KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 05
Quyển 07
Phẩm Phổ Môn Bồ Tát Quán Thế Âm
Thứ hai mươi lăm
Phẩm
này gọi là Phẩm Phổ Môn, có rất nhiều ý
nghĩa. Bây giờ, trước hết giảng về ‘’Dược
châu‘’. Vì ‘’Dược châu’’ cho nên nói là
‘’Phẩm Phổ Môn’’.
‘’Dược’’ gọi là gì ? ‘’Dược’’ tức là cây
Dược Vương; ‘’châu’’ là gì ? ‘’Châu’’ tức là
châu như ý . Cây Dược Vương lại là gì ? Tức
là rất lâu xa về trước, có một người tiều
phu lên núi đốn củi, gánh ra chợ bán, gặp
một vị thầy thuốc. Vị thầy thuốc thấy trong
bó củi của ông ta gánh phóng ra hào quang,
do đó bèn mua số củi đó đem về nhà. Về đến
nhà mở bó củi ra xem, thì trong đó có một
cây Dược Vương, sau khi ông thầy thuốc được
cây Dược Vương rồi, thì bất cứ bệnh gì, chỉ
cần dùng cây Dược Vương gõ nhẹ lên thân
người bệnh, hoặc đánh nhẹ, thì bất cứ bệnh
gì cũng khỏi ngay, cứu được rất nhiều người,
do nhân duyên đó mà gọi là ‘’cây Dược
Vương’’.
‘’Châu’’ tức là châu như ý. Châu như ý là gì
? Như ý tức là toại tâm như ý, tức cũng là
khiến cho bạn hoan hỉ, mãn nguyện theo yêu
cầu của bạn. Bạn nghĩ muốn ăn gì, thì châu
như ý sẽ hiện ra vật ấy, bạn chẳng cần đi
mua. Bạn muốn mặc quần áo gì, thì chỉ cần
đối với hạt châu như ý nghĩ đến : ‘’Tôi muốn
một bộ quần áo đẹp nhất, hiếm có trên thế
gian’’, thì lúc đó hạt châu như ý sẽ hiện ra
bộ quần áo mà bạn thích. Thậm chí bạn muốn
căn nhà, thì nó cũng có thể hiện ra. Bạn
nghĩ : ‘’Tối nay tôi muốn ở trong một căn
nhà lộng lẫy đẹp nhất’’, thì hạt châu như ý
sẽ hiện ra căn nhà, ở xong đêm đó rồi, thì
ngày thứ hai căn nhà cũng tự động trở vào
trong hạt châu như ý. Bạn nghĩ muốn ăn gì,
thì hạt chây như ý sẽ hiện ra vật đó, cũng
chẳng nhiều cũng chẳng ít, rất vừa vặn. Bạn
mặc quần áo cũng chẳng cần sắm tủ đựng quần
áo, chỉ cần thay ra, thì quần áo tự động trở
vào trong hạt châu như ý, cho nên gọi là
‘’như ý’’.
Châu
như ý lớn cỡ nào ? Là một hạt châu rất nhỏ,
có thể mang trên mình, chẳng nặng cũng chẳng
chiếm mất chỗ, cho nên gọi là như ý, toại
tâm như ý, diệu đến cực điểm. Tóm lại, hạt
‘’châu như ý’’ cũng là Phẩm Phổ Môn Bồ Tát
Quán Thế Âm, cũng là cây Dược Vương. Hạt
châu như ý, hay toại tâm nguyện, chỉ cần bạn
trì tụng Phẩm Phổ Môn, thì cầu mong việc gì
cũng sẽ mãn nguyện. Nhưng chẳng phải hôm nay
tụng niệm, thì ngày mai có cảm ứng. Trước
hết, phải tạo cơ sở cho vững chắc, cũng như
xây nhà lầu, thì trước hết phải xây nền móng
cho tốt, nền móng mà không tốt, thì nhà lầu
cũng chẳng cách chi xây được. ‘’Phẩm Phổ
Môn’’ tuy cảm ứng giống như cây Dược Vương
và châu như ý, không thể nghĩ bàn như thế,
song trước hết bạn phải tụng niệm Phẩm Phổ
Môn, hằng ngày tụng niệm, tụng niệm đến khi
nào Bồ Tát Quán Thế Âm cho rằng bạn có tâm
thành, thì sau đó bạn sẽ được sở cầu như ý,
toại tâm mãn nguyện. Chẳng phải nói lúc bình
thường thì chẳng tụng niệm, đến lúc nghĩ
muốn cầu sự cảm ứng, thì lập tức có sự cảm
ứng, mà bình thường phải dụng công tu hành,
đến khi đó ‘’Phẩm Phổ Môn’’ giống như cây
Dược Vương, như hạt châu như ý, thì sẽ có
cảnh giới không thể nghĩ bàn, bất quá trước
hết bạn phải tự mình tụng niệm.
Có
người nói : ‘’Trong Phật giáo có nhiều thứ
phải học ! Nào là tụng Chú Lăng Nghiêm, lại
tụng Chú Ðại Bi, bây giờ giảng ‘’Phẩm Phổ
Môn’’, lại phải tụng Phẩm Phổ Môn, thật
nhiều khoá lễ quá, chúng ta đâu có nhiều
thời gian như thế !’’ Bạn không cần nhiều
thời gian, chỉ cần mỗi ngày bớt ngủ một
tiếng đồng hồ, bớt nói chuyện một chút, thì
những khóa lễ đó có thể làm được. Nếu bạn
không muốn toại tâm mãn nguyện, nói rằng,
tôi chẳng cầu mong gì, tôi chẳng còn tâm
tham, tâm sân, tâm si, thì bạn chẳng cần
phải tụng, như thế thì chẳng có gì để nói.
Nếu bạn cảm thấy tương lại, hoặc sẽ gặp việc
gì mà muốn cầu Bồ Tát Quán Thế Âm, hoặc là
Phật giúp đỡ, thì bạn nên học thêm một chút
Phật pháp. Phật pháp như biển cả, một giọt
bạn chưa uống đã hiềm nhiều, thì tương lai
nhất định nước trong biển cả uống chẳng hết
được, bất quá chỉ cần tận hết sức của bạn,
muốn uống bao nhiêu thì uống bấy nhiêu, Phật
pháp thì lấy chẳng hết được, dùng chẳng cạn
được, cho nên hãy tận hết sức của bạn để vận
dụng tu học Phật pháp.
Vì ý nghĩa ‘’Dược châu’’, cho nên phải nói
Phẩm Phổ Môn này.
Còn có một ý nghĩa nữa, gọi là ‘’Hiển mật’’.
‘’Hiển’’ tức là minh hiển; ‘’mật’’ tức là bí
mật. Do đó, khi bạn tụng Phẩm Phổ Môn Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì có lúc sẽ đắc được cảm ứng
minh hiển, có lúc sẽ đắc được cảm ứng bí
mật.
Cảm ứng minh hiển, thì ai ai cũng đều nhìn
thấy được, ai ai cũng đều biết. Ví như Bồ
Tát Quán Thế Âm cứu chúng sinh, trong Phẩm
Phổ Môn có nói : ’’Nếu vào lửa lớn, lửa
chẳng cháy được.’’ Trong Kinh Lăng Nghiêm,
Bồ Tát Quán Thế Âm thuật nhĩ căn viên thông
cũng nói : ‘’Lửa chẳng cháy được, tính lửa
thật không, tính không thật lửa.’’ Ví như,
bạn đang ngồi ở trong nhà, một lòng niệm Bồ
Tát Quán Thế Âm, mà trong sự vô ý lửa nổi
lên, lúc đó, chỉ cần bạn thành tâm niệm Bồ
Tát Quán Thế Âm, thì nhà cửa kế bên bị cháy,
còn nhà của bạn thì không cháy. Nhưng đó là
trong sự vô ý, chứ chẳng phải là cố ý. Nếu
bạn cố ý đốt một chút lửa lên, để thử xem
nhà của bạn có cháy không, thì nhất định sẽ
cháy ! Tại sao ? Vì bạn vốn muốn thử nghiệm
Bồ Tát Quán Thế Âm, là vì bạn tin chẳng chân
thật, cho nên mới muốn thử xem. Ðó cũng
giống như có người nọ, có một người bạn,
muốn biết người bạn đó đối với mình có tâm
chân thật chăng, có phải là người tốt ‘’gặp
vàng không tham’’ chăng! Do đó, lúc người
bạn đến, bèn cố ý đem năm trăm đồng bạc để
dưới đất, chẳng để ý đến. Nếu anh ta là
người tốt, thì chẳng lấy tiền bỏ đi.
Tại
sao bạn phải thử bạn của bạn ? Vì bạn chẳng
thật sự nhận thức người bạn của bạn, chẳng
biết anh ta có phải là người tốt thật sự
không, cho nên mới thử nghiệm
anh ta. Bồ Tát Quán Thế Âm
nói ở trong kinh rằng: ‘’Nếu vào lửa lớn,
lửa chẳng cháy được.’’ Nếu một chút chỗ này
mà bạn chẳng tin, thì Bồ Tát Quán Thế Âm
cũng chẳng lo việc của bạn. Bạn nhảy xuống
biển tự tử nói :’’Tôi nhảy xuống biển xem
thử có được chỗ cạn chăng?’’ Nếu như, bạn
dùng sự thử nghiệm để dò thần thông diệu
dụng của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì đó là biểu
hiện bạn chẳng có niềm tin đối với Bồ Tát
Quán Thế Âm. Nếu bạn chẳng có niềm tin đối
với Bồ Tát, thì Ngài cũng chẳng muốn lo
chuyện của bạn. Bạn nói :’’Tôi không thử
nghiệm, thì làm sao biết cứu kính là thật
hay là giả?’’ Bạn biết là thật, thì lại như
thế nào ? Bạn không biết là thật thì lại ra
sao ?
Minh hiển thì ai ai cũng đều biết, như nhà lân
cận cháy, mà nhà của bạn không cháy, đó là
‘’hiển’’, mọi người đều biết : ’’Ồ ! Người
đó niệm Bồ Tát Quán Thế Âm có sự cảm ứng,
người đó tin Phật thật là có sự mầu nhiệm’’,
có cảm ứng, đó tức là ‘’hiển’’.
Lại có ‘’bí mật’’. Bí mật là bạn vốn có một
tai nạn, hoặc là bạn đáng lẽ phải rớt xuống
nước, bị nước ngập chết, nhưng trong sự vô
hình, Bồ Tát Quán Thế Âm cảm ứng, khiến cho
bạn chẳng gặp sự nguy hiểm đó, bí mật làm
cho tai nạn của bạn tiêu trừ, đó gọi là bí
mật. Người đó đáng lẽ bị lửa thiêu, nhưng vì
họ tin Bồ Tát Quán Thế Âm, nên Bồ Tát Quán
Thế Âm trong sự yên lặng, làm cho tai nạn
tiêu trừ, đó cũng là cảm ứng bí mật. Thậm
chí bạn ngồi máy bay, đáng lẽ bị tai nạn máy
bay, bây giờ sự giao thông tuy là thuận
tiện, song số người chết cũng nhiều, nào là
máy bay rớt, tai nạn xe lửa, tai nạn xe hơi,
khiến cho nhiều người mất mạng. Ở trong
những trường hợp đó, vì bạn tụng trì Phẩm
Phổ Môn, vì bạn niệm Chú Ðại Bi, vì bạn tin
Bồ Tát Quán Thế Âm, thì Bồ Tát Quán Thế Âm ở
trong sự yên lặng, tức là người đó chẳng
biết, thì Ngài bèn vì bạn hóa hung thành cát
tường. Do đó, có câu :
’’Gặp hung hóa cát, gặp nạn hóa tường.’’
Do đó, vì sự ‘’hiển mật’’ cho nên nói ‘’Phẩm
Phổ Môn’’ này.
Phẩm Phổ Môn có ‘’Hiển mật viên thông’’, hiển
cũng viên thông, mật cũng viên thông, hiển
mật đều viên thông, cho nên công đức của
Phẩm Phổ Môn không thể nghĩ bàn.
Phẩm Phổ Môn này có đủ thứ sự diệu dụng, Chú
Ðại Bi cũng có những diệu dụng đó. Nay tôi
kể một câu chuyện có sự cảm ứng. Tại quê
hương Ðông bắc của tôi, có người nông dân
làm ruộng, nhà rất giàu có. Mùa thu năm ấy,
ông ta thu hoạch xong, dùng xe chở đồ vật
lên thành thị bán. Bán xong lương thực mang
tiền về, trên đường về cách nhà khoảng ba
dặm đường, thì gặp bọn trộm cướp. Ông tài
chủ đó, thấy phía trước có trộm cướp, biết
làm sao bây giờ? Chạy trốn chăng? Trốn chẳng
thoát bọn chúng, nhưng nếu không chạy trốn,
thì chắc chắn sẽ bị cướp. Do đó, ông ta bèn
niệm Chú Ðại Bi, xe vẫn tiến đi về trước. Ði
gần đến bọn cướp, thì đột nhiên nhìn thấy từ
trong bọn cướp, có một người đi đến trước xe
của ông ta nói :’’Ông đưa cây roi đánh ngựa
cho tôi, để tôi thế ông chạy xe’’, ông ta
cũng để cho người đó đánh xe ngựa đi, đi qua
khỏi bọn cướp mà bọn cướp giống như chẳng
thấy chẳng nghe gì cả, cho nên ông ta chẳng
bị cướp bóc. Ðến lúc bọn cướp chẳng nhìn
thấy nữa, thì người đó trả lại cây roi đánh
ngựa nói : ’’Bây giờ ông hãy đi mau đi,
chẳng có việc gì đâu!’’ Ông tài chủ nhìn
thấy ông ta từ từ trong bọn cướp đi đến, thì
nghĩ chắc ông ta là trộm cướp bèn nói :
’’Ông bạn ! Hôm nay ông cứu tôi, khiến cho
tôi chẳng bị trộm cướp, xin hỏi tên họ của
ông? Và ông ở đâu? Ðể tương lai tôi đến nhà
ông mà bái tạ!’’ Người đó bèn nói rằng :
’’Tên của tôi là A Thệ Dựng’’
Các bạn thường niệm Chú Ðại Bi, có phải trong
Chú Ðại Bi có một vị hộ pháp tên là ‘’A Thệ
Dựng’’ chăng? Song, lúc ấy ông tài chủ nghĩ
: ’’Ai gọi là A Thệ Dựng? Là ai?’’ Lúc đó
ông ta quên mất, quên A Thệ Dựng là một câu
Chú ở trong Chú Ðại Bi, tức cũng là một vị
hộ pháp. Ðến khi A Thệ Dựng đi rồi, nhìn
chẳng thấy A Thệ Dựng nữa, ông ta mới nghĩ
ra : ’’Ồ ! Ðây chẳng phải là một vị hộ pháp
ở trong Chú Ðại Bi chăng?’’ Do đó, bèn nghĩ
muốn đi tìm A Thệ Dựng cũng tìm chẳng thấy,
chẳng biết A Thệ Dựng đã đi đâu? Do đó, đây
là một cảnh giới không thể nghĩ bàn ở trong
Chú Ðại Bi. Nếu như ông tài chủ nghĩ :
’’Mình niệm Chú Ðại Bi xem thử có linh
nghiệm chăng?’’ Thì A Thệ Dựng cũng chẳng
đến cứu
ông ta. Chính vì chẳng có tâm
khảo nghiệm, chỉ một lòng tin tưởng : ’’Mình
niệm Chú Ðại Bi, thì có thể gặp hung hóa
cát, gặp nạn biến thành tốt.’’ Quả nhiên
được toại tâm mãn nguyện, chẳng bị bọn cướp
trộm cướp.
Bộ Kinh Pháp Hoa này gồm có bảy quyển, hai
mươi tám phẩm, phẩm này là phẩm thứ hai mươi
lăm. Phẩm này hiển dương công đức thần thông
diệu dụng của Bồ Tát Quán Thế Âm, cảnh giới
không thể nghĩ bàn.
Ở trước có nói về ‘’Dược châu’’, bây giờ lại
nói đến ‘’Nhân pháp’’ (người và pháp). Nhân
pháp là gì ? ‘’Nhân tức là Bồ Tát Quán Thế
Âm, ‘’Pháp’’ tức là pháp môn thị hiện trong
Phẩm Phổ Môn. Vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài
cứu bảy nạn, giải ba độc, ứng hai cầu, cho
nên nhân vật không thể nghĩ bàn. Ngài lại
nói pháp của phổ môn thị hiện, có cầu tất
ứng, vô cảm bất thông. ‘’Pháp’’ này là pháp
không thể nghĩ bàn. Vì không thể nghĩ bàn,
cho nên gọi là diệu pháp. Vì ‘’người’’ này
cũng không thể nghĩ bàn, cho nên cũng gọi là
diệu nhân. Tức nhiên là diệu nhân, diệu
pháp, nên mới được tên là ‘’Phổ môn’’. Vì
nhân duyên ‘’nhân pháp’’ nên Bồ Tát Quán Thế
Âm mới nói ‘’Phẩm Phổ Môn’’ này.
Ý nghĩa thứ hai tức là ‘’từ bi’’. Vì ‘’từ
bi’’, cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm nói ‘’Phẩm
Phổ Môn’’ này.
Từ là gì? Từ hay
ban vui; ‘’bi’’ là gì ? Bi hay cứu khổ. Bồ
Tát Quán Thế Âm cứu chúng sinh bảy thứ nạn,
giải trừ ba thứ độc, ứng chúng sinh hai thứ
cầu. Bảy nạn này, ở trong kinh văn nói rất
rõ ràng tức là : Nạn nước, nạn lửa, nạn gió,
nạn gông cùm, nạn gió đen (hắc phong)
.v..v... bảy thứ nạn.
Giải ba thứ độc tức là tham, sân, si ba độc.
ứng hai cầu, tức là cầu con trai, cầu con
gái hai thứ cầu.
Chúng sinh đều có
ba độc : Tham, sân, si. Nếu người nhiều
tham, thường niệm cung kính Bồ Tát Quán Thế
Âm, thì sẽ lìa khỏi tham lam. Nếu người
nhiều sân hận, mà thường niệm cung kính Bồ
Tát Quán Thế Âm, thì sẽ lìa khỏi sân hận.
Nếu người nhiều si mê, mà thường niệm cung
kính Bồ Tát Quán Thế Âm, thì sẽ lìa khỏi si
mê. Tham mà nói ra thì nhiều, sân nói ra
cũng chẳng ít, còn si mê thì không nhiều mà
cũng chẳng ít. Nói nó nhiều, thì cũng chẳng
nhiều, mà nói nó ít, cũng chẳng ít. Si mê là
gì ? Nói đơn giản tức là ngu si. Ngu si là
gì ? Tức là chẳng có trí huệ, chẳng minh
bạch, thấy lý lẽ chẳng chân thật, cho nên
gọi là ngu si. Gặp lý luận chẳng chánh
quyết. Căn cứ vào học thuyết của
ông Vương Dương Minh ở
Trung Quốc rằng : Người ngu
si, là vì họ chưa có thể ‘’Tri hành hợp
nhất’’, nghĩa là chưa có thể ‘’hiểu biết,
thực hành mà làm một’’.
Vương Dương Minh nói : Tại
sao người đó không đi làm ? Vì họ chẳng
biết, nên họ không (đi) làm, nếu họ biết thì
họ sẽ làm.
Vương Dương Minh nói, họ biết
rồi mà không làm, thì đó vẫn chẳng biết chân
thật, nếu biết thật sự thì chắc chắn sẽ làm.
Vương Dương Minh là một học
giả nổi tiếng của
Trung Quốc, học thuyết của
ông là :’’Tri hành hợp nhất’’ : Nếu họ biết
thật sự, thì chắc chắn họ sẽ thực hành; họ
chẳng biết nên nọ chẳng thực hành. Nghĩa là
họ phải hiểu biết thật sự, thì họ chẳng làm
việc ngu si. Tại sao họ lại làm chuyện ngu
si ? Vì họ chẳng hiểu biết. Cho nên, tôi nói
đây là thấy lý lẽ chẳng chân thật.
Thử đưa ra một ví
dụ để nói, ví như người ngu si nói : ‘’Hoa
đẹp thường khiến cho tươi mãi mãi, trăng
sáng ước gì đêm nào cũng tròn, nguồn nước
dưới đất đều hóa thành rượu, lá rừng đều
biến thành tiền.’’ Người tham hoa thì sinh
tâm ngu si nói : ‘’Tôi muốn đóa hoa này,
luôn luôn tươi mãi mãi chẳng phai tàn, muốn
đóa hoa đó nở mãi, tươi đẹp mãi.’’ Người nọ
tham trăng tròn, thì nói như vầy : ‘’Mặt
trăng sao chẳng tròn mãi mãi ?’’ Tối hôm qua
mặt trăng tròn sáng, nếu đêm nào mặt trăng
cũng tròn sáng, thì tốt biết bao ! Ngày ngày
ra ngoài ngắm trăng, ánh trăng chiếu sáng
ngời, cũng chẳng cần bậc đèn diện, lại chẳng
tốn tiền, ánh sáng thiên nhiên tốt quá!’’ Ðó
chẳng phải là ngu si chăng ? Mặt trăng có
tròn có khuyết, hoa có tươi có tàn, khi hoa
nở thì có hoa tàn, khi trăng tròn thì có
trăng khuyết, đó là thiên đạo tuần hoàn.
Người thích uống rượu thì mua để uống, tốn
tiền quá ! Nếu nước các dòng sông đều biến
thành rượu, khi nào mình muốn uống rượu, thì
xuống lấy uống, đó chẳng phải là sướng lắm ư
!’’ Còn có người tham tiền nghĩ rằng : ’’Bây
giờ tôi phải đi làm kiếm tiền rất khổ cực,
nếu như lá cây đều biến thành tiền, khi nào
muốn dùng tiền, thì mình bèn đến lấy chẳng
phải là tiện nghi sao ! Ðó là những việc
không bao giờ có, đều là huyễn tưởng ngu si.
Còn có chuyện đơn giản hơn rằng, có người
chẳng đi học, thậm chí chẳng học qua tiểu
học, mà anh ta muốn có bằng tiến sĩ. Bạn nói
có lý đó chăng ! Chẳng học tiểu học, thì làm
sao có bằng tiến sĩ ! Còn có một loại người,
anh ta vốn chẳng làm ruộng, mà đến mùa thu
hoạch thì muốn thu hoạch mùa màng, đó đều là
ngu si. Song, một số người đều phạm phải thứ
vọng tưởng mao bệnh, chẳng nhọc sức mà thu
hoạch. Nếu có thứ mao bệnh đó thì nên sửa
đổi.
Bồ Tát Quán Thế Âm Ngài cứu bảy nạn, giải ba
độc, ứng hai sự mong cầu, đó là đại bi, và
còn lợi lạc cho chúng sinh, khiến cho chúng
sinh lìa khổ được vui, đó là từ bi. Vì đại
từ đại bi, cho nên mới nói Phẩm Phổ Môn Bồ
Tát Quán Thế Âm. Còn một ý nghĩa nữa đó là
‘’phước huệ’’. Phước, sở dĩ Bồ Tát Quán Thế
Âm hay tầm thanh cứu khổ, bất cứ là âm thanh
thiện, âm thanh ác, âm thanh khổ, âm thanh
vui .v.v... Ngài đều phân biệt được, là vì
Ngài có trí huệ chân chánh. Trí huệ của Ngài
có là từ đâu đến ? Là vì Ngài bố thí khắp,
dùng pháp này thí cho chúng sinh, nên Ngài
có phước báu đó, nên phước đức trang nghiêm.
Bởi do phước huệ này, mà nói Phẩm Phổ Môn.
Lại còn có sự
‘’chân ứng’’. Chân là Bồ Tát Quán Thế Âm nhờ
diệu lực chân thân của Ngài, để cứu độ bảy
nạn, giải trừ ba độc, mãn nguyện chúng sinh
hai mong cầu, đó là nhờ diệu lực chân thân.
Ngài còn hiện ba mươi hai ứng hóa thân, đây
gọi là ứng thân, dùng để giáo hóa chúng
sinh, do đó mà có ‘’chân ứng’’ này.
Nói Phẩm Phổ Môn
này còn có ‘’quyền thuật’’. Bồ Tát Quán Thế
Âm nhờ sức pháp thân, mà ở trong sự yên
lặng, tức là trong sự bí mật để lợi ích
chúng sinh, đây gọi là ‘’thật’’. Ngài còn
dùng ba mươi hai ứng hóa thân, để giáo hóa
chúng sinh, đây là ‘’quyền’’. Quyền tức là
quyền xảo phương tiện, tức cũng là phương
pháp dùng tạm thời, chẳng phải vĩnh viễn.
Bởi Bồ Tát Quán Thế Âm dùng quyền thật, cho
nên mới nói Phẩm Phổ Môn này.
Còn có một nhân
duyên nữa gọi là ‘’Bổn tích’’. Bổn là gì ?
Bổn tức là căn bổn; tích tức là tông tích.
Bồ Tát Quán Thế Âm dùng một pháp thân, mà độ
khắp tất cả chúng sinh là ‘’bổn’’, Ngài dùng
ứng hóa thân để giáo hóa cúng sinh, tức là
‘’tích’’. Pháp thân của Ngài như mặt trăng,
tích cũng giống như ‘’mặt trăng chiếu ngàn
con sông’’. Do đó, có câu : ’’Ngàn con sông
có nước, đều có bóng của mặt trăng chiếu
xuống.’’ Một mặt trăng chiếu xuống mọi con
sông, mà mặt trăng ở trong mọi con sông, đều
từ bổn thân của một mặt trăng hiện ra. Mặt
trăng ở trong nước tức là ‘’tích’’. Mặt
trăng ở trên trời tức là ‘’Bổn’’. Ðó là nhân
duyên ‘’bổn tích’’ nên nói Phẩm Phổ Môn.
Bồ Tát Quán Thế Âm dùng một pháp thân, để hiện
khắp vào trong tâm của tất cả chúng sinh,
khiến cho tất cả chúng sinh sửa lỗi lầm làm
mới lại, cải ác hướng thiện, lìa khổ được
vui, cứu kính thành Phật. Giảng đến đây, có
người nói : ‘’Sở dĩ tôi không sửa lỗi lầm
làm mới lại, nguyên lai là Bồ Tát Quán Thế
Âm chẳng hiện vào trong tâm của tôi, cho nên
tôi có lỗi lầm gì, cũng chẳng muốn sửa
đổi.’’ Người hút thuốc thì nghĩ : ‘’Ðại khái
Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng gia bị cho tôi,
chẳng giúp đỡ tôi.’’ Người thích uống rượu
thì nói : ‘’Tôi muốn học Phật pháp, đáng
tiếc tôi chẳng giữ được giới rượu, đó là lỗi
của Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng giúp đỡ tôi.’’
Do đó, họ bèn sinh ta tâm cừu oán nói :’’Bồ
Tát Quán Thế Âm chẳng công bằng, tại sao
Ngài giúp đỡ người khác mà chẳng giúp đỡ tôi
?’’ Ðó thật là ngu si, lại thêm ngu si, đó
là hai ngu si nặng nề. Tại sao Bồ Tát Quán
Thế Âm chẳng gia bị cho bạn ? Là vì bạn
chẳng nghe Bồ Tát Quán Thế Âm giáo hóa. Khi
Bạn nghe danh hiệu ‘’Bồ Tát Quán Thế Âm’’
thì nên sửa đổi lỗi lầm làm mới lại, nên
thanh tịnh phiền não, ‘’Ngộ dĩ vãng chi bất
gián’’, biết việc quá khứ thì đã là quá khứ.
