta sinh một tâm niệm ác, thì trồng xuống nhân
địa ngục, sinh một niệm ác nữa, thì trồng xuống
nhân ngạ quỷ, sinh một niệm ác ghét hận, thì
trồng xuống nhân A Tu La, sinh một niệm ác ngu
si, thì trồng xuống nhân súc sinh. Bạn sinh một
niệm thiện thì sẽ sinh vào loài người, nếu sinh
tâm giữ năm giới, tu mười điều lành, thì sẽ sinh
về cõi trời. Nếu như, phát tâm tu hành : khổ,
tập, diệt, đạo, bốn Diệu Ðế thì trồng nhân Thanh
Văn. Bạn phát tâm tu Lục độ vạn hạnh thì trồng
nhân Bồ Tát. Bạn phát tâm tu trì tất cả Phật
pháp, hy vọng thành Phật, thì đó là trồng nhân
Phật.
Phật, Bồ Tát, Duyên
Giác, Thanh Văn, trời, người, A tu la, súc sinh,
ngạ quỷ, địa ngục, là mười pháp giới. Phật, Bồ
Tát, Duyên Giác, Thanh Văn là bốn pháp giới của
bậc Thánh. Trời, người, A tu la, súc sinh, ngạ
quỷ, địa ngục, là sáu pháp giới của phàm phu,
hợp lại là mười pháp giới. Mười pháp giới là từ
một niệm tâm hiện tiền của chúng ta tạo thành,
cho nên nói tâm pháp diệu. Nếu tâm pháp không
diệu thì chúng sinh pháp cũng không diệu ; chúng
sinh pháp không diệu, thì Phật pháp cũng không
diệu. Vì tâm pháp diệu cho nên chúng sinh pháp
cũng diệu, Phật pháp cũng diệu. Mười phương chư
Phật cũng chẳng vượt ra một tâm niệm hiện tiền,
mười phương các Bồ Tát cũng chẳng vượt ra một
tâm niệm hiện tiền của chúng ta ; cho đến mười
phương các Duyên Giác, Thanh Văn cũng chẳng vượt
ra một tâm niệm hiện tiền của chúng ta. Thậm chí
trời, người, A tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa
ngục, cũng chẳng vượt ra một niệm tâm hiện tiền.
Nói đến chữ tâm, người xưa có nói mấy câu rằng :
"Ba chấm bày như sao,
Uốn cong tợ trăng non,
Mang lông từ đây khởi,
Làm Phật cũng do nó".
Trong thiền tông có nói :"Phật đến chém Phật, ma
đến chém ma". Nghĩa là, Phật đến cũng đừng động
tâm, phải tu được định lực này. Không thể Phật
đến thì sinh tâm vui mừng, một khi sinh tâm vui
mừng tức là :"Phàm tất cả các tướng, đều là hư
vọng". Tại sao sinh tâm vui mừng ? Nên biết
:"Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức thấy
Như Lai". Tất cả những gì có tướng đều không
thật, nếu nơi tất cả tướng mà thấy là không, thì
đó tức là chân không, mà trong chân không lại
thấy là có (hữu), đó là diệu hữu. Chân không vốn
chẳng không, diệu hữu vốn phi hữu (chẳng có).
Bạn nói đó có diệu chăng ? Ðến được lúc này thì
gọi là "phân chứng tức Phật".
Tuy đến được phân
chứng tức Phật, nhưng chưa cứu kính, phải như
Ðức Phật ngồi dưới cội bồ đề, thấy sao mai mọc
mà ngộ đạo, chứng quả cứu kính, đó gọi là "cứu
kính tức Phật". Những gì đã nói ở trên là lấy
"lục tức Phật" để giải thích về diệu pháp này,
đến được lúc này, mới thân chứng bổn thể của
diệu pháp mà chân chánh thành Phật.
Cảnh giới diệu pháp thì không suy lường, không
phân biệt. Như có người muốn học Chú Lăng
Nghiêm, thì họ rơi vào sự suy lường và phân
biệt. Nên biết, nếu bạn càng suy lường, thì càng
không thể học, càng phân biệt thì càng không
hiểu. Nếu bạn muốn nghĩ tại sao, thì không thể
nhớ được Chú Lăng Nghiêm. Ðừng nghĩ gì hết, mà
chỉ biết tụng niệm Chú Lăng Nghiêm, là bổn phận
của mình mới đúng. Muốn thuộc lòng Chú Lăng
Nghiêm, thì đừng dùng tâm phân biệt và suy
lường, phân biệt tức là thức thứ sáu, suy lường
tức là thức thứ bảy. Chúng ta phải dùng diệu
pháp không phân biệt, không suy lường, phải dùng
chân tâm để học Phật pháp.
Diệu pháp tuy là diệu, song người dùng được rất
ít. Xưa kia có vị cư sĩ họ Bàng, sau khi ông ta
khai ngộ, thì nhớ lại từ vô lượng kiếp cho đến
nay, đời đời kiếp kiếp cho đến hiện tại mới khai
ngộ, cảm thấy sự việc thật không dễ dàng, cho
nên ông ta nói lên pháp môn của diệu pháp đã
ngộ, thật là : "Khó, khó, khó "! Vì tu hành thì
phải sửa đổi diệt trừ tập khí mao bệnh nhưng vẫn
cứ tái phạm, bạn muốn không nóng giận nhưng khi
có sự việc xảy đến lại khiến cho bạn nổi giận,
có vẻ như thử thách bạn. Ví như : Bạn muốn không
uống rượu nữa, mà tình cờ gặp bạn bè rủ bạn đi
uống rượu. Bạn từ chối nói bạn giữ giới rượu, y
lại nói :"Uống lần cuối cùng này rồi hãy giữ
giới", sau đó lại có người bạn khác đến rủ bạn
nữa, cứ như thế mà muốn giữ giới rượu chẳng phải
dễ, thậm chí tất cả những hành vi tập khí xấu,
nghĩ muốn tiêu trừ thật chẳng dễ dàng chút nào.
Cư sĩ họ Bàng cảm
thấy sự khai ngộ rất khó, song vợ của ông ta cho
rằng không khó. Bà ta nói :"Dễ, dễ, dễ ! Bách
hoa đầu thượng Tổ Sư ý". Nghĩa là : hết thảy cỏ
cây, đều là tâm ấn pháp môn của Phật, diệu ý của
Tổ Sư Ðạt Ma ở trên đầy trăm hoa. "Thúy trúc
hoàng hoa, vô phi bát nhã". Tất cả trúc xanh hoa
vàng, đều là thuyết pháp, biểu hiện trí huệ Bát
nhã. Tô Ðông Pha đã từng nói rằng :
"Kê thanh tận thị quảng trường thiệt,
Sơn sắc vô phi thanh tịnh thân".
Nghĩa là : tiếng suối reo, tướng lưỡi rộng dài
của mười phương chư Phật, nói ở trong Kinh A Di
Ðà, màu sắc đỉnh núi, đâu chẳng phải là diệu
pháp chăng ! Một cộng cỏ, một bụi cây đều là
diệu pháp. Như vậy cứu kính thì có gì khó ? Vì
cả nhà ông cư sĩ họ Bàng, đều là người khai ngộ,
còn con gái của ông ta là Bàng Linh Chiêu cũng
nói :"Cũng chẳng khó, cũng chẳng dễ ! Ðói thì
ăn, mệt thì ngủ". Ðó là biểu thị, bình thường
hằng ngày như ăn cơm, mặc áo, ngủ, nghỉ .v.v.,
đều là diệu pháp. Người tu đạo suốt ngày ăn cơm,
nhưng chưa ăn một hạt gạo, suốt ngày mặc áo,
nhưng chưa mặc một sợi tơ, đó chẳng phải nói
dối, mà là tâm chẳng dính mắc ; do đó : thấy mà
chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, ăn mà chẳng biết
mùi vị, đó là đã đạt đến cảnh giới vô tâm. Lúc
đó, tuy là ngủ nhưng giống như tỉnh, vì chẳng hồ
đồ, chẳng giống như người thường mộng mị, khởi
vọng tưởng.
Tại Trung Quốc, có vị Quốc Sư Ngọc Lâm rất thông
minh. Sư phụ của Ngọc Lâm muốn Ngọc Lâm và sư
huynh của Ngài (Ngọc Lam), trong một ngày một
đêm học thuộc bộ Kinh Pháp Hoa, nếu ai thuộc
lòng trước thì truyền pháp cho người đó. Sư
huynh của Ngọc Lâm ngủ li bì suốt ngày, Quốc Sư
Ngọc Lâm cho rằng, mình nhất định thuộc Kinh
Pháp Hoa trước sư huynh của mình. Không ngờ Ngọc
Lâm lên gặp Sư Phụ, thì Sư Phụ nói với Ngài
rằng, sư huynh của con đã thuộc lòng tối hôm qua
rồi. Tại sao sư huynh của Ngài mau thuộc lòng
như thế ? Vì cảnh giới của Ngài đã đạt đến ngủ
mà chẳng ngủ, có thể là nhập định. Người thường
dụng công phu, thì bất cứ đi đứng nằm ngồi, đều
có thể nhập định. Người không dụng công, thì chê
chỗ này ồn ào, chỗ kia chẳng thanh tịnh. Kỳ
thật, nếu như tâm của bạn thanh tịnh, thì đi đâu
cũng đều thanh tịnh.
