KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 05
Quyển 07
Phẩm đà la ni thứ hai mươi sáu
Ðà la ni dịch là
tổng trì, tức là tổng tất cả các pháp, trì
vô lượng nghĩa, cũng có thể nói là nhiếp ba
nghiệp (thân khẩu ý) thanh tịnh, giữ sáu căn
(mắt tai mũi lưỡi thân ý). Nhiêp tâm thì có
thể nói là nhiếp tâm giữ thân. Nhiếp tâm thì
có thể đắc được tam muội pháp hoa, giữ thân
thì có thể đắc được Ðà la ni pháp hoa.
Làm thế nào có thể nhiếp thân khẩu ý ba nghiệp
thanh tịnh ? Tức là thân chẳng phạm giới
sát, trộm, dâm ba điều ác, miệng chẳng phạm
nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi và chưởi
mắng bốn điều ác, ý chẳng phạm tham sân si
ba điều ác. Chẳng phạm mười điều ác này, mà
thực hành mười điều thiện, thì ba nghiệp sẽ
thanh tịnh.
Làm thế nào giữ mắt
tai mũi lưỡi thân ý sáu căn tự tại diệu dụng
? Nếu ba nghiệp thanh tịnh, thì sáu căn tự
nhiên sẽ được thanh tịnh. Thanh tịnh rồi thì
tự nhiên thì sẽ đắc được cảnh giới sáu căn
dụng với nhau.
Ðà la ni còn dịch là chú. Chú hay sinh thiện
diệt ác, bảo hộ hành giả được cát tường như
ý. Chú cũng giống như chiếu chỉ của hoàng
đế, quan dân nhất định phải tuân lệnh. Lại
giống như khẩu lệnh ở trong quân đội, người
trong quân đội đều biết rõ, nếu không thì sẽ
bị xử phạt, hoặc có sự nguy hiểm đến tính
mạng.
Phẩm này do Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát dũng
Thí, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Trì Quốc Thiên
Vương, mười nữ la sát phát nguyện nói ra các
bài chú, dùng thần lực để trì Kinh Pháp Hoa,
khiến cho những pháp sư thọ trì, đọc tụng,
giải nói, biên chép Kinh Pháp Hoa, ở trong
đời ác, tâm cung kính. Bèn nói với Phật, đó
là biểu thị miệng cung kính. Người thỉnh
pháp nhất định phải ba nghiệp thanh tịnh,
mới biểu thị chân tâm thành ý cung kính.
Bồ Tát Dược Vương
nói : ‘’Ðức Thế Tôn ! Nếu như tương lai có
người thiện nam, người thiện nữ, phát tâm
thọ trì (thọ nơi tâm, trì nơi thân) Kinh
Pháp Hoa, hoặc là đọc (thuộc lòng) Kinh Pháp
Hoa, chẳng những thông đạt nghĩa lý, mà còn
đọc tụng rất nhanh, toàn bộ quyển kinh chẳng
sai một chữ, chẳng sót một câu, đó tức là
thuộc lòng. Hoặc cung kính biên chép quyển
Kinh Pháp Hoa, hoặc giảng giải Kinh Pháp
Hoa. Pháp sư làm như thế thì đắc được phước
báu bao nhiêu’’?
Ðức Phật bảo Dược Vương : Nếu có người
thiện nam, người thiện nữ, cúng dường tám
vạn ức na do tha Hằng hà sa các đức Phật,
thì ý của ông thế nào ? Phước báu đó đắc
được có nhiều chăng ? Rất nhiều, đức Thế
Tôn.
Ðức Phật bảo Bồ Tát Dược Vương rằng : ‘’Ở đời
vị lai, nếu có người thiện nam, người thiện
nữ nào cúng dường tám trăm vạn ức na do Hằng
hà sa số các đức Phật, thì ông cảm thấy thế
nào ? Họ đắc được phước báu có nhiều chăng
?’’ Bồ Tát Dược Vương nói : ‘’Ðức Thế Tôn !
Rất nhiều, rất nhiều ! Chẳng cách gì tính
đếm được.’’