‘’Tri lai giả chi khả truy’’, tương lai nên
đi trên con đường thiện. Song, bạn hiểu biết
mà cố phạm, đó là tội lại thêm tội. Cho nên
trách Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng gia bị cho
bạn, đó là sai lầm. Bồ Tát Quán Thế Âm luôn
luôn đều gia bị cho bạn, nhưng đáng tiếc bạn
đã đóng cửa trong tâm của bạn, chẳng để cho
Bồ Tát Quán Thế Âm vào, Bồ Tát Quán Thế Âm
chỉ biết than thở : ’’Ôi ! Chúng sinh này
thật là đáng thương xót !’’ Do đó, bạn đừng
trách Bồ Tát Quán Thế Âm, mà nên trách bạn
mới đúng.
Ở trên là nói về ‘’Bổn tích’’. Còn có một nhân
duyên nữa, tức là ‘’Duyên liễu’’. ‘’Duyên’’
tức là duyên nhân, ‘’liễu’’ tức là ‘’liễu
nhân’’. Liễu nhân là gì ? Tức là đoạn cái
nhân đó đi, cũng có thể nói là thấu rõ nhân
của nhân quả. Chúng ta bây giờ đến nghe kinh
nghe pháp, có người đến từ
Hoa Thịnh Ðốn, có người đến
từ Tây Nhạ Ðồ (Seatle), có những người bác
sĩ, thạc sĩ, cũng đến nghe Phật pháp. Tại
sao những người đó từ xa xôi lại đến đây để
ngồi thiền, nghiên cứu tu học Phật pháp ? Là
vì muốn chấm dứt (liễu) cái nhân này. Nghe
kinh tức là hạt giống chấm dứt nhân (liễu
nhân). Bạn có nhân duyên nghe kinh, đó là
‘’duyên’’ nhân. Vì nhân duyên ‘’duyên
liễu’’, cho nên nói Phẩm Phổ Môn.
Còn có một nhân duyên ‘’Trí đoạn’’ nữa. Bồ Tát
Quán Thế Âm dùng trí huệ của Ngài, trí đức
trang nghiêm để giáo hoá chúng sinh, là bậc
trí huệ trang nghiêm. ‘’Trí’’ huệ gọi là
đoạn đức, tức là đức hạnh của ‘’trí’’.
‘’Ðoạn’’ là đoạn đức, tức là đoạn trừ tất cả
vô minh. Ðoạn đức ở đây, lại có thể gọi là
phước đức, vì Ngài đoạn sạch vô minh, cho
nên có phước đức trang nghiêm chân chánh,
giống tựa như Phật, phước cũng đủ, huệ cũng
đủ. Bồ Tát Quán Thế Âm tuy nhiên là Bồ Tát,
nhưng Ngài có phước đức trang nghiêm, cũng
có huệ đức trang nghiêm, cho nên ‘’trí huệ’’
cũng gọi là phước huệ.
Tổng cộng ở trên lại, thì có mười thứ nhân
duyên, cho nên nói Phẩm Phổ Môn này.
Bấy giờ, Bồ Tát Vô Tận Ý bèn từ tòa ngồi
đứng dậy, hở y bày vai bên phải, chắp tay
hướng về đức Phật, mà bạch Phật rằng : Ðức
Thế Tôn ! Bồ Tát Quán Thế Âm, do nhân duyên
gì, mà được tên là Quán Thế Âm ?
‘’Bấy giờ’’ : Tức là vào lúc đó, lúc đó là lúc
nào ? Tức là lúc Bồ Tát Vô Tận Ý ở trong
pháp hội, hỏi nhân duyên tên của Bồ Tát Quán
Thế Âm; tức cũng là lúc nói xong Phẩm Bổn Sự
của Bồ Tát Diệu Âm, bây giờ là lúc nói Phẩm
Phổ Môn Bồ Tát Quán Thế Âm. Có một vị Bồ Tát
Vô Tận Ý. Vô Tận Ý là gì ? Tóm lại có ba ý
nghĩ:
Thứ nhất là : ‘’Thế giới vô biên trần nhiễu
nhiễu’’. Thế giới thì vô lượng vô biên, chúng
ta đừng cho rằng thế giới tức mắt chúng ta
thấy được, tai nghe được, đó tức là một thứ
biên giới. Chẳng phải, thế giới ở đây nhiều
vô lượng vô biên, có thế giới này, có thế
giới kia, vô lượng các thế giới; nước này,
nước kia, vô lượng các nước, vô cùng vô tận,
cho nên gọi là ‘’Thế giới biên trần nhiễu
nhiễu’’. Nhiễu nhiễu là gì ? Nhiễu tức là
nhiễu loạn; nghĩa là bất định; bất định tức
là động. Trần tức là chẳng thanh tịnh. Trên
thế giới có rất nhiều vi trần (hạt bụi), hãy
nhìn vào ánh sáng mặt trời chiếu, thì sẽ
thấy vô số hạt bụi, chuyển động lên xuống ở
trong hư không. Những hạt bụi này từ đâu đến
? Nhiều hạt bụi trên thế giới từ đâu đến.
Truy cứu nguồn gốc những hạt bụi này, rất là
quan trọng, những hạt bụi đó từ trong tâm
của chúng sinh sinh ra. Tại sao ? Vì trong
tâm chúng sinh vọng tưởng quá nhiều. Vọng
tưởng giống như hạt bụi, nhiễu nhiễu chẳng
yên, luôn luôn biến động. Hãy nhìn xem,
chúng ta quan sát vọng tưởng nhiều vô kể
chẳng biết là bao nhiêu, có đếm cũng chẳng
biết số lượng. Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói
: ‘’Trong một niệm có chín mươi sát na’’.
Sát na là một đoạn thời gian rất ngắn, mà
một sát na có chín trăm lần sinh diệt, cho
nên ‘’Thế giới vô biên trần nhiễu nhiễu’’.
Thế giới này có như thế nào ? Là vì chúng ta
chúng sinh y chân khởi vọng, một niệm vọng
tưởng, thì biến thành có sông núi đất đai,
nhà cửa phòng ốc, tất cả thế giới thành lập
liên tục, đây cũng gọi là ‘’thế giới vô biên
trần liễu liễu.’’
Thứ hai là :’’Chúng sinh vô tận nghiệp mang
mang’’. Thế giới
thì vô biên, là vì có thế giới, cho nên cũng
sinh ra chúng sinh. Chúng sinh là chúng
duyên hòa hợp mà sinh, có rất nhiều thứ nhân
duyên hòa hợp mà sinh. Ðại khái có bốn loài
:
Loài sinh bằng thai.
Bằng trứng.
Bằng ẩm thấp.
Bằng hóa sinh.
Sao lại có thai sinh ? Thai do tình mà có.
Thai sinh là do có thứ ái tình, nên mới có
sinh mạng mới. Trứng do tưởng mà sinh. Thấp
sinh là nhờ ẩm thấp mà sinh, nơi đó có sự ẩm
thấp thì sẽ sinh ra. Hóa sinh tức biến hóa
mà sinh ra, là tự nhiên có thể biến hóa mà
sinh ra, chẳng nương duyên của cha mẹ mà
sinh ra. Nếu nói tỉ mỉ thì có mười hai nhân
loài, còn tám loài kia là :
Loài có sắc.
Không sắc
Có tưởng.
Không tưởng.
Chẳng có sắc.
Chẳng phải không có sắc.
Chẳng có tưởng.
Chẳng phải không có tưởng.
Có nhiều loài chúng sinh như thế, đáo để là từ
đâu ra ? Chúng sinh là từ Phật tánh mà ra,
cho nên mới nói : ’’Tất cả chúng sinh đều có
Phật tánh, đều có thể thành Phật’’. Tuy hết
thảy chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể
thành Phật, nhưng chẳng phải nói chúng sinh
là Phật, chẳng phải nói chẳng tu thì thành
Phật. Nhất định phải dụng công tu hành, tham
thiền, học Phật pháp, như thế thì mới có thể
trở về cội nguồn mà thành Phật. Chẳng phải
nói chúng sinh bây giờ là Phật, chẳng cần
dụng công tu hành, đó là thứ tà tri tà kiến
! Mà phải tu hành, học Phật pháp, y giáo
phụng hành, mới có thể thành Phật. Cho nên
mới nói chúng sinh là từ Phật tánh sinh ra.
Thứ ba là :’’Ái hà vô để lãng thao thao’’.
‘’Ái hà’’ là chỉ ái tình giữa nam nữ, chẳng
riêng gì nói về ái của con người, mà các
loài khác như súc sinh, cũng chấp mê chẳng
ngộ, chấp trước về ái này, nhất là súc sinh
càng chẳng rõ lý, cho nên tâm dâm dục của
chúng rất nặng, chúng luôn lúc nào cũng nghĩ
về dâm dục. Nếu thanh tâm quả dục, tự tịnh
kỳ ý, cắt ái đoạn dục, thì cách Phật đạo
chẳng xa.
‘’Ái hà’’ (biển ái dục) chẳng có đáy, càng hãm
vào thì càng sâu, càng sâu thì càng đi
xuống, chẳng có ‘’đáy’’. ‘’Lãng mang mang’’,
thứ sóng này triền miên không ngừng, giống
như sóng nước. Tại sao trong biển lại có
sóng ? Là vì trong tâm chúng sinh có sóng.
Trong tâm chúng sinh có sóng, là vì biển ái
có sóng. ‘’Ái’’ này, bạn muốn xé ra cũng xé
chẳng đứt, dùng đao bén muốn chặt đứt ái
tình cũng chẳng dễ. Song nếu bạn thật sự có
trí huệ, thì đối với đề này giải quyết chẳng
có gì khó, do đó có câu :
’’Kiếm trí huệ chặt đứt tơ tình’’.
Người chẳng có trí huệ, thì bị lún ở trong
biển ái, càng lún càng sâu, lún đến đâu ?
Vốn chẳng có đáy. Càng lún càng sâu, càng
sâu càng lún, đi xuống chẳng khi nào chấm
dứt, do đó gọi là Vô Tận Ý.
Bởi ba ý nghĩa đó, cho nên Bồ Tát Vô Tận Ý
muốn biến vô lượng thế giới này, thành thế
giới Cực Lạc. Muốn giáo hóa vô tận chúng
sinh đều thành Phật, và lấp bằng biển ái
không đáy. Do đó, Bồ Tát Vô Tận Ý có tên là
Vô Tận Ý.
Bồ Tát gọi tắc, nếu nói đầy đủ là ‘’Bồ đề tát
đỏa’’, là tiếng Phạn, dịch ra là giác hữu
tình, tức cũng là dùng đạo lý giác ngộ, đi
giác ngộ tất cả hữu tình, dùng đạo lý tự
giác đó, đi giác ngộ tất cả chúng sinh. Tức
là mình giác ngộ rồi, cũng muốn tìm cách đi
giáo hóa kẻ khác cho được giác ngộ, đây gọi
là tự giác giác tha. Bồ Tát từ đâu đến ? Bồ
Tát là từ chúng sinh đến. Bồ Tát vốn cũng là
chúng sinh, cũng giống như bạn tôi và họ,
hết thảy chúng sinh, chẳng có gì khác biệt.
Bất quá Ngài là một bậc giác ngộ ở trong
chúng sinh, là một bậc giác ngộ ở trong hữu
tình. Chúng ta chúng sinh là kẻ mê muội ở
trong chúng sinh, vẫn chưa giác ngộ. Nếu hôm
nay bạn giác ngộ, thì hôm nay là Bồ Tát; nếu
ngày mai bạn giác ngộ, thì ngày mai bạn là
Bồ Tát. Giác ngộ cái gì ? Giác ngộ vô minh.
Nếu bạn biết nơi đến của vô minh, phá được
vô minh, thì đó là ‘’giác’’. Phá được vô
minh rồi, thì pháp tánh cũng tự nhiên hiện
tiền, biển ái cũng sẽ khô cạn, biển ái khô
cạn rồi, thì trí huệ sẽ hiện tiền, đó là
giác ngộ. Bồ Tát là giác ngộ hữu tình, cũng
là hữu tình giác ngộ. Bồ Tát còn gọi là
chúng sinh ‘’đại đạo tâm’’, đạo tâm của Ngài
rất lớn, còn gọi là ‘’Khai sĩ’’, Ngài khai
mở ngu si cho chúng sinh, để hiển hiện Phật
tánh vốn có, đó gọi là Bồ Tát.
‘’Bèn từ tòa ngồi đứng dậy’’ : Ở hội trong hội
Pháp Hoa, khi Bồ Tát Vô Tận Ý nghe Ðức Phật
giảng xong Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương
rồi, thì Ngài bèn từ toà ngồi đứng dậy. Tại
sao phải đứng dậy ? Bất cứ ở trong đại hội
nào, khi bạn muốn nói thì phải đứng lên,
không thể ngồi ở đó dơ tay lên để hỏi, như
thế thì quá tùy tiện. Lúc đó, Bồ Tát Vô Tận
Ý muốn nói, chẳng những Ngài đứng dậy mà cón
‘’hở y bày vai bên phải’’. Tại sao phải để
vai bên phải lộ ra ? Vì biểu thị cung kính,
đó là biểu thị thân nghiệp cung kính.
‘’Chắp tay hướng về Ðức Phật’’ : Sau đó Bồ Tát
Vô Tận Ý chắp tay lại. ‘’Mà bạch Phật
rằng’’. Ðối với Phật mà nói.
Từ ‘’Bấy giờ, Bồ
Tát Vô Tận Ý bèn từ tòa ngồi đứng dậy, hở y
bày vai bên phải, chắp tay hướng về Ðức Phật
bạch rằng’’. Ðoạn này là Ngài A Nan biên khi
kết tập kinh điển. Dùng để miêu tả nhân
duyên của pháp hội. Bắt đầu từ ‘’Ðức Thế
Tôn’’ là lời nói của Bồ Tát Vô Tận Ý.
Bồ Tát Vô Tận Ý gọi
một tiếng :’’Ðức Thế Tôn!’’ Thế Tôn là bậc
tôn kính của thế gian và xuất thế gian, thế
gian và xuất thế gian, đều tôn kính Ngài
nhất.
‘’Bồ Tát Quán Thế Âm do nhân duyên gì, mà được
tên là Quán Thế Âm’’? Bồ Tát Vô Tận Ý gọi
một tiếng Ðức Thế Tôn, rồi bèn nói : ’’Bồ
Tát Quán Thế Âm có sức thần thông lớn như
thế, từ bi nguyện lực của Ngài lớn như thế,
Ngài có thể cứu bảy thứ nạn, giải trừ ba
độc, ứng hai thứ cầu, mười bốn vô uý (chẳng
sợ hãi), mười chín thuyết pháp, ba mươi hai
ứng thân, bởi nhân duyên gì, mà gọi là ‘’Bồ
Tát Quán Thế Âm ?’’ Bởi nhân duyên gì, tức
cũng là hỏi Bồ Tát Quán Thế Âm ở trong quá
khứ tu pháp môn gì, mà được tên là ‘’Quán
Thế Âm’’? Ðó là Bồ Tát Vô Tận Ý hỏi Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni.
Ðức Phật bảo Bồ Tát Vô Tận Ý : Thiện nam tử
! Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng
sinh, chịu các khổ não, mà nghe được danh
hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, một lòng niệm danh
hiệu của Ngài, thì Bồ Tát Quán Thế Âm, lập
tức quán xem tiếng kêu kia, khiến cho họ đều
được giải thoát.
‘’Ðức Phật bảo Bồ Tát Vô Tận Ý’’: Câu này tôn
giả A Nan y chiếu theo văn pháp, mà ghi vào
khi kết tạp kinh điển.
‘’Thiện nam tử’’ : Là Ðức Phật gọi Bồ Tát Vô
Tận Ý nói : ‘’Thiện nam tử ! Nếu có vô lượng
trăm ngàn vạn ức chúng sinh’’. ‘’Nếu có’’ là
từ giả thiết, tức là sẽ có mà chưa có, hiện
tại thì chưa có, nhưng tương lai sẽ có.
Những chúng sinh đó bao quát : Thai, noãn,
thấp, hóa, có sắc, không sắc, có tưởng,
không tưởng, chẳng có sắc, chẳng không sắc,
chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, mười hai
loài chúng sinh, đều bao quát ở trong đó.
‘’Chịu các khổ não’’ : ‘’Chịu’’ là gặp, gánh
lấy. ‘’Các’’ là số nhiều. ‘’Khổ não’’ là sự
thống khổ, có bao nhiêu ?
Ðại khái có bốn thứ
:
1). Một người thọ một thứ khổ.
2). Một người thọ nhiều thứ khổ.
3). Nhiều người thọ một thứ khổ.
4). Nhiều người thọ nhiều thứ khổ.
Một người thọ một thứ khổ như câm ngọng, chính
người đó có khổ sở người đó biết, cũng không
thể nói với họ, do đó có câu : ‘’Câm ngọng
ăn huỳnh liên’’ (người câm khổ sở như ăn quả
đắng huỳnh liên).
Một người thọ nhiều thứ khổ, ví như người nọ,
bất cứ đi đến đâu cũng gặp khổ não, chẳng
phải thiên tai thì là nhân họa, chẳng phải
trộm cướp thì là nạn lửa. Hết thảy khổ não
trên thế gian anh ta đều nếm hết. Một người
mà nếm hết các thứ khổ, đây gọi là một người
thọ nhiều thứ khổ.
Nhiều người chịu
một thứ khổ, ví như chiến tranh hiện tại ở
Việt Nam, khi tác chiến thì mưa bom đạn lạc,
sinh linh lầm than, chết chẳng biết bao
nhiêu người, thật là bi ai. Nhiều người ở
trong một nước này, cùng chịu một thứ khổ,
thứ khổ não này gọi là nhiều người thọ một
thứ khổ. Còn một thứ nữa, như bệnh ôn dịch
lưu hành, rất nhiều người đều chịu thứ bịnh
truyền nhiễm đó, bệnh như chết sống lại, thứ
khổ não đó tuy chưa đến chết, nhưng bệnh tật
rất thống khổ, đó cũng là nhiều người chịu
một thứ khổ, còn có rất nhiều khổ não khác
nữa, nói cũng nói chẳng hết. Thế giới này là
thế giới khổ não. Chúng sinh cũng nhiều, khổ
não cũng nhiều, cứu kính có bao nhiêu thứ
khổ não ? Căn bản chẳng có số lượng để tính.
Tổng quát lại thì có tám vạn bốn ngàn thứ
khổ.
Vậy khi chịu các
thứ khổ não thì làm thế nào ? Ai cũng đều có
khổ não. Khi chúng ta chịu khổ não, thì
chúng ta đừng quên Bồ Tát Quán Thế Âm.
‘’Nghe danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm’’.
‘’Nghe’’: Là mình vốn chẳng biết, giống như
người Mỹ, cứu kính có bao nhiêu người nghe
được danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm ? Tôi tin
rằng, toàn nước Mỹ nghe được Quán Thế Âm Bồ
Tát dù một phần trăm cũng chẳng có ! Bạn hãy
nghĩ xem, nhiều người như thế chẳng nghe
được danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, mà bạn
bây giờ nghe được, nghe cũng tức là minh
bạch, biết Bồ Tát Quán Thế Âm nhĩ căn viên
thông, có ba mươi hai ứng thân, thần thông
tự tại, đó là ‘’Nghe Bồ Tát Quán Thế Âm’’.
‘’Một lòng niệm danh hiệu của Ngài’’: Quan
trọng nhất là ‘’một lòng’’, đừng có hai
lòng, cũng đừng có ba lòng, càng đừng có bốn
lòng, nếu tâm của bạn càng nhiều, thì tựa
như bạn chẳng làm công đức. Nếu tâm mà nhiều
quá thì chẳng tốt. Tại sao ? Vì nhiều tâm
thì phân tán, mà phân tán thì chẳng chuyên
nhất, chẳng chuyên nhất thì chẳng linh,
chẳng có công hiệu. Nếu bạn ‘’hai lòng niệm
danh hiệu’’ thì cũng chẳng linh, ‘’ba lòng
xưng danh’’ thì càng chẳng ích gì.
‘’Bồ Tát Quán Thế Âm’’ : Quán, tức là quán
xem. Thế tức là thế gian. Âm là âm thanh. Bồ
Tát quán xem tất cả âm thanh của thế gian.
‘’Lập tức Quán Âm thanh kia’’ : Lập tức quán
sát âm thanh của chúng sinh đó. ‘’Ðều được
giải thoát’’ : Hết thảy tất cả khổ não đều
được giải thoát. Giải thoát tức là khổ não
chẳng còn nữa, khổ não chẳng còn nữa thì
được an vui. Giải thoát ở đây tức cũng là
đắc được tự tại thật sự, vô câu vô thúc, vô
quái vô ngại.
Nếu có người trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế
Âm, dù vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy
được, do nhờ sức oai thần của Bồ Tát. Nếu bị
nước lớn cuốn trôi, mà xưng niệm danh hiệu
của Ngài, thì liền được vào chỗ cạn.
Ðoạn văn này nói về Bồ Tát Quán Thế Âm cứu nạn
lửa và nạn nước hai nạn trong bảy nạn. ‘’Nếu
có người trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm’’
: Trì tức là niệm. Nếu có, là hiện tại chẳng
có, tương lai sẽ có. Nếu như có người trì
danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Trì là nghĩ
nhớ luôn luôn, tức cũng là tâm niệm đều chấp
trì : ‘’Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát’’. Bất cứ
người nào muốn giải trừ thống khổ bảy nạn,
thì trước hết phải luôn luôn cung kính xưng
niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.
‘’Dù vào trong lửa
lớn, lửa chẳng cháy được’’ : Ðây là nói lúc
bình thường bạn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, chứ
chẳng phải nói đến lúc bị khốn ở trong lửa
lớn, thì mới niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Chẳng
phải nói hôm nay mình có tai nạn, thì hôm
nay mới niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, đó là :
‘’Khi bình an thì chẳng thắp hương,
Ðến lúc lâm chung thì ôm chân Phật’’.
Lúc nhàn thì một cây hương cũng chẳng đốt, đến
lúc sắp chết, thì đến ôm chân Phật cầu cứu.
Lúc đó, tuy bạn đến ôm chân Phật, nhưng Phật
cũng chẳng lý tới bạn. Tại sao ? Vì lúc bình
thường bạn chẳng tu hành, đợi khi có nạn thì
đến cầu Phật, đó gọi là vừa đốt hương vừa
niệm Phật. Song, còn có hạng người lúc bình
thường họ cũng chẳng đốt hương, cũng chẳng
niệm Phật. Nhưng khi họ có tai nạn, thì Bồ
Tát cũng đến cứu họ, cũng khiến cho họ lìa
khổ được vui. Ðây là đạo lý gì ? Bạn nên
biết, mỗi người chúng ta đều có tiền nhân
hậu quả, có thể kiếp trước họ đã từng dũng
mãnh tinh tấn tu đạo, siêng năng dụng công
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Thậm chí họ đã từng
tạo đủ thứ công đức, cho nên đời này tuy họ
chẳng niệm, là vì họ kiếp trước đã niệm rồi,
đã từng trồng xuống căn lành đó, cho nên đời
này họ chẳng niệm, mà Bồ Tát Quán Thế Âm
cũng đến cứu họ, đó là vì sự quan hệ nhân
xa. Nhân, có nhân xa, cũng có nhân gần. Nhân
xa là nhân trồng kiếp trước; nhân gần là
nhân trồng đời này.
Hoặc có người nói :
‘’Kiếp trước tôi đã trồng nhân xuống rồi,
nên bây giờ tôi chẳng cần niệm, tương lai
tôi có nạn thì Bồ Tát Quán Thế Âm cũng sẽ
đến cứu tôi.’’ Song chẳng bảo đảm, dù bạn
hướng về tôi mua bảo hiểm, tôi cũng chẳng
bán. Nếu bạn ngay đời này bắt đầu thành tâm
thành ý niệm, thì tôi có thể làm chứng cho
bạn, chắc chắn sẽ được cảm ứng, tương lai
bạn có tai nạn gì, thì Bồ Tát Quán Thế Âm
nhất định sẽ đến cứu bạn. Vì bạn chẳng phải
vừa đốt hương vừa niệm Phật, thì tuyệt đối
có cảm ứng.
Trước kia có người nọ, một lòng muốn đến Nam
Hải núi Phổ Ðà lạy Bồ Tát Quán Thế Âm. Ðến
ngày anh ta quyết định đến núi Phổ Ðà, để
lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, vừa mới lên thuyền,
thì nhà kế bên cạnh bỗng bị lửa cháy. Người
nhà của anh ta chạy đến báo cáo với anh ta :
‘’Chẳng may rồi ! Anh phải trở về nhà gấp,
đừng đi đến núi Phổ Ðà, nhà bên cạnh đã bị
lửa cháy, anh phải về nhà lo liệu.’’
- Anh ta nói : ‘’Tôi vì muốn lễ lạy Bồ Tát
Quán Thế Âm, nên đã ăn chay ba năm rồi, bây
giờ tôi cũng lên thuyền đi. Nếu nhà bị lửa
cháy, thì tôi có xuống thuyền nó cũng vẫn
cháy. Nếu không cháy, thì Bồ Tát Quán Thế Âm
đã bảo hộ tôi, dù tôi không trở về, nó cũng
không cháy. Tôi thành tâm như thế, thì dù
nhà có bị lửa cháy, tôi cũng phải đến lễ lạy
Bồ Tát Quán Thế Âm!’’ Anh ta quyết định một
lòng đến lễ lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, sau khi
lễ lạy xong trở về nhà, thấy những nhà bên
cạnh phải trái đều bị cháy sạch, mà một mình
nhà của anh ta chẳng bị lửa cháy. Do đó, một
số người bèn hỏi anh ta : ‘’Sao những nhà
bên cạnh nhà anh đều cháy sạch, mà nhà của
anh chẳng bị lửa cháy.’’ Anh ta nói : ‘’Vì
lần này tôi thành tâm lễ lạy Bồ Tát Quán Thế
Âm nhất, khi tôi đi thì gì cũng chẳng màng
đến, nó phải cháy thì để nó cháy, cái gì tôi
cũng buông xả hết. Ðó là Bồ Tát Quán Thế Âm
gia hộ cho tôi, nên khiến cho nhà của tôi
chẳng bị lửa cháy.’’ Ðó là : ‘’Bằng chứng
thật dù vào trong lửa lớn, lửa không cháy
được.’’
‘’Do nhờ sức oai thần của Bồ Tát’’ : Tại sao
lửa chẳng cháy được ? Vì Bồ Tát Quán Thế Âm
có sức oai thần, cho nên lửa không cháy
được.