Trong Kinh Lăng
Nghiêm, Ðức Phật từng nói với Ngài A Nan :"Thành
Phật là do sáu căn, đọa lạc cũng do sáu căn".
Sáu căn, sáu thức, mười pháp giới đều là diệu
pháp, đều là biểu hiện xưa nay nói về tâm, song
bạn đừng suy lường, đừng phân biệt, một khi suy
lường và phân biệt, thì rơi vào sào huyệt của ý
thức. Do đó, phần đông tâm không thể chuyên
nhất, không thể chuyển thức thành trí. Trí là do
thức biến hóa ; trí cũng là diệu pháp. Ở phần
chúng sinh là chuyển trí thành thức, là trí huệ
vốn có biến thành ý thức, cho nên từ diệu biến
thành thô, mà thô thì chẳng diệu. Ở tại phần của
Phật thì chuyển thức thành trí ; cho nên ở trong
sào huyệt ý thức, đắc được trí huệ chân chánh,
mà chứng được diệu pháp.
Diệu pháp mà nói ra
thì vô cùng vô tận, chiếu theo trong bổn môn của
Ðức Phật, thì có mười thứ diệu, tích môn lại có
mười thứ diệu. Bổn tức là Phật, tức diệu giác ;
tích là thùy tích, hiển bày đủ thứ vết tích. Vì
diệu quá rộng, quá nhiều, cho nên Trí Giả Ðại
Sư, từng nói về chữ diệu trong chín mươi ngày.
Diệu thì không thể dùng tâm để suy nghĩ, không
thể dùng lời luận bàn, chỉ có biết là diệu, song
vẫn có chỗ không minh bạch. Dưới đây, sẽ giảng
những công án để mọi người nghe, để chứng minh
chỗ diệu của diệu pháp.
Trước kia, có vị Hòa
Thượng mỗi ngày đều tụng một bộ Kinh Pháp Hoa,
từ trong Kinh, Ngài biết biên chép bộ Kinh này,
công đức không thể nghĩ bàn, do đó, Ngài cung
kính biên chép toàn bộ Kinh Pháp Hoa. Khi Ngài
biên xong bộ Kinh này, thì đang lúc mùa đông,
Ngài đem bút bỏ vào trong nước ngâm để rửa, thì
trong nước hốt nhiên hiện ra một đóa hoa sen
bằng băng đá. Ðóa hoa sen bằng băng đá đó dần
dần cao lớn. Do đó, Ngài tự cho mình một biệt
hiệu là "Băng Liên Hòa Thượng" (Hoà Thượng hoa
sen bằng băng đá), sự việc này lúc đó có rất
nhiều người thấy được.
Còn có một câu chuyện, cũng chứng minh sự diệu
của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trước kia, có vị
Hòa Thượng rất có địa vị tham chánh ở trong
triều đình. Mỗi lần ông ta từ Chùa đến hoàng
cung đều chẳng ngồi kiệu, ông ta cỡi ngựa. Mỗi
lần ông ta ngồi trên lưng ngựa, thì đọc thuộc
lòng quyển thứ nhất của Kinh Pháp Hoa, đến hoàng
cung thì vừa tụng xong quyển thứ nhất. Ngày nào
cũng thế, một ngày nọ, con ngựa đột nhiên chết,
mà có nhà cư sĩ đối diện trước Chùa của ông ta,
hạ sinh một bé trai. Trước khi hài nhi ra đời,
thì mẹ của đứa bé mộng thấy, con ngựa của vị Hoà
Thượng cỡi chui vào bụng bà ta, chẳng bao lâu
thì hài nhi ra đời. Bà ta cảm thấy kỳ lạ, mới
kêu người đến Chùa hỏi xem, mới biết con ngựa đó
vừa mới chết. Bà ta biết đứa bé này là con ngựa
đó đến đầu thai, cho nên đem đứa bé đó vào Chùa,
song đứa bé đó rất ngu si, tối tăm, bất cứ dạy y
đọc, hoặc viết chữ, y chẳng làm được, cho nên
một chữ cũng chẳng biết. Song, có một vị Hòa
Thượng dạy y đọc Kinh Pháp Hoa, thì y nhớ quyển
thứ nhất rất nhanh chóng, còn những quyển còn
lại y chẳng nhớ được. Vì khi y làm ngựa thì mỗi
ngày vị Hoà Thượng cỡi, đều tụng thuộc lòng
quyển thứ nhất, cho nên y nhớ được. Vì y nghe
được Kinh Pháp Hoa, mà được đầu thai làm người,
do đó đủ biết công đức của bộ Kinh Pháp Hoa này,
thật là không thể nghĩ bàn.
Vào thời đại nhà Tấn,
tại Vân Nam có vị cư sĩ tên là Trần Ðông Viện,
ông ta rất tin Bồ Tát Quán Thế Âm. Ông ta từng
đến núi Phổ Ðà, lễ bái đạo tràng của Bồ Tát Quán
Thế Âm. Khi ông ta lạy xong, thì thấy một vị Hòa
Thượng đang tụng Kinh Pháp Hoa, bèn thỉnh vị Hòa
Thượng đó thế ông ta tụng Kinh siêu độ hồn của
mẹ, khiến cho được lìa khỏi cảnh khổ, sớm sinh
lên cõi Trời. Khi công đức viên mãn thì con bò
của nhà ông ta đột nhiên chết đi. Ðêm đó, con bò
báo mộng cho ông ta nói :"Ta là mẹ của ngươi, vì
khẩu nghiệp quá nặng, tội nghiệt quá sâu, cho
nên đầu thai làm bò. Nay nhờ nhà ngươi thỉnh
Pháp Sư tụng Kinh siêu độ ta, khiến cho ta lìa
khỏi thân bò, nhưng vẫn chưa lìa khỏi khổ ở địa
ngục, nhà ngươi hãy thỉnh vị Pháp Sư vì ta tụng
Kinh siêu độ nữa" ! Trần Ðông Viện lại đến núi
Phổ Ðà gặp vị Hòa Thượng đó, thỉnh Hòa Thượng
siêu độ mẹ của ông ta nữa, vị Hòa Thượng đó tụng
Kinh thì đương nhiên rất thành tâm, nhưng chứng
nghiện rượu chưa bỏ được, đôi khi uống một hai
ly rượu. Khi ông ta biết tình hình mẹ của Trần
Ðông Viện, thì rất thành tâm quỳ trước bàn Phật
tụng Kinh Pháp Hoa, khi tụng đến quyển thứ tư,
thì ông ta khát nước, muốn uống trà, nhưng bình
trà chẳng có trà, song thấy trong ly rượu thường
dùng hằng ngày lại có rượu, bèn uống hết ly rượu
đó, rồi tiếp tục tụng hết bộ Kinh Pháp Hoa.
Trần Ðông Viện lại
nằm mộng thấy mẹ của ông ta nói :"Số là ta có
thể thoát khỏi địa ngục, khi Pháp Sư tụng Kinh
Pháp Hoa, từ quyển một đến quyển bốn thì trong
địa ngục đầy khắp kim quang, còn có hoa sen bằng
vàng sinh ra, chính lúc đó ta phải đi đầu thai,
thì hốt nhiên có mùi rượu đầy khắp địa ngục, từ
quyển thứ năm đến quyển thứ bảy, thì chẳng có
công hiệu là bao, ngươi hãy thỉnh vị Hoà Thượng
đó vì ta tụng nữa !" Trần Ðông Viện lại đem tình
hình trên nói với vị Hòa Thượng đó. Trước kia,
vị Hòa Thượng đó cho rằng uống một hai ly rượu
chẳng có quan hệ gì, khi trải qua sự việc này
thì ông ta hoàn toàn bỏ rượu. Từ câu chuyện này
nhìn lại thì sự diệu của Kinh Pháp Hoa không thể
nghĩ bàn.
Người học Phật, phải biết Kinh Pháp Hoa có rất
nhiều sự mầu nhiệm, như làm súc sinh mà nghe
Kinh nghe Pháp, thì được đầu thai làm người, ở
trong địa ngục chịu khổ mà nghe được Kinh, thì
có thể sinh về cõi Trời. Vì có ý nghĩa như vậy,
cho nên có một số người tụng niệm Kinh điển, y
chiếu phương pháp trong Kinh điển mà tu hành,
bất quá tu hành tuyệt đối đừng tự mãn, đừng cho
rằng tụng Kinh có công đức. Nếu bạn sinh tâm tự
mãn, không những chẳng có công đức, mà có thể
nói là lãng phí. Từ từ trồng xuống chút căn
lành, người tu đạo nên nhớ đừng tự đại, đừng
cống cao ngã mạn, phải khiêm cung hòa kính.