Ðức Phật nói : Nếu có người thiện nam,
người thiện nữ, hay ở nơi kinh này, cho đến
thọ trì bài kệ bốn câu, đọc tụng hiểu nghĩa,
theo như lời trong kinh nói mà tu hành, thì
công đức rất nhiều.
Ðức Phật lại nói với Bồ Tát Dược Vương : ’’Nếu
như có người thiện nam, hoặc người thiện nữ,
ở nơi Kinh Pháp Hoa, mà thọ trì một bài kệ
bốn câu, hoặc là đọc tụng, hoặc là thấu hiểu
nghĩa lý vì người khác nói, hoặc là y theo
pháp tu hành, thì công đức đắc được nhiều
hơn so với công đức của người cúng dường,
tám trăm vạn ức na so tha Hằng ha sa số các
Ðức Phật.
Bấy giờ, Bồ Tát Dược Vương bạch đức Phật
rằng : Ðức Thế Tôn ! Con nay vì người thuyết
pháp mà nói chú đà la ni, để bảo hộ họ, bèn
nói chú rằng:
Lúc đó, Bồ Tát Dược Vương nghe Ðức Phật nói
pháp rồi, bèn bạch với Phật rằng : ‘’Ðức Thế
Tôn ! Bây giờ con sẽ vì pháp sư đọc tụng,
giảng nói, tu trì Kinh Pháp Hoa, mà nói chú
đà la ni, để bảo hộ vị pháp sư đó, khiến cho
thân tâm họ an ổn, khiến cho họ chuyên tâm
giảng giải.’’ Bèn lập tức nói thần chú. Chú
là mật ngữ của chư Phật, hay hàng phục thiên
ma ngoại đạo, ác quỷ tà thần.
Thuở xưa dịch kinh
có năm quy định không dịch:
1). Bí mật không dịch : Như lời chú.
2). Tôn trọng không dịch : Như Bát nhã, Bồ Ðề.
3). Thuận cổ không dịch : Như A nậu đa la tam
miệu tam bồ đề.
4). Ða hàm không dịch: Như Tỳ Kheo, A la hán.
5). Thử phương vô bất dịch : Như quả Án ma la.
Nguyên nhân chú không dịch, là muốn bảo trì âm
phạn, mới có thể thu nhận được công hiệu của
chú, chỉ cần niệm âm vần cho đúng, thì sẽ có
cảnh giới không thể nghĩ bàn, quan hệ về ý
nghĩa của chú là chẳng cần biết rõ.
An nhĩ mạn nhĩ, ma nỉ ma ma nỉ, chỉ lệ giá
lê đệ, xa mị, sa lý đa vĩ, chiên đế, mục đế,
mục đa lý, sa lý, a vĩ sa lý, tang lý, sa
lý, soa duệ, a xoa dụê, a kỳ nị, chiên đế,
sa lý, đa la ni, a lô già bà sa, bả già tỳ
xoa nị, nỉ tỳ thế, a tiện đa la nỉ, lý thế a
đàn đa ba lệ thâu địa, âu cứu lệ, mâu cứu
lệ, a la lệ, ba la lệ, thủ ca sai, a tam ma
tam lý, Phật đà tỳ cát lợi biểu đế, đạt ma
ba lợi sai đế, tăng già niết cù sa nỉ, bà xá
bà xá thâu địa, mạn đa la, mạn đa la xoa dạ
đa, bưu lâu đa, bưu lâu đa kiều xá lược, ác
xoa la, ác xoa dã, a bà lô, a ma nhược na đa
dạ.
Ðức Thế Tôn !
Thần chú đà la ni này, là của sáu mươi hai
ức Hằng hà sa các đức Phật nói. Nếu có kẻ
nào xâm hủy vị pháp sư này, tức là xâm huỷ
các đức Phật vậy.’’
Bồ Tát Dược Vương nói xong thần chú ở trên
rồi, lại bạch với Ðức Phật rằng : ’’Ðức Thế
Tôn ! Thần chú đà la ni này, chẳng phải con
nói, mà là của sáu mươi hai ức các Ðức Phật
trong quá khứ nói. Nếu như có kẻ thiên ma
ngoại đạo, ác quỷ tà thần đến xâm hủy vị
pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, đọc tụng Kinh
Pháp Hoa, giải nói Kinh Pháp Hoa, biên chép
Kinh Pháp Hoa, thì tội cũng như xâm hủy sáu
mươi hai ức Hằng hà sa số các đức Phật.’’