‘’Nếu bị nước lớn
cuốn trôi’’ : Nếu lúc bình thường bạn cũng
niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì trong
sự vô ý, chẳng phải cố ý muốn thử Bồ Tát
Quán Thế Âm, đi nhảy xuống biển coi thử có
linh nghiệm, không chết chìm chăng ? Nếu bạn
còn có tâm thử nghiệm, thì chẳng phải là tin
chân thật, thì tuyệt đối chẳng linh, bạn đi
nhảy xuống biển tơ hào chẳng nghi vấn là
muốn ngập chìm chết. Tại sao ? Vì bạn còn
tâm thử nghiệm Bồ Tát. Bồ Tát Quán Thế Âm
chẳng phải là học sinh, còn bạn cũng chẳng
phải là thầy giáo, thì tại sao bạn phải thử
Bồ Tát Quán Thế Âm ? Vì bạn chẳng tin Bồ Tát
Quán Thế Âm có đại thần thông như thế, cho
nên mới muốn thử nghiệm. Bạn thử nghiệm thì
chẳng quan trọng, song sinh mạng của bạn
phải hy sinh, đừng đem mạng sống ra làm trò
đùa. ‘’Xưng niệm danh hiệu của Ngài, thì
liền được vào chỗ cạn’’: Bạn xưng niệm danh
hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, trong sự bất tri
bất giác, thì sẽ được vào chỗ cạn. Trong
biển cả chẳng biết làm thế nào được vào bờ,
đó đều là thần lực của Bồ Tát Quán Thế Âm,
cho nên mới có cảm ứng như thế.
Nếu có trăm ngàn vạn ức chúng sinh, vì đi
tìm cầu vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não,
san hô, hổ phách, trân châu, các thứ châu
báu, vào trong biển lớn. Giả sử, có gió đen
thổi thuyền của họ, trôi dạt vào nước quỷ La
sát. Trong đó, dù chỉ có một người xưng niệm
danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì hết thảy
những người kia, đều được thoát khỏi nạn quỷ
La sát, bởi nhân duyên đó, mà có tên là Quán
Thế Âm.
Ðoạn văn này nói về quỷ La sát trong bảy nạn,
cũng có thể nói là nạn gió đen. Nếu có trăm
ngàn vạn ức chúng sinh, vì muốn tìm cầu
vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ
phách, chân châu bảy báu. Người thế gian đi
tìm cầu khắp nơi, bạn tranh giành, cho rằng
đó là quý báu, kỳ thật đều là vật ngoài
thân. Bạn chẳng minh bạch châu báu chân thật
của tự tánh, mà tham trước châu báu bên
ngoài, dù đắc được cũng chẳng có đại tác
dụng gì, đối với trong tự tánh của bạn.
Song, một số người đều muốn tìm cầu
‘’vàng’’. Mỗi quốc gia đều hoan hỉ vàng, cho
nên người dân cũng cho rằng đó là một vật
quý báu ít có, nên ngày đêm nghĩ phương pháp
để tìm cầu. Cho đến đất nước xảy ra giao
tranh cũng vì vàng. Tại sao con người lại
cho rằng vàng quý trọng như thế ? Là vì nó
rất hiếm hoi, vì ít cho nên trân quý. Nếu
vàng mà nhiều như đất, thì con người coi nó
cũng chẳng có giá trị gì. Do đó : ‘’Vật hiếm
hoi thì quý.’’ Vì ít cho nên ai ai cũng đều
hoan hỉ, thậm chí nằm mộng cũng mộng thấy
vàng, có người đến phi châu tìm vàng, có
người đến nước Mỹ để tìm vàng. Trước kia,
nghe nói ở Cựu Kim Sơn rất là nhiều vàng,
cho nên chạy đến nước Mỹ, nhất là người Hoa
đến nước Mỹ chuyên môn tìm vàng. Khi vàng ở
nước Mỹ khai quật rồi, thì chạy về Á Châu.
Nước Mỹ có Cựu Kim Sơn, còn Á Châu thì có
Tân Kim Sơn, rất nhiều người chuyên môn tìm
vàng. Vì người đến Mỹ để tìm vàng, nên bị
chết ở trong biển cũng chẳng biết bao nhiêu
người, có thể chết rất nhiều, vì trước kia
giao thông chẳng phương tiện như bây giờ,
tin tức cũng chẳng linh thông cho lắm, cho
nên chết rất nhiều người cũng chẳng biết, đó
đều là gặp phải nạn gió đen. Vàng là vật quý
báu nhất, bạc là vật quý báu thứ hai. Ngoài
ra còn lưu ly, người
Trung Quốc gọi lưu ly là
‘’thanh sắc bảo’’, vật quý màu xanh. Xa cừ
là một loại đá quý, mã não là một loại đá
ngọc, thứ đá này giống như não ngựa, bên
trong có đường gân đỏ như huyết, nên gọi là
mã não. San hô là cây san hô, có loại cao
hơn ba thước, tôi đã thấy qua loại cao hơn
một thước. San hô là do một loại trùng trong
biển biến thành, đó cũng là một thứ hóa
thạch, do trùng biến thành thực vật, giống
như cây, chất liệu của nó giống như đá ngọc,
nên rất quý giá.
Ở
Trung Quốc có một nhà giàu
có, gọi là Thạch Sùng, rất thích so sánh sự
giàu có với người khác. Một ngày nọ, ông ta
đến nhà của hoàng thân để phó yến, nhà này
là bà con của hoàng đế. Ðương thời hoàng đế
tặng cho một cây san hô, cao khoảng hơn hai
thước. Vì là vật của hoàng đế tặng nên đặc
biệt quý giá. Hoàng thân mời Thạch Sùng đến
nhà dùng cơm rồi, bèn đem cây san hô ra cho
thạch Sùng ngắm, ai biết Thạch Sùng dùng tay
cầm lên rồi ném xuống đất vỡ nát. Khiến cho
hoàng thân buồn rầu vô cùng mới nói : ‘’Ðó
là vật hoàng đế tặng cho tôi, sao anh lại
đập vỡ nó, bây giờ tiền bạc đâu có giá trị
gì.’’ Thạch Sùng nói : ’’Anh đừng có buồn,
tôi sẽ tặng anh một cây san hô, ngày mai mời
anh đến nhà tôi tùy ý anh lựa, muốn lấy cây
nào thì lấy.’’
Ngày kế tiếp hoàng
thân đến nhà Thạch Sùng tham quan, thì ngay
phòng khách chưng đầy cây san hô cao hơn ba
thước, hoàng thân thấy tâm bèn nghĩ : ‘’Ta
tuy là hoàng thân, mà chẳng giàu bằng anh
Thạch Sùng.’’ Do đó, bèn lựa một cây san hô
rồi từ giã ra về. Kết quả Thạch Sùng cũng vì
giàu có mà bị đấu tranh đến chết. Do đó :
‘’Người vì tài mà chết.
Chim vì ăn mà bỏ mạng’’.
Chúng sinh là điên đảo như thế. Tại sao mà
chết ? là vì ‘’ tiền tài’’. Hổ phách là một
thứ khoáng vật trong suốt màu vàng, do mỡ
của cây hệ tùng biến thành. Trân châu là một
loại vật chất hình tròn ở trong ngọc trai,
trong suốt óng ánh rất đẹp, gọi là trân
châu.
‘’Vào trong biển
lớn’’ : Con người vì muốn tìm cầu những báu
vật đó, bèn vào trong biển tìm những châu
báu. Ở trong biển nhiều châu báu nhất, nên
vào trong biển mà tìm cầu. ‘’Giả sử có gió
đen’’ : Gió đen là gì ? Tức là gió màu đen,
song thứ gió màu đen này, mỗi người cũng đều
có. Gì gọi là ‘’gió màu đen’’? Tức là khi
bạn nổi giận, thì sắc mặt của bạn phát đen.
Vì con người nổi giận nên có gió đen, nếu
không nổi giận thì chẳng có gió đen.
‘’Biển’’ là gì ?
Tức là ‘’biển tánh’’ của chúng ta, biển tánh
của tự tánh. ‘’Gió đen’’ dụ cho vô minh của
chúng sinh, ‘’vô minh’’ còn gọi là ‘’phiền
não’’. Nếu bạn sinh phiền não tức là có gió
đen. Nếu chẳng có phiền não, thì trong
‘’biển tự tánh’’ của bạn gió yên sóng lặng.
Làm thế nào mới tìm cầu được châu báu ? Là
đi vào trong tự tánh phát quật chân báu tự
tánh. Khi bạn muốn phát quật châu báu tự
tánh, thì lúc đó sẽ gặp chướng ngại. Vì sao
có chướng ngại ? Là vì đức hạnh của mình
chẳng đủ, đức tính chẳng đủ, đạo đức chẳng
đủ, công đức chẳng đủ. Vì chẳng làm công
đức, nên đức hạnh cũng chẳng viên mãn. Ðức
hạnh chẳng viên mãn, cho nên mới có gió đen,
mới có ma chướng. Nếu đức của bạn lớn, thì
gió đen sẽ biến hóa thành mây cát tường. Do
đó có câu rằng :
‘’Ðạo cao long hổ phục,
Ðức trọng quỷ thần khâm’’.
Nếu người đạo hạnh cao, thì dù rồng thấy bạn
cũng khoanh lại. Rồng vốn rất là lợi hại, nó
có thể dời núi lấp biển, nếu rồng dụng thần
thông thì núi cũng sẽ dời đi, biển cũng dời
đi, do đó thế lực của rồng rất là lợi hại.
Song, nếu bạn có đạo thì tuy rồng có thần
thông quảng đại, cũng chẳng dám thị uy ở
trước mặt bạn, mà lão lão thật thật khoanh
lại. Cọp tuy hung dữ nhất, song nếu bạn thật
sự chẳng có nóng giận, thì cọp thấy bạn sẽ
thuần phục bạn, cuối đầu vẫy đuôi, tỏ vẻ
hoan nghênh, chẳng làm dữ cắn bạn. Song, bạn
phải có đức hạnh thì mới có cảnh giới này.
Nếu chẳng có đạo đức, thì rồng cũng chẳng
khoanh, cọp cũng chẳng nằm.
‘’Ðức trọng quỷ
thần khâm’’. Nếu bạn đủ đức hạnh viên mãn,
thì dù quỷ thần gặp bạn, cũng đều cung kính
bạn, tôn trọng bạn, hướng về bạn cuối đầu
đảnh lễ. Cho nên quan trọng nhất của con
người, là phải có đức hạnh.
‘’Gió đen thổi thuyền của họ trôi dạt vào nước
quỷ la sát’’ : Quỷ la sát là loài quỷ ăn
tinh khí, đa số nữ tính, chuyên môn ăn tinh
khí của người. Nếu thuyền bị gió đen trôi
dạt vào nước quỷ la sát, nếu trong đó chỉ có
một người phát tâm xưng danh hiệu Bồ Tát
Quán Thé Âm, thì tất cả mọi người đó, thậm
chí trăm ngàn vạn ức chúng sinh, đều được
thoát khỏi nặn quỷ la sát. Bởi nhân duyên
đó, nên tên của Bồ Tát đó, gọi là Bồ Tát
Quán Thế Âm.
Nói đến ‘’đức
hạnh’’, mọi người đều nên chú trọng về đức
hạnh, sở dĩ người khác với cầm thú, là vì có
đức hạnh. Nếu chẳng trọng đức hạnh, thì
chẳng nói về đức hạnh, chẳng phân biệt với
cầm thú, mà đạo đức là do tu hành thực tiễn
tích thành, bằng không thì vốn chẳng có đạo
đức để nói.
Tại quê hương đông bắc, tôi có một người bạn
tri kỷ, sao anh ta trở thành bạn tri kỷ của
tôi ? Vì anh ta và tôi là đồng đạo. Khi tôi
còn tại gia, đã từng vì mẫu thân thủ hiếu,
còn anh ta cũng thủ hiếu mẹ bên cạnh mộ
phần. Chỗ khác nhau là khi tại gia thì anh
ta là kẻ trộm cướp, trước khi thủ hiếu thì
anh ta chuyên môn trộm cướp. Có một lần, anh
ta trộm cướp đánh lại với họ, chẳng may anh
ta thất bại và bị thương, vết thương điều
trị hơn nửa năm mà chẳng lành, lúc đó anh ta
tỉnh ngộ, bèn nghĩ rằng :’’Do mình làm việc
quấy, cho nên vết thương này chẳng lành.’’
Do đó, bèn quyết tâm phát nguyện : ‘’Nếu vết
thương này mà lành lại, thì sau này tôi
chẳng làm trộm cướp nữa’’, và còn đến bên
cạnh mộ của cha mẹ thủ hiếu. Anh ta phát
nguyện rồi, quả nhiên chưa được mấy ngày,
thì vết thương tự nhiên lành hẳn. Do đó, mà
tiếp tục thủ hiếu. Trong khi thủ hiếu, có
rất nhiều chuyện phát sinh. Nay nói ra một
câu chuyện cắt thịt để tế trời.
Khi anh ta thủ
hiếu, thì trời mưa cả mấy tháng không ngừng.
Anh ta tự nhủ :
‘’Mùa màng ngũ cốc
của dân chúng trồng, sắp bị nước mưa ngập
lụt chết.’’ Bèn phát tâm vì dân chúng cầu
cho trời hết mưa, mà phát nguyện rằng :
‘’Nếu trong vòng ba ngày mà hết mưa, thì tôi
sẽ cắt thịt trên thân của mình, để cúng
dường trời Phật.’’ Sau khi anh ta phát
nguyện rồi, thì thật là lạ thay, chưa đến ba
ngày thì trời hết mưa. Anh ta bèn thực hành
lời hứa của mình, lấy đao cắt thịt của mình.
Anh ta cắt thịt xong, vì đau đớn vô cùng nên
bị hôn mê bất tỉnh, lúc sau mới tỉnh đậy.
Lúc đó, có vị huyện trưởng đi ngang qua đó,
nhìn thấy khắp nơi đều có máu tâm nghĩ :
Người này cắt thịt của mình, chẳng biết là
để làm gì ? Hay là anh ta bị điên ? Bèn hỏi
anh ta thì mới biết anh ta vì dân chúng cầu
cho dừng mưa, cắt thịt dâng cúng trời Phật.
Ông huyện trưởng nghe rồi thì rất hoan hỉ :
‘’Anh thật là người tốt’’! Có ấn tượng tốt
đối với
anh ta. Sau đó chẳng biết từ
đâu bay đến một con chim nhỏ, con chim đó
kêu rất đặc biệt, kêu rằng: ‘’Làm nhiều công
đức, làm nhiều công đức, làm công đức nhiều
thì tốt lắm.’’ Kêu như thế rồi bay đi.
Cho nên vì sao mà
tôi cũng chẳng sợ khổ, ban ngày làm việc,
chẳng có chút thời gian xem kinh Phật, còn
ban đêm thì vì mọi người giảng kinh. Vì muốn
làm chút bố thí, dùng pháp để bố thí. Ở nước
Mỹ, có thể nói là pháp thiếu thốn nhất, do
đó tôi phát nguyện, vì các bạn bố thí Phật
pháp, dù khổ nhọc tôi cũng chẳng đình công.
Nếu lại có người, bị người khác cầm đao làm
hại, xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm,
thì đao gậy của kẻ kia cầm, bèn gãy ra từng
đoạn, mà được giải thoát.
Ðoạn kinh này nói về nạn đạo gậy. Nếu như có
người, khi bị người khác cầm đao muốn giết
hại, nếu người đó xưng niệm danh hiểu của Bồ
Tát Quán Thế Âm thì ‘’đao gậy của kẻ kia
cầm’’ : Kẻ kia là chỉ người muốn giết hại
anh ta. Ðao gậy là vũ khí cầm tay, khi muốn
chém bạn thì ‘’Bèn gãy ra từng đoạn’’, khi
bạn xưng niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì tự
nhiên cổ của bạn cứng hơn cây đao. Bổn lai
cây đao cứng hơn cổ của bạn, song bây giờ
khi cây đao dơ lên chặt cổ của bạn, thì tự
nhiên gãy ra từng đoạn. Nếu không tin thì
hãy thử xem cái cổ của bạn có cứng như thế
chăng ? Cây đao đó sao lại gãy ra từng đoạn
? Chẳng những gãy ra một đoạn, mà còn gãy ra
nhiều đoạn, thậm chí cây đao đó gãy vụn ra.
‘’Mà được giải thoát’’ : Nhờ thế mà thoát
khỏi nạn đao gậy. Ðạo lý giải thoát được là
gì ? Là vì anh ta phát tâm niệm Bồ Tát Quán
Thế Âm. Có người hoài nghi : ‘’Niệm danh
hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, mà có sự linh cảm
như thế chăng?’’ Chẳng những linh cảm như
thế, mà còn linh cảm nhiều hơn việc này !
Chỉ cần bạn thành tâm tin tưởng, thành tâm
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì sẽ có những sự
việc phát sinh, cảm ứng hơn là việc đó.
Nếu trong ba ngàn đại thiên thế giới, đầy
dẫy quỷ Dạ xoa và la sát, muốn đến làm hại
người, mà nghe họ xưng niệm danh hiệu Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì các ác quỷ đó, còn không
thể dùng mắt dữ mà nhìn họ, huống chi lại
làm hại. Nếu như lại có người, hoặc có tội,
hoặc không có tội, bị gông cùm siềng xích,
trói buộc thân họ, mà xưng niệm danh hiệu Bồ
Tát Quán Thế Âm, thì gông cùm siềng xích đều
gãy tan, mà được giải thoát.
Ðoạn văn này giải trừ nạn quỷ Dạ xoa, quỷ la
sát và giải trừ nạn gông cùm siềng xích.
‘’Nếu trong ba ngàn đại thiên thế giới’’ :
Ba ngàn đại thiên thế giới là gì ? Vì có chữ
ba ngàn, cho nên gọi là ba ngàn đại thiên
thế giới. Thế giới của chúng ta đây, có một
mặt trời mặt trăng, một núi Tu Di, một tứ
thiên hạ. Một tứ thiên hạ tức là : Nam Thiệm
Bộ Châu, Bắc Câu Lư Châu, Tây Ngưu Hóa Châu,
Ðông Thắng Thần Châu, bốn đại bộ châu. Bốn
đại bộ châu này là ‘’một tứ thiên hạ’’,
‘’một’’ là chỉ một núi Tu Di, một mặt trời,
một mặt trăng, và bốn đại bộ châu. Có một
ngàn núi Tu Di, một ngàn mặt trời, mặt
trăng, một ngàn một tứ thiên hạ, đây gọi là
một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên
thế giới hợp lại, là một trung thên thế
giới. Một ngàn trung thiên thế giới, là một
đại thiên thế giới, vì có chữ ba ngàn, cho
nên gọi là ‘’ba ngàn đại thiên thế giới’’.
‘’Trong đó đầy dẫy
quỷ Dạ xoa’’ : Trong ba ngàn đại thiên thế
giới đó, đều đầy dẫy quỷ Dạ xoa. Dạ xoa gồm
có phi hành Dạ xoa, địa hành Dạ xoa, không
hành Dạ xoa. Những loài quỷ này, chạy đặc
biệt rất nhanh, dù hỏa tiển hiện đại, cũng
chạy chẳng bằng chúng, cho nên gọi là quỷ
tốc tật, hoặc là quỷ tiệp tật (quỷ chạy
nhanh). La sát tức là quỷ ăn tinh khí, chúng
chuyên môn ăn tinh khí của người. ‘’Muốn đến
làm hại người’’ ? Loài quỷ Dạ xoa và quỷ la
sát, đều chuyên môn hại người, đi khắp nơi
nhiễu hại người. Ví như bạn muốn phát bồ đề
tâm, thì chúng nhất định chẳng vui vẻ, cho
nên cố ý gây thêm phiền não cho bạn, mà nghĩ
ra đủ thứ phương pháp chướng ngại bạn, khiến
cho bạn chẳng thể tu hành, kêu bạn thối đạo
tâm. Bổn lai bạn phát bồ đề tâm rất dũng
mãnh, song, chúng kiềm tỏa thân của bạn, dạy
bạn tự nhiên vọng tưởng lên rằng : ‘’Tu để
làm cái gì ? Học Phật pháp có ích gì ? Hay
là đừng học Phật pháp, đi đến những nơi khác
làm gì cũng rất tự do, muốn nhảy đầm thì
nhảy, muốn nghe âm nhạc thì nghe. Học Phật
thì những thứ đó chẳng thể làm được, nhiều
thứ làm chẳng được, lại không thể xem phim,
không thể uống rượu, lại không thể hút
thuốc, bạn thấy đó, nhiều thứ không thể làm,
Phật pháp càng học càng chán nãn’’! Ai có
những tư tưởng như thế, tức là quỷ Dạ xoa,
la sát đến dạy bạn nghĩ như thế. Có người
nghĩ muốn xuất gia làm hòa thượng, thì chúng
dạy bạn nghĩ : ‘’Làm Hòa thượng khổ quá !
Suốt ngày đến tối phải làm việc, lại ăn
chẳng ngon, mặc chẳng đẹp, khổ hạnh quá, bạn
đi làm Hòa thượng có ý nghĩa gì’’? Do đó,
bèn thối đại tâm. Lại có người nghĩ muốn làm
Tỳ Kheo ni, thì quỷ Dạ xoa la sát cũng đến
dạy bạn nghĩ: ’’Hay là đi lấy chồng, có
chồng thì mỗi ngày đều có chồng lo, toại tâm
mãn dục’’. Tức là chúng muốn cho bạn không
thể phát tâm bồ đề, đó là việc của quỷ Dạ
xoa la sát, chuyên môn tổn hại đạo tâm bồ
đề, phá hoại người tu hành. Cho nên nói :
‘’Muốn đến não hại người’’. ‘’Thì các ác quỷ
đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn’’ : Một
khi niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì tự nhiên
phóng ra đại quang minh, quỷ đó muốn nhìn
bạn, cũng nhìn chẳng thấy, vì chúng nhìn bạn
tựa như đèn điện chiếu sáng, mắt cũng mở
chẳng ra, cho nên nói ‘’còn không thể dùng
mắt dữ mà nhìn’’. ‘’Huống chi lại làm hại’’
: Chúng mắt cũng mở chẳng lên, lại làm sao
mà làm hại bạn ? Tự nhiên bèn bỏ bạn chạy
xa. Do đó, bạn nên luôn luôn niệm Bồ Tát
Quán Thế Âm thì mới bảo đảm.
‘’Nếu như lại có
người’’ : Giả sử lại có người như thế.
‘’Hoặc có tội, hay không có tội’’ : Bất cứ
là có tội, hoặc chẳng có tội. ‘’Gông cùm
xiềng xích’’ : Người có tội thì sẽ bị chính
phủ bắt đi, tay bị còng, cổ bị gông cùm,
người có tội là chỉ người phạm tội, người
chẳng có tội là người bị oan uổng, bị vu
cáo, mình vốn chẳng phạm tội, mà bị chính
phủ bắt đi nhốt vào lao tù. Gông cùm xiềng
xích, đều là hình cụ của người phạm tội
mang, trói buộc lại. Nếu bạn lúc đó xưng
niệm Nam Mô Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, thì
gông cùm xiềng xích đều gãy tan. Những hình
cụ đó tự nhiên gãy ra. ‘’Ðều được giải
thoát’’: Lập tức bèn được giải thoát, tự do.
Gông tự động gãy, cùm tự động mở. Tóm lại,
bất cứ hình cụ gì trên thân của bạn, đều tự
nhiên mở ra, những tình hình như thế tôi
thấy qua rất nhiều.
Có một lần, tôi ở
chùa Nam Hoa gặp một vị Hòa Thượng, vào thời
kỳ Nhật xâm lược
Trung Quốc, vị Hòa Thượng đó
bị Nhật bắt đi nhốt vào lao ngục, tay chân
đều bị còng. Ngài ở trong ngục suốt ngày
niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, niệm niệm
không ngừng, một đêm nọ, hốt nhiên gông cùm
trên thân của Ngài tự động gãy ra rớt xuống,
cửa ngục cũng tự động mở ra, cho nên Ngài
thoát khỏi ngục tù, được tự do giải thoát.
Nếu trong ba ngàn đại thiên thế giới, đầy
dẫy những kẻ oán tặc, có một người chủ buôn,
đem theo các người buôn bán, mang theo rất
nhiều châu báu quý giá, đi qua con đường
hiểm, trong đó có một người xướng lên rằng :
Các thiện nam tử ! Chớ có sợ hãi, các ông
nên một lòng xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán
Thế Âm, vì vị Bồ Tát đó, hay đem sự vô úy
thí cho chúng sinh. Nếu các ông xưng niệm
danh hiệu của Ngài, thì ở nơi oán tặc nầy,
sẽ được giải thoát. Các người buôn nghe rồi,
đều xưng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát, vì
xưng niệm danh hiệu của Ngài, nên được giải
thoát.
‘’Nếu trong ba ngàn đại thiên thế giới’’ : Nếu
như trong ba ngàn đại thiên cõi nước. ‘’Ðầy
dẫy những kẻ oán tặc’’ : Trong ba ngàn đại
thiên thế giới, chỗ nào cũng có oán tặc. Oán
tặc là có oan trái với bạn trong quá khứ,
cho nên đời này làm oán tặc, để đến cướp đồ
của bạn. ‘’Có một người chủ buôn’’: Có một
người làm chủ buôn bán, đem theo rất nhiều
người làm ăn buôn bán, lại mang theo rất
nhiều báu vật quý giá, đi qua nơi có trộm
cướp. Song, trong số người buôn đó, có một
người đề nghị nói với đại chúng : ‘’Các vị
thiện nam tử, các vị huynh đệ ! Xin mọi
người đừng lo âu sợ hãi. Chúng ta mọi người,
hãy nên một lòng niệm danh hiệu Nam Mô Quán
Thế Âm Bồ Tát.
Vì vị Bồ Tát đó,
hay đem tinh thần vô úy để bảo hộ hết thảy
chúng sinh. Hiện tại nếu mọi người chúng ta
niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
sẽ thoát khỏi những oán tặc này, mà được
giải thoát, và chẳng bị bọn cướp trộm cướp
hoặc giết hại’’. Những người buôn đó nghe
rồi, mọi người đều cùng nhau xưng niệm Nam
Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Vì xưng niệm danh
hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, quả nhiên thoát
khỏi nạn oán tặc, chẳng bị bọn cướp trộm
cướp. Vì đó là cảm ứng không thể nghĩ bàn,
cho nên mỗi người đều nên phát tâm tin chân
thành, đừng có hoài nghi.
Vô Tận Ý ! Sức oai thần của đại Bồ Tát Quán
Thế Âm, rộng lớn như thế.
Ðức Phật nói xong đạo lý kinh văn ở trên rồi,
lại tiếp tục kêu một tiếng : ‘’vô Tận Ý !
Sức oai thần của đại Bồ Tát Quán Thế Âm rộng
lớn vĩ đại như thế, nói cũng không hết.’’
Nếu có chúng sinh nhiều lòng dâm dục,
thường niệm cung kính Bồ Tát Quán Thế Âm,
thì sẽ lìa khỏi lòng dâm dục.