Trong khi Pháp Bảo
Ðàn, có một đoạn nói : Có một vị Tăng tên là
Pháp Ðạt, tụng Kinh Pháp Hoa đã hơn ba ngàn bộ,
do đó ông ta sinh tâm cống cao ngã mạn. Khi ông
ta đến Tào Khê Chùa Nam Hoa gặp Lục Tổ Huệ Năng,
thì bổn lai tất cả chư Tăng thấy vị Hòa Thượng
trụ trì đều đắp y trì cụ, cung kính đảnh lễ. Vì
trong tâm của Pháp Sư Pháp Ðạt sinh ra một sự
chướng ngại, cho rằng tụng đã hơn ba ngàn bộ
Kinh Pháp Hoa, thì công đức chắc chắn không ít,
do đó, khi ông ta thấy Lục Tổ Huệ Năng thì chỉ
khom lưng, đầu lạy chẳng đụng đất.
Lục Tổ hỏi ông ta
:"Hiện tại trong tâm của ông có vật gì ? Ông
bình thường tu tập pháp môn gì ?" Pháp Sư Pháp
Ðạt nói :"Tôi tụng Kinh Pháp Hoa đã hơn ba ngàn
bộ". Lục Tổ nói :"Ðừng nói tụng được bao nhiêu
bộ Kinh, điều quan trọng là hiểu được ý của
Kinh". Lại nói :
"Lễ bổn triết mạn tràng
Ðầu hề bất chí địa ?
Hữu ngã tội tức sinh
Vong công phước vô tỷ".
Nghĩa là :
Lễ lạy để diệt trừ kiêu mạn,
Sao đầu chẳng đụng đất ?
Còn cái ta thì tội sinh ra,
Quên cái ta thì phước vô ngần.
Chính là :
"Tâm mê Pháp Hoa chuyển,
Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa".
"Tụng Kinh cửu bất giải, dữ nghĩa tác cừu già".
Nghĩa là : khi tâm của bạn mê, thì bị Kinh Pháp
Hoa chuyển, khi trong tâm của bạn minh bạch, thì
chuyển được Kinh Pháp Hoa. Chuyển Pháp Hoa mới
là diệu pháp, bị Pháp Hoa chuyển, là diệu mà
chẳng diệu, chuyển Pháp Hoa mới là không diệu mà
diệu. Bạn tụng Kinh Pháp Hoa hơn ba ngàn bộ,
nhưng chẳng hiểu nghĩa trong Kinh, thì giống như
bạn với ý nghĩa của Kinh, sinh ra một sự oan
cừu. Bổn lai bộ Kinh này với bạn là một thể,
nhưng bạn cho rằng, tụng được hơn ba ngàn bộ
Kinh thì có công đức, có sự chướng ngại, cho nên
biến thành hai. Chỉ vì bạn chưa minh bạch đạo lý
trong Kinh, cho nên chưa trừ khử được tâm cống
cao ngạo mạn.
Từ câu
chuyện này về sau, hy vọng bất cứ vị nào có công
đức gì, đều đừng sinh tâm kiêu ngạo và tự mãn.
Nên nhớ ! Người học phật pháp, nhất định phải
khiêm cung hòa kính, đừng kiêu ngạo với bất cứ
người nào, điểm này rất là quan trọng, hy vọng
mọi người để vào tai những gì tôi nói.
Ðề Kinh của bổn Kinh này là : Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, diệu pháp rộng lớn vô cùng, chẳng cách
chi nói hết được. Ở trên đã giải thích đại khái,
bây giờ giảng tiếp về hai chữ Liên Hoa (hoa
sen).
Hoa sen là
một thứ hoa hy hữu nhất. Thứ hoa này, thuộc về :
hoa quả cùng lúc ; hoa nở thì sen hiện, hoa rụng
thì sen thành. Rễ của hoa sen ở dưới bùn, cọng
thì ở trong nước, còn hoa thì vượt lên khỏi mặt
nước. Rễ ở trong bùn là biểu thị phàm phu, cọng
ở trong nước là biểu thị hàng nhị thừa. Phàm phu
chấp về có, ở trong bùn là ví dụ có ; nhị thừa
thì chấp không, cọng hoa ở trong nước là biểu
thị không. Hoa sen ở trên mặt nước là vượt ra
không, có ; là biểu thị trung đạo và liễu nghĩa.
Tức chẳng rơi về không, cũng chẳng rơi về có.
Không, có gọi là hai bên, chẳng chấp vào hai
bên, là trung đạo liễu nghĩa.
Sao lại nói
hoa sen là biểu thị sự trung đạo liễu nghĩa, đại
giáo viên đốn ? Vì một khi hoa sen nở, thì có
sen, đó gọi là biểu thị nhân quả không hai ;
nhân là quả, quả cũng là nhân, như trồng nhân
Phật thì kết quả Phật. Mà hoa quả cùng lúc, cũng
là biểu thị khai quyền hiển thật. Hoa sen nở thì
biểu thị khai quyền, pháp quyền xảo phương tiện,
sen hiện ra là biểu thị thật pháp ; là chân thật
không hư, dùng pháp thật tướng làm thể.
Trong bổn Kinh này có nói, Phật vì đại sự nhân
duyên mà xuất hiện ra đời. Ðại sự gì ? Là vấn đề
sinh tử của chúng sinh. Phật dạy tất cả chúng
sinh giác ngộ, liễu sinh thoát tử. Có người nói
:"Sinh tử ai ai cũng có, sao gọi là đại sự ?"
Không sai, ai ai cũng sinh, ai ai cũng chết.
Song, sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, cứu
kính là vì sao ? Trang Tử có nói mấy câu này rất
là chí lý :"Sinh mạng của tôi thì có hạn, mà sự
hiểu biết thì vô hạn, lấy cái có hạn học cái vô
hạn". Nghĩa là, sinh mạng thì có hạn định, có
lúc kết thúc, song, sự hiểu biết thì chẳng có bờ
mé. Chúng ta dùng sinh mạng có hạn đînh, để học
sự hiểu biết vô hạn, đó thì chẳng cách chi truy
cứu được ! Nhưng ông ta chỉ biết một nửa, chưa
biết hết toàn thể, tại sao nói như thế ? Vì ông
ta chỉ biết sinh mạng có lúc kết thúc, mà chẳng
biết kết thúc rồi sẽ có bắt đầu nữa.
Sinh mạng
của chúng ta, chẳng phải đi rồi thì không trở
lại. Nếu bạn biết vấn đề sinh tử như thế nào,
thì cũng chỉ giải quyết được một nửa ; nếu chẳng
biết vấn đề sinh tử như thế nào thì chẳng minh
bạch. Do đó, đến cũng hồ đồ, đi cũng hồ đồ. Về
vấn đề sinh tử, Tử Lộ từng hỏi đức Khổng Tử
:"Thầy ! Con phải dùng phương pháp gì để cung
phụng quỷ thần ?" Khổng Tử đáp :"Chưa biết lo
cho người, sao cung phụng được quỷ ?" Tử Lộ lại
hỏi : "Dám hỏi về cái chết, con cả gan hỏi về
chết như thế nào ? Chết từ vị nó như thế nào ?
Tình hình chết như thế nào"? Khổng Tử đáp :"Chưa
biết sinh, làm sao biết chết"? Nghĩa là chưa
biết sống như thế nào, lại làm sao biết chết ?
Tức cũng là, sinh như thế nào thì chết như thế
ấy. Vậy cứu kính sinh như thế nào ? Ðó là nói
đến vấn đề căn bản, mọi người nên chú ý chỗ này
một chút, sinh tử là một đại sự.
Người là do tình dục mà sinh, cho nên cũng do
tình dục mà chết. Nếu chẳng có tình dục thì
chẳng có sinh, cũng chẳng có chết. Vấn đề sinh
tử là do tâm tham dục, nếu đoạn trừ được tâm
tham dục, thì cũng biết rõ về sinh tử. Phật là
vì muốn chấm dứt vấn đề sinh tử của tất cả chúng
sinh, mà đến thế giới này, cho nên vấn đề sinh
tử rất là quan trọng.
Có câu chuyện về vấn đề sinh tử : Xưa kia có một
đại phú ông cưới một cô vợ rất đẹp, sinh được ba
người con. Ðại phú ông ngoài tiền bạc ra, ông ta
chẳng biết gì hết. Tiền là người bạn tốt nhất
trong cuộc đời của ông ta, như cốt nhục chí
thân, cho nên ông ta sửa đổi một đoạn "Trung
Dung" của bậc Thánh nhân trước tác. Sửa là :
"Thiên mạng chi vị tiền,
Suất tính chi vị tiền,
Tu đạo chi vị tiền.
Tiền dã giả, bất khả tu du lìa dã".
Tiền thì không phút giây nào xa rời nó. Do đó,
ông ta đặt tên cho thằng con trai cả tên là
Vàng, đứa kế là Bạc, vì vàng bạc đều có, đứa thứ
ba thì đặt tên rất là kỳ quái, gọi là Nghiệp
Chướng.