Lúc đó, đức Phật Thích Ca Mâu Ni khen ngợi
Bồ Tát Dược Vương nói : Lành thay, lành thay
! Dược Vương, ông vì có tâm thương xót ủng
hộ vị pháp sư đó, mà nói đà la ni này, rất
có lợi ích đối với các chúng sinh.
Lúc đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni khen ngợi Bồ
Tát Dược Vương rằng : ‘’Lành thay, lành
thay! Ông có tâm thương xót vì ủng hộ vị
pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, mà nói ra
thần chú đà la ni này. Thần chú này rất có
lợi ích đối với chúng sinh ở trong tương
lai.’’
Bấy giờ, Bồ Tát Dũng Thí bạch đức Phật rằng
: Ðức Thế Tôn ! Con cũng vì ủng hộ người thọ
trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa, mà nói đà la ni.
Nếu vị pháp sư đó được đà la ni này, thì dạ
xoa, hoặc la sát, hoặc phú đơn na, hoặc cát
giá, hoặc cưu bàn trà, hoặc ngạ quỷ, muốn
tìm cầu lỗi lầm của người đó, thì không thể
được tiện lợi, bèn ở trước Phật nói chú
rằng:
Lúc đó, lại có vị đại Bồ Tát tên là Bồ Tát
Dũng Thí bạch với Ðức Phật rằng : ‘’Ðức Thế
Tôn ! Con cũng phát tâm ủng hộ vị pháp sư
đọc tụng, thọ trì, giải nói, biên chép Kinh
Pháp Hoa, cho nên nói thần chú đà la ni,
khiến cho vị pháp sư đó, đắc được sự bảo hộ
của thần chú, thân tâm được yên ổn.’’
Hoặc có dạ xoa, dịch là quỷ tiệp tật; hoặc có
la sát, dịch là quỷ ăn người; hoặc có phú
đơn na, dịch là quỷ thối vị; hoặc có cát
giá, dịch là khởi tử; hoặc có cưu bàn trà,
dịch là quỷ yểm mị; hoặc có ngạ quỷ .v.v...
Những loài quỷ này, chuyên môn tìm người
nhiễu hại. Nếu người thế gian âm nhiều dương
ít (làm nhiều việc ác), thì chúng sẽ đến xâm
hại. Nếu người thế gian âm ít dương nhiều
(làm nhiều việc thiện), thì chúng sẽ xa lìa
chẳng dám gần gũi, do đó có câu ‘’tà chẳng
thắng chánh’’.
Những ác quỷ đó, tìm chỗ sơ hở của người thọ
trì Kinh Pháp Hoa cũng chẳng có cơ hội tìm
được, cho nên chẳng có phương tiện nhiễu hại
người thọ trì Kinh Pháp Hoa.
Bồ Tát Dũng Thí vì ủng hộ người thọ trì Kinh
Pháp Hoa, cho nên ở trước Ðức Phật nói ra
bài chú dưới đây.
Ế lệ, ma nha ế lệ, úc chỉ, mục chỉ, a lệ, a
la bà đệ, niết lệ đệ, niết lệ đa bà đệ, y
trí, ni vĩ trí ni, chỉ trí ni, niết lệ tê
ni, niết lê tê bà để.
Ðức Thế Tôn ! Thần chú đà la ni này, của Hằng
hà sa các đức Phật nói, cũng đều tùy hỉ. Nếu
có xâm hủy vị pháp sư đó, tức là xâm hủy chư
Phật đó vậy.
Bồ Tát Dũng Thí nói thần chú rồi, lại nói :
‘’Ðức Thế Tôn ! Thần chú đà la ni này chẳng
phải con nói, mà là của Hằng hà sa các đức
Phật trong quá khứ nói. Chẳng những chư Phật
nói chú này, mà còn tùy hỉ ủng hộ chú này.
Nếu như có thiên ma ngoại đạo, ác quỷ thần
đến xâm hủy vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp
Hoa, thì tội cũng như gián tiếp xâm hủy Hằng
hà sa số các Ðức Phật.’’