Nếu như có loài chúng sinh đặc biệt nhiều lòng
dâm dục. Có người một mặt học Phật, một mặt
sinh tâm dâm dục, học Phật pháp càng nhiều,
thì tâm dâm dục của họ càng tăng trưởng,
suốt ngày đến tối đều vọng tưởng về dâm dục,
giống như suối nước chảy không ngừng. Ðó là
thứ tư tưởng xấu nhất, hành vi và biểu hiện
đê hèn. Vậy thì phải làm thế nào ? Bạn đừng
lo lắng, đừng buồn rầu. Chỉ cần bạn ‘’Thường
niệm cung kính Bồ Tát Quán Thế Âm’’, song
chỉ tụng niệm Nam Mô Quán Thế Âm thì vẫn
chưa đủ, còn phải đem tâm cung kính chân
thành ra, hướng về Bồ Tát Quán Thế Âm lễ
bái. Ðảnh lễ Phật và Bồ Tát là một biểu hiện
cung kính nhất. Song một số người chẳng hiểu
đạo lý này, nhất là kẻ ngoại đạo thấy mọi
người lạy Phật, thì phê bình nói những lời
mù : ‘’Ðó là tượng gỗ tượng đá, lạy lại có
ích gì ?’’ Vì mình chẳng có trí huệ, chẳng
nhìn thấy cảnh giới Phật quang phổ chiếu,
ngược lại sinh đại ngã mạn, thậm chí xem
mình còn lớn hơn Phật, cho nên nói hà tất
phải lạy Phật ! Ðó là người ngu si đến cực
điểm. Nếu thường hay niệm cung kính Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì tâm dâm dục của bạn tự
nhiên sẽ lìa khỏi. Có người nói : ‘’Không
xong rồi ! Tôi thích dâm dục mà bây giờ
không còn thì làm sao?’’ Nếu bạn thích có
dâm dục, thì cũng đừng lo lắng, vẫn có thể
có. Nếu không thích có thì có thể không có.
Nếu bạn thích có, thì hà tất niệm Bồ Tát
Quán Thế Âm ? Cứ giữ nó như thường.
Nếu người nhiều sân hận, thường niệm cung
kính Bồ Tát Quán Thế Âm, thì sẽ lìa khỏi sân
hận.
Sân hận là gì ? Sân hận tức là phiền não, tức
cũng là vô minh. Sân hận lợi hại như lửa. Do
đó có câu :
‘’Một đốm lửa nhỏ,
Ðốt sạch rừng công đức.’’
Cổ nhân cũng nói :
’’Ngàn ngày nhặt củi,
Ðốm lửa thiêu sạch.’’
Nghĩa là bạn nhặt củi cả ngàn ngày, song chỉ
cần một chút lửa, thì sẽ đốt sạch đống củi
đó. Ðây là hình dung công đức lành mà chúng
ta làm hằng ngày, tuy tu trì nhiều thời,
song một khi bạn nóng giận, thì sinh ra lửa
vô minh, đốt sạch công đức đã tích tập từ
lâu. Người thích nổi lửa vô minh tức là A tu
la, mỗi người đều có con đường xu hướng. Có
người hướng về Phật đạo, thì tính cách của
họ đa số là từ bi, về cõi tiên thì thích
thanh nhàn, về cõi người thì có duyên với
người khác, về đường ngạ quỷ thì đa số là
tính giảo hoạt, chẳng chịu thiệt thòi, là
người chẳng thành thật, về đường súc sinh
thì lòng tham dục nặng, về đường A tu la thì
thích nổi nóng, thứ người này, động hay
chẳng động cũng đều nổi lửa nóng giận. Loại
người này phải làm thế nào ? Có phương pháp
gì có thể thay đổi ? Bộ Kinh Pháp Hoa này đã
nói rõ ràng, tức là phải thường niệm : ‘’Nam
Mô Quán Thế Âm Bồ Tát’’, chỉ cần niệm luôn
luôn đừng gián đoạn. Mỗi khi đến chùa nào,
phàm là có cúng Phật, hoặc cúng Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì nên cung kính đãnh lễ. Cũng đừng
hôm nay lễ, ngày mai thì lại không; sáng nay
đảnh lễ, tối thì chẳng lạy. Nếu kiền, thành,
hằng, thường kính lễ chư Phật Bồ Tát, thì
lâu dần tính nóng giận của bạn sẽ chẳng còn
nữa, cho đến chính bạn cũng chẳng biết sự
việc thế nào ? Nếu bạn không tin, thì tôi sẽ
nói ra một sự kinh nghiệm của chính tôi, để
cho các vị mượn làm cảnh.
Trước kia tôi cũng
là người rất nóng giận, nói đánh người là
đánh người, nói chưởi người thì chưởi người.
Khi tôi mười hai mười ba tuổi thì thích chỉ
huy, bất cứ bạn lớn cỡ nào ở cùng chỗ với
tôi, thì phải nghe sự chỉ huy của tôi, nếu
chẳng nghe tôi chỉ huy, thì tôi sẽ đánh !
Chết cũng muốn đánh, đánh đến khi nào bạn
đầu hàng mới thôi, đó là hành vi củ A tu la.
Về sau, tôi học Phật thì mới giác ngộ tính
nóng giận là không đúng, bèn sửa lỗi làm
mới, thường niệm cung kính Bồ Tát Quán Thế
Âm. Cho nên hiện tại làm sư phụ, cũng phải
tu hạnh nhẫn nhục. Có khi đệ tử đến coi
thường sư phụ, trước hết nổi nóng, song tôi
đề thanh hạ khí nhẫn nhục, đến khi anh ta từ
từ sẽ hiểu là mình sai quấy. Trước kia, tôi
nóng giận với người khác, bây giờ bị đệ tử
đến khi phụ tôi, đây có thể nói là báo ứng.
Có người nói : ‘’Ðệ tử nào đến khi phụ Thầy
?’’ Người khi phụ tôi tức là người đó.
Nếu người nhiều ngu si, thường niệm cung
kính Bồ Tát Quán Thế Âm, thì sẽ lìa khỏi ngu
si.
Ở trước đã nói về tham và sân, bây giờ nói
về si, đây gọi là ba độc. Ba độc này, đầu
độc Phật tánh của con người hôn mê như là
ngủ. Tại sao chẳng giác ngộ, một đời đều
sống trong cơn say, chết trong ảo mộng ? Là
vì ba độc này. Tham tức là dâm dục, dâm dục
là lợi hại nhất đối với tự tánh, thế mà một
số người cho rằng đó là sự hưởng thụ cao
nhất, cho nên cứ làm những hành vi điên đảo,
thứ bụi bặm này càng ngày càng nhiều, vì
Phật tánh quang minh của bạn chẳng hiển
hiện, đó là sự lợi hại của tham độc. Sân độc
cũng như tham độc, lợi hại vô cùng.
Bây giờ nói về si độc. ‘’Ngu si’’ là gì ? Tức
là cảm thấy mình chẳng ngu si, đó càng là
ngu si. Cho rằng mình là người rất thông
minh có trí huệ, thật tế bạn hỏi họ : ‘’Anh
từ đâu đến ? Tương lai anh đi về đâu ?’’ Thì
họ chẳng biết, đến chẳng biết đến, đi chẳng
biết đi, bạn nghĩ rằng người như thế là
thông minh nhất chăng ? Song họ chẳng thừa
nhận mình là người ngu si. Do đó :
‘’Danh lợi việc nhỏ ai cũng ham
Sinh tử việc lớn chẳng ai màng.’’
Trên thế giới này, cầu danh cầu lợi tuy là
việc nhỏ, song con người suốt ngày vì nó mà
bôn ba lao nhọc, thậm chí đi hại người, giết
người cũng vì ‘’lợi’’. Chẳng phải vì lợi,
thì là vì ‘’danh’’. Người của các nước trên
thế giới này, nhiều đếm chẳng hết được, song
hợp lại mà nói thì chỉ có loại hai người.
Tức là, một là cầu danh, một là cầu lợi.
Danh và lợi chi phối làm cho con người điên
đảo, song vẫn chưa tỉnh, từ sinh ra đến chết
đi đều hồ đồ. Có người tham cầu làm quan, có
người cầu phát tài, có người cầu con trai
con gái, một đời khát vọng các thứ khoái
lạc, song hưởng thụ chẳng bao lâu thì chết
đi. Chết rồi sinh về đâu cũng chẳng biết.
Khi sống thì cho mình là bất phàm, cảm thấy
là ngon lành lắm, mình là người có trí huệ
rất thông minh, thậm chí học ở nhà trường
năm nào tôi cũng đứng nhất lớp, bất cứ làm
việc gì tôi cũng đứng đầu, cao hơn mọi
người, tự cho rằng thông minh khác thường.
Kỳ thật, cho đến mặt mũi của mình cũng chẳng
nhận thức được, sự thông minh của bạn đều là
giả, đó là thông minh giả. Nếu bạn có trí
huệ thật sự, thì chẳng cảm thấy mình có trí
huệ. Vậy nói là cảm thấy mình ngu si chăng ?
Cũng chẳng cảm thấy mình là ngu si, càng
chẳng cảm thấy có trí huệ. Tuy trên bề mặt
nhìn lại, đồng thân thể hình trạng với một
số người, song những tư tưởng quan niệm bạn
đều minh bạch. Minh bạch hết thảy tất cả,
như huyễn như hóa. Biết hết thảy tất cả đều
giả, thì bạn chẳng tham trước những vinh hoa
phú quý ở trong mộng, tham đồ sắc đẹp, tranh
ta người, tranh đúng sai, tranh hạng nhất,
tranh danh đoạt lợi, mà thấy rõ tất cả đều
là vô thường. Cho nên trong Kinh Kim Cang có
nói :
’’Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ diệc như điện,
ứng tác như thị quán’’.
Nghĩa là:
Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bọt bóng
Như sương cũng như điện
Hãy quán sát như vậy.
Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bọt bóng.
Pháp hữu vi là gì ? Tức là tất cả có hình
tướng, có thể nhìn thấy được, đều gọi là
pháp hữu vi, tựa như mộng huyễn bọt nước.
Bọt nước ở trong biển, bạn nói là thật hay
là giả ? Nói là thật, nó lại hóa là không,
nói là giả mà nó lại có bọt nước. Tuy có bọt
nước, nhưng chẳng thật tại, chẳng có thể
tánh chân thật. Bóng cũng là hư huyễn, lại
giống như giọt sương, sáng sớm thì có giọt
sương, nhưng khi mặt trời xuất hiện, thì nó
lại tiêu mất. Ðiện cũng là có, song điện
quang lửa đá chuyển nháy mắt thì mất, cũng
chẳng chân thật. Nếu quán tưởng tất cả sự
vật như thế, thì có gì để chấp trước ? Chẳng
có gì chấp trước, thì mới thật minh bạch,
cũng chẳng tưởng đông nghĩ tây, càng không
tưởng nam nghĩ bắc, buông xả hết tất cả
những trần lao vọng tưởng. Buông xả hết được
tất cả trần lao vọng tưởng, thì lúc đó bạn
không muốn thành Phật cũng không được, muốn
chẳng có trí huệ cũng không thể được, tự
nhiên sẽ có.
Cho nên, khi mình
chẳng có trí huệ, thì đừng cho rằng mình có
trí huệ. Trí huệ chẳng phải từ bên ngoài
đến, đừng sinh ra tâm kiêu ngạo : ‘’Ở trong
tất cả mọi người, ta là thông minh nhất, đẹp
nhất, nổi bậc hơn tất cả mọi người, chẳng
giống mọi người !’’ Nếu bạn có tư tưởng như
thế, thì tức là chấp tướng. Tướng vốn là túi
da hôi thối, như mộng huyễn bọt bóng. Bạn
suốt ngày tới tối mặc quần áo đẹp cho nó, ăn
đồ ngon, hết lòng vì nó mà hưởng thụ. Song,
đến lúc nó muốn đi, thì nó chẳng màng đến
bạn. Có người chuyên vì túi da hôi thối mà
hút thuốt, lại uống rượu, lại ăn thịt. Suốt
ngày đến tối cứ lấp cho cái đáy sâu không
đáy này, lấp đầy rồi lại vơi, vơi rồi lại
đầy, vĩnh viễn lấp chẳng đầy, vì mình mà bận
tới bận lui.
Tại sao tôi mỗi
ngày ăn một bữa ? Là vì sợ phiền não, cho
nên ăn ít một chút, thì bớt đi rất nhiều
phiền não. Một số người cho rằng, ăn đồ ngon
là hưởng thụ tốt nhất, tôi thì cho rằng là
việc phiền não. Vậy giải thích sao đây ? Nếu
ăn nhiều thì trong bụng chẳng thoải mái, mà
ăn ít thì lại sinh tâm tham : ‘’Vì ăn ngon
thì lại ăn thêm một chút.’’ Nếu ăn đồ chẳng
ngon, thì chẳng sinh ra tâm tham, bụng cũng
chẳng thọ tội, cho nên đây đều là việc phiền
não. Tại sao con người có những phiền não ?
Vì mình quá ngu si, mới tham hưởng thụ, cầu
giàu sang, cầu danh lợi, cầu sung sướng, đủ
thứ đâu chẳng phải là điên đảo ? Bạn tham
cái này, cái kia, kết quả lại thế nào ? Ðến
lúc vẫn phải chết như nhau. Khi chết, một
chút gì cũng chẳng mang theo được, đó chẳng
phải là ngu si chăng ? Nếu ngu si như thế,
thì phải làm thế nào ? Y chiếu theo Kinh
Pháp Hoa : Thường niệm cung kính Bồ Tát Quán
Thế Âm. Khi ngu si đi rồi, thì trí huệ sẽ
đến. Ai biết được mình ngu si, thì người đó
mới chân chánh nhận thức được mình, đã có
trí huệ, thì mới cảm thấy mình là ngu si,
càng chạy càng xa. Mình vốn là ngu si, mà tự
cho rằng là thông minh, đó chẳng phải là ngu
si lại thêm ngu si chăng ? Một cái ngu si
vốn chưa đủ, mà biến thành hai cái ngu si.
Nếu bây giờ chúng ta không muốn ngu si, thì
phải thường niệm cung kính Bồ Tát Quán Thế
Âm. Ðây là cách diệu nhất, linh nhất, tuyệt
đối diệu không thể tả
Nói về ngu si và
trí huệ. Gì là ngu si ? Gì là trí huệ ? Tôi
nói về một đạo lý, mà chắt các vị chẳng tin
: ’’Ngu si tức là trí huệ, trí huệ tức là
ngu si.’’ Tại sao lại nói như thế ? Ở trong
Kinh Bát nhã có nói :’’Sắc chẳng khác không,
không chẳng khác sắc. Sắc tức là không,
không tức là sắc.’’ Cảnh giới này nói rõ về
chân sắc, là từ chân không sinh ra, chân
không là từ chân sắc mà có, cho nên hai mà
chẳng hai. Trí huệ và ngu si cũng như đạo lý
đó. Nếu bạn dùng được thì càng ngu si. Ngu
si và trí huệ cũng chẳng phải hai, xem thử
bạn có dùng được chăng ? Nếu bạn dùng được,
thì ngu si cũng biến thành trí huệ, nếu
chẳng dùng được, thì trí huệ sẽ biến thành
ngu si. Nếu bạn thật sự minh bạch đạo lý
này, thì chẳng điên đảo.
Vô Tận Ý ! Bồ Tát Quán Thế Âm có những sức
đại oai thần như thế, làm nhiều sự lợi ích,
cho nên chúng sinh thường hay niệm. Nếu có
người nữ muốn cầu con trai, mà lễ lạy cúng
dường Bồ Tát Quán Thế Âm, thì sẽ sinh được
con trai phúc đức trí huệ. Nếu muốn cầu con
gái, thì sẽ sinh được con gái đoan chánh
xinh đẹp, thuở xưa đã từng trồng gốc công
đức, được mọi người kính mến.
Ðức Phật giảng đoạn kinh ở trên xong rồi, lại
gọi một tiếng Bồ Tát Vô Tận Ý nói :’’Bồ Tát
Quán Thế Âm như ở trước có nói, có các thứ
sức oai thần cứu bảy nạn, giải ba độc, Ngài
còn có thần thông diệu dụng lợi ích chúng
sinh, cho nên trong tâm chúng sinh thường
hay niệm Bồ Tát Quán Thế Âm’’. Chỗ này mọi
người đều phải đặc biệt chú ý ! ‘’Tâm thường
hay niệm’’ : Chẳng phải miệng niệm mà tâm
không niệm. Nếu tâm niệm mà miệng không niệm
cũng được. Tóm lại, phải từ từ, vĩnh viễn
nhớ danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. ‘’Nếu có
người nữ muốn cầu con trai’’. Nếu như có
người phụ nữ muốn cầu sinh được một cậu con
trai, thì hãy chiếu theo pháp môn đã nói ở
trong Kinh Pháp Hoa, tức là phải lễ lạy và
dùng hương hoa trái cây, cúng dường Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì tự nhiên sẽ được con trai
đầy đủ phước đức trí huệ. Nếu cầu con gái
thì sẽ sinh được con gái tướng mạo xinh đẹp.
‘’Trước đã trồng gốc công đức, được mọi
người kính mến. Tại sao lại có tướng đoan
chánh xinh đẹp ? Ðó đều là do đời trước,
hoặc đã từng mua hương hoa, dùng các thứ đồ
trang nghiêm, cúng dường chư Phật Bồ Tát, do
công đức cúng dường tích tụ trong quá khứ,
cho nên cảm ứng đời đời được tướng mạo viên
mãn trang nghiêm, ai thấy cũng ưa mến.
Vô Tận Ý ! Bồ Tát Quán Thế Âm có sức oai
thần như thế. Nếu có chúng sinh cung kính lễ
bái Bồ Tát Quán Thế Âm, thì phước chẳng tổn
giảm, cho nên chúng sinh đều hay thọ trì,
danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.
Vô Tận Ý ! Nếu
có người thọ trì, sáu mươi hai ức Hằng hà sa
danh hiệu các Bồ Tát, lại suốt đời cúng
dường thức ăn uống, quần áo, đồ nằm, thuốc
thang. Ý ông như thế nào ? Người thiện nam,
thiện nữ đó, công đức có nhiều chăng ?
Vô Tận Ý nói : Rất nhiều, bạch đức Thế Tôn !
Ðức Phật nói : Nếu lại có người, thọ trì danh
hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, cho đến một thời lễ
lạy cúng dường, thì phước của hai người đó,
bằng nhau không khác, ở trong trăm ngàn vạn
ức kiếp không thể hết được.
Ðức Phật nói xong cứu bảy nạn, giải ba độc,
ứng hai cầu ở trên rồi, bây giờ lại nói :
‘’Vô Tận Ý ! Vị Bồ Tát Quán Thế Âm này, có
sức oai thần như đã nói ở trên. Nếu có chúng
sinh hay cung kính Bồ Tát Quán Thế Âm, phát
tâm lễ lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, thì phước của
họ chắc chắn tồn tại, chẳng luống qua. Vì
vậy cho nên, có những chúng sinh hay thọ trì
tụng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.’’
Nếu trong tâm của bạn thường trì niệm Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì được hết thảy phước báo
không thể nghĩ bàn, vi diệu khó dò.
Ðức Phật lại gọi
một tiếng : ‘’Vô Tận Ý ! Nếu như có người,
thọ trì sáu mươi hai ức Hằng hà sa số danh
hiệu các Bồ Tát. Chẳng những chỉ niệm và còn
suốt đời dùng hương, hoa, đèn, trái cây,
hoặc dùng thức ăn uống, quần áo, đồ nằm,
thuốc thang, bốn thứ cúng dường Tam Bảo. Ý
của
ông Vô Tận Ý nghĩ như thế nào
? Vị thiện nam tử, thiện nữ đó, đắc được
công đức có nhiều chăng ?’’
Phật hỏi xong rồi, thì Bồ Tát Vô Tận Ý trả lời
rằng: ‘’Công đức đó rất nhiều.’’ Phật nghe
Bồ Tát Vô Tận Ý nói rồi bèn nói : ’’Nếu như
có người khác hay niệm danh hiệu Bồ Tát Quán
Thế Âm, đừng nói người đó suốt đời cúng
dường, mà dù trong khoảng thời gian rất
ngắn, lễ bái cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm,
thì phước báu của hai người này đồng nhau,
trong trăm ngàn vạn ức kiếp, phước báu đó
cũng không hết được.
Vô Tận Ý ! Thọ trì danh hiệu Bồ Tát Quán
Thế Âm, được lợi ích phước đức vô lượng vô
biên như thế.
Bồ Tát Vô Tận Ý
bạch Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Bồ Tát Quán
Thế Âm vân du thế giới Ta Bà này như thế nào
? Vì chúng sinh thuyết pháp như thế nào ?
Sức phương tiện việc đó thế nào ?
Phật bảo Bồ Tát
Vô Tận Ý : Thiện nam tử ! Nếu có những chúng
sinh trong cõi nước, đáng dùng thân Phật độ
được, thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân
Phật, để vì họ nói pháp. Người đáng dùng
thân Bích Chi Phật độ được, thì liền hiện
thân Bích Chi Phật, để vì họ nói pháp. Người
đáng dùng thân Thanh Văn độ được, thì liền
hiện thân Thanh Văn, để vì họ nói pháp.
Người đáng dùng thân Phạm Vương độ được, thì
liền hiện thân Phạm Vương, để vì họ nói
pháp. Người đáng dùng thân Ðế Thích độ được,
thì liền hiện thân Ðế Thích, để vì họ nói
pháp. Người đáng dùng thân trời Tự Tại độ
được, thì liền hiện thân trời Tự Tại, để vì
họ nói pháp. Người đáng dùng thân trời Ðại
Tự Tại độ được, thì liền hiện thân trời Ðại
Tự Tại, để vì họ nói pháp.
Ðức Phật lại gọi một tiếng Bồ Tát Vô Tận Ý nói
: ‘’Thọ trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, sẽ
đắc được phước đức lợi ích chẳng có số
lượng, chẳng có bờ bến như ở trên đã nói.’’
Bồ Tát Vô Tạn Ý
nghe Phật nói như thế bèn hỏi Ðức Phật :
‘’Ðức Thế Tôn ! Vị Bồ Tát Quán Thế Âm đó
giáo hóa chúng sinh ở thế giới Ta Bà như thế
nào ? Làm thế nào để vì chúng sinh nói pháp?
Phương tiện nhân duyên Ngài giáo hóa việc đó
thế nào ?’’
‘’Thế giới Ta Bà’’
là gì ? ‘’Ta Bà’’ là tiếng Phạn, dịch là
‘’kham nhẫn’’, tức cũng là hay nhẫn nhục,
nghĩa là nói thế giới này rất khổ, chẳng dễ
gì nhẫn thọ.
Ðức Phật nghe Bồ Tát Vô Tận Ý hỏi như thế, bèn
trả lời : ‘’Thiện nam tử ! Nếu như có chúng
sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới, đáng
dùng thân Phật độ được họ, thì Bồ Tát Quán
Thế Âm bèn thị hiện thân Phật, để vì chúng
sinh đó nói pháp.’’
Giảng đến đây có
người hỏi : ‘’Bồ Tát Quán Thế Âm là Bồ Tát
chẳng thành Phật, sao có thể hiện thân Phật
để vì chúng sinh nói pháp ? Có phải là mạo
xưng Phật chăng ?’’ Chẳng phải. Vì Bồ Tát
Quán Thế Âm ở trong vô lượng kiếp quá khứ,
sớm đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh
Như Lai. Sau khi thành Phật, vì chẳng quên
chúng sinh, cho nên Ngài lại đến thế giới
này ẩn thân Phật, mà hiện ra thân Bồ Tát để
cứu hộ chúng sinh, đây gọi là ẩn lớn hiện
nhỏ. A
la Hán là hồi tiểu hướng đại,
Bồ Tát Quán Thế Âm là hồi đại hướng tiểu.
Ngài từ thân Phật mà đảo giá từ thuyền, mục
đích vì tiếp dẫn chúng ta tất cả chúng sinh
khổ não. Cho nên, Bồ Tát Quán Thế Âm tuy bên
ngoài hiện thân Bồ Tát, nhưng kỳ thật bên
trong ẩn hạnh chư Phật, ở bên trong là hạnh
nguyện của chư Phật, hành vi của chư Phật.
Sở dĩ Bồ Tát Quán Thế Âm hóa hiện thân Phật,
là để vì chúng sinh nói pháp, chứ chẳng phải
là mạo xưng Phật để lừa gạt chúng sinh.
Tiếp theo Phật lại
nói : ‘’Người đáng dùng thân Bích Chi Phật
độ được, thì Ngài liền hiện thân Bích Chi
Phật, để vì họ nói pháp.’’ Bích Chi Phật
nguyên tiếng Phạn là ‘’Bích Chi Ca La’’,
dịch ra là ‘’Duyên giác’’. ‘’Duyên Giác’’
lại phân ra có hai : Khi sinh vào thời có
Phật ra đời, thì gọi là Duyên Giác, khi sinh
vào thời chẳng có Phật ra đời, gọi là Ðộc
giác. Khi có Phật ra đời thì tu mười hai
nhân duyên mà ngộ đạo, Ngài quán sát làm sao
lại có vô minh ? Vô minh rồi sao lại có hành
? Sao lại có thức ? Sao lại có danh sắc ? Có
lục nhập ? Sao lại có xúc ? Sau đó có thọ ?
Thọ rồi lại có ái ? Có ái thì có thủ ? Vì có
‘’hữu’’, tức cũng có ‘’sinh’’ ? Có đời sau,
tức cũng có lão tử ? Suốt ngày quán sát mười
hai nhân duyên như thế, biết tất cả đều là
khổ, không, vô thường, vô ngã, cho nên buông
xả tất cả, thì sẽ khai ngộ. Do quán mười hai
nhân duyên mà ngộ đạo, cho nên gọi là
‘’Duyên giác’’. Lúc sinh ra vào thời không
có Phật ra đời, cũng tu mười hai nhân duyên
này, và còn quán mùa xuân trăm hoa đua nở,
mùa thu quán lá vàng rơi, quán sát đủ thứ
trạng thái biến hóa tự nhiên, cho nên giác
ngộ được sinh, trụ, dị, diệt; thành, trụ,
hoại, không, đủ thứ tình hình chẳng phải
một, chẳng phải vô thường, cũng do đó mà
giác ngộ, đây gọi là ‘’Ðộc Giác’’, sự khác
biệt giữa Duyên Giác và Ðộc Giác là, có và
không có Phật ra đời, cho nên tên gọi khác.
Bồ Tát Quán Thế Âm
vì có ngàn mắt chiếu thấy, ngàn tai nghe
được, biết chúng sinh nào đáng dùng thân
Bích Chi Phật độ được, thì hiện ra thân Bích
Chi Phật, để vì họ nói pháp : ‘’Bạn có biết
vô minh từ đâu đến chăng ? Tức là từ một
niệm không giác của bạn mà đến. Vì một niệm
không giác, cho nên trong tính Như Lai tạng
của bạn sinh ra vô minh. Có vô minh rồi,
tiếp theo sinh ra ‘’hành’’, .v.v... Ðó là
đáng dùng thân Bích Chi Phật, để vì họ nói
pháp, khiến cho họ khai ngộ, sau dó họ mới
phát tâm bồ đề, hồi tiểu hướng đại
‘’Người đáng dùng
thân Thanh Văn độ được, thì liền hiện thân
Thanh Văn để vì họ nói pháp’’. Thanh Văn gọi
là gì ? Thanh Văn cũng là A la hán, Duyên
Giác cũng là A la hán, đây là người nhị
thừa. Thanh là âm thanh, văn là nghe, tức là
nghe được âm thanh của Phật mà ngộ đạo. Phật
nói âm thanh gì ? Nói pháp bốn đế, nghe âm
thanh này mà ngộ đạo, nên gọi là ‘’Thanh
Văn’’. Pháp bốn đế là khổ, tập, diệt, đạo.
Ðức Phật ban đầu vì năm vị Tỳ Kheo, ba lần
chuyển bánh xe pháp bốn đế :
‘’Ðây là khổ, tính bức bách
Ðây là tập, tính chiêu cảm
Ðây là diệt, tính khả chứng
Ðây là đạo, tính khả tu’’.