Khi ba đứa
con của ông ta trưởng thành, thì ông ta cũng già
nua, lại còn mắc bệnh tê liệt, mắc phải bệnh này
ông chẳng đi đâu được, suốt ngày nằm trên
giường, nhà tuy giàu có, song chẳng ai hầu hạ
ông ta. Vợ đẹp của ông ta cũng xa lìa ông ta,
đứa con thông minh của ông ta cũng chẳng đến
thăm ông ta. Ông ta cắn răng muốn chết sớm một
chút, song ông ta lại nghĩ : Một mình xuống âm
phủ quá cô đơn, do đó ông ta thương lượng với bà
vợ nói :"Tôi bị bệnh đã lâu, coi bộ chẳng qua
khỏi, bằng chi chết sớm một chút cho yên thân.
Bà có thể đi với tôi nhé ?" Bà vợ đẹp của ông ta
đáp :"Sao ông lại có thể kêu tôi đi với ông ?
Chết thì ai cũng không thể thế cho ai, ông bị
bệnh thần kinh chăng ?" Ông ta thấy vợ chẳng
chịu đi theo, ông ta bèn gọi đứa con trai cả nói
:"Vàng ! Khi con vừa sinh ra thì ta thương con
nhất, con có biết chăng ?" Con trai cả đáp
:"Ðương nhiên con biết". Ông ta lại nói :"Bây
giờ ta sắp chết, con đi với ta nhé ?" Con trai
cả nghe vậy đáp lại :"Ông thật là hồ đồ ! Tuổi
của ông đã lớn, là đáng chết, con còn trẻ sao có
thể chết được ? Nếu như cha thương con thì đừng
kêu con chết đi". Do đó, đứa con cả chạy đi. Ông
ta lại kêu đứa thứ nhì nói :"Bạc ! Hiện ta sắp
chết, con đi với ta nhé ?" Con trai thứ nhì nói
:"Ông này lộn xộn ! Muốn chết thì chết, sao lại
kêu ta đi theo với ông ?" Vợ của ông ta và hai
đứa con lớn, chẳng chịu đi theo ông ta. Cuối
cùng ông ta kêu đứa thứ ba đến nói :"Nghiệp
Chướng ! Con tuổi trẻ nhất, ta cũng thương con
nhất, ta muốn chết, nhưng bỏ con chẳng đặng, con
tính làm sao đây ?" Thằng út thông minh lanh lợi
nói :"Ðừng lo, cha thương con nhất thì con sẽ
chết theo cha" ! Ông ta nghe vậy rất vui mừng,
vì chỉ có đứa con út Nghiệp Chướng chịu đi với
ông ta vào địa ngục, cho nên ông ta nói :
"Mọi thứ chẳng mang theo được,
Chỉ có nghiệp theo mình".
Tất cả vàng, bạc, châu báu, đều mang đi chẳng
đặng, chỉ có nghiệp thiện, hoặc nghiệp ác, mà
bạn tạo ra, thì mới theo bạn như bóng theo hình.
"Ðản niệm A Di Ðà, vãng sinh cực lạc quốc". Tức
nhiên là nghiệp theo mình thì phải chuyên tâm
niệm "Nam Mô A Di Ðà Phật", thì sẽ được vãng
sinh về thế giới Cực Lạc, sẽ không đọa lạc vào
biển khổ sáu nẻo luân hồi. Trong Kinh A Di Ðà có
nói : Cõi nước Cực Lạc dùng vàng làm đất, vàng
làm đất thì nhiều vô số, có thể nói là giàu sang
đến cực điểm.
Chúng ta sống ở đời, phải kịp thời làm thiện,
còn chút hơi thở, chút sức lực, thì phải làm
thiện tích đức, đừng có chỉ mượn phước đã tích
tập trong kiếp trước, mà hưởng thụ hết trong đời
này.
Hoa có nhiều loại khác nhau, có loại "hoa dại
không có quả", chỉ có hoa mà chẳng có quả, là ví
dụ những người buông lung, cứ nói dối, chỉ nói
mà không làm, cũng là ví dụ cho ngoại đạo. Vì
những bàng môn tả đạo, mặt ngoài trông có vẻ rất
là thần thánh, họ cũng rất dụng công tu hành, tu
đủ thứ sự khổ hạnh, nhưng chẳng kết quả, cuối
cùng chẳng thành công, đó cũng như hoa dại chẳng
có quả.
Có thứ "hoa
có rất nhiều quả", đó là ví dụ phàm phu cúng
dường cho cha mẹ, sư trưởng, đủ thứ hành vi hiếu
thuận. Vì cúng dường cha mẹ, cho nên được rất
nhiều công. Những công này, tương lai cũng sẽ
kết rất nhiều quả, hoặc là sinh về cõi trời,
hoặc là sinh vào cõi người làm người giàu có, đó
thật là một hoa có nhiều quả.
Lại có,
"một hoa kết một quả", đó là biểu thị Duyên
Giác. Duyên Giác tu hạnh viễn ly, tu pháp môn
này, thì vào trong rừng sâu núi thẳm, cũng chỉ
đắc được quả vị Duyên Giác.
Lại có,
"trước quả sau hoa", như Tu Ðà Hoàn, họ đã chứng
quả Tu Ðà Hoàn, nhưng về sau họ vẫn cần tiếp tục
tu hành.
Lại có, "trước hoa sau quả", đây là biểu thị Bồ
Tát thừa, Bồ Tát thì trước phải tu hành, về sau
mới đắc được quả vị Bồ Tát. Song, những thứ hoa
đã nói ở trên, không thể ví dụ với diệu pháp
được, cũng không thể sánh với diệu pháp, chỉ có
hoa sen mới thật sự có thể ví dụ cho diệu pháp,
vì hoa sen là hoa quả cùng lúc, biểu thị tức
quyền tức thật.
Hoa quả
cùng lúc vừa nói ở trên, mới biểu thị khai quyền
hiển thật, vừa có hoa lại có quả, quyền là hoa,
thật là quả, song, duy thật thí quyền, sao lại
có hoa ? Hoa là vì chấp quả mà có. Khi Phật nói
Kinh Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Ðẳng, Bát Nhã đều
vì nói Kinh Pháp Hoa, mới nói những Kinh điển
đó. Pháp được nói ra trước là quyền pháp (pháp
phương tiện), chứ chẳng phải là thật pháp, đến
hội Pháp Hoa mới là thật pháp, thật giáo. Ðem
quyền giáo triển khai, để hiện thị ra nhất thừa
thật pháp, đó tức là : hoa nở sen hiện, cũng gọi
là khai quyền hiển thật. Hoa rụng sen thành, tức
gọi là bỏ quyền lợi thật, xả bỏ quyền pháp,
tuyên lưu ra diệu pháp chân thật. Thật giáo
thượng thừa tức là viên đốn nhất thừa.
Pháp của Phật nói gồm có : bổn, tích (gốc, vết
tích) hai môn. Bổn môn là gì ? Bổn là căn bổn,
tích là vết tích. Bổn là gì ? Bây giờ đưa ra một
ví dụ : Mặt trăng ở trong hư không là bổn (gốc),
mặt trăng trong nước là tích, gốc chỉ có một, mà
tích thì có vô lượng vô biên. Do gốc mà có tích,
nhờ có gốc mới hiển thật tích. Khai tích hiển
gốc. Tích là tông tích, như bóng, có cái bóng
hoặc là sự tích. Ðó đều là do thật mà thí quyền,
khai quyền hiển thật, giống như đạo lý bỏ quyền
lợi thật.
Ở trong
Kinh văn nói : Mười sáu vị Vương tử phát tâm
xuất gia tu đạo là gốc, mà ở trước đó chẳng biết
lâu xa bao nhiêu, cho nên mười sáu vị Vương tử
xuất gia cũng không kể là gốc. Hiện tại Ðức Phật
Thích Ca, thị hiện thân Phật đến thế giới này,
vì chúng sinh mà thuyết pháp là tích. Kỳ thật,
Phật Thích Ca chẳng phải mới ở thế giới này tu
đạo thành Phật, mà trong vô lượng kiếp lâu xa về
trước đã thành Phật rồi. Trong Kinh Phạm Võng có
nói :"Ta đến thế giới Ta Bà này đã tám ngàn
lần". Thế giới Ta Bà hiện tại của chúng ta đây,
là một thế giới Ta Bà mới, là thế giới Ta Bà trẻ
trung, còn có thế giới già, bổn lai thế giới đó
mới gọi là gốc, thế giới hiện tại gọi là tích.
Nếu dùng Phật pháp theo sự hiểu biết của chúng
ta, thì chẳng cách chi đo lường được, là vô cùng
vô tận, vô lượng vô biên, cho nên gọi là diệu
pháp.