Bấy giờ, Tỳ Sa Môn Thiên Vương hộ đời bạch
Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Con cũng vì thương
xót chúng sinh, ủng hộ vị pháp sư đó, mà nói
đà la ni này, bèn nói chú rằng:
Bồ Tát Dũng Thí nói công đức trì chú này rồi,
thì lúc đó Tỳ Sa Môn Thiên Vương (một trong
bốn vị tứ thiên vương hộ đời, tức là Bắc
Phương Ða Văn Thiên Vương) bèn bạch với Ðức
Phật rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Con cũng thương
xót hộ niệm chúng sinh, ủng hộ vị pháp sư
thọ trì Kinh Pháp Hoa, mà nói thần chú đà la
ni’’, bèn nói chú rằng:
A lê, na lê, na lê, a na lô, na lý, câu na
lý.
Ðức Thế Tôn ! Con dùng thần chú này, ủng hộ vị
pháp sư, con cũng sẽ tự ủng hộ người trì
kinh này, khiến cho nội trong một trăm do
tuần, chẳng có các sự rủi ro hoạn nạn.
Tỳ Sa Môn Thiên Vương lại nói : ‘’Ðức Thế Tôn
! Con dùng thần chú này, để ủng hộ vị pháp
sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, và bổn thân con
cũng sẽ ủng hộ người thọ trì Kinh Pháp Hoa
này, khiến cho nội trong một trăm do tuần,
tứ phía chẳng có sự rủi ro hoạn nạn.’’
Bấy giờ, Trì Quốc Thiên Vương ở trong hội
này, cùng với ngàn vạn ức na do tha chúng
Càn thát bà, cung kính vây quanh, đi đến
trước đức Phật, chắp tay hướng về đức Phật
bạch rằng : Ðức Thế Tôn ! Con cũng dùng thần
chú đà la ni, ủng hộ người thọ trì Kinh Pháp
Hoa, bèn nói chú rằng:
Sau khi Tỳ Sa Môn Thiên Vương nói xong lời
nguyện ở trên rồi, thì lúc đó đông phương
Trì Quốc Thiên Vương ở trong hội Pháp Hoa,
cùng với ngàn vạn ức na do tha chúng Càn
thát bà, cung kính vây quanh đi đến trước
chốn Ðức Phật, chắp tay lại bạch với Phật
rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Con cũng dùng thần
chú đà la ni để ủng hộ người thọ trì Kinh
Pháp Hoa.’’ Bèn nói thần chú rằng:
A già nỉ, già nỉ, cù lợi, càn đà lợi, chiên
đà lợi, ma đặng kỳ, thường cầu lợi, phù lâu
sa ni, át để.
Ðức Thế Tôn ! Thần chú đà la ni này, của bốn
mươi hai ức các đức Phật nói. Nếu có kẻ nào
xâm hại hủy phạm vị pháp sư đó, tức là xâm
hại hủy phạm các đức Phật đó vậy.
Trì Quốc Thiên Vương nói : ‘’Ðức Thế Tôn !
Thần chú đà la ni này, là của bốn mươi hai
ức các Ðức Phật nói. Nếu như thiên ma ngoại
đạo, ác quỷ tà thần, đến xâm hại hủy phạm vị
pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, thì tội cũng
như xâm phạm hủy hại bốn mươi hai ức các Ðức
Phật.’’
Bấy giờ, có các nữ La sát, một tên là Lam
Bà, hai tên là Tỳ Lam Bà, ba tên là Khúc Sỉ,
bốn tên là
Hoa Sỉ, năm tên là Hắc Sỉ,
sáu tên là Ða Phát, bảy tên là Vô Yểm Túc,
tám tên là Trì Anh Lạc, chín tên là Cao Ðế,
mười tên là Ðoạt Nhất Thiết Chúng Sinh Tinh
Khí. Mười nữ la sát đó, cùng với quỷ tử mẫu
và con cái, quyến thuộc của chúng, cùng đến
chỗ đức Phật, đồng thanh hướng về đức Phật
bạch rằng:
Lúc đó có mười quỷ la sát.
1). Lam Bà : Dịch là trói buộc.