‘’Ðây là khổ, tính bức bách’’ : Nói sự khổ có
tính bức bách mãnh liệt, khiến cho người thọ
chẳng thấu. Khổ: Có khổ khổ, hoại khổ, và
hành khổ, còn có khổ về sinh, già, bệnh
chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc,
ngũ ấm xí thạnh, tám thứ khổ. Hết thảy những
thứ khổ này, bức bách con người; khiến cho
con người suốt ngày phiền não khó chịu. Tất
cả mọi vấn đề đều do khổ mà sinh ra, cho nên
nói khổ là tính bức bách.
‘’Ðây là tập tính chiêu cảm’’ : Tập là tập tụ
tích lũy, tập tụ những gì lại với nhau ? Tập
tụ phiền não lại với nhau. Tại sao lại có
phiền não ? Vì có ‘’khổ’’. Trước hết có khổ,
bị khổ đè nén thọ chẳng thấu, thì sinh ra
phiền não, thì sinh nóng giận. Cho nên nói,
phiền não là tính chiêu cảm, do tụ tập mà
thành, tức cũng từ ‘’khổ’’ mà có ‘’tập’’.
‘’Ðây là diệt tính khả chứng’’ : Diệt tức là
tịch diệt, tịch diệt phiền não vô minh. Tịch
diệt an vui, Niết Bàn diệu quả có thể chứng
đắc.
‘’Ðây là đạo tính khả tu’’ : Ðạo này ai ai
cũng có thể tu, chẳng có người nào không thể
tu đạo được. Bất cứ ai cũng có thể tu đạo,
bất cứ ai cũng có thể chứng được lý thể Niết
Bàn. Ðây là chuyển bánh xe pháp lần thứ
nhất.
Ðức Phật chỉ là hiện thân thuyết pháp, vì năm
vị Tỳ Kheo nói pháp bốn diệu đế này, tiếp
theo lại nói :
‘’Ðây là khổ, ông nên biết,
Ðây là tập, ông nên đoạn,
Ðây là diệt, ông nên chứng,
Ðây là đạo, ông nên tu.’’
Nghĩa là: ‘’Sự khổ này, chẳng phải chỉ mình ta
thành Phật mới biết, ông cũng nên biết sự
khổ này. Ông cũng nên đoạn trừ tập đế, nên
cầu chứng Niết Bàn diệu quả, cũng nên tu
hành bồ đề giác đạo này.’’ Ðây là lần thứ
hai chuyển bánh xe pháp.
Phật nói lần thứ ba chuyển bánh xe pháp :
‘’Ðây là khổ, ta đã biết
Ðây là tập, ta đã đoạn
Ðây là diệt, ta đã chứng
Ðây là đạo, ta đã tu.’’
Sự khổ này ta đã biết, tập này ta đã đoạn. Ta
biết khổ thì chẳng còn bị khổ làm mê hoặc,
ta đoạn sạch phiền não, tức cũng chẳng còn
tập đế. Ðây là diệt ta đã chứng đắc, ta đã
đắc được sự vui tịch diệt thật sự. Ðây là
đạo ta đã tu hành rồi.
Năm vị Tỳ Kheo nghe Phật ba lần diễn nói
chuyển bánh xe pháp bốn đế rồi, lúc đó lập
tức khai ngộ. Vì nghe tiếng của Phật mà ngộ
đạo, nên gọi là ‘’Thanh Văn’’. Thanh Văn và
Duyên Giác lại gọi là ‘’Nhị thừa’’, cũng gọi
là tiểu thừa. Có đại thừa, cũng có tiểu
thừa. Ðại là gì ? tiểu là gì ? Vốn chẳng có
đại, cũng chẳng có tiểu, chỉ vì trong tâm
chúng sinh có đại, có tiểu. Tâm lượng vốn
tận cùng hư không khắp pháp giới, bất quả
phàm phu chúng ta chẳng thể dùng tính Như
Lai tạng của mình vốn có. Có người chỉ dùng
một phần nhỏ, có người dùng một phần lớn, có
người dùng toàn bộ. Chư Phật thì dùng toàn
bộ, vì đã trở về cội nguồn cội. Bồ Tát thì
dùng một phần lớn, vì Bồ Tát có đại trí huệ,
cho nên xử dụng một phần lớn tính Như Lai
tạng vốn có. Tiểu thừa biết ít nên cũng dùng
ít. Do đó, Bồ Tát Quán Thế Âm gặp cơ duyên,
người đáng dùng thân Thanh Văn được độ, thì
cũng hiện ra thân Thanh Văn để vì họ nói
pháp bốn Thánh Ðế.
‘’Người đáng dùng thân Phạm Vương độ được họ,
thì liền hiện thân Phạm Vương để vì họ nói
pháp’’. Phạm Vương tức là Ðại Phạm Thiên
Vương, ông ta là hoàng đế ở trên trời Ðại
Phạm. ‘’Phạm’’ nghĩa là thanh tịnh. Ông ta
làm vua ở trên trời cảm thấy rất tự tại, Bồ
Tát Quán Thế Âm cũng hiện thân Ðại Phạm
Thiên Vương để vì họ nói pháp.
‘’Người đáng dùng
thân Ðế Thích độ được, thì liền hiện thân Ðế
Thích, để vì họ nói pháp’’. Ðế Thích, trong
Kinh A Di Ðà gọi là Thích Ðề Hoàn Nhân, ở
trong đạo giáo gọi là Ngọc Hoàng Ðại Ðế. Ðế
Thích không chỉ là một, mà có rất nhiều vị.
Cõi trời này mà chúng ta thấy biết gọi là
trời Ðao Lợi. Ðế Thích của trời Ðao Lợi tức
cũng là Thiên Chúa mà một số người tín
ngưỡng. Trong chú Lăng Nghiêm có một câu là
: Nam Mô Nhân Ðà
La Gia, ‘’Nhân Ðà
La Gia’’ cũng là một tên gọi
khác của Thiên Chúa. Hết thảy mọi việc trên
trời, đều do vị Ðế Thích này thống lãnh và
cai quản, năng lực của ông ta rất là quảng
đại, quyền lực cũng lớn mà thần thông cũng
lớn, song ông ta chỉ ở trên trời, mà tuổi
thọ của người trời tương lai cũng có lúc
hết. Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn thấy chúng
sinh, đáng dùng thân trời Ðế Thích độ được,
thì hóa hiện ra thân Ðế Thích để vì họ nói
pháp. Tại sao phải hiện thân Ðế Thích để nói
pháp ? Vì đồng loại thì dễ dàng tiếp thọ sự
dạy bảo, giống như loài người chúng ta cũng
thế. Bất cứ hạng người nào, thì dễ làm bạn
với hạng người đó. Người làm ăn thì làm bạn
với người làm ăn, người đi học thì làm bạn
với người đi học, người học Phật thì làm bạn
với người học Phật, người đánh bạc thì tìm
người đánh bạc làm bạn, kẻ ăn trộm thì làm
bạn với người ăn trộm. Vì quan hệ như thế,
cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm thường hóa hiện
ra thân đồng loại với chúng sinh, thị hiện
phương tiện khiến cho chúng sinh, dễ dàng
tiếp thọ độ hóa. Song, Bồ Tát Quán Thế Âm
chẳng chỉ dùng thần thông biến hóa, để hiện
thân thuyết pháp, và chẳng nhất định tầm
thanh cứu khổ mới ứng hóa, thậm chí Ngài
phân linh để đến thế giới này làm người,
cũng tu học Phật pháp, sau đó mới giáo hóa
vô lượng vô biên chúng sinh. Ví như đối với
hạng học sĩ, thì Bồ Tát Quán Thế Âm hóa thân
làm một vị giáo thọ, để vì họ diễn nói Phật
pháp khéo dụ, dần dần khiến cho một số học
giả cảm thấy hứng thú đối với Phật pháp,
tăng thêm niềm tin, mà phát tâm quy y, thọ
trì một giới, hai giới, năm giới, cho đến
mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh
của Bồ Tát, sau đó y chiếu theo pháp môn của
Bồ Tát Quán Thế Âm mà tu hành, lại biến ra
một Bồ Tát Quán Thế Âm, lại thêm một hóa
thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Làm sao có thể có
‘’Ngàn trăm ức hóa thân’’? Tức là bạn mô
phỏng Ngài, học tập theo Ngài, thì biến
thành hóa thân của Ngài. Do đó, ‘’Pháp chẳng
có pháp cố định’’, pháp này chẳng cố định,
chẳng chấp trước. Nếu bạn nghĩ chấp trước cố
định, thử hỏi chính bạn xem cố định có thể
không chết chăng ? Nếu bạn nhất định không
chết, thì việc đó cũng đều cố định. Cho nên
đạo lý ‘’trăm ngàn ức hóa thân’’, chẳng khó
khăn gì, chỉ cần bạn có tâm hằng thường, có
nghị lực học tập Bồ Tát Quán Thế Âm, hoằng
dương Phật pháp, cứu độ chúng
sinh, thì bạn cũng là hóa thân của Bồ Tát
Quán Thế Âm. Có trăm người học Ngài, thì có
trăm hóa thân, chỉ cần có người chịu phỏng
theo Ngài hoằng
dương Phật pháp, thì sẽ có vô
lượng vô biên hóa thân, đây là nói về sự,
nếu nói về lý tính thì, nếu bạn thành Phật
cũng có đầy đủ trăm ngàn ức hoá thân.
‘’Người đáng dùng
thân trời Tự Tại độ được, thì liền hiện thân
trời Tự Tại, để vì họ nói pháp. Ðáng dùng
thân trời Ðại Tự Tại độ được, thì liền hiện
thân trời Ðại Tự Tại, để vì họ nói pháp.’’
Thân trời Tự Tại là gì ? Tức là thiên ma
ngoại đạo. Tôi nói toạt ra cho mọi người
biết, thân trời Tự Tại này tức là Thiên Chúa
Giáo, Thiên Chúa cơ đốc giáo. Ðại Tự Tại
Thiên Vương cũng thuộc về loại tôn giáo này.
Họ rất cống cao ngã mạn, họ nói chẳng có
Phật, chẳng có Pháp, chẳng có Tăng, hủy báng
Tam Bảo, tự cho mình là tối cao vô thượng.
Tại sao lại như thế ? Vì họ quá tự tại, quá
khoái lạc, thật là thân trời Tự Tại ! Song,
Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng trách loài chúng
sinh này, khi cơ duyên của họ thành thục,
thì Ngài cũng giảng giải Phật pháp cho họ
nghe, khiến cho họ chuyển mê thành ngộ, trở
về nguồn cội.
Người đáng dùng thân thiên đại tướng quân
độ được, thì liền hiện thân thiên đại tướng
quân, để vì họ nói pháp.
‘’Thiên Ðại Tướng Quân’’ này, có hai lối giải
thích, một là làm đại tướng quân ở trên
trời, và thứ hai là thiên thần ở trên trời.
Khi họ hưởng hết phước trời, thì chuyển xuống
nhân gian làm đại tướng quân. Bồ Tát Quán
Thế Âm biết nhân duyên của họ có thể độ
được, thì liền hiện thân thiên đại tướng
quân, để vì họ nói pháp, phá trừ mê hoặc,
giác ngộ vô thường, buông xả tất cả khoái
lạc thế gian, phát tâm tu hành, cầu chứng
khoái lạc chân chánh vô thượng.
Người đáng dùng thân Tỳ Sa Môn độ được, thì
liền hiện thân Tỳ Sa Môn, để vì họ nói pháp.
Tỳ Sa Môn tức là tên của một trong bốn vị
Thiên Vương, tức cũng là Thiên Vương phương
bắc Câu Lưu Châu. Bốn đại bộ châu đều có một
vị Thiên Vương, tức là Ðông Thiên Vương, Tây
Thiên Vương, Nam Thiên Vương và Bắc Thiên
Vương. Ðáng dùng thân Tỳ Sa Môn độ được, thì
Bồ Tát Quán Thế Âm hiện ra thân Bắc Phương
Thiên Vương để vì họ nói pháp.
Người đáng dùng thân ông vua nhỏ độ được,
thì liền hiện thân ông vua nhỏ, để vì họ nói
pháp.
Thân ông vua nhỏ là chỉ ông vua quản lý một
nước, chỉ xưng vua trong một nước. Người
đáng dùng thân ông vua nhỏ độ được, thì Bồ
Tát Quán Thế Âm liền hiện thân ông vua nhỏ,
để vì họ nói pháp.
Người đáng dùng thân trưởng giả độ được,
thì liền hiện thân trưởng giả, để vì nọ nói
pháp.
‘’Trưởng giả là gì ?’’ Trong Kinh Lăng Nghiêm
có nói, phàm là người có đạo đức, có trí
huệ, có danh vọng, quý tộc, niên cao, người
trưởng bối, không có ai mà chẳng mến họ,
người vãn bối không có ai mà chẳng cung kính
họ. Tại sao ai ai cũng đều đối tốt với họ ?
Vì họ có tâm từ bi, bình đẳng, nhiệt tâm
giúp đỡ mọi người, hết thảy mọi người đều
công nhận họ là ‘’trưởng giả’’. Nếu có người
đáng dùng thân trưởng giả độ được, thì Bồ
Tát Quán Thế Âm hiện thân trưởng giả giàu
có, để vì họ nói pháp. Trong Chú Ðại Bi có
hình tướng đại trượng phu, của Bồ Tát Quán
Thế Âm hiện tướng trưởng giả, có râu dài mấy
thước, đoan nhiên chánh tọa, oai phong lẫm
liệt, đó tức là tướng trưởng giả giàu có.
Người đáng dùng thân cư sĩ độ được, thì
liền hiện thân cư sĩ, mà vì họ nói pháp.
‘’Người đáng dùng thân cư sĩ độ được’’, thì Bồ
Tát Quán Thế Âm liền hiện thân cư sĩ, để vì
người đó nói pháp. Cư sĩ tức là người cư sĩ
tại gia, tức cũng là người tại gia tin Phật,
giữ gìn năm giới, tu mười điều thiện. Năm
giới là gì ? Tức là không sát sinh, không
trộm cắp, không ta dâm, không nói dối, không
uống rượu. Mười điều lành là gì ? Tức là
ngược lại với mười điều ác : Sát sinh, trộm
cắp, tà dâm. Ý có ba điều ác : Tham, sân,
si. Miệng có bốn điều ác : Nói dối, nói hai
chiều, nói thêu dệt, chưởi mắng. Thân có ba
điều ác, ý có ba điều ác, miệng có bốn điều
ác, hợp lại là mười điều ác. Chuyển mười
điều ác này thì thành mười điều thiện. Mười
điều thiện tức là chẳng sát sinh, chẳng trộm
cắp, chẳng tà dâm, chẳng tham, chẳng sân,
chẳng si, chẳng nói dối, chẳng nói thêu dệt,
chẳng nói hai chiều, chẳng chười mắng.
Bạn chẳng làm ác
cũng tức là thiện. Làm cư sĩ thì một mặt
phải phụng trì năm giới mười điều lành, một
mặt hộ trì Tam Bảo, hộ trì Phật pháp, đề
xướng Phật giáo, khiến cho Phật giáo ngày
càng hưng thạnh, đó là trách nhiệm của mỗi
cư sĩ chúng ta, trách nhiệm của người xuất
gia là hoằng
dương Phật pháp.
Người đáng dùng thân tể quan độ được, thì
liền hiện thân tể quan, để vì họ nói pháp.
Tể tức là tể hạt vạn hóa, nghĩa là làm tể
tướng, hoặc là chức quan lớn khác. Người
đáng dùng thân làm quan độ được, thì Bồ Tát
Quán Thế Âm cũng hiện thân làm quan, hoặc
thân tể tướng, để vì họ nói pháp.
Người đáng dùng thân Bà la môn độ được, thì
liền hiện thân Bà la môn, để vì họ nói pháp.
Ðáng dùng thân bàng môn tả đạo ở Ấn Ðộ, chí tu
phạm hạnh thanh tịnh Bà la môn độ được, thì
Bồ Tát Quán Thế Âm bèn hiện thân ngoại đạo
Bà la môn, để vì chúng sinh nói pháp, khiến
cho họ minh bạch Phật pháp, y giáo phụng
hành, tương lai sẽ thành Phật đạo.
Người đáng dùng thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni,
cư sĩ nam, cư sĩ nữ, độ được, thì liền hiện
thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ
nữ, để vì họ nói pháp.
Tỳ Kheo là tiếng phạn, dịch ra gồm có ba nghĩa
:
1). Bố ma : Vì có người xuất gia tu đạo, thọ
giới cụ túc, nên quyến thuộc của ma giảm
bới, cho nên khiến cho ma vương sợ hãi.
2). Khất sỉ : Người Tăng sĩ xuất gia, trên
khất (xin) pháp của chư Phật để nuôi pháp
thân; dưới khất (xin) thức ăn của chúng
sinh, để nuôi dưỡng sắc thân.
3). Phá phiền não : Xuất gia tu đạo, y giáo
phụng hành, sẽ phá trừ vô minh phiền não,
thấy tánh thành Phật, nên gọi là phá phiền
não. Tỳ Kheo ni tức là người nữ xuất gia thọ
giới cụ túc. Cư sĩ nam, cư sĩ nữ. Tiếng Phạn
gọi là ưu bà tắc, ưu bà di, nghĩa là cư sĩ
nam, cư sĩ nữ gần gũi Tam Bảo, thường đến
chùa lễ Phật, tụng kinh, quét dọn, cúng
dường Tam Bảo, làm công đức, làm phước. Bồ
Tát Quán Thế Âm thấy tất cả chúng sinh này,
đáng dùng thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, độ được, thì liền hiện thân
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, để
vì những chúng sinh đó nói pháp.
Người đáng dùng thân phụ nữ trưởng giả, cư
sĩ, tể quan, Bà la môn, độ được, thì liền
hiện thân phụ nữ, để vì họ nói pháp.
Trưởng giả cũng bao quát vợ của trưởng giả, cư
sĩ cũng bao quát vợ của cư sĩ, tể quan cũng
bao quát vợ của tể quan, Bà la môn cũng bao
quát vợ của Bà la môn. Trưởng giả cũng có nữ
trưởng giả, cư sĩ cũng có nữ cư sĩ, tể quan
cũng có nữ tể quan, Bà la môn cũng có nữ Bà
la môn. Do đó, nếu có người đáng dùng đủ thứ
thân phụ nữ độ được, thì Bồ Tát Quán Thế Âm
bèn hiện ra thân phụ nữ trưởng giả, cư sĩ,
tể quan, Bà la môn, để vì họ nói pháp.
Người đáng dùng thân đồng nam, đồng nữ, độ
được, thì liền hiện thân đồng nam, đồng nữ,
để vì họ nói pháp.
Bồ Tát Vi Ðà trong quá khứ phát nguyện, đời
đời kiếp kiếp muốn làm đồng nam, còn Long Nữ
Bồ Tát trong quá khứ, cũng phát nguyện đời
đời kiếp kiếp làm đồng nữ, chẳng muốn kết
hôn.
Nói về sinh lý của
con người thì, đồng nam đồng nữ tức là chẳng
phá hoại thân thể. Một khi nam nữ khác tính
tiếp xúc với nhau, thì thân thể chẳng còn
nguyên vẹn, trên văn pháp
Trung Quốc gọi đó là ‘’phá
thân’’, tức là thân thể phá hoại. Nếu không
trải qua hành vi tính nam nữ đó, tức là thân
thể còn nguyên vẹn. Ở
Trung Quốc, có một thứ công
phu đánh chưởng gọi là đồng tử công, đồng tử
công tức cũng là thân thể của họ nhất định
phải nguyên vẹn, chẳng bị phá hoại. Thứ công
phu này, một khi luyện thành công, thì đao
chém chẳng đứt, thương đâm chẳng lủng, đao
thương chẳng làm gì được. Tại sao vậy ? Tức
là ‘’Nội luyện nhất khẩu khí’’ : Vì bên
trong họ nhờ một luồng chánh khí, chẳng bị
sự phá hoại, ‘’Ngoại luyện cân cốt bì’’ :
Bên ngoài thì luyện gân cốt và da thịt. Cho
nên hay sinh ra tát dụng lớn như thế.
Trong Phật giáo, thân đồng nam, đồng nữ là
thanh tịnh nhất, chẳng có ô nhiễm, nếu tu
đạo hoặc tham thiền, thì sớm sẽ thành tựu,
mau khai ngộ, đắc được thiên nhãn. Do đó,
đồng trinh nhập đạo là quý báu nhất. Ðồng
nam thuộc về (quẻ) càn. Càn tức là thuần
dương. Ðồng nữ thuộc về (quẻ) khôn, tức
thuộc về thuần âm. Một thuần dương, một
thuần âm, cho nên ở trong đạo giáo mà nói,
thì đây là thân thể thanh tịnh nhất. Bồ Tát
Quán Thế Âm quán nhân duyên, nếu người nào
đó đáng dùng thân đồng nam, đồng nữ, tu hành
đắc đạo, thì Bồ Tát Quán Thế Âm bèn hiện
thân đồng nam, đồng nữ, để vì họ nói pháp,
khiến cho họ phát bồ đề tâm, sớm thành tựu
Phật đạo.
Người đáng dùng thân trời, rồng, Dạ xoa,
Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la,
Ma hầu la già, người, chẳng phải người, độ
được, thì liền hiện ra các thân đó, để vì họ
nói pháp.
Rồng có rất nhiều loại, có rồng ở trên trời,
có rồng ở trong biển, có rồng giữ kho tàng.
Rồng trên trời làm hộ pháp ở trên trời, rồng
trong biển là ở trong cung rồng làm thủ lãnh
cá, rùa, tôm, cua; còn gọi là rồng làm mưa.
Rồng giữ kho tàng, tức là rồng bảo vệ châu
báu. Thời xưa có rất nhiều rồng, bây giờ một
số người chẳng nhìn thấy, bèn nói là không
có. Kỳ thật, rồng rất nhiều. Vào thời Lục Tổ
Huệ Năng, có một con rồng độc, chuyên môn
phun hơi độc. Ai mà trúng chất độc này, thì
sẽ sinh bệnh, thậm chí chẳng trị được mà
chết. Ðương thời, nền đất thiền đường Chùa
Nam Hoa, vốn là một đầm rồng độc, diện tích
cái đầm này lớn khoảng một mẫu, chẳng có ai
biết đầm rộng đó sâu bao nhiêu, trong đó lại
có một con rồng, con rồng này, chẳng phải là
rồng tốt mà là rồng độc, chuyên môn hại
người, nhất là làm cho những người tu hành ở
chùa Nam Hoa thường thường sinh bệnh, không
thể tu hành. Một lần nọ, Lục Tổ Huệ Năng đến
đầm đó thì nó hiện thân lớn, chật đầy cái
đầm rộng một mẫu. Lục Tổ nhìn thấy bèn cười
nói : ‘’Ê ! Ngươi chỉ có bản lãnh hiện thân
lớn, mà không thể hiện thân nhỏ, nếu chỉ
hiện thân lớn, thì chẳng có bản lãnh bao
nhiêu.’’ Con rồng nghe rồi bèn ẩn thân lớn
hiện ra thân nhỏ, dài khoảng một tất, ở
trong nước bơi tới bơi lui. Lục Tổ nói : ‘’Ê
! Ngươi có chút bản lãnh, có thể hiện lớn,
có thể hiện nhỏ, nhưng không dám nhảy vào
trong bình bát của ta.’’ Lúc đó, con rồng
nghe rồi, bèn nhảy vào trong bình bát của
Lục Tổ. Lục Tổ nói : ‘’ Ðây là ngươi tự động
vào, nhưng ra không được’’! Con rồng dùng
mọi cách nhảy ra ngoài, nhưng chẳng cách chi
nhảy ra đuợc. Lục Tổ bèn nói với nó :
‘’Ngươi hà tất phải vùng vẫy, sao đời này
ngươi lại biến thành thân rồng ? Vì đời
trước ngươi vốn là người tu hành, cũng có
căn lành, từng nghe Phật pháp, bất quá tâm
sân của ngươi quá nặng, tính nóng giận quá
lớn, đây là thừa cấp giới hoãn (tu theo đại
thừa mà chẳng giữ giới), cho nên hiện nay
ngươi mới đọa làm thân rồng. Ngươi đừng cho
rằng bản lãnh của mình là lớn, có thể biến
lớn biến nhỏ, biến có biến không ! Nhưng bây
giờ ngươi đã ở trong bình bát của ta, thì
không thể ra được.’’ Rồng nghe những lời đó
rồi, tức cũng bị hàng phục, chẳng thể ra
ngoài được nữa. Do đó, Lục Tổ nói pháp cho
nó nghe, nó nghe pháp hiểu rõ rồi, lập tức
thoát khỏi thân rồng. Tro cốt con rồng này,
được giữ ở chùa Nam Hoa rất lâu, về sau vì
chiến tranh binh lửa, nên cốt con rồng cũng
mất đi. Ðó là một đoạn nhân duyên Lục Tổ Huệ
Năng hàng phục rồng độc ở chùa Nam Hoa.
Vào đời Ðường ở
Trung Quốc, có một thừa tướng
tên Ngụy Chưng, ông ta tuy làm thừa tướng ở
nhân gian, mà cũng có thể lên trời làm quan.
Ðương thời, có Tiểu Bạch Long, vì làm mưa
sai trật, Ngọc Hoàng kêu y mưa xuống lượng
nước một thốn ba tấc, song y mưa xuống lượng
nước một thước ba thốn, cho nên ruộng nương
đều bị ngập lụt, đây là phạm pháp luật trên
trời, trên trời phái Ngụy Chưng đi chém Tiểu
Bạch Long. Song, Tiểu Bạch Long biết tin tức
đó, nên trước hết y đi báo mộng cho vua
Ðường Thái Tông, nói với Ðường Thái Tông
rằng : ‘’Ngày mai ông hãy cứu tôi, ông cũng
là rồng, mà tôi cũng là rồng, do đó ông hãy
cứu mạng rồng này.’’ Ðường Thái Tông nói :
‘’Ông và tôi đều là rồng, vậy chúng ta là
anh em, ông có việc gì tôi nhất định phải
giúp đỡ, tôi nên làm thế nào mới có thể cứu
ông ?’’ Rồng nói : ‘’Hôm nay tôi phạm pháp
luật ở trên trời, vì mưa xuống sai, ngày mai
phải chịu quả báu chém đầu, mà người chém
tôi, chính là thừa tướng Ngụy Chưng. Ngày
mai chỉ cần ông lưu giữ ông ta lại, cần ông
ta hầu ông, đừng sai ông ta làm việc gì cả,
như thế thì ông ta chẳng giết được tôi.’’
Vua Ðường Thái Tông nói : ‘’Cái đó thì dễ !
Ta là hoàng đế, ông ta làm quan cho tôi, thì
ông ta nhất định nghe lời của ta, ông đừng
có lo lắng.’’ Do đó, ngày thứ hai vua Ðường
Thái Tông bèn kêu Ngụy Chưng đến đánh cờ.