Hoa sen là tượng trưng cho diệu pháp. Diệu Pháp
Liên Hoa là ví dụ cho bộ Kinh này, là biệt danh
của bộ Kinh này. Biệt tức là riêng biệt, tại sao
lại riêng biệt ? Vì chữ Kinh là tên chung. Tất
cả Kinh đều gọi là Kinh ; giống như tất cả mọi
người đều gọi là người. Song, mỗi người còn có
tên của họ. Diệu Pháp Liên Hoa là tên riêng,
Kinh là tên chung. Ðây là dùng : riêng, chung
hai pháp để phán đoán tên của bộ Kinh này.
Diệu Pháp
là diễn nói vô tận. Nếu nói ý nghĩa rộng, thì
thật không biết nói đến bao giờ mới hết, dù có
nhiều thời gian cũng giảng chẳng xong. Hiện tại
đã giải thích sơ lược về tên Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa.
Kinh, mọi người hầu như đều biết rành chữ Kinh,
song, cứu kính có thật hiểu về chữ Kinh chăng ?
Nguồn gốc Kinh có năm lối giải thích áo diệu,
cho nên gọi là ngũ trùng huyền nghĩa, tức là :
1. Thích danh.
2. Biện thể.
3. Minh tông.
4. Luận dụng,
5. Phán giáo.
Ngoài ra chữ Kinh còn bao hàm nhiều ý nghĩa
khác.
Kinh nghĩa là "con đường", là con đường từ phàm
phu đến quả vị Phật, đó là ý nghĩa thứ nhất. Thứ
hai gọi là pháp bổn, tức là pháp căn bản, là
phương pháp trở về nguồn cội (thành Phật). Thứ
ba là suối vọt, nghĩa là trào ra không ngừng,
hoặc nghĩa là dây mực, tức là một thứ quy cụ, do
đó "Không dùng quy cụ, sao thành vuông tròn".
Nghĩa là cần có compas, thước, mới vẽ họa đồ
được. Còn có một ý nghĩa là kết man. Kết là kết
lại với nhau, man là tràng hoa, nghĩa là sâu kết
tất cả các pháp lại với nhau. Cho nên mới nói
Kinh là quán nhiếp thường pháp. Ðem tất cả đạo
lý trước sau, sâu lại với nhau, khiến cho đừng
rời lạc chương tiết, cũng giống như làm văn,
phải có mở đề, thân bài và kết luận. Kinh văn
tựa như dùng một sợi chỉ khâu kết ý nghĩa lại.
Nhiếp là nhiếp trì tất cả chúng sinh căn cơ hóa
độ được ; bất cứ bạn thích hợp pháp môn nào, thì
ở trong Kinh đều bao hàm hết thảy. Ví như : tham
thiền, tĩnh tọa, thuyết pháp, giảng Kinh, trì
luật, hoặc niệm danh hiệu Phật, trì Chú, học mật
.v.v., bất cứ pháp môn nào, cũng đều có đủ trong
Kinh điển.
Kinh, lại
hàm có ý nghĩa là trường (dài). Trường tức là
vĩnh viễn không đổi, từ khi đức Phật nói, rồi
đến kết tập Kinh điển, cho đến hiện tại chưa
từng biến đổi, một chữ cũng không thể bớt, cũng
không thể thêm ; do đó không tăng không giảm,
tức là ý nghĩa của Kinh vẫn hằng thường như vậy.
Tu Ða La là tiếng Phạn, dịch là "khế Kinh". Khế
nghĩa là hợp ; trên thì thông với tâm của chư
Phật, dưới thì hợp với tâm của chúng sinh ; đều
tâm tâm khế hợp, niệm niệm như như. Như trong
Kinh Hoa Nghiêm có nói :"Tâm, Phật, chúng sinh,
cả ba chẳng khác nhau". Cho nên Kinh là tâm
pháp, là chúng sinh pháp, tức là Phật pháp. Ba
thứ pháp này, chẳng có sự phân biệt, đó là hiểu
nghĩa Kinh hàng đầu trong sự "thích danh" (giải
thích đề Kinh).
Biện thể là
nhận thức bổn thể của Kinh này. Vậy bộ Kinh này
lấy gì làm thể ? Bổn Kinh này lấy thật tướng làm
thể. "Thật tướng vô tướng, vô sở bất tướng". Tất
cả tướng, đều từ thật tướng mà sinh ra, không
những các tướng đều do thật tướng sinh ra, mà
tất cả chư Phật, tất cả các Bồ Tát, tất cả Duyên
Giác, Thanh Văn cũng đều từ thật tướng huyễn
sinh ra. Vậy thật tướng do ai tạo ? Chẳng có ai
tạo, là bổn lai có đủ. Sao lại có ? Gốc thật
tướng có trước tất cả chư Phật, Bồ Tát, Thanh
Văn, Duyên Giác, cho đến tất cả chúng sinh, cũng
đều tự bổn Kinh sinh ra. Vì chúng ta trải qua
thời gian quá lâu, đã quên mất ngôi nhà thật sự
của mình, quên mất nguồn gốc mẫu thể. Bây giờ
mọi người phát tâm nghe bộ Kinh này, có thể nói
là tìm lối tắt trở về nhà.
Ðã biết tên và thể của bổn Kinh này rồi. Vậy lấy
gì làm tông ? Lấy nhất thừa : Nhân quả thực tế
làm tông. Nhất thừa là một Phật thừa, chẳng có
thừa nào khác. Người tu học từng phân ra : Thanh
Văn thừa, mà bộ Kinh này, chỉ hướng về một thừa,
tức là Phật thừa. Phật thừa chẳng nằm ở trong
năm thừa. Thừa này dùng nhân quả chân thật làm
tông. Bổn Kinh dùng hoa sen làm dụ, nghĩa là :
tức nhân tức quả, tức quả tức nhân. Hoa sen nở
tức là Phật nhân, đồng thời kết thành sen, tức
là Phật quả. Cho nên nói, dùng nhất thừa nhân
quả làm tông cho bổn Kinh này.
Ðã biết
tông của Kinh này rồi, bây giờ hãy nghiên cứu về
dụng đồ. Dụng đồ của bộ Kinh này, là muốn chúng
ta đoạn trừ nghi hoặc mà sinh tín tâm, Ngài Trí
Giả Ðại Sư đọc tụng Kinh Pháp Hoa mà khai ngộ,
đắc được Ðà La Ni, do đó sáng lập ra tông Thiên
Thai. Chúng ta tuyệt đối đừng xem thường bộ Kinh
này. Nên biết tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, tất
cả Tổ Sư, đều từ hoa quả trong bộ Kinh này mà
sinh ra.
Giáo tướng của bộ Kinh này là gì ? Giáo tướng
của Kinh này là đề hồ, trong năm thời tám giáo,
tướng của Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết Bàn đều
thuộc đề hồ. Ðề hồ là từ sữa bò, do sữa sinh ra
lạc, do lạc sinh ra tô, từ tô sống ra tô chín,
từ tô chín ra đề hồ. Cho nên, đề hồ là vị ngon
thơm hạng nhất, đó chỉ là một ví dụ. Mọi người
nghe được bộ Kinh này, thì đồng như nếm được
pháp vị diệu nhất, ngon nhất, trên hết thảy, vì
toàn Kinh chữ đều bao hàm diệu nghĩa vô cùng,
phải nhất tâm thọ trì làm chủ thì sẽ đắc được
lợi ích vô tận.
Bộ Kinh này, do Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập,
dịch vào thời Diêu Tần. Diêu Tần là thời kỳ Ðông
Tấn tại Trung Quốc, lúc ban đầu do Phù Kiên
thống trị. Từ Hán Cao Tổ diệt Tần về sau, đến
nhà Tấn có những người còn hoài niệm về nhà Tần.
Cho nên Phù Kiên (người sau của Tần Thủy Hoàng)
tổ chức một bang phái gọi là Tần Bang. Lập một
nước ở tại Trường An gọi là Phù Tần. Lúc đó Khâm
Thiên Giám (nhà thiên văn học) thấy ở trên bầu
trời Ấn Ðộ có vì sao trí. Do đó, mới nói với Phù
Kiên rằng, đương thời ở Tây vực (Ấn Ðộ) có bậc
đại trí huệ, tương lai sẽ đến Trung Quốc, sẽ ủng
hộ cho Trung Quốc. Phù Kiên nói :"Ta biết người
này nhất định là Cưu Ma La Thập, chúng ta hãy
đem binh đi bắt Ngài đem về !" Do đó, phái đại
tướng quân Lữ Quang, dẫn bảy vạn nhân mã đánh
nước Quy Từ Tây Vực (nay là một khu vực nhỏ cạnh
bên Tân Cương của Trung Quốc), phải bắt lấy Pháp
Sư Cưu Ma La Thập đem về. Khi Lữ Quang chưa đến
nước Quy Từ, thì Pháp Sư Cưu Ma La Thập nói với
vua nước Quy Từ rằng :"Hiện nay Trung Quốc xuất
binh đánh chúng ta, mục đích chẳng phải tranh
đất đai, Ngài nên giảng hòa với Trung Quốc, bất
cứ điều kiện gì đều đáp ứng họ". Song, vua nước
Quy Từ chẳng nghe lời của Ngài Cưu Ma La Thập.