2). Tỳ Lam Bà : Dịch là cởi trói buộc.
3). Khúc Sỉ : Răng hình uống cong.
4).
Hoa Sỉ : Răng hình như hoa.
5). Hắc Sỉ : Răng màu đen.
6). Ða Phát : Chẳng những đầu có nhiều tóc, mà
lông trên mình cũng dài như tóc.
7). Vô yểm Túc : Tham chẳng biết chán, chẳng
có khi nào biết đủ.
8). Trì Anh Lạc : Trong tay đều cầm sâu chuỗi,
chẳng khi nào bỏ xuống.
9). Cao Ðế.
10). Ðoạt Nhất Thiết Chúng Sinh Tinh Khí.
Nữ la sát là ác quỷ ăn người. Chúng rất xinh
đẹp, mà tính tình rất hung ác, người định
lực không đủ mà gặp chúng, thì sẽ bị mê
hoặc, chưa đến một trăm ngày thì tinh khí sẽ
hết, bị chúng ăn thịt. Song, mười vị nữ la
sát này, đã cải tà trở về chánh, làm thiện
thần hộ pháp.
Trong tâm của con
người có bảy giọt nước ngọt, dưỡng tinh khí
thần. Nếu bị quỷ ăn đi một giọt, thì khiến
cho đau đầu, bị quỷ ăn đi ba giọt, thì khiến
cho con người bất tỉnh nhân sự. Nếu bị quỷ
ăn đi bảy giọt, thì tinh khí thần sẽ hết,
khiến cho người chết. Một lòng đọc tụng Kinh
Pháp Hoa, thì tất cả ác quỷ tà thần nghe
tiếng mà bỏ đi, chẳng dám đến nhiễu loạn.
Trước kia, ở
Trung Quốc có vị pháp sư, khi
giảng kinh thì có rất nhiều thiện nam tín nữ
đến cúng dàng. Tại sao? Vì nghe pháp sư
giảng kinh thì trong sự vô hình, đắc được vô
lượng công đức, và có thể tiêu tai sống lâu,
nhất cử được hai. Có những pháp sư tuy nhiên
xuất gia, nhưng mắt chẳng tỏ, không thể tụng
kinh, càng không thể giảng kinh, cho nên đối
với tín đồ nói sai lầm rằng : Tu hành là tu
hành, hà tất phải giảng kinh, hà tất phải
nghe kinh. Ðó là người mù, là tư tưởng của
ma con ma cháu. Nếu xuất gia tu hành mà
chẳng nghe kinh, thì cũng giống như người
đui tu luyện mù, cuối cùng chẳng đắc được gì
cả. Dù có tu đến trần sa kiếp cũng chẳng
thành tựu. Ví như nấu cát chẳng bao giờ
thành cơm. Người tu hành mà chẳng học giáo
lý, thì tu đi tu lại vẫn là người hồ đồ,
thật là đáng thương xót.
Mười vị nữ la sát và quỷ tử mẫu, cùng với con
cái quyến thuộc của chúng, cùng nhau đến chỗ
Ðức Phật, mọi người khác miệng cùng tiếng
hướng về Ðức Phật thưa.
Ðức Thế Tôn ! Chúng con cũng muốn ủng hộ
người thọ trì đọc tụng Kinh Pháp Hoa, khiến
cho họ được tiêu trừ rủi ro hoạn nạn. Nếu có
kẻ nào rình tìm lỗi lầm của pháp sư, thì
khiến cho họ chẳng được tiện lợi, bèn ở
trước đức Phật mà nói chú rằng:
‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con xin nguyện ủng hộ vị
pháp sư đọc tụng, giải nói, biên chép, thọ
trì Kinh Pháp Hoa, để khiến cho họ tiêu trừ
mọi sự khốn kkhổ hoạn nạn. Nếu như thiên ma
ngoại đạo, ác quỷ ta thần đến tìm lỗi lầm
của vị pháp sư, làm nhiễu loạn vị pháp sư
thì chúng con sẽ ủng hộ vị pháp sư, khiến
cho tất cả ma quỷ chẳng tiện lợi đến nhiễu
loạn thân tâm của pháp sư, bèn ở trước Phật
nói ra thần chú dưới đây.