Vua Thái tông nghĩ : ‘’Ta và ông ấy đánh cờ,
thì ông ta không thể lìa khỏi mình được,
chắc chắn chẳng đi chém Tiểu Bạch Long
kia’’. Do đó, hai người đánh cờ với nhau,
đánh đến trưa thì thừa tướng Ngụy Chưng bèn
ngủ gục. Ðường Thái Tông rất vui mừng nghĩ :
‘’Ông ta đã ngủ, thì chắc chắn chẳng đi chém
đầu Tiểu Bạch Long, bây giờ chẳng còn lo
lắng nữa.’’ Không ngời thừa tướng Ngụy Chưng
ngủ, mà thần thức của ông ta xuất ra đi lên
trời, dùng thượng phương bảo kiếm chém đầu
Tiểu Bạch Long. Sau đó lại trở về tiép tục
đánh cờ với vua Ðường Thái Tông, khi đã quá
ngọ thì kết thúc ván cờ đó. Vua Ðường Thái
Tông tự nghĩ rằng Tiểu Bạch Long đã nói với
mình, chỉ cần quá ngọ thì thừa tướng Ngụy
Chưng chẳng giết y nữa. Do đó, cho rằng :
‘’Mình đã cứu được anh em của mình, đây là
việc công đức không nhỏ.’’
Không ngờ đêm hôm
đó, Tiểu Bạch Long đến đòi mạng ông ta nói :
‘’Tôi đã nói chúng ta là anh em, phải cứu
tôi mà tại sao ông không cứu tôi ? Ðể cho
tên quan đó giết tôi. Bây giờ tôi phải giết
ông để đền mạng cho tôi.’’ Vua Ðường Thái
Tông tỉnh dậy biết Tiểu Bạch Long đến đòi
mạng. Ngày thứ hai bèn thảo luận việc này
với Từ Mậu Công, Từ Mậu công nói : ‘’Không
quan trọng, chúng ta đây có hai người Tần
Quỳnh và Kính Ðức có thể cản được nó. Ngài
nên dùng hai người này gát bên ngoài cửa,
thì Tiểu Bạch Long chẳng dám đến, Tần Quỳnh
là thần tướng mặt vàng, còn Kính Ðức là thần
tướng mặt đen, sắc mặt của y so với dầu hắc
bây giờ còn đen hơn, đen đến nỗi phát quang.
Do đó, bèn dùng hai người này giữ cửa, quả
nhiên Tiểu Bạch Long tối chẳng dám đến. Về
sau, chẳng cần hai người này gát cửa nữa, mà
chỉ vẽ hình của hai người này dán lên cửa,
để gát cửa cho vua Ðường Thái Tông, thì Tiểu
Bạch Long vĩnh viễn chẳng dám đến nữa. Cho
nên người
Trung Quốc mỗi lần qua năm
thì vẽ hình của Tần Quỳnh và Kính Ðức dán
lên cửa, khiến cho yêu ma quỷ quái chẳng dám
vào làm loạn.
Nhân quả của loài
rồng là vì chúng ‘’thừa cấp giới hoãn’’ (tu
đại thừa mà chẳng giữ giới), tu hành rất
dụng công, nhưng chẳng giữ gìn giới luật. Vì
chúng thừa cấp, cho nên có thần thông biến
hóa, lại vì giới hoãn, nên đọa làm súc sinh.
Ðây là lược nói về rồng.
Dạ xoa cũng gọi là
Dược Xoa đề, là tiếng phạn, nghĩa là ‘’tiệp
tật’’, tức là chạy nhanh, thậm chí còn nhanh
hơn hỏa tiển bây giờ. Loài quỷ này trong một
niệm, có thể đến bất cứ nơi nào chúng nghĩ
muốn đến.
Càn thát bà, dịch là hương thần, dùng hương
làm thức ăn, thân tỏa ra mùi hương. Lại dịch
là nhạc thần, là thần tấu nhạc của vua Ðế
Thích, đội mũ ba góc, tay cầm ống tiêu, ống
sáo, thân màu đỏ, búi tóc phóng ánh sáng màu
lửa ngọn. Ở Tây Vực gọi là người ca xướng là
Càn Thác Bà.
A tu la là tiếng
phạn, dịch là ‘’phi thiên’’. Vì chúng có
phước trời, mà chẳng có đức trời, tựa như
trời mà chẳng phải trời. Lại dịch là ‘’Vô
đoan chánh’’, vì dung mạo của chúng rất xấu
xí. Chẳng phải chỉ chúng sinh sinh vào loài
A tu la, thì mới là A tu la, mà trong sáu
đường cũng có rất nhiều loài, A tu la của
ngựa rất nặng, do đó có câu ‘’ngựa hại
bầy’’. Thứ ngưạ này, sống ở trong bầy ngựa
không đá con này, thì cũng cắn con kia. Tóm
lại, y khiến cho bầy ngựa đồng loại đều
chẳng được bình an, có hại cho bầy ngựa, nên
gọi là ngựa hại bầy. Ðó cũng là một loài A
tu la. Và bò cũng là A tu la, bạn thấy trên
đầu bò có hai cái sừng dài, hai cái sừng đó
dự bị đánh lộn với người. Vì thuở xưa khi
làm A tu la, thì trên đầu thường đội cái mũ
che đạn, thân cũng mặc giáp, cho nên khi
chuyển sinh làm bò, thì cũng chẳng quên được
tính A tu la. Chẳng những bò A tu la, mà gà
trống cũng là A tu la biến thành. Gà trống
mỗi khi gặp gà trống khác thì muốn đá. Chăng
những gà A tu la mà con dế mèn cũng là A tu
la, chúng đá với nhau, cho đến khi có một
con chết mới thôi. Ngoài ra như rắn, chuột,
mèo .v.v... phàm là động vật tính tình thích
đấu, thích giết, đều thuộc về A tu la. Chúng
sinh chuyển sinh làm A tu la tướng mạo rất
là xấu xí, bất đoan chánh nhất, mỏ dài như
là mỏ heo, lỗ mũi dài như lỗ mũi voi, mắt
như mắt bò, tai như tai chuột. Hoặc là thân
người mà đầu heo, hoặc là thân người đầu bò,
hoặc thân người đầu ngựa, hoặc thân người
đầu cọp, rất là hung ác. Tuy tướng mạo của
nam A tu la rất xấu xí, nhưng nữ A tu la rất
xinh đẹp. Nữ A tu la có thể nói, ai thấy
cũng ưa, cho nên trời Ðế Thích một lần nọ,
thấy nữ A tu la xinh đẽp, bèn nói với vua A
tu la cầu hôn, vua A tu la cũng đáp ứng, gả
con gái cho trời Ðế Thích.
Tóm lại, A tu la thì thích nóng giận, thích
đấu tranh. Người nào thường nóng giận, thì
tương lai đều có thể sinh làm A tu la, cũng
có thể hiện tại là A tu la. Nếu sửa đổi tính
nóng giận, tu hạnh nhẫn nhục, thì sẽ thoát
khỏi quan hệ với đường A tu la.
Ca lâu la tức là
đại bàng kim sí điểu, chuyên bắt rồng để ăn.
Loài chim này lớn cỡ nào ? Hai cánh của nó
xoè ra rộng ba trăm do tuần. Do tuần là số
mục ở Ấn Ðộ dùng để đo lường, phân làm đại
do tuần, trung do tuần, và tiểu do tuần.
Tiểu do tuần có bốn mươi dặm, trung do tuần
sáu mươi dặm, đại do tuần tám mươi dặm. Hai
cánh chim đại bàng xoè ra, là ba trăm do
tuần, tức cũng là hai vạn bốn ngàn dặm. Mỗi
khi nó xoè cánh ra, thì quạt nước biển rẽ
làm hai, bắt rồng trong biển ăn. Chúng lấy
rồng làm thức ăn, lâu dần rồng con rồng cháu
gần như bị tuyệt nòi. Vua rồng chẳng có cách
nào khác, bèn đến gặp Phật để cầu cứu. Phật
bèn cho vua rồng tấm y cà sa, mang về chia
cho mỗi con rồng một sợi tơ cột lên thân,
thì chim đại bàng chẳng cách chi ăn được
rồng nữa. Vì tấm y cà sa của Phật diệu dụng
vô cùng, nên giúp cho loài rồng thoát khỏi
hoạn nạn. Song, lần này chim đại bàng kim sí
đến tìm Ðức Phật nói : ‘’Ngài cứu loài rồng
cố nhiên là việc tốt, song loài chim của tôi
đều bị chết đói ! Chúng tôi chỉ có thể ăn
rồng, bây giời chẳng có rồng ăn, chúng tôi
biết làm thế nào ?’’ Phật bèn vì chim đại
bàng kim sí nói pháp thọ năm giới. Chim đại
bàng nói : ‘’Tôi không sát sinh có thể được,
nhưng tôi chẳng có gì để ăn, chẳng phải là
bị chết đói chăng ?’’ Phật nói : ‘’Ngươi
không có chết đói, từ nay về sau mỗi ngày
vào giờ ngọ, hết thảy đệ tử của ta khi ăn
cơm, thì đem chút cơm cho nhà ngươi ăn.’’
Cho nên sau này, phàm là đệ tử của Phật khi
ăm cơm trưa, đều có đem chút cơm cúng cho
đại bàng kim sí điểu ăn. Từ đó, chim đại
bàng thọ trì năm giới, chẳng sát sinh nữa và
trở thành hộ pháp ở trong Phật giáo, là một
bộ trong Thiên Long Bát Bộ.
Về phương diện ăn uống trong Phật giáo, thì
sáng sớm là chư thiên ăn, buổi trưa là Phật
dùng, buổi chiều là súc sinh ăn, buổi tối là
quỷ ăn. Ngạ quỷ vốn chẳng tìm được thức ăn,
chúng nhìn thấy chúng ta ăn, chúng cũng nghĩ
tưởng ăn, một khi chúng ta ăn vang ra tiếng
động khua chén đũa, thì chúng cướp lấy để
ăn, song thức ăn đến miệng chúng thì liền
biến thành lửa, đó là nghiệp báo quá nặng.
Song, trong tâm của loài quỷ thì cho rằng,
con người dùng pháp thuật, biến thức ăn
thành lửa do chúng cướp được, chẳng cho
chúng ăn, do đó chúng sinh tâm sân hận đánh
người, hoặc khiến cho người sinh bệnh. Cho
nên buổi tối người xuất gia không ăn, vì là
giờ của loài quỷ ăn. Sáng sớm là giờ chư
thiên ăn, nếu người xuất gia sáng có dùng
cháo, hoặc bánh nướng, thì đem một chút thí
cho chư thiên dùng, hoặc cho quỷ mẹ quỷ con.
La sát quỷ mẹ quỷ
con, vốn chuyên môn ăn con nít. Tại sao lại
gọi chúng là quỷ mẹ quỷ con ? Vì chúng thống
lãnh một ngàn người con của chúng, đi khắp
nơi tìm bắt con nít để ăn. Có một nhà nọ,
vừa mới sinh ra một đứa bé thì bị chúng bắt
đi ăn, cứ như thế dần dần biến thành rất
nhiều nhà chẳng còn con nít. Do đó, có người
đến cầu Ðức Phật, hỏi Phật tại sao con nít
đều mất hết chẳng thấy. Phải làm cách nào ?
Ðức Phật biết số con nít đều bị chúng bắt
trộm ăn.
Một ngày nọ, Ðức
Phật bèn bắt con quỷ út nhất, trong số một
ngàn con quỷ bỏ vào trong bình bát đậy lại.
Khi chúng về nhà thì thấy mất đứa con út của
mình, bèn đi khắp nơi tìm cũng chẳng thấy,
mới tìm đến chỗ Ðức Phật, thì nghe tiếng
khóc con của chúng ở trong bình bát vang ra.
Chúng bèn đến chỗ bình bát, tìm cách cứu con
của chúng ra, song chúng di động bình bát
chẳng nổi, bèn về nhà kêu hết chín trăm chín
mươi chín con quỷ con đến, để dùng sức di
động cái bình bát, song cũng di động chẳng
nổi, tơ hào cũng chẳng động đậy, do đó chúng
bèn đến cầu Ðức Phật nói : ‘’Tại sao Ngài
bắt trộm con của tôi bỏ vào trong bình bát,
mà không trả lại con của tôi ?’’ Ðức Phật
hỏi : ‘’Nhà người có bao nhiêu người con ?’’
Chúng đáp : ‘’Có một ngàn người con’’. Phật
nói : ‘’Ngươi có một ngàn người con, mà bây
giờ chỉ mất đi có một đứa, mà sao ngươi lại
cấp tốc như thế ?’’ Chúng nói : ‘’Tuy chỉ
mất một, nhưng tôi cũng chẳng muốn thiếu.’’
Phật nói : ‘’Vậy chứ ngươi bắt trộm hết thảy
những đứa con nít của người ta đem đi ăn,
thì ngươi tính sao ?’’ Quỷ nói : ‘’Tôi chẳng
phải muốn ăn con nít, nhưng tôi chẳng có gì
để ăn ! Nếu tôi không đi bắt trộm con nít để
ăn, thì một ngàn đứa con của tôi đây sẽ bị
chết đói.’’ Phật nói : ‘’Từ nay về sau,
ngươi đừng bắt trộm con nít để ăn nữa, ngươi
nên quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới, đừng
sát sinh nữa ! Ngươi nghĩ xem, ngươi có một
ngàn người con, mà một người con cũng xả bỏ
chẳng đặng, ta chỉ bắt nhốt một người con
của ngươi, mà ngươi buồn rầu như thế ! Vậy
con của mọi người trên thế gian, ngươi bắt
trộm ăn, cha mẹ của họ không buồn rầu chăng
? Ngươi đừng có ích kỷ như thế.’’ Do đó, quỷ
mẹ quỷ con bèn đáp ứng Ðức Phật, quy y Tam
Bảo, thọ trì năm giới. Ðức Phật bèn kêu hết
thảy đệ tử, khi dùng cơm vào giờ trưa, thì
đem ít hạt cơm hoặc chút thức ăn, thí cho
quỷ mẹ quỷ con. Cho nên, khi tống thực thì
niệm bài kệ rằng :
‘’Ðại bàng kim sí điểu
Khoáng dã quỷ thần chúng
La sát quỷ tử mẫu
Cam lồ tất sung mãn.’’
Nghĩa là :
Chim đại bàng cánh vàng
Quỷ thần nơi hoang dã
Quỷ mẹ con la sát
Cam lồ đều no đủ.
Cam lồ là ví dụ ăn bất cứ vật gì, đều ngon
ngọt như cam lồ, vô luận có bao nhiêu thì
thảy đều no, đó là kệ cúng thí buổi trưa.
Khẩn na la cũng là một trong tám bộ quỷ thần.
Chúng cũng là thần âm nhạc của trời Ðế
Thích; trên đầu của chúng có một cái sừng,
nên còn có tên gọi là nghi thần.
Ma hầu la già là gì ? Tức là đại mãng xà,
chúng rất hung ác, còn gọi là địa long. Ở
tỉnh Quảng Ðông của
Trung Quốc chuyên môn ăn thịt
mãng xà, loài mãng xà này béo mập như heo,
song có khi chúng cũng ăn người. Vì người ăn
chúng, nên chúng cũng ăn người.
Vào thời vua
Lương Võ Ðế, ông ta là Phật
giáo đồ, cung kính phụng sự Tam Bảo, song
hoàng hậu Hi Thị vợ của vua thì ngược lại,
chẳng kính Phật, chẳng kính pháp, chẳng kính
tăng. Vì bà ta chẳng tin Tam Bảo, cho nên
khi bà ta chết đi rồi, thì đọa làm đại mãng
xà, mà mãng xà đó lại nói được tiếng người.
Do đó, bèn trở về nhờ vua
Lương Võ Ðế siêu độ bà ta bèn
nói : ‘’Ông có biết tôi là ai không ? Tôi là
vợ của ông hoàng hậu Hi Thị, vì tôi chẳng
kính tin Tam Bảo, cho nên phải đọa làm thân
mãng xà.’’ Vua nghe rồi bèn thỉnh thiền sư
Chí Công đến siêu độ bà ta. Bổn lai vị thiền
sư này, là người mà bà ta phản đối nhất khi
bà ta còn sống, khi bà ta chết rồi làm thân
mãng xà, thì lại đến đảnh lễ sám hối với
thiền sư Chí Công. Do đó, thiền sư Chí Công
bèn tạo bộ ‘’Lương
Hoàng Sám’’. ‘’Lương
Hoàng’’ tức cũng là
Lương Võ Ðế, ‘’sám’’ là sám
hối, để cho vua
Lương Võ Ðế lạy bộ sám này,
siêu độ cho vợ của
ông ta. Nhờ công đức lạy bộ
Lương Hoàng Sám này, mà vợ
của vua
Lương Võ Ðế thoát khỏi thân
mãng xà, được sinh về cõi trời.
Khi Phật
còn tại thế thì Ma hầu la già quy y Tam Bảo,
cho nên chúng cũng là Phật giáo đồ, là hộ
pháp.
‘’Người và chẳng phải người’’ : Người là tất
cả loài người chúng ta, chẳng phải người là
chỉ tất cả súc sinh. Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn
xem chúng sinh đáng dùng thân trời rồng bát
bộ độ được, thì liền hiện ra thân rồng, hoặc
thân Dạ xoa, hoặc thân La sát, hoặc Càn thát
bà, hoặc A tu la, hoặc Ca lâu la, hoặc Khẩn
na la, hoặc Ma hầu la già các thứ thân hình,
hoặc hiện thân người, và tất cả thân súc
sinh chẳng phải người, để vì chúng sinh đó
nói pháp.
Người đáng dùng thân Thần chấp kim cang độ
được, thì liền hiện thân Thần chấp kim cang,
để vì họ nói pháp.
‘’Thần chấp kim cang’’ là hộ pháp của Phật
giáo. Lai lịch của Thần Kim Cang, là một vị
chuyển luân thánh vương trong quá khứ lâu xa
về trước. Ngài sinh được một ngàn người con.
Làm sao một bà phu nhân mà có thể sinh được
ngàn người con ? Vì tuổi thọ của họ rất lâu
dài, tuổi thọ lâu dài, cho nên có một ngàn
người con cũng chẳng lấy làm nhiều, song ông
vua chuyển luân còn cảm thấy chưa đủ, lại
cưới thêm một bà thiếp. Bà vợ thứ hai này
sinh được hai người con, do đó tổng cộng có
một ngàn lẻ hai người con. Một ngàn lẻ hai
người con này, cùng nhau phát nguyện rằng :
‘’Tương lai chúng ta tu hành thành tựu, thì
chúng ta một ngàn anh em phải theo thứ tự mà
thành Phật, cho dù Chuyển Luân Thánh Vương
cũng chẳng làm, mọi người chúng ta hãy cùng
nhau bắt thăm.’’ Ðức Phật Thích Ca bắt trúng
thăm thứ tư. Ngài là vị Phật thứ tư, tương
lai vị Phật thứ năm, thứ sáu, đều sẽ lần
lượt ra đời ngàn vị Phật trong kiếp hiền.
Một ngàn anh em này đều phát nguyện thành
Phật. Và hai người con của bà phu nhân thứ
hai cũng phát nguyện. Phát nguyện gì ? Một
người phát nguyện : ‘’Một ngàn người anh của
chúng tôi đây, bất cứ người anh nào lúc
thành Phật, thì tôi sẽ là người đầu tiên đến
thỉnh Ngài thuyết pháp, cung kính cúng dường
Tam Bảo’’. Còn người kia phát nguyện: ‘’Tôi
phát nguyện tương lai làm hộ pháp, khi mỗi
người anh của tôi thành Phật, thì tôi sẽ bảo
hộ Ngài, hộ pháp của Ngài.’’ Do đó, Ngài
thành vị Kim Cang Hộ Pháp, trong tay thường
cầm chày kim cang để bảo hộ Phật giáo. Mỗi
khi có vị Phật ra đời, thì Ngài đến ủng hộ
Phật pháp. Ngoài ra, có một vị Ðại Phạm
Thiên Vương, mỗi lần có vị Phật mới ra đời,
thì ông ta là người đầu tiên thỉnh Phật
thuyết pháp.
Vô Tận Ý ! Bồ Tát Quán Thế Âm đó, thành tựu
công đức như thế, dùng đủ thứ thân hình đi
khắp trong các cõi nước, để độ thoát tất cả
chúng sinh. Bởi thế các ông nên một lòng
cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm. Ðại Bồ Tát
Quán Thế Âm đó, ở trong nạn khẩn cấp sợ hãi,
Ngài hay ban cho sự không sợ hãi. Vì thế mà
thế giới Ta Bà đều gọi Ngài là bậc thí vô
uý.
Khi Ðức Phật nói Bồ Tát Quán Thế Âm dùng đủ
thứ hóa thân rồi, lại gọi một tiếng : ‘’Vô
Tận Ý ! Bồ Tát Quán Thế Âm thành tựu đủ thứ
công đức như ở trên đã nói, Ngài dùng đủ thứ
thân hình, đi đến mỗi cõi nước, để độ thoát
hết thảy tất cả chúng sinh; vì nhân duyên
đó, cho nên các ông tất cả chúng sinh, nên
một lòng cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm’’,
đừng có hai lòng. Nếu có hai lòng, tức là có
tâm hoài nghi. ‘’Một lòng’’ tức là chỉ dùng
một niềm tin, nếu bạn có hai lòng thì chẳng
có cảm ứng, chẳng có công đức, cho nên mới
nói : ‘’Nên một lòng cúng dường Bồ Tát Quán
Thế Âm.’’ Ðại Bồ Tát Quán Thế Âm là vị đại
Bồ Tát, hay ở trong sự sợ hãi nạn khẩn cấp,
bố thí cho bạn sự không sợ hãi, khiến cho
bạn không sinh tâm sợ hãi, vì thế cho nên
thế giới Ta Bà này đều gọi Ngài là Bồ Tát bố
thí vô úy.
Bồ Tát Vô Tận Ý bạch Phật rằng : Ðức Thế
Tôn ! Nay con xin cúng dường Bồ Tát Quán Thế
Âm, bèn cởi chuỗi ngọc các châu báu nơi cổ,
giá trị trăm ngàn lạng vàng, dâng lên nói
rằng : Xin nhân giả hãy nhận sâu chuỗi ngọc
châu báu pháp thí này.
Bồ Tát Vô Tận Ý nghe Ðức Phật nói như thế rồi,
cũng muốn cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, bèn
bạch Ðức Phật rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Nay con
nên cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm. Bồ Tát
Quán Thế Âm có công đức lớn như thế, sức oai
thần không thể nghĩ bàn, cho nên tuy con đã
thành Bồ Tát, nhưng con còn phải tài bồi
phước báu ở trước Bồ Tát Quán Thế Âm, con
nên cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm.’’ Sau khi
nói xong rồi, thì Bồ Tát Vô Tận Ý lập tức
cởi sâu chuổi ngọc châu báu nơi cổ, cúng
dường Bồ Tát Quán Thế Âm, cũng chẳng có tơ
hào tư lự. Chuỗi ngọc là một loại châu báu
rất có giá trị, thứ chuổi ngọc này bên trong
rỗng không, nên có thể bỏ đồ vào, người xưa
thường dùng nó làm đồ trang sức. Sâu chuỗi
này giá trị trăm ngàn lạng vàng, đem dâng
lên cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm nói :
‘’Xin Nhân giả hãy nhận sâu chuỗi ngọc châu
báu pháp thí này.’’ Nhân giả tức chỉ người
nhân từ có đức, Bồ Tát xưng hô với Bồ Tát
thường dùng ‘’nhân giả’’.
Sâu chuỗi ngọc châu báu này, vốn là thuộc về
tài thí, tại sao trong kinh văn Bồ Tát Vô
Tận Ý nói là pháp thí ? Trong sự bố thí có
tài thí, pháp thí, và vô úy thí. Bồ Tát Vô
Tận Ý cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
trong tâm của Ngài chẳng cho rằng, chuỗi
ngọc đó là vật đắc tiền, Ngài hoan hỉ thành
tâm cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài
chũng chẳng nghĩ là trị giá bao nhiêu tiền.
Song, tại sao trong kinh văn lại nói là :
‘’Giá trị trăm ngàn lạng vàng?’’ Câu này là
tôn giả A Nan thêm vào khi kết tập kinh
điển. Ðương thời, Bồ Tát Vô Tận Ý chẳng nói
trị giá bao nhiêu tiền. Ngài dùng chân tâm
để cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, giữa đó
đây chẳng có quan niệm về ‘’tiền tài’’, cho
nên thuộc về pháp thí. Tuy là tài thí, nhưng
cũng biến thành pháp thí. Ðây là mọi người
dùng tâm ấn tâm. Do đó, Ngài yêu cầu Bồ Tát
Quán Thế Âm nhận chuỗi ngọc châu báu pháp
cúng dường này.
Lúc đó, Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng chịu thọ
nhận. Bồ Tát Vô Tận Ý lại bạch với Bồ Tát
Quán Thế Âm rằng : Nhân giả ! Hãy thương xót
chúng tôi, mà thọ nhận chuỗi ngọc này.
Bồ Tát Vô Tận Ý dùng sau chuỗi ngọc châu báu,
cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, mà Bồ Tát
Quán Thế Âm chẳng chịu nhận. Tại sao Bồ Tát
Quán Thế Âm chẳng chịu nhận ? Vì Bồ Tát Quán
Thế Âm dưới tòa của Ðức Phật Thích Ca, đang
ở trong hội nghe Kinh Pháp Hoa. Bồ Tát Quán
Thế Âm chưa được Ðức Phật hứa khả, nên Ngài
biểu thị khách sáo, chẳng chịu nhận sự cúng
dường đó, hơn nữa Ngài cũng chẳng có tâm
tham, chẳng giống như phàm phu bèn nghĩ ?
’’Ồ ! Sâu chuỗi châu báu này quá quý trọng,
có người cho mình, sợ rằng thọ nhận trễ thì
họ chẳng cúng dường nữa, thì biết làm sao
?’’ Là vì Ngài chẳng có tâm lý như thế, cho
nên chẳng sợ người ta không cúng dường.
Trong tâm của Ngài vốn chẳng có người thí,
vật thí, cũng chẳng có người thọ nhận. Bạn
cúng dàng cho tôi và không cúng dường cho
tôi, xem đều rất bình thường. Ðương nhiên
trong sự yên lặng, Bồ Tát Vô Tận Ý là có
công đức. Song, Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng
chịu nhận sự cúng dường đó, do đó Bồ Tát Vô
Tận Ý khẩn cầu. Ngài chẳng giống như một số
người, thật sự chẳng muốn cúng dường : ‘’Bạn
không nhận thì tôi chẳng cúng dường.’’ Cho
nên, Bồ Tát Vô Tận Ý lại khẩn cầu Bồ Tát
Quán Thế Âm nói : ‘’Nhân giả ! Hãy thương
xót chúng tôi mà thọ nhận sâu chuỗi này.’’
Nghĩa là nói : ‘’Nhân giả ! Bồ Tát đại từ
bi, hãy thương xót tôi, thương xót Vô Tận Ý
tôi, và chúng sinh bốn chúng này. Tôi cúng
dường Ngài sâu chuỗi này, chẳng phải vì cầu
phước cho chính tôi, mà là vì bốn chúng đệ
tử này, và hết thảy pháp giới chúng sinh, để
cúng dường nhân giả. Tôi là đại biểu cho
chúng sinh cúng dường Ngài, cho nên xin Ngài
hãy thương xót chúng tôi thọ nhận sâu chuỗi
này.’’ Bốn chúng là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư
sĩ nam, cư sĩ nữ. ‘’Chúng tôi’’, tức là hết
thảy tất cả chúng sinh.
Bấy giờ, đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm,
nên thương xót Bồ Tát Vô Tận Ý, và bốn
chúng, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu
la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già,
người, và chẳng phải người, mà thọ nhận sâu
chuỗi đó.