Khi quân đội của Lữ Quang đến, thì ông ta đốt
lửa đánh nhau với. Quân đội của Trung Quốc hùng
mạnh, đánh thắng nước Quy Từ nhỏ yếu này rất dễ
dàng, giết chết vua nước Quy Từ. Bổn lai vua
nước Quy Từ rất là hạnh phúc, nhưng tại sao ông
ta bị quân đội Trung Quốc giết chết ? Vì tiền
kiếp nghiệp sát của ông ta quá nặng, cho nên
định nghiệp không thể chuyển, không cách chi
trốn tránh nghiệp báo xảy đến.
Diệt được
nước Quy Từ rồi, Lữ Quang đem Ngài Cưu Ma La
Thập về ở tạm tại Tây Lương, thì nghe nói trong
nước phát sinh biến cố. Phù Kiên đã bị Diêu
Trường giết chết. Diêu Trường lên làm Diêu Tần
Hoàng Ðế (vì ông ta họ Diêu, cho nên cải đổi
triều đại Phù Tần thành Diêu Tần). Lữ Quang bèn
ở tại đất Lương hạ trại tại chỗ trũng. Ngài Cưu
Ma La Thập nói với Lữ Quang rằng :"Tuyệt đối
đừng hạ trại ở chỗ này, chỗ này chủ nguy hiểm
lắm. Khi nước lớn xuống thì sẽ ngập chìm hết
toàn quân". Lữ Quang nói :"Ngài là người xuất
gia, hiểu biết gì về việc bày binh bố trận ? Hạ
trại tại chỗ này sao lại bị ngập chìm chết ?
Ngài đừng lo lắng !" Vì anh ta chẳng nghe lời
Ngài Cưu Ma La Thập, quả nhiên nửa đêm nước lũ
từ trên núi tràn xuống, thế nước dữ dội làm chết
hết năm sáu ngàn binh lính. Sáng ngày sau, anh
ta mới biết Ngài Cưu Ma La Thập là người có thần
thông. Từ đó anh ta rất khâm phục, rất tin tưởng
Ngài Cưu Ma La Thập. Vì Lữ Quang nghe nói Diêu
Trường đã giết Phù Kiên, do đó anh ta án binh
bất động tại Tây Lương, qua hai năm Diêu Trường
chết, con là Diêu Hưng lên kế vị. Diêu Hưng biết
trước kia Phù Kiên phái Lữ Quang đi bắt Ngài Cưu
Ma La Thập về kinh, nhưng Lữ Quang không chịu,
do đó Diêu Hưng phát binh đánh Lữ Quang, vừa lúc
đó Lữ Quang qua đời, con là Lữ Long lên thay.
Hai bên đánh với nhau, quân đội Lữ Long bị thua.
Lúc đó, mới thỉnh Ngài Cưu Ma La Thập về Trường
An, làm công tác phiên dịch Kinh điển. Công tác
phiên dịch Kinh điển rất to tác khó khăn. Tại
sao Phù Kiên muốn Lữ Quang đi bắt Cưu Ma La Thập
đem về ? Tại sao Diêu Hưng lại phát binh đi tiếp
Ngài Cưu Ma La Thập ? Vì lúc đó, Ngài Cưu Ma La
Thập đức cao vọng trọng, ai ai cũng đều khâm
phục kính ngưỡng Ngài. Ngài còn là nhân tài
phiên dịch Kinh điển hay nhất, cho nên Diêu Hưng
bắt Ngài đến Trung Quốc để phiên dịch Kinh điển.
Ðó là nguyên nhân Ngài Cưu Ma La Thập đến Trung
Quốc.
Nhân duyên bản thân của Ngài Cưu Ma La Thập cũng
rất kỳ diệu. Phụ thân của Ngài là Cưu Ma La
Viêm, là con của thừa tướng một nước ở Trung Ấn
Ðộ, bổn lai Cưu Ma La Viêm có thể kế thừa chức
thừa tướng, nhưng ông ta không muốn làm quan, mà
muốn xuất gia tu đạo. Do đó, đi các nơi du học,
đi khắp các nơi tìm minh sư. Vì phụ thân của ông
ta là thừa tướng, cho nên đến đâu thì mọi người
đều hoan nghênh, khi ông ta đi đến nước Quy Từ,
thì không những vua nước Quy Từ ra ngoài xa đón,
mà còn mời ông ta dùng yến tiệc ở trong cung.
Vua có người em gái tên là Kì Bà, khi thấy Cưu
Ma La Viêm thì không nỡ rời xa. Kì Bà rất thông
minh, khinh thường đàn ông của nước mình, cho
rằng họ đều xấu chẳng hợp với cô ta, nhưng lần
này thấy Cưu Ma La Viêm bèn động tâm. Tuy nhiên,
cô ta chẳng nói với anh của cô ta, nhưng vua
nước Quy Từ cũng là người thông minh, vua biết
em gái mình, rất có hảo cảm đối với Cưu Ma La
Viêm, do đó, gả Kì Bà cho Cưu Ma La Viêm. Chẳng
bao lâu thì Kì Bà thọ thai, thì chuyện kỳ lạ
cũng phát sinh. Kì Bà vốn không hiểu ngôn ngữ Ấn
Ðộ, nhưng khi mang thai Ngài Cưu Ma La Thập, thì
không những nghe được mà còn nói được tiếng
Phạn, còn có tài năng biện tài vô ngại. Ðương
thời có vị A La Hán nói với mọi người rằng :"Ðứa
trẻ ở trong bụng của bà này, nhất định chẳng
phải tầm thường, là người có đại trí huệ. Trước
kia, đệ tử của đức Phật là Ngài Xá Lợi Phất ở
trong bụng mẹ, thì mẹ của Ngài cũng có trí huệ
biện tài vô ngại, đại khái đứa trẻ này cũng như
Xá Lợi Phất". Ðó là lúc Ngài Cưu Ma La Thập ở
trong bụng mẹ, giúp cho mẹ của Ngài tăng thêm
trí huệ.
Mẹ của Ngài
sinh Ngài ra rồi, qua ba năm sau lại sinh một
người con nữa. Từ đó trở đi, mẹ của Ngài luôn
luôn đến Chùa nghe Kinh, vì căn cơ của bà ta sâu
dày, nghe Pháp Sư thuyết pháp : Người ở trên thế
gian đều là khổ, không, vô thường, vô ngã thì bà
ta phát tâm muốn xuất gia. Nhưng phụ thân của
Ngài Cưu Ma La Thập không cho xuất gia vì tham
luyến vợ đẹp, tài sản và địa vị, không những
mình chẳng muốn xuất gia trở lại, mà cũng chẳng
cho vợ xuất gia. Nhưng Kì Bà đã quyết tâm muốn
xuất gia, bà ta phát nguyện nói : "Nếu không
được xuất gia thì tôi sẽ nhịn đói mà chết". Do
đó, bà ta chẳng ăn uống gì, ban đầu bà ta không
ăn thì Cưu Ma La Viêm nghĩ chẳng hề gì, nhưng
đến ngày thứ sáu thì thấy sự việc chẳng xong,
nếu không cho bà ta xuất gia, thì không nỡ để bà
ta chết đói, cho nên bèn nói với bà ta :"Tôi cho
bà đi xuất gia, nhưng bà trước phải ăn uống đã
!" Song, bà ta nói : "Ông đã cho phép tôi xuất
gia thì trước phải xuống tóc cho tôi, sau đó tôi
mới ăn. Nếu không xuống tóc, đợi tôi ăn xong thì
ông không cho tôi xuất gia, lúc đó biết làm sao
?" Cưu Ma La Viêm thấy tình hình như vậy, bất
đắc dĩ mới đi thỉnh Hòa Thượng trụ trì ở Chùa
gần đó đến xuống tóc cho bà ta. Xuống tóc rồi bà
ta mới ăn uống, chính thức bắt đầu đời sống của
người xuất gia, học tập Phật pháp. Học tập Phật
pháp nhất định phải có tâm chân thành; nếu chẳng
có tâm thành, thì dù học bao lâu cũng chẳng
thành tựu. Vì bà ta quá thành tâm, dù chết cũng
muốn xuất gia, xem thường sống chết, buông xả
tất cả mọi thứ, cho nên "tĩnh cực quang thông
đạt", linh quang của bà ta hiện thông, mà chứng
được sơ quả.
Kì Bà chứng
được sơ quả rồi, thì dẫn Ngài Cưu Ma La Thập đến
Chùa lễ Phật. Ngài Cưu Ma La Thập lúc đó, là cậu
bé chỉ mới bảy tuổi. Khi vào Chùa thấy họ lạy
Phật, Ngài cũng lạy Phật, thấy họ thắp hương,
cũng thắp hương; lại thấy ở trước bàn Phật có lư
hương thật lớn, nhẹ nhất nặng cũng khoảng hơn
trăm lạng, nhưng Ngài chẳng phí chút sức lực,
bèn bưng lư hương lớn đó để lên đầu, rồi nghĩ
:"Ta chỉ là cậu bé bảy tuổi, sao lại có thể bưng
nổi lư hương lớn nặng như thế này ?" Trong tâm
Ngài vừa mới sinh tâm suy lường phân biệt, thì
cảm thấy lư hương đó nặng như ngàn cân, chẳng
chịu nổi được nữa, bèn buông lư hương rớt xuống
đất. Do đó, Ngài Cưu Ma La Thập ngộ được tất cả
trên thế gian đều do tâm tạo. Trước khi Ngài
chưa sinh tâm suy lường phân biệt, thì lư hương
nặng mà chẳng cảm thấy nặng, nhưng khi sinh tâm
phân biệt rồi, thì không nặng cũng nặng trở lại.