Y đề lý, y đề mẫn, y đề lý, a đề lý, y đề
lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, lâu
ê, lâu ê, lâu ê, lâu ê, đa ê, đa ê, đa ê,
đâu ê, nâu ê.
Thà ngồi lên đầu
chúng con, chớ đừng não hại vị pháp sư. Nếu
dạ xoa, hay la sát, hoặc ngạ quỷ, phú đơn
na, cát giá, tỳ đà la, kiền đà, ô ma lặc
già, a bạt ma la, dạ xoa cát giá, nhân cát
giá, hoặc nhiệt não. Hoặc một ngày, hai
ngày, ba ngày, bốn ngày, hoặc đến bảy ngày,
hoặc thường nhiệt não. Hoặc hình nam, hình
nữ, hoặc hình đồng nam, hoặc hình đồng nữ,
cho đến ở trong mộng, cũng không cho những
loài quỷ đó làm não hại vị pháp sư. Bèn ở
trước đức Phật nói bài kệ rằng:
Mười nữ la sát và quỷ tử mẫu thưa với Ðức Phật
rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con thà để cho
những loài quỷ đó ngồi ở trên đầu chúng con,
hoặc đại tiểu tiện lên đầu chúng con, đều có
thể nhẫn chịu được, chứ chẳng cho họ đi
nhiễu loạn vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa.
Bất luận là dạ xoa, la sát, ngạ quỷ, phú đơn
na, cát già, tỳ đà la (quỷ màu đen), a bạt
ma la (quỷ màu xanh), dạ xoa cát giá, nhân
cát giá, nhiệt não. Hoặc là một ngày, hoặc
hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, cho
đến bảy ngày, hoặc thường nhiệt não, hoặc có
hình quỷ nam, hình quỷ nữ, hình quỷ đồng
nam, hình quỷ đồng nữ, cho đến ở trong mộng,
cũng chẳng cho những lũ quỷ đó đến nhiễu hại
vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa.’’ Bèn ở
trước Ðức Phật nói bài kệ.
Nếu chẳng thuận chú con
Não loạn người nói pháp
Ðầu vỡ làm bảy mảnh
Như nhánh cây a lê.
Như tội giết cha mẹ
Cũng như vạ ép dầu
Cân đấu lường gạt người
Tội Ðiều Ðạt phá Tăng.
Xâm phạm pháp sư đó
Bị tai ương như thế.
Nếu như những lũ ác quỷ đó, chẳng thuận theo
thần chú của con, chúng đi xâm phạm hủy hại
vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, hoặc não
loạn vị pháp sư giải thích nói Kinh Pháp
Hoa, thì đầu của chúng tự nhiên sẽ vỡ làm
bảy mảnh, giống như cành cây a lê rớt xuống
đất, bị gảy làm thành bảy phần. Lại như đại
tội giết cha, giết mẹ, giết A
la Hán, sẽ bị đọa vào địa
ngục vô gián. Lại giống như vạ ép dầu, tạo
nghiệp sâu nặng. Thời xưa, ở Ấn Ðộ khi ép
dầu thì giã hạt mè ra cho thật nát, cố ý làm
cho sinh dòi, đợi khi dòi lớn lên cùng ép ra
làm dầu, chất dầu cũng rất nhiều và vị dầu
cũng rất thơm. Hàng ngàn hàng vạn sinh mạng
đều bị ép dầu mà chết. Lại giống như người
buôn bán chẳng có đạo đức, chuyên môn dùng
đấu lớn cân nhỏ để lường gạt người, tương
lai chắc chắn sẽ đọa địa ngục, giống như
Ðiều Ðạt tức là Ðề Bà Ðạt Ða, ông ta là phản
đồ của Phật giáo, ông ta phạm tội phá hoại
Tăng đoàn, lại phạm tội làm thân Phật chảy
máu, lại phạm tội giết A
la Hán, lại phạm tội xúi giục
vua A Xà Thế giết cha nhốt mẹ. Tóm lại, phạm
tội ngũ nghịch cho nên bị đọa vào địa ngục
lúc còn sống. Nếu có ai xâm phạm hủy hại vị
pháp sư trì Kinh Pháp Hoa, thì sẽ chịu những
tai ương như thế.