Bồ Tát Vô Tận Ý nhất định phải cúng dường Bồ
Tát Quán Thế Âm, còn Bồ Tát Quán Thế Âm
quyết tâm chẳng thọ nhận sự cúng dường đó
bèn nói : ‘’Vật tốt của Ngài, tôi không dám
thọ nhận, tôi chẳng có đạo đức gì, Ngài hãy
tự giữ lấy.’’ Bồ Tát Vô Tận Ý nghe Bồ Tát
Quán Thế Âm nói như thế, càng khẩn trương,
thậm chí cuối đầu đảnh lễ để khẩn nài Bồ Tát
Quán Thế Âm. Một người chẳng chịu nhận, còn
một người nhất định phải cúng dường, hai bên
đều kiên trì. Lúc đó, Ðức Phật Thích Ca điều
giải vấn đề này, bèn nhìn Bồ Tát Quán Thế
Âm, cười và nói : ‘’Bồ Tát Quán Thế Âm, ông
nên thương xót Bồ Tát Vô Tận Ý và bốn chúng
đệ tử, chẳng chỉ vì bốn chúng đệ tử này, mà
còn có trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu
la, Ca Lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già,
người và chẳng phải người. Ông nên thương
tất cả những chúng đó, mà thọ nhận sự cúng
dường. Bồ Tát Vô Tận Ý rất thành tâm khẩn
thiết bố thí pháp, thì ông đừng cự tuyệt hảo
tâm của ông ấy !’’
Tức thời Bồ Tát
Quán Thế Âm thương xót hàng bốn chúng, và
các trời, rồng, người, và chẳng phải người,
mà thọ nhận sâu chuỗi đó, chia làm hai phần.
Một phần dâng lên đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
một phần dâng cúng tháp của Phật Ða Bảo.
Vô Tận Ý ! Bồ
Tát Quán Thế Âm có thần lực tự tại như thế,
đi khắp thế giới Ta Bà.
Bấy giờ, Bồ Tát
Vô Tận Ý dùng kệ hỏi rằng.
Lúc đó, Bồ Tát Quán Thế Âm thấy Ðức Phật điều
giải việc này, Ngài cũng nghe lời Ðức Phật,
thương xót bốn chúng đệ tử và trời rồng tám
bộ, thọ nhận sâu chuỗi ngọc châu báu đó.
Song, Ngài nhận rồi lại chia ra làm hai phần
để cúng dường. Sâu chuỗi có giá trị đắc tiền
mà Ngài cũng chẳng cần, Ngài dâng một phần
lên cúng dường Ðức Phật Thích Ca, một phần
dâng cúng tháp của Ðức Phật Ða Bảo.
Sau đó Ðức Phật lại gọi một tiếng : ‘’Vô Tận Ý
! Vị Bồ Quán Thế Âm đó, có các thứ thần
thông diệu dụng, thần lực tự tại như đã nói
ở trên, hết thảy chúng sinh đều nên cúng
dường ông ta, cung kính ông ta, niệm danh
hiệu
ông ta. Vị Bồ Tát Quán Thế Âm
hay đi khắp thế giới Ta Bà này, để cứu độ
tất cả chúng sinh’’. Ðức Phật nói xong, thì
Bồ Tát Vô Tận Ý lại dùng kệ hỏi Ðức Phật.
Câu kệ là vì văn trường hàng ở trên, có chỗ
nói rất tỉ mỉ, lại có chỗ nói chẳng tỉ mỉ,
cho nên dùng kệ để tường thuật lại. Kệ giống
như thơ, phải có cách thức nhất định, hoặc
là một câu sáu chữ, hoặc một câu năm chữ,
một câu bốn chữ, chẳng nhất định, song phải
có số chữ nhất định.
Thế Tôn đủ tướng tốt
Nay con xin hỏi Ngài
Vị kia do duyên gì
Tên là Quán Thế Âm ?
Bồ Tát Vô Tận Ý gọi một tiếng : ‘’Ðức Thế Tôn
đầy đủ tướng tốt ! Hôm nay con xin hỏi Bồ
Tát Quán Thế Âm, bởi nhân duyên gì mà tên
gọi là Quán Thế Âm ?’’ Vì tướng mạo của Phật
viên mãn nhất, đầy đủ ba mươi hai tướng, tám
mươi vẻ đẹp, cho nên gọi là Thế Tôn đủ tướng
tốt, tức là đầy đủ chẳng thiếu chẳng dư. Lại
có thể giải thích là phước đầy huệ đủ, nên
gọi là Lưỡng Túc Tôn. Nghĩa là có ba mươi
hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, tướng tốt này vi
diệu không thể nghĩ bàn.
Ðấng đầy đủ tướng tốt
Ðáp kệ Vô Tận Ý :
Ông nghe hạnh Quan Âm
Khéo ứng khắp mọi nơi.
Vì Bồ Tát Vô Tận Ý dùng kệ hỏi Ðức Phật, cho
nên Phật cũng dùng kệ để trả lời.
Ðức Phật nói : ‘’Vô Tận Ý ! Ông có biết việc
làm và nhân duyên của Bồ Tát Quán Thế Âm
chăng ? Ông nên chú ý lắng nghe, nay ta sẽ
vì ông giải thích nói. Bồ Tát Quán Thế Âm
dùng thiện xảo phương tiện, quán căn cơ mà
vì họ nói pháp, theo bệnh cho thuốc.’’
‘’Quán căn cơ’’ tức
là nhìn xem chúng sinh đó căn tính thế nào ?
Thích cái gì ? Thì Ngài vì họ mà nói pháp.
Giống như ở trước đã nói : ‘’Người đáng dùng
thân Phật độ được, thì liền hiện thân Phật
để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân Ðế
Thích độ được, thì liền hiện thân Ðế Thích
để vì họ nói pháp .v.v...’’ Ðây gọi là
‘’khéo ứng khắp mọi nơi’’. Bất cứ căn tính
như thế nào, Ngài liền dùng phương pháp
phương tiên khéo léo để độ bạn, phương pháp
này chẳng nhất định. Chẳng nhất định cho nên
trong Kinh Kim Cang có nói :
‘’Là pháp bình đẳng
Chẳng có cao thấp
Chẳng có pháp nhất định’’.
Tức là làm vị pháp sư muốn đi giáo hóa người,
cũng phải hiểu nhiều đạo lý và pháp thế
gian, thấy loại người nào thì nói thứ pháp
đó. Ví như gặp người buôn bán thì nói :
‘’Hiện nay bạn buôn bán như thế nào ? Gần
đây buôn bán có đắc không !’’ Gặp người làm
công thì nói : ‘’Anh thật là vất vả ! Hôm
nay có ngày nghỉ chăng?’’ Nên vì họ nói đạo
lý làm công, họ nghe thì tâm nghĩ : ‘’Thật
tế cũng có người biết mình vất vả, bận rộn
!’’ Sau đó mới vì họ giảng chút Phật pháp,
thì họ cảm thấy : ‘’Thật không sai, nguyên
lai Phật pháp là như thế.’’ Gặp người đi học
thì hỏi họ : ‘’Anh học về ngành gì ? Khoa
học ? Hóa học, hay văn học .... ?’’ Giống
như hôm nay có một số học sinh đến, Quả tôn
giảng cho họ nghe về Phật pháp này, họ nghe
rồi rất cao hứng, và bắt đầu có ấn tượng đối
với Phật pháp, ở trong não hải của họ bèn có
‘’Phật’’. Một khi chữ Phật vào trong não hải
của họ, thì ngày càng sẽ tăng trưởng, tương
lai cũng sẽ thành Phật. Ðó là khéo ứng khắp
mọi nơi, theo bệnh cho thuốc, vì người nói
pháp. Do đó có câu :
‘’Phương tiện khéo léo độ chúng sinh,
Khéo ở trong trần lao làm Phật sự.’’
Khéo biến tất cả sự việc trong thế gian thành
Phật sự.
Hoằng nguyện sâu như biển
Kiếp số không nghĩ bàn
Hầu nhiều nghìn đức Phật
Phát nguyện lớn thanh tịnh.
Vị Bồ Tát Quán Thế Âm đó, trước kia khi Ngài
chưa thành Phật, thì có phát hoằng nguyện
đại từ bi. Hoằng thệ đó lớn cỡ nào ? Sâu
rộng như biển cả. Ngài trải qua đại kiếp
không thể nghĩ bàn, tạo công đức không thể
nghĩ bàn, phát nguyện lực không thể nghĩ
bàn, cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm tất cả hết
thảy, đều vi diệu không thể nghĩ bàn. Ngài
đã từng hầu cận rất nhiều hàng ngàn ức vị
Phật, có thể là hàng vạn ức, mặc dù kinh văn
chỉ nói là ngàn ức. Ngài phát nguyện đại từ
đại bi như thế, cho nên cảnh giới của Bồ Tát
Quán Thế Âm cao sâu khó dò. Bồ Tát Quán Thế
Âm phát nguyên thanh tịnh. Nguyện thanh tịnh
là gì ? Thanh tịnh là chẳng có tư tưởng ích
kỷ, là một người đại công vô tư. Ngài vì
chúng sinh mà phát nguyện, hoàn toàn là phát
xuất từ tâm từ bi chân chánh, tâm từ thương
chúng sinh.
Ta vì ông lược nói
Nghe tên và thấy thân
Tâm niệm chẳng luống qua
Hay diệt khổ các cõi.
Ðức Phật nói : ‘’Hiện tại ta vì ông nói sơ
lược về công đức của Bồ Tát Quán Thế Âm,
người có căn lành mới nghe được danh hiệu
của Bồ Tát Quán Thế Âm.’’ Nếu người chẳng có
căn lành, thì cho đến tên của Bồ Tát Quán
Thế Âm cũng chẳng nghe được, huống chi nói
đến thấy thân. Thấy thân chẳng nhất định nói
là thấy được nhục thân của Ngài, tức là thấy
được hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, hoặc
dùng bùn nắn, hoặc dùng gỗ chạm trỗ, hoặc
dùng đá tạo, cho đến vàng, bạc, đồng, thiết,
đúc thành tượng Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu bạn
thấy những tượng nói trên, thì cũng giống
như thấy được nhục thân của Ngài. Chỉ cần
trong tâm chúng ta niệm danh hiẹu Bồ Tát
Quán Thế Âm, đừng khởi vọng tưởng, thì sẽ
tiêu diệt được tất cả sự khổ trong các cõi.
Các cõi tức là hai mươi lăm cõi trong dục
giới, sắc giới, và vô sắc giới.
Nếu người khởi tâm hại
Xô rớt hầm lửa lớn
Nhờ sức niệm Quán Âm
Hầm lửa biến thành ao.
Giả sử có người khởi tâm hãm hại bạn, ví như
bạn bè hợp tác làm ăn với bạn, khi cùng đi
với bạn đến đỉnh núi cao ngàn trượng. Vì anh
ta muốn một mình chiếm đoạt số tiền của bạn,
bèn sinh tâm cướp tiền hại mạng xô bạn rớt
xuống chân núi. Lúc đó, chỉ cần bạn thành
tâm niệm : ‘’Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát’’,
thì có thể bình an vô sự. Nếu như xô bạn rớt
suống hầm lửa lớn, thì hầm lửa sẽ biến thành
ao nước. Bạn bất tất phải dùng phương pháp
khác, cũng chẳng cần niệm chú gì, chỉ một
lòng chuyên niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, thì sẽ
có cảm ứng cứu hộ bạn, sự cảm ứng đó không
thể nghĩ bàn. Cho nên chúng ta bất cứ lúc
nào, đều nên niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
tương lai sẽ được Bồ Tát Quán Thế Âm bảo hộ,
cảnh giới cảm ứng đó nói chẳng hết được.
Hoặc trôi dạt biển cả
Rồng cá các nạn quỷ
Nhờ sức niệm Quan Âm
Sóng lớn chẳng ngập chết.
Nếu như bị trôi dạt ở trong biển cả, chẳng
thấy bờ bến đâu cả, lúc đó rất là nguy hiểm.
Trong biển lớn thường có rồng độc, cũng có
quỷ la sát, hoặc cá ăn thịt người, lúc đó
rất là nguy hiểm. Nếu bạn gặp những nạn đó,
thì nên niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, tức sóng to
cách mấy, cũng chẳng ngập chết bạn được,
trong sự bất tri bất giác, sẽ đưa bạn vào
bờ, hoặc tự nhiên trôi dạt vào chỗ cạn, hoặc
gặp thuyền đến vớt lên. Ðó là Bồ Tát Quán
Thế Âm thị hiện cứu nạn nước. Ở trên là nạn
lửa. Song, nếu bạn chẳng niệm Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì rất là nguy hiểm.
Giảng đến đây, tôi nhớ lại lúc ở Hồng Kông, có
một người đệ tử quy y chẳng tốt. Chẳng tốt
như thế nào ? Ông ta là người đã từng hại
người khác, tên của ông ta là
Trương Ngọc Giai, nhà mở tiệm
thuốc tây, kiếm được chẳng biết bao nhiêu là
tiền. Tiền của ông ta là từ hại người mà có.
Lúc đó, sau khi Nhật đầu hàng rồi, vì trải
qua chiến tranh, nên có bệnh truyền nhiễm
phát sinh, cho nên lúc đó khắp nước
Trung Quốc đều có bệnh ôn
dịch lưu hành. Do đó, ông ta và một người
giàu khác hợp tác làm ăn, hai người cùng đi
trên một chiếc thuyền ra ngoại quốc, mua
thuốc tây về Hồng Kông bán lại. Thuyền đến
giữa biển, thì ông ta xô người bạn xuống
biển, người bạn của ông ta vì chẳng biết
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, cho nên bị chết. Do
đó, ông ta một mình chiếm đoạt hết số tiền
vốn.
Trở về kiếm được rất nhiều tiền. Sau ông ta
lại làm thuốc giả để kiếm tiền, do đó mà
phát tài. Phát tài rồi sau đó ông ta như thế
nào? Ðại khái là quan hệ oan tương báo, ông
ta mắc chứng bệnh ưng thư. Ðương thời, sáu
ông bác sĩ nổi tiếng ở Hồng Kông đều nói
rằng, chỉ trong vòng một trăm ngày, thì ông
ta sẽ chết. Do đó, ông ta đăng báo xin cứu
mạng nói: "Nếu ai chữa được bệnh của ông ta,
bảo trì được sinh mạng của ông ta, thì ông
ta sẽ bỏ ra hai chục vạn Mỹ Kim". Lúc đó,
hai chục vạn Mỹ Kim ở Hồng Kông rất lớn vô
cùng, song cũng chẳng có ai có phương pháp
cứu mạng
ông ta. Do đó, ông ta đến
chùa lễ Phật.
Một ngày nọ ông ta
đến chùa Tây Lạc Viên hỏi tôi làm thế nào
mới chữa được bệnh. Tôi nói với ông ta :
‘’Ông mắc chứng bệnh này, thì nên làm nhiều
việc thiện, cúng dường Tam Bảo gieo trồng
công đức. Trước hết ông phải quy Tam Bảo,
như thế thì có thể chứng bệnh của ông sẽ
hết.’’ Do đó, vào ngày 18 tháng 9 âm lịch
ông ta quy y với tôi. Quy y rồi, tôi bèn
khuyên ông ta phát tâm làm việc thiện. Ðương
thời, người xuất gia từ
Trung Quốc trốn nạn đến Hồng
Kông khoảng hai ba ngàn người, nhưng các vị
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, chẳng có đủ quần áo để
mặc, cũng chẳng có chỗ đủ để ở. Cho nên tôi
kêu ông ta cúng dường mỗi người xuất gia một
xấp vải, và hai chục đồng Hồng Kông, ông ta
chịu đáp ứng. Song, ở Hồng Kông có nhiều vị
Hòa Thượng, nhất là những vị pháp sư già
nghe
ông Trương Ngọc Giai quy y
với tôi, thì ai nấy đều hiện đại thần thông.
Hiện thần thông gì ? Bạn cũng tìm bạn bè, họ
cũng tìm người quen đến nói với
ông Trương Ngọc Giai, kêu ông
ta làm công đức ở chùa của họ. Những vị lão
pháp sư đó, đều là người có danh vọng, vì có
quyền thế trong Phật giáo, cho nên đi phan
duyên với
ông Trương Ngọc Giai, do đó
ông ta đến những chùa đó làm công đức, còn
tôi từng kêu ông ta cho mỗi vị pháp sư, đến
từ
Trung Quốc hai chục đồng Hồng
Kông, nhưng ông ta không cho, chỉ cho có năm
đồng và một xấp vải. Vì tôi đã nói với những
người xuất gia đó, là cho hai chục đòng, bây
giờ ông ta chỉ cho mỗi người có năm đồng,
biết làm sao ? Do đó, tôi tự đi mượn tiền
rất bí mật, cũng chẳng nói cho ai biết. Mượn
được tiền rồi, tôi lại tự cầm phân phát cho
mỗi người thêm mười lăm đồng nữa, cộng lại
là hai chục đồng, đó cũng là để kết duyên
với những người xuất gia đó.
Lúc đó, chẳng có vị
xuất gia nào biết trong đó có tiền của tôi
mượn để cho họ, cho đến hiện tại cũng chẳng
biết. Ðến khi
ông Trương Ngọc Giai nuốt
lời, chẳng giữ lời hứa, là vì bị những vị
lão pháp sư đó phan duyên, song tôi cũng
chẳng trách ông ta, việc này qua rồi thì
thôi. Bổn lai các bác sĩ đều đoán chắc là
ông ta trong vòng một trăm ngày sẽ chết,
chẳng nghi ngờ gì nữa. Trải qua một trăm
ngày cũng chẳng chết, do đó những vị lão
pháp sư phan duyên ông ta đều nói : ‘’Ðó là
nhờ chúng tôi vì ông mà sám hối’’! Người
khác lại nói : ‘’Ðó là nhờ chúng tôi vì ông
mà tụng kinh.’’ Vị pháp sư khác lại nói :
‘’Ðó là nhờ chúng tôi cầu cho ông ở trước
bàn Phật !’’ Mỗi vị pháp sư đều có công.
Lúc đó tôi chẳng có chút công lao nào, tôi
cũng chẳng nói với ông ta lời nào. Trải qua
sáu năm, ông ta cũng chẳng chết. Lúc đó, tôi
đang làm chùa ở tại núi Ðại Tự ở Hồng Kông,
xây chùa Từ Hưng. Ngôi chùa này đại khái có
thể ở trên hai trăm người. Ông ta nghe tôi
làm chùa, tức nhiên là đệ tử quy y với tôi,
nên sai một người cầm một bao tiền đến cúng
cho tôi làm chùa. Số tiền đó tôi chẳng nhìn
qua, cũng chẳng mở ra xem, tôi bèn vứt nó ra
ngoài cửa, tôi nói với người đó rằng : ‘’Số
tiền này kiếm được chẳng chánh đáng, chẳng
thanh tịnh, tôi chẳng cần tiền của ông ta
như thế, ông hãy mang về trả lại cho ông
ta.’’ Người đó đem tiền về đưa lại cho ông
ta, lần này ông ta kêu vị pháp sư phan duyên
ông ta, tên là Ðịnh Tây đến nói lời ngon
ngọt và mang tiền đến. Tôi nói : ‘’Bây giờ
công trình làm chùa đã xong, tôi chẳng cần
dùng tiền. Ông ta có tiền thì có thể làm
công đức chỗ khác, có rất nhiều chùa, nhiều
pháp sư, ông ta muốn làm gì cũng được.’’ Vị
pháp sư đó cũng chẳng vui vẻ trở về. Qua hai
năm sau, vào giữa tháng giêng, tôi tuyên bố
với mọi người : ‘’Ông
Trương Ngọc Giai đã quy y
với tôi tám năm, tôi vốn đợi ông ta thực
hiện lời hứa. Vì ông ta đã từng phát nguyện
cúng hai chục vạn Mỹ Kim để làm chùa, nhưng
cho đến bây giờ ông ta cũng chẳng làm. Tôi
chẳng đợi nữa, về sau
ông Trương Ngọc Giai bất cứ
có vấn đề gì, tôi cũng chẳng lo nữa.’’ Nói
ra chưa đầy nửa năm, chúng bệnh ung thư của
ông ta lại tái phát, về sau khi gần chết,
thì sai người của ông ta đến cầu tôi, vì ông
ta đến chùa khác cầu lạy, làm công đức Phật
sự cũng chẳng linh, chẳng có cảm ứng, cho
nên lại đến tìm tôi. Nhưng tôi cũng chẳng
lo, tôi nói tôi đã tuyên bố chẳng lo bất cứ
việc gì của ông ta nữa, chẳng được mấy ngày
thì ông ta chết. Ðiều lạ lùng là vị pháp sư
Ðịnh Tây, trước kia phan duyên với ông ta
cũng sinh bệnh ung thư, đại khái bệnh hơn
một năm thì chết, còn có một vị cư sĩ theo
vị pháp sư đó, giúp cho pháp sư Ðịnh Tây
liên lạc với
ông Trương Ngọc Giai, cũng
sinh bệnh ung thư mà chết, cho nên ba người
họ có thể nói là một thể, sống thì sống
chung với nhau, chết thì cũng cùng một chứng
bệnh. Tại sao
ông Trương Ngọc Giai lại chết
như thế ? Vì ông ta xô người bạn của mình
xuống biển chết, chắc chắn chết rồi làm oan
hồn, cho nên đến khiến cho
ông Trương Ngọc Giai sinh
bệnh ung thư.
Bổn lai,
ông Trương Ngọc Giai đã quy y
Tam Bảo, nếu ông ta chân chánh có niềm tin,
thì ông ta chẳng bị chết, do niềm tin chẳng
vững chắc.
Hoặc trên đỉnh Tu Di
Bị người xô rớt xuống
Nhờ sức niệm Quan Âm
Như mặt trời trên không.
Tu Di là tiếng phạn, dịch là núi Diệu cao, là
núi cao nhất trong vũ trụ. Ở đây nói là trên
đỉnh núi Tu Di, chẳng nhất định là chỉ ở
trên đỉnh núi Tu Di, mà là ví dụ sự cao như
đỉnh núi Tu Di. Hoặc là bạn đang ở trên đỉnh
núi cao như núi Tu Di, bị người xô rớt
xuống, lúc đó nếu bạn niệm Bồ Tát Quán Thế
Âm, thì ‘’Như mặt trời trên không’’, giống
như mặt trời lơ lửng ở trong hư không, chẳng
gây tổn thương cho bạn. Chẳng chỉ nói ở trên
đỉnh núi xô rớt bạn xuống tan xương nát
thịt, mà cũng có thể nói là có người ở trên
chỗ cao, khiến bạn trèo lên cây thang, đợi
khi bạn đến chỗ cao nhất, thì họ xô cây
thang, lúc đó muốn lên cũng chẳng được, muốn
xuống cũng chẳng xong, đó cũng là việc rất
nguy hiểm. Tức cũng là mọi người đối sử tốt
với bạn, sau đó chẳng đối tốt với bạn nữa,
để cho bạn từ trên cao rớt xuống. Lúc đó,
nếu bạn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì chẳng
có vấn đề gì, giống như mặt trời ở trong hư
không chiếu khắp vạn dặm, một chút phiền não
cũng chẳng có, ngược lại rất an nhiên tự
tại, rất có định lực, cho nên khen chê đều
chẳng động tâm, đó cũng là biểu thị ‘’Như
mặt trời trên không’’ một ý nghĩa riêng
khác.
Hoặc bị người ác đuổi
Ngã xuống núi kim cang
Nhờ sức niệm Quan Âm
Chẳng tổn hại mảy lông.
Người ác là gì ? Tức là người chẳng nói về đạo
lý, chuyên môn làm chuyện giết người, phóng
lửa, người man rợ chẳng nói đạo lý : ‘’Anh
là tôi, tôi cũng là tôi. Tiền của anh là của
tôi, tiền của tôi thì càng của tôi.’’ Bạn
xem đây có đạo lý chăng ? Ðây gọi là người
ác, có quyền lực mà chẳng có công lý, chỉ
dùng thế lực để bức bách người khác, chẳng
nói đến công lý, đó tức là người ác.
Truy đuổi là bạn chạy đến đâu, thì họ cũng
đuổi theo bạn đến đó, luôn luôn xem giữ bạn.
Nếu bạn bị người ác truy đuỗi, vì nhất thời
bôn ba chẳng cẩn thận mà rớt xuống núi kim
cang sâu vạn dặm, nếu bạn chẳng niệm Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì chắc chắn sẽ mất mạng, thậm
chí tan thân nát xương chẳng tìm được thi
thể. Song, nếu bạn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm,
thì dù cho một sợi lông cũng chẳng tổn
thương. Bạn nói có kỳ lạ chăng ! ‘’Núi kim
cang’’ ở đây, là biểu thị vực thẳm vạn
trượng, rất cứng chắc như kim cang. Song nếu
bạn gặp trường hợp nguy hiểm như thế, mà
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì chắc chắn sẽ có
cảm ứng. Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ đến cứu hộ
bạn, khiến cho bạn gặp hung hóa cát tường,
gặp nạn được bình an, nguy hiểm mà chẳng
nguy hiểm.
Hoặc gặp oán tặc vây
Ðều cầm đao làm hại
Nhờ sức niệm Quan Âm
Thảy đều khởi tâm từ.
Ở trên nói về người ác, bây giờ nói về ‘’oán
tặc’’, tức là bọn cướp, giết người phóng
lửa, chẳng có việc ác nào mà chẳng làm. Tất
cả mọi người mà chúng ta gặp, đều có quan hệ
tiền nhân hậu quả. ‘’Oán tặc’’ tức là người
có oán hận với chúng ta, hoặc là kiếp trước
chúng ta ăn cắp đồ vật của người, hoặc là đã
giết người, hoặc đối với người chẳng tốt,
cho nên đời này lại gặp nhau, mới biến thành
oán tặc. Do đó, có câu :
‘’Giết người phải đền mạng,
Mắc nợ thì trả tiền’’.
Bạn giết mạng người ta, thì người ta cũng muốn
lấy mạng của bạn; bạn cướp đoạt tài vật của
người ta, cho nên phải đền tiền cho người
ta. Hết thảy tất cả đều có mối liên quan với
nhau.
Bồ Tát Văn Thù Sư
Lợi từng nói cho mọi người biết rằng : ‘’Tôi
đời đời kiếp kiếp chưa từng ăn trộm đồ vật
của người khác, luôn giữ giới trộm cắp. Có
gì để chứng minh ? Tôi đem châu báu giá trị
nhất, để ở ngã tư đường, chẳng nhìn xem đến
nó, trải qua ba ngày cũng chẳng bị ai trộm
lấy đi. Do đó, có thể chứng minh lời của tôi
nói là chân thật’’. Nhưng vẫn có người không
tin, do đó Ngài đi thử nghiệm, đem châu báu
để ở ngã tư đường, nơi mà mọi người đi qua
lại tấp nập. Quả nhiên ba ngày sau, cũng
chẳng có ai trộm lấy.
Do đời đời kiếp kiếp Ngài đều giữ giới trộm
cắp thanh tịnh, cho nên có quả báo như thế.
Do đó, nếu bây giờ chúng ta gặp kẻ oán tặc
đều phải chấp nhận, tức là mất vật gì, chịu
tổn thất gì cũng đừng buồn rầu, nên chấp
nhận, đừng có oán trời trách người.
Lúc tôi ở chùa Nam Hoa, thì từng gặp việc như
vầy : Vào ngày nọ có rất nhiều kẻ trộm đến
cướp chùa Nam Hoa. Bọn chúng đập cửa rất
mạnh muốn tiến vào, nhưng tôi chẳng mở cửa.