Ngài ngộ được "tất cả do tâm tạo ". Sau đó, Ngài
theo mẹ đi xuất gia, lạy Bàn Ðồ Bồ Ðạt Ða làm
thầy, tu học theo tiểu thừa, mỗi lần đọc tụng
một ngàn bài kệ, mỗi bài kệ có ba mươi sáu chữ,
cho nên mỗi ngày học ba vạn sáu ngàn chữ (số mục
này gấp hơn ba mươi lần Chú Lăng Nghiêm). Ngài
mới bảy tuổi, mà mỗi ngày học ba vạn sáu ngàn
chữ, sự thông minh trí huệ này, chẳng phải người
thường có thể sánh được. Vì Ngài học nhanh như
thế, chẳng bao lâu thì học hết toàn bộ Kinh điển
tiểu thừa, không những như thế mà Ngài còn học
pháp thế gian như : y dược, chiêm tinh, bói quẻ
.v.v.. Học hết pháp tiểu thừa và học vấn thế
gian rồi, Ngài đến Ấn Ðộ học pháp đại thừa. Khi
học pháp tiểu thừa, thì Ngài cảm thấy Kinh điển
tiểu thừa rất vi diệu. Về sau học pháp đại thừa,
mới biết pháp đại thừa là diệu trong diệu, không
thể nghĩ bàn. Ngài rất thông minh, lại siêng tu,
do đó sở học Kinh điển và học vấn vừa nhiều vừa
nhanh chóng. Ðó là giai đoạn Ngài Cưu Ma La Thập
học Phật pháp.
Khi Ngài học Kinh điển đại thừa viên mãn rồi,
Ngài trở về nước Quy Từ hoằng pháp, giáo hóa
chúng sinh. Vì Ngài khác lạ hơn người, cho nên
mọi người đều biết, đó là một vị Pháp sư lỗi
lạc. Ðương thời, có vị luận sư cho rằng, trên
thế gian này chẳng có ai biện luận thắng được
ông ta. Một ngày nọ, ông ta thách thức ra thông
cáo nói :"Nếu bất cứ người nào biện luận thắng
ta, thì ta sẽ cắt đầu của ta xuống để tạ ơn
người đó". Lúc đó, Ngài Cưu Ma La Thập đi ngang
qua đó, nghe luận sư nói như thế, thì hỏi ông ta
hai vấn đề, song vị luận sư này bí lối, nói
chẳng ra lời. Ðáng lẽ ông ta phải chém đầu để đa
tạ, nhưng lúc đó xả chẳng đặng chém đầu, do đó
lạy Ngài Cưu Ma La Thập làm thầy, học tập Phật
pháp.
Không lâu
Ngài Cưu Ma La Thập trở về nước cậu của Ngài
(nước Quy Từ). Cậu của Ngài rất cung kính Ngài,
dùng vàng tạo tòa sư tử thỉnh Ngài Cưu Ma La
Thập, đăng đàn giảng Kinh thuyết pháp. Nhưng lúc
đó, Ngài Cưu Ma La Thập có ý định chuẩn bị đi độ
thầy tiểu thừa của Ngài (Bàn Ðà Ðồ Ðạt Ða). Vì
có rất nhiều người tín ngưỡng thầy tiểu thừa của
Ngài, nếu độ được ông ta, thì cũng có thể độ
được rất nhiều người đến học pháp đại thừa. Cho
nên cậu của Ngài vì Ngài tạo tòa sư tử bằng
vàng, mà Ngài có ý định muốn ra đi đến độ thầy
của Ngài. Do đó, cậu của Ngài định sẽ khởi ấn
tượng chẳng tốt đối với Ngài. Ðịnh sẽ nghĩ thế
này :"Ngài là cháu ngoại tộc, chẳng có chút tình
cảm nào, ta rất cung kính đối với Ngài, còn vì
Ngài tạo tòa bằng vàng, mà cuối cùng chẳng giữ
Ngài lại được". Nhưng vừa đúng lúc đó, Ngài Bàn
Ðà Bồ Ðạt Ða đến nước Quy Từ, cho nên Ngài Cưu
Ma La Thập và vua đều đi ra ngoài xa đón rước.
Vua hỏi
Ngài Bàn Ðà Bồ Ðạt Ða rằng :"Tại sao xa xôi mà
Ngài đến nước của ta ?" Ngài Bàn Ðà Bồ Ðạt Ða
nói :"Thứ nhất, tôi nghe nói vua rất tin Phật
pháp, cung kính Tam Bảo, cho nên tôi đến để gặp
bệ hạ. Thứ hai, tôi nghe nói Cưu Ma La Thập,
pháp sư bây giờ pháp duyên thịnh đại, cho nên
tôi đến thăm". Do đó, vua thỉnh Ngài Bàn Ðà Bồ
Ðạt Ða vào cung ở với Ngài Cưu Ma La Thập. Ngài
Cưu Ma La Thập thấy thầy của Ngài đã đến, bèn vì
ông ta giảng "Kinh Ðức Nữ Sở Vấn" (Ðức Nữ Sở Vấn
đại thừa Phật giáo đạo lý). Giảng xong thì thầy
của Ngài nói :"Ông cảm thấy giáo lý đại thừa có
chỗ nào cao siêu ? có chỗ nào đặc biệt ? Ông bỏ
tiểu thừa mà học đại thừa, giáo lý đại thừa là
nói về không, không tức là gì cũng chẳng có, ông
học nó có ích gì ? Không, vốn là không, sao ông
lại đi học ?" Ngài Cưu Ma La Thập nói :"Trong
(cái) không lại có (cái) có ; trong chân không
mới có diệu hữu, trong diệu hữu tức cũng là chân
không. Pháp đại thừa mới là pháp cứu kính triệt
để, chẳng giống như tiểu thừa, có quá nhiều danh
tướng, quá câu thúc, chẳng đắc được giải thoát".
Sư phụ của
Ngài đáp :"Bây giờ ta đưa ví dụ ra để bác đạo lý
của ông nói. Ví như : có người cuồng nhờ một
người thợ dệt để dệt cho y, dệt xong một tấm lụa
mịn vô cùng đưa cho người cuồng xem, nhưng người
cuồng còn chê là thô nói :"Dệt chưa được khéo
lắm". Lúc đó người thợ dệt gạt người cuồng nói
:"Anh nói tấm này thô, bất quá bây giờ tôi còn
có một tấm lụa mịn đẹp ở trong hư không". Thợ
dệt lấy tay chỉ vào hư không kêu người cuồng
xem, người cuồng nhìn chẳng thấy bèn nói :
"Chẳng có ! Trong hư không chẳng có tơ lụa gì
hết !" Người thợ dệt đáp :"Tấm lụa đó ở trong hư
không, mịn tinh vi lắm, dù tôi là thợ dệt cũng
nhìn chẳng thấy, huống gì anh chẳng phải là thợ
dệt, thì làm sao nhìn thấy được !" Người cuồng
nghe nói cho rằng rất có lý, do đó thưởng cho
người thợ dệt một số vàng. Về sau, rất nhiều thợ
dệt cũng như thế, đến gạt người cuồng nói :"Sự
dệt lụa của tôi ở trong hư không rất tinh vi,
mịn nhuyễn vô cùng, chẳng có ai có thể sánh
được". Người cuồng nghe nói thì cũng cho họ rất
nhiều tiền. Pháp đại thừa mà ông nói tức là
không, trong không mới có diệu hữu, mà nhìn
chẳng thấy, giống như ví dụ vừa rồi".
Ngài Cưu Ma La Thập nói chẳng phải, do đó lại vì
thầy của Ngài giảng rất nhiều diệu pháp đại
thừa, và biện luận hơn một tháng mới thuyết phục
được thầy tiểu thừa của Ngài. Lúc đó, Ngài Bàn
Ðà Bồ Ðạt Ða hiểu đạo lý chân không diệu hữu của
đại thừa rồi, nói với Ngài Cưu Ma La Thập :"Bây
giờ ta phải lạy ông làm thầy". Ngài Cưu Ma La
Thập nói :"Ðó thì không được, trước kia tôi lạy
thầy làm thầy, bây giờ sao thầy lại lạy tôi làm
thầy ?" Ngài Bàn Ðà Bồ Ðạt Ða nói :"Tôi là thầy
tiểu thừa của ông, ông là thầy đại thừa của tôi,
ai nấy đều có thầy của thừa đó, đó chẳng có gì
quan hệ". Ông ta nói như thế thì Ngài Cưu Ma La
Thập thu thầy của Ngài làm đệ tử. Từ câu chuyện
Ngài Bàn Ðà Bồ Ðạt Ða trở lại lạy đệ tử làm
thầy, chúng ta có thể biết người xưa chẳng có
"ngã tướng" (cái ta), mà là lấy đạo làm thầy,
chỉ cần đạo đức của bạn cao hơn tôi, thì tôi lạy
bạn làm thầy mà chẳng có quan niệm về ngã tướng
(tướng ta).