Các nữ la sát nói kệ đó rồi, bèn bạch đức
Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Chúng con cũng sẽ
ủng hộ, người thọ trì đọc tụng tu hành kinh
này, khiến cho họ được an ổn, xa lìa các sự
hoạn nạn, tiêu trừ các thuốc độc.
Mười nữ la sát nói xong bài kệ rồi, lại bạch
với Ðức Phật rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng
con cũng sẽ ủng hộ vị pháp sư thọ trì, đọc
tụng, tu hành, biên chép, giải nói, truyền
bá Kinh Pháp Hoa, khiến cho họ được an lạc,
thân tâm khinh an, xa lìa tất cả hoạn nạn,
tiêu trừ tất cả thuốc độc, bất cứ chất độc
mạnh nào cũng đều biến thành nước cam lồ.’’
Ðức Phật bảo các nữ la sát rằng : Lành
thay, lành thay ! Các ngươi chỉ ủng hộ người
thọ trì danh hiệu Kinh Pháp Hoa, mà phước
báu đã không thể lường được, hà huống là ủng
hộ đầy đủ người thọ trì Kinh Pháp Hoa, và
cúng dường quyển kinh.
Ðức Phật nói với mười nữ la sát rằng: ‘’Lành
thay, lành thay! Các ngươi ủng hộ người trì
danh hiệu Kinh Pháp Hoa, mà phước báu đắc
được đã không thể lường, hà huống là các
ngươi ủng hộ đầy đủ vị pháp sư thọ trì Kinh
Pháp Hoa, thì phước báu đắc được càng vô
lượng vô biên. Các ngươi lại thành tâm thành
ý dùng hương hoa để cúng dường quyển Kinh
Pháp Hoa, phước báu đắc được cũng không thể
nói. Tóm lại, ủng hộ Kinh Pháp Hoa thì có
công đức không thể nghĩ bàn.’’
Hoặc dùng hương hoa chuỗi ngọc, hương bột,
hương đốt, hương xoa, phan lọng, âm nhạc.
Ðốt các thứ đèn: Ðèn tô, đèn dầu, các thứ
đèn dầu thơm, đèn dầu hoa tô ma na, đèn dầu
hoa thiềm bặc, đèn dầu hoa bà sư ca, đèn dầu
hoa ưu bát la hoa, hết thảy trăm ngàn thứ
cúng dường như thế.
Cúng dường quyển Kinh Pháp Hoa, hoặc dùng các
thứ hoa, hoặc dùng các thứ hương, hoặc dùng
chuỗi, hoặc dùng các thứ hương bột, hương
hoa, hương đốt, có khi cúng dường tràng
phan, lọng báu, âm nhạc. Có khi đốt các thứ
đèn, hoặc đèn dầu tô, đèn dầu thơm, đèn dầu
hoa tô ma na (thiện ý), đèn dầu hoa thiềm
bặc (màu vàng), đèn dầu hoa bà xư ca (hạ
sinh), đèn dầu hoa ưu bát la (linh đan),
dùng các thứ hoa, hương, đèn như thế, để
cúng dường quyển Kinh Pháp Hoa, ước có hàng
trăm ngàn thứ.
Cao Ðế ! Các ngươi và quyến thuộc, nên ủng
hộ vị pháp sư như thế, khi đức Phật nói Phẩm
Ðà
La Ni này, thì có sáu vạn tám
nghìn người, đắc được vô sinh pháp nhẫn.
Ðức Phật gọi một tiếng: ‘’Cao Ðế! Các ngươi và
quyến thuộc, nên phát tâm nguyện, chân tâm
ủng hộ vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa.’’
Khi Phật nói xong Phẩm Ðà
La Ni này, thì có sáu vạn tám
ngàn người đắc được vô sinh pháp nhẫn. Vô
sinh pháp nhẫn là gì ? Tức là chẳng thấy có
chút pháp sinh, chẳng thấy có chút pháp
diệt, nhẫn thọ nơi tâm, tức cũng là biết rõ
các pháp vốn là không tịch, an trụ ở hiện
cảnh không sinh không diệt, do đó :
‘’Các pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng.’’