Khi Ngài Cưu Ma La Thập ở nước Quy Từ, thì có
một lần thời tiết hạn hán, không mưa, lúc đó
Ngài hiển thần thông cầu mưa, Ngài bày pháp đàn
rồi, tiên đoán nội trong ba ngày, chắc chắn sẽ
có mưa, quả nhiên đến ngày thứ ba thì mưa xuống,
cho nên phần đông nhân dân càng thêm cung kính
tín ngưỡng Ngài Cưu Ma La Thập. Từ đó, có nhiều
vị quốc vương thỉnh mời Ngài Cưu Ma La Thập đăng
đàn giảng Kinh thuyết pháp, dùng thân làm tòa
ngồi ; tức là ông vua dùng thân thể của mình làm
tòa, để cho Ngài Cưu Ma La Thập ngồi lên giảng
Kinh thuyết pháp. Ðó là biểu thị sự cung kính,
sùng bái nhất đối với Phật pháp. Ngài Cưu Ma La
Thập đi khắp nơi xứ Ấn Ðộ giảng Kinh thuyết
pháp, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng
sinh. Lúc thiếu thời, Ngài theo mẹ đi các nơi
tham phương, thì gặp một vị La Hán. Vị La Hán
này nói với mẹ của Ngài :"Bà phải bảo hộ chú
tiểu Sa Di này, chú tiểu Sa Di này chẳng phải
người thường. Nếu chú tiểu này đến ba mươi tuổi
mà không phá giới, chuyên cần giữ gìn giới luật,
thì sẽ giáo hoá độ được rất nhiều người, như tổ
thứ tư Ưu Ba Cúc Ða". Ngài Cưu Ma La Thập rất
tin lời của vị La Hán nói với mẹ của Ngài. Mẹ
của Ngài chứng đến tam quả A La Hán rồi, quán
sát biết được tương lai nhân duyên con của mình,
cho nên nói với Ngài :"Tương lai con sẽ độ chúng
sinh ở đông độ (Trung Quốc), nhưng đối với thân
con bất lợi vô cùng". Ngài Cưu Ma La Thập nói
:"Chỉ cần con lưu truyền hoằng dương Phật pháp
đến đông độ, thì bất cứ gian nan khốn khổ cách
mấy con cũng phải thực hành. Vì Bồ Tát phát tâm
không vì mình, chỉ vì chúng sinh". Ðó là lúc đó
Ngài Cưu Ma La Thập đã phát đại bồ đề tâm, muốn
hoằng dương Phật pháp đến Trung Quốc.
Bây giờ, nói về tình hình khi Lữ Quang bắt Ngài
Cưu Ma La Thập đưa về Tây Lương. Lúc đó, Lữ
Quang có một cận thần tên là Trương Tri bị bệnh
nặng, có một vị Bà La Môn gạt nói y có thể trị
lành bệnh cho Trương Tri, nhưng Ngài Cưu Ma La
Thập biết người này lường gạt, bèn nói với Lữ
Quang rằng :"Dù ông bỏ ra bao nhiêu tiền cũng
không thể trị lành bệnh cho Trương Tri, tôi có
thể chứng minh cho ông xem. Bây giờ tôi đốt sợi
chỉ ngũ sắc thành tro, sau đó bỏ vào trong nước.
Nếu tro biến trở lại chỉ ngũ sắc, thì bệnh của
Trương Tri không thể chữa khỏi, còn nếu tro
trong nước vẫn là tro, thì Trương Tri sẽ hết
bệnh". Khi thử xem thì tro chưa vào trong nước
đã biến trở lại thành chỉ ngũ sắc. Không lâu quả
nhiên Trương Tri qua đời, mà Lữ Quang cũng tốn
một số vàng vẫn chẳng ích gì. Ðó là cảnh giới
thần thông của Ngài Cưu Ma La Thập, chẳng phải
một số phàm phu dò biết được.
Sau khi Lữ
Quang qua đời, con là Lữ Toản lên thay thế. Khi
Lữ Toản đương triều năm thứ hai, thì có con heo
ba đầu sinh ra, và còn có người thấy một con
rồng từ phương đông thăng lên, cuộn tròn chiếm
cứ ở trước cung điện, cho đến tối mới ẩn mất, Lữ
Toản cho rằng đó là điềm tốt, cho nên đặt tên
cho hoàng cung là "Bàn Long" (rồng cuộn tròn).
Lại có người nhìn thấy một con rồng đen ở ngoài
cửa thành ngự phòng, Lữ Toản lại đem tên "Cửu
Cung áp" đổi lại là "Thăng Long áp". Nhưng Ngài
Cưu Ma La Thập nói với Lữ Toản rằng :"Những con
rồng này thị hiện là điềm xấu vô cùng, những thứ
rồng này xuất hiện thì cho biết trong nước sẽ có
tai nạn. Nếu lập tức tu bồi công đức thì sẽ hóa
giải tai hại". Nhưng Lữ Toản quyết chí đương đầu
chẳng biết sợ gì cả. Một ngày nọ, Lữ Toản đánh
cờ với Ngài Cưu Ma La Thập, Lữ Toản ăn con cờ
(con chốt) của Ngài và nói :"Tôi chém đầu Hồ
Nô". Ngài Cưu Ma La Thập ăn con ngựa và nói
:"Anh không thể chém đầu Hồ Nô mà Hồ Nô sẽ chém
đầu nhà ngươi ". Ngài Cưu Ma La Thập nói lời đó
là để cảnh tỉnh Lữ Toản, nhưng anh ta thủy chung
chẳng ngộ. Lữ Quang có người em tên là Lữ Bảo,
có con tên là Lữ Siêu, lúc nhỏ tên là Hồ Nô, Lữ
Siêu lúc đó đang âm mưu muốn ám sát Lữ Toản.
Chẳng bao lâu, Lữ Siêu quả nhiên giết chết Lữ
Toản, lập anh là Lữ Long lên làm hoàng đế. Lúc
đó, mới có người biết sự tiên đoán của Ngài Cưu
Ma La Thập là đúng. Lữ Long lên ngôi tại Kinh
Châu rồi, Diêu Hưng phát binh đến đánh, rước
Ngài Cưu Ma La Thập trở về Trung Quốc.
Ngài Cưu Ma La Thập đến được Trường An, thì được
tôn làm Quốc Sư. Ngài đứng đầu về trung tâm
phiên dịch Kinh, gồm hơn tám trăm vị Tăng và các
vị học giả. Ngài dịch được hơn ba trăm quyển
Kinh. Chúng ta có thể chứng minh Kinh của Ngài
dịch rất chính xác vô cùng. Khi Ngài Cưu Ma La
Thập sắp viên tịch, Ngài yêu cầu trà tỳ (hoả
thiêu) và nói :"Trong cuộc đời của tôi đã dịch
rất nhiều Kinh điển, nhưng chính tôi cũng không
biết trong lời Kinh có chính xác hay chăng ? Nếu
chính xác thì khi thiêu thân của tôi, lưỡi không
bị cháy, còn nếu sai lầm thì lưỡi cũng cháy
luôn". Quả nhiên thiêu xong thì thân thể cháy
thành tro, duy chỉ cái lưỡi vẫn an nhiên như
sống không hủy hoại. Vào đời Ðường, Ngài Ðạo
Tuyên Luật Sư (giữ giới trong sạch, được cảm ứng
chư Thiên thường đem cơm cúng dàng), có một lần
Ngài hỏi chư Thiên :"Tại sao người đời thích đọc
Kinh điển, do Ngài Cưu Ma La Thập dịch ?" Chư
Thiên đáp :"Ngài Cưu Ma La Thập đời đời đều phát
nguyện : Mỗi khi Phật xuất hiện ra đời, Ngài đều
lãnh trách nhiệm phiên dịch Kinh điển. Bảy vị
Phật trong quá khứ cho đến hiện tại, Kinh điển
đều do Ngài phiên dịch ra, rất tuyệt đối chính
xác".
Ngài Cưu Ma
La Thập tinh thông Tam Tạng : Kinh, luật, luận,
cho nên xưng là "Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La
Thập". "Cưu Ma La Thập" là tiếng Phạn dịch là
"đồng thọ". Ngài tuy là đồng tử, nhưng có đủ
phong độ của bậc trưởng giả : về đức hạnh, trí
huệ và phẩm học. Cho nên, Diêu Tần Tam Tạng Pháp
Sư Cưu Ma La Thập, tức là người dịch Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa từ tiếng Phạn ra tiếng Hán.