Bọn cướp phá cửa tung vào, ai nấy đều cầm
thương vây chung quanh tôi, có người còn
muốn đánh tôi. Song, lúc đó tôi chẳng cảm
thấy sợ hãi gì cả, rất tự nhiên nói với bọn
chúng rằng : ‘’Tại sao anh muốn đánh tôi ?’’
- Anh ta nói : ‘’Vì ông chẳng mở cửa’’
- Tôi nói : ‘’Nếu anh là tôi, tôi là anh, thì
anh có mở cửa không ? Tại sao ? Vì anh đến
đây muốn trộm đồ của tôi, chẳng phải đến
tặng đồ cho tôi.’’
- Tôi nói như thế thì anh ta nói : ‘’Hãy mau
đem tiền ra !’’
- Lúc đó tôi mặc chiếc y rách có nhiều chỗ vá
víu, tôi nói : ‘’Anh nhìn xem, tôi mặc chiếc
y này, có giống như người có tiền chăng ?’’
- Anh ta nhìn rồi hỏi : ‘’Vậy ai có tiền ?’’
- Tôi nói : ‘’Trong chùa này tôi là ông thầy,
còn những người khác là đệ tử, tôi làm ông
thầy chẳng có tiền, thì làm đệ tử làm gì có
tiền ? Nếu anh không tin tôi thì có thể vào
phòng của tôi xem, nếu anh thấy vật gì đáng
giá, là đồ quý, thì tùy ý anh lấy !’’ Lúc đó
ở trong phòng của tôi có hai bửu bối, hai
bửu bối này là hai bửu bối sống, bửu bối
sống gì ? Tức là chú Sa di và vị pháp sư.
Hai vị này nghe thấy bọn cướp đến, lúc gõ
cửa thì họ đã cuống lên, thậm chí chẳng đi
được nữa, bò dưới đất, bò vào chỗ tôi nói :
‘’Thầy ơi ! Bây giờ biết làm sao ? Tôi sợ
quá !’’ Tôi nói : ‘’Không sao, các vị hãy đi
vào trong phòng của tôi, chun xuống giường
cây của tôi để trốn.’’ Bây giờ tôi lại kêu
bọn cướp vào phòng của tôi, xem muốn lấy gì
thì lấy. Lúc này hai vị này run lên lập cập,
cuối cùng bọn cướp cũng chẳng vào. Lúc đó,
có vị pháp sư thấy tôi và bọn cướp nói
chuyện tựa như là bạn bè, cũng từ trong
phòng chạy ra.
Khi ông ta xuất
hiện, thì bọn cướp lập tức dùng thương vây
ông ta lại muốn đánh, ông ta sợ quá bèn khóc
lên, giống như trẻ con. Lúc đó, trong tâm
tôi cảm thấy buồn bã bèn nói : ‘’Ông ta cũng
chẳng có tiền, các ông muốn tiền thì nói với
tôi.’’ Song bọn cướp chẳng đếm xỉa gì đến
tôi, mà hướng về ông ta muốn tiền, ông ta
nói : ‘’Vào trong phòng của tôi lấy.’’ Bèn
dẫn bọn cướp vào lấy hơn hai trăm đồng, đó
là tiền mà ông ta dành dụm mấy năm nay, bèn
để cho bọn cướp lấy đi. Sang ngày thứ hai
ông ta nói với đồ đệ rằng : ‘’Chùa Nam Hoa
có hơn hai trăm người, mà chỉ có vị Pháp sư
này chẳng sợ hãi.’’
- Tôi mới nói với họ rằng : ‘’Chẳng phải chỉ
mình tôi, mà trong chùa có bốn vị Hòa Thượng
chẳng sợ hãi.’’ Thứ nhất là ai ? Là Lục Tổ
Huệ Năng, ngồi tại đó như như bất động, lão
Tăng nhập định như thế. Thứ hai là Ðại Sư
Hám Sơn, ngồi nhập định tựa như tướng của
Lão Tăng, chẳng động đậy. Thứ ba là tổ sư
Ðan Ðiền, Ngài chẳng đủ đại định lực như Lục
Tổ, và đại sư Hám Sơn, còn quay đầu lại nhìn
bọn cướp. Thứ tư mới đến tôi, cho nên khi
bạn gặp oán tặc, thì cũng đừng sinh tâm sợ
hãi. Kết quả bọn cướp đó cũng chẳng đánh
tôi, hoặc phóng thương. Tại sao ? Ðại khái
là vì tôi niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, ban đầu
họ đối với tôi rất hung hăng, khi nhìn thấy
tôi mặc y phục rách rưới thì họ nghĩ : ‘’Ông
thầy này thật đáng thương’’, tức cũng khởi
tâm từ bi chẳng gây phiền não đến tôi.
Hoặc gặp nạn khổ vua
Muốn hành hình sắp chết
Nhờ sức niệm Quan Âm
Ðao bèn gãy từng đoạn.
Luật vua chẳng nói đến nhân tình. Nếu phạm vào
vương pháp, thì phải bị chém đầu. Song, cũng
có kẻ chẳng phạm pháp mà bị dẫn đi chém đầu,
là vì bị người vu cáo, cho nên luật pháp
quốc gia có chỗ lợi ích, mà cũng có chỗ hại.
Chỗ lợi ích là nó trừng phạt những kẻ phạm
tội, chỗ hại là chẳng phạm pháp nhưng bị
người khác vu cáo, ví như người làm chứng
nói : ‘’Ông ta làm xấu việc đó, chính mắt
tôi thấy !’’ Luật sư cũng chẳng màng việc đó
ra sao, bèn xử ông ta phạm tội đem đi chém
đầu, nhưng thật ra người đó chẳng phạm pháp,
luật sư chẳng có chánh nghĩa, có người rõ
ràng là phạm pháp, mà có thể biện hộ cho họ
vô tội. Có người rõ ràng là vô tội, mà lại
chứng minh là có tội. Bạn nói đi tìm chân lý
ở đâu trên thế gian này ? Ở trên thế gian
vốn chẳng có chân lý, chỉ có quyền thế. Vậy
muốn tìm chân lý, thì phải vào trong Phật
pháp mà tìm. Cho nên, hoặc có tội, hay không
có tội, bị chịu nạn khổ vua, lúc phải bị
chém đầu, mạng sống sắp chấm dứt, lúc đó e
rằng bạn đã ngất xỉu, sợ quá nên quên hết
mọi việc. Song nếu bạn nhớ niệm Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì cái đao chém đầu bạn đó, sẽ tự
nhiên gãy ra từng đoạn, đó là chứng minh cái
cổ của bạn cứng hơn là kim cang, cho nên đao
mới gãy ra từng đoạn. Nhưng nếu bạn ôm lòng
hoài nghi, thì đầu của bạn sẽ rơi. Vì bạn
vốn chẳng có niềm tin đối với Bồ Tát Quán
Thế Âm, cho nên mới muốn thử nghiệm, nên
chẳng có cảm ứng. Nếu có niềm tin thì mọi
việc đều có cảm ứng.
Hoặc gông cùm bỏ tù
Tay chân bị xiềng xích
Nhờ sức niệm Quan Âm
Tự nhiên được giải thoát.
Ở tù tức là bắt giam vào ngục, chẳng được tự
do. Gông, chẳng những nhốt bạn vào ngục tù,
mà còn gông cùm bạn lại, để cho bạn khỏi
trốn đi. Cùm, tức là cùm hai chân bạn lại,
và còn trói tay bạn.
Lúc trước tôi đã có nói, phàm là người có gia
đình, thì nên sớm giác ngộ, đừng để cho ba
điều này vây hãm như bị nhốt trong tù. Ba
điều gì ? Cha mẹ như là gông cùm cổ, con cái
như là cái cần cần tay, đừng cho rằng có con
cái là đắc ý, một khi bị cần vào tay thì
buông xả chẳng đặng. Có vợ thì như là cái
cùm cùm chân, cũng chẳng được tự do giải
thoát.
Hôm nay tôi thế một
vị đệ tử của tôi, nói chuyện này cho quý vị
biết, anh ta nói : ‘’Con có vay của chính
phủ hơn hai ngàn đồng, bây giờ muốn xuất gia
mà hai ngàn đồng này không thể trả, cho nên
trước hết phải đi làm công, để trả hết số
tiền này, rồi sau đó mới đi xuất gia.’’ Anh
ta nói thật hay giả ? Tôi chẳng màng đến anh
ta, bất quá nói cho mọi người biết, có thể
tiền trả xong rồi, hoặc là có cái cùm cùm
chân (cưới vợ) này cũng chẳng nhất định,
song tôi hy vọng chẳng bị cùm vào, có thể
làm một vị sư biểu của trời người cho nước
Mỹ. Tôi đem ý này ra nói cho mọi người biết,
để mọi người đều phát tâm chú nguyện cho anh
ta thành công, làm lãnh tụ tốt cho Phật giáo
nước Mỹ. Vì nước Mỹ hiện tại rất cần người
xuất gia, nếu tất cả mọi người muốn xuất
gia, tôi chẳng màng trước kia họ là người
như thế nào, tôi đều rất hoan hỉ tán thán,
chỉ cần sau khi xuất gia rồi, giữ giới luật
quy cụ là được. Tôi tận sức ở tại nước Mỹ
này, đào tạo bậc trưởng lão, chính họ trưởng
chẳng nổi, vì chẳng có cơ sở, gốc rễ chưa
đâm sâu xuống, song tôi nguyện sẽ tài bồi,
Phật giáo tại nước Mỹ, mỗi người xuất gia
đều là một phần của bậc trưởng lão, thậm chí
làm tổ sư của nước Mỹ.
Khi tay chân bị gông cùm mất đi tự do, thì
phải làm sao ? Chỉ cần bạn niệm Bồ Tát Quán
Thế Âm, thì tự nhiên sẽ được giải thoát.
Trước kia ở
Trung Quốc, có một vị hòa
thượng bị dân mọi rợ bắt đem đi nhốt vào
trong phòng trói cột lại. Thứ dân mọi rợ này
rất dã man, chuyên môn bắt người Hán làm
thịt để ăn. Vị Hòa thượng đó, bình thường
rất tin tưởng Bồ Tát Quán Thế Âm, cho nên
lúc đó Ngài cũng chẳng sợ hãi, chỉ một lòng
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngài niệm tới niệm
lui, kết quả niệm đến một con cọp. Con cọp
này lại đến phòng giam ông ta, phá tan cái
phòng giam, do đó ông ta tự do chạy đi. Gặp
hoàn cảnh nguy hiểm như thế, mà có thể hóa
hiểm thành bình an. Cho nên sự linh cảm niệm
Bồ Tát Quán Thế Âm nói chẳng hết được.
Nguyền rủa các thuốc độc
Muốn làm hại thân người
Nhờ sức niệm Quan Âm
Trở lại hại người đó.
Nguyền rủa ở đây là nói về sự niệm chú để trù
rủa. Chú cũng có rất nhiều loại, nhất là chú
của bàng môn tả đạo, họ chỉ cần niệm bảy
ngày, thì có thể người kia sẽ chết. Chú có
loại chú hại người, cũng có loại chú lợi
người. Chú bây giờ nói là chú hại người. Các
thuốc độc cũng bao quát tất cả các thuốc
độc. Nếu bạn gặp sự trì chú nguyền rủa các
thuốc độc, thì nên một lòng niệm: ‘’Nam mô
Bồ Tát Quán Thế Âm’’, tức thì lời nguyền rủa
và các thuốc độc đó, chẳng những không thể
hại bạn, mà còn trở lại hại người đó.
Trước kia, có một
nơi nọ tại
Trung Quốc, có người chuyên
môn bói toán rất linh nghiệm. Tại sao mà họ
bói toán linh nghiệm như thế? Vì bên trong
của họ có yêu quái, ma quỷ giúp đở họ. Thứ
ma quỷ đó, mỗi năm chỉ cần ăn một đồng nam
và một đồng nữ. Cho nên ông thầy bói đó, mỗi
năm đều trộm bắt một cặp đồng nam và đồng
nữ, để cúng tế cho ma quỷ đó. Song, năm đó
ông ta bắt người đồng nữ của gia đình nọ,
thường niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.
Khi cô ta bị bắt nhốt vào phòng để chờ ma
quỷ đến bắt ăn, thì cô ta ở đó luôn luôn
niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Một lúc
sau, ma quỷ đến gian phòng đó, từ cửa sổ
thấy cô ta, thì cặp mắt của ma quỷ phóng ra
hai luồng ánh sáng chiếu đến thân cô ta,
song vì miệng cô ta niệm Bồ Tát Quán Thế Âm,
cho nên từ trong miệng của cô ta, cũng phóng
ra ánh sáng. Ðột nhiên cô ta cảm thấy có vật
gì rất to lớn, từ trên phòng rớt xuống, cô
ta còn cho rằng là yêu quái muốn đến ăn thịt
cô ta, cô ta sợ quá kêu lên, ngay lúc ấy bên
ngoài có lính đi tuần ban đêm nghe tiếng
kêu, bèn chạy đến gần thì nghe tiếng cô gái
từ trong phòng kêu lên, bèn phá cửa xông
vào, đến cửa phòng thì thấy thi thể của con
mãng xà rất lớn. Con mãng xà to lớn đó tức
là Ma hầu la già.
Kết qủa người bói
toán đó, bị cảnh sát bắt đi tra hỏi: "Tại
sao ông lại bắt cô gái này đến đây"?
- Ông ta mới nói : "Tôi có một vị tiên giúp đỡ
tôi bói toán cho mọi người, vị tiên này mỗi
năm phải ăn thịt một cặp đồng nam đồng nữ,
đã mấy năm qua tôi đều cúng cho vị tiên đó,
cho nên vị tiên đó giúp đỡ tôi bói toán rất
linh, kiếm được rất nhiều tiền". Nói xong
cảnh sát bắt ông ta giam vào ngục. Ông ta
bói toán rất linh, song chẳng bói toán được
cho mình, kết quả bị luật pháp trừng phạt
chém đầu thị chúng. Câu chuyện như thế, tức
là thật sự chứng minh "Nguyền rủa các thuốc
độc, muốn làm hại thân người, nhờ sức niệm
Quán Âm, trở lại hại người đó". Cho nên hại
người tức là hại mình.
Câu "Trở lại hại
người đó", đương thời ông Tô Ðông Pha từng
sửa thành câu "Hai nhà đều vô hại". Ý của
ông ta cho rằng, người trù ẻo và người bị
trù ẻo đều bình an vô sự. Kỳ thật là sai
lầm. Tại sao? Trong Phật giáo có nói về giới
sát sinh, phóng sinh, song nếu không trừ khử
kẻ ác, thì họ sẽ hại kẻ lương thiện. Tuy họ
trù ẻo dùng thuốc độc muốn hại người, kết
quả khiến cho họ vô sự, đó chẳng phải là cổ
lệ chăng? Họ hại chẳng được người này, lại
muốn hại người khác, mà nếu người đó không
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì sẽ bị hại chết.
Người hay niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì đương
nhiên họ hại chẳng được, nhưng nhiều người
chẳng biết niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, cho nên
"Hai nhà đều vô sự" là không đúng, "Trở lại
hại người đó" là không sai lầm, khiến cho
người ác chịu khổ, họ thọ quả báu là đáng,
như thế về sau, họ chẳng dám hại người nữa.
Hoặc gặp la sát dữ
Rồng độc các loài quỷ
Nhờ sức niệm Quán Âm
Thời chúng chẳng dám hại.
Hoặc là bạn đến rừng núi hoang dã, đi qua nơi
chẳng có người ở, gặp quỷ la sát dữ, loài
quỷ này rất hung ác, chúng chuyên môn ăn
thịt người. Còn có rồng độc cũng hại người,
chúng thường chiếm cứ một vùng, hoặc trong
hồ, trong sông, trong kênh, phàm có ai đi
qua chỗ cuả chúng, thì chúng phun khí độc,
có thể độc chết người. Có loại rồng độc to
lớn, có thể dùng hơi hút luôn cả người lẫn
thuyền vào trong bụng, rất là lợi hại. Còn
có rất nhiều loài quỷ. Quỷ chẳng phải chỉ có
một loại, có quỷ giàu, quỷ nghèo. "Quỷ giàu"
như thần thổ địa, thành hoàng, tuy chúng đều
là quỷ nhưng đều làm thủ lãnh của quỷ, làm
quỷ vương, đây gọi là "quỷ giàu". "Quỷ
nghèo", chẳng có tiền, hoặc có rất ít, còn
có loài quỷ chẳng có gì cả, vậy nói rằng quỷ
vẫn dùng tiền chăng? quỷ vốn chẳng cần tiền,
nhưng vì nguyên nhân tập quán ác, cho nên
loài quỷ giàu cũng tham ô, quỷ nghèo cũng
tựa như người, suốt ngày đến tối đều muốn
kiếm chút ít tiền. Tuy nhiên bất tất phải
dùng tiền, nhưng vì chúng chấp trước thành
tính, biến thành một thứ mê, cho nên ham
thích tiền. Chúng dùng tiền bằng giấy, tại
Trung Quốc mọi người thường
đốt tiền giấy cho loài quỷ.
Nếu bạn gặp những
loài quỷ la sát, rồng độc, hoặc các quỷ
thần, mà bạn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
chúng tự nhiên sẽ bỏ chạy. Vì sao? Vì khi
bạn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì trong miệng
sẽ phóng quang, hết thảy tất cả loài quỷ đều
sợ quang (ánh sáng), sẽ không gây thương hại
bạn.
Nếu thú dữ vây quanh
Nanh vuốt nhọn đáng sợ
Nhờ sức niệm Quán Âm
Chúng vội bỏ chạy đi.
Thú dữ như lang, sói, hổ, báo, chúng là dã thú
chuyên môn ăn thịt người. Núi rừng ở Mỹ
chẳng có cọp, ở
Trung Quốc, Ấn Ðộ cọp rất
nhiều. Lúc còn nhỏ, có một lần tôi chạy vào
trong núi, đi năm sáu ngày cũng chẳng thấy
người, bèn gặp các thú dữ. Song, rất kỳ
quái, cũng chẳng biết tại sao chúng chẳng ăn
thịt tôi. Răng nanh của thú dữ sắc bén như
dao, cũng cứng như thép. Khi bạn gặp những
thú dữ bao vây, thì bạn hãy mau niệm Bồ Tát
Quán Thế Âm, chúng chẳng những chẳng dám làm
hại bạn, mà ngược lại vội vàng bỏ chạy. Tại
sao phải chạy? Vì Bồ Tát Quán Thế Âm có sự
linh cảm như thế, khiến cho chúng nhìn bạn,
thì tự nhiên sẽ sinh tâm sợ hãi, cho nên bỏ
chạy xa lìa bạn.
Rắng độc cùng bò cạp
Hơi độc khói lửa đốt
Nhờ sức niệm Quán Âm
Nghe tiếng bỏ chạy đi.
Rắn độc đa số là màu đen. Bò cạp, nếu người
nào bị nó cắn, thì lập tức trúng độc mà chết
đi, đều là có "Khí độc khói lửa đốt", những
thứ độc này rất lợi hại, thậm chí khiến cho
người bỏ mạng. Tuy độc hại như thế, nếu bạn
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng nghe bạn niệm
: "Nam Mô Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát", thì
chúng sẽ ẩn tàng, chạy về chỗ của chúng ở,
chẳng dám tác quái nữa.
Mây sấm sét điện chớp
Tuôn mưa đá mưa rào
Nhờ sức niệm Quán Âm
Liền được trời quang tạnh.
Trên trời thường có mây, sấm sét, điện chớp,
hoặc tuôn mưa đá, các thứ tai nạn. Có khi
mưa đá, cục đá lớn gần bằng quả trứng gà,
hoặc có cục đá lớn nặng mấy mươi gam, thậm
chí xuống trúng trâu bò, thì trâu bò sẽ
chết. Nếu rớt xuống trúng người, thì chẳng
cần nói càng làm cho người chết. Hoặc tuôn
mưa rào, nếu bạn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm,
thì chẳng bao lâu những hiện tượng đó sẽ
ngừng, chẳng còn nữa.
Chúng sinh bị khốn cùng
Vô lượng khổ bức bách
Nhờ diệu trí Quán Âm
Hay cứu khổ thế gian.
Chúng sinh tức là chúng duyên hòa hợp mà sinh,
hơn nữa chúng sinh có trăm ngàn vạn thứ loài
khác nhau, nên gọi là chúng sinh. Cũng có
thể giải thích nói "chúng sinh" tức là sinh
ra quá nhiều. Theo chữ chúng của
Trung Quốc (众), ở trên là chữ
tứ, (四bốn), ở dưới là ba chữ người (人), ba
người tụ lại một chỗ nên gọi là "chúng". Ở
trong các loài chúng sinh, phiền não nhất là
loài gì? Tức là loài người : Lại phải mặc
áo, lại phải ăn cơm, lại phải làm việc, vô
số việc phiền não, song có đủ trí tuệ nhất
vẫn là loài người, còn các loài chúng sinh
kia, tuy chẳng có nhiều phiền não, song
chúng cũng ngu si nhất, trí huệ chẳng như
người, cho nên phải chịu người sai khiến,
chi phối. Do đó, có câu: "Con người linh
nhất của vạn vật", con người thông minh nhất
trong vạn vật, song thông minh nhất có khi
cũng làm việc ngu si nhất, tức là chính mình
gây phiền não cho chính mình, chính mình vật
lộn với chính mình, tức là khi bị khốn cùng,
thì có vô lượng sự khổ, như chẳng có cơm ăn
là khổ, chẳng có quần áo mặc là khổ, chẳng
có nhà ở là khổ, đủ thứ sự khổ. Suốt ngày vì
quần áo, cơm ăn, nhà ở, một đời bận rộn vì
kiếm cơm ăn, thậm chí đi trộm cắp để duy trì
mạng sống của mình. Tại sao phải duy trì
mạng sống như thế? Là vì sự khổ bức bách,
kết quả càng chiêu lại vô lượng sự khổ bức
bách thân. Bồ Tát Quán Thế Âm có sức trí huệ
vi diệu không thể nghĩ bàn, hay cứu hộ hết
thảy sự khổ ở thế gian, cho nên chúng ta làm
người, bất cứ có việc gì không được như ý,
không nên ưu sầu khổ não. Bạn niệm Bồ Tát
Quán Thế Âm, thì tất cả mọi vấn đề đều từ từ
sẽ giải quyết, chỉ cần bạn có tâm thành đối
với Ngài, thì Bồ Tát sẽ đến trợ giúp bạn.
Ðầy đủ sức thần thông
Rộng tu trí phương tiện
Các cõi nước mười phương
Chẳng cõi nào không hiện.
"Ðầy đủ" là chẳng thiếu. "Sức thần thông" là
gì? Thần thông có sáu thứ.
Thứ nhất là thiên
nhãn thông. Thiên nhãn có thể nhìnu
thấy động tác của chư thiên ở cõi trời Ðao
Lợi, đều nhìn thấy rõ ràng.
Thứ hai là thiên
nhĩ thông, nghe được mọi thứ tiếng của người
nhân gian, và chư thiên ở trên trời trong
mười phương thế giới.
Thứ ba là tha tâm
thông, trong tâm người khác nghĩ gì cũng đều
biết hết.
Thứ tư là túc mạng
thông, tức nhân quả quá khứ đều biết rõ.
Thứ năm là thần túc
thông, còn gọi lày
thần cảnh thông, tức có thể bay đi biến hóa tự
tại.
Thứ sáu là lậu tận
thông, thần thông này khó đắc được nhất. Tất
cả quỷ thần đều có năm thứ thần thông ở
trên, chỉ lậu tận thông là không có.
Bồ Tát Quán Thế Âm
đều đầy đủ sáu thứ thần thông, cho nên gọi
là đầy đủ sức thần thông. "Rộng tu trí
phương tiện", do chữ "rộng" nên biết rằng
Ngài chẳng những chỉ tu trì một pháp môn, mà
còn tu đủ thứ các pháp môn. Giống như chúng
ta bây giờ, chẳng phải chỉ có nghe kinh, mà
cũng học Phật pháp, lại phải học Chú Lăng
Nghiêm, Chú Ðại Bi, còn phải lạy đại bi sám
.v.v... phải học tập tinh thần rộng tu trí
phương tiện, của Ngài Quán Thế Âm khi Ngài
còn tu hành ở tại nhân điạ.
Trong các cõi nước
trong mười phương, chẳng có một nước nào mà
Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng đến, nơi nào Ngài
cũng đến, cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm đều có
duyên với chúng ta tất cả chúng sinh. Chỉ
cần ai niệm danh hiệu của Ngài, thì Ngài sẽ
bảo hộ người đó. Còn nếu chẳng niệm danh
hiệu của Ngài, thì đương nhiên Ngài chẳng
đếm xỉa tới. Lý do gì? Vì bạn chẳng quan hệ
gì với Ngài. Cho đến danh hiệu của Ngài cũng
chẳng biết, cũng chẳng niệm, Ngài bèn nói:
"Họ chẳng muốn làm bạn với mình, mình cũng
chẳng hơi đâu mà lo chuyện của họ". Nếu bạn
muốn làm bạn với Ngài, thì phải niệm "Nam Mô
Bồ Tát Quán Thế Âm" cho nhiều. Một khi bạn
niệm danh hiệu của Ngài, thì Ngài nói: "Ta
lại có thêm một người bạn, tốt lắm, nếu
người bạn mới này có chuyện gì, thì ta phải
giúp đỡ họ".
Có người muốn biết làm thế nào để đắc được
"thiên nhãn thông"? Có nhiều phương pháp,
nếu bạn chuyên tâm niệm Chú Lăng Nghiêm,
cũng sẽ đắc được thiên nhãn thông, hoặc học
Chú Ðại Bi, và bốn mươi hai tay và mắt của
Chú Ðại Bi, cũng sẽ được thiên nhãn, hoặc
chẳng ngủ để học Phật pháp, cũng sẽ đắc được
thiên nhãn thông, bất quá phương pháp này
rất nguy hiểm, tôi chẳng muốn họ y chiếu học
pháp môn này, taị sao? Chắc các bạn còn nhớ
tôn giả A Na Luật ở trong Kinh Lăng Nghiêm,
tôn giả chuyên môn ngủ, về sau bị Phật quở,
từ đó tôn giả tinh tấn dụng công, chẳng ngủ
nữa, trải qua bảy ngày, mắt của tôn giả bị
mù. Phật thương xót tôn giả, bèn dạy Ngài tu
tam muội kim cang chiếu minh, kết quả Ngài
đắc được thiên nhãn đệ nhất.
A Na Luật là tiếng
Phạn, dịch là "không nghèo". Nguyên lai được
tên này như thế nào ? Trong vô lượng kiếp về
trước, Ngài là người mới phát tâm bồ đề, tuy
chưa làm Phật giáo đồ, nhưng đã hiểu rõ đạo
lý bố thí, lúc đó Ngài chỉ là người nông phu
làm ruộng, đời sống nghèo nàn khốn khổ.
Trong núi gần nhà của Ngài, có một vị Tỳ
Kheo già ở tu, đã chứng được quả Bích Chi
Phật. Vị Tỳ Kheo già đó, mỗi bảy ngày mới
xuống núi để đi khất thực một lần, mỗi lần
chỉ khất thực bảy nhà, tuyệt đối không khất
thực nhiều nhà, nếu bảy nhà đều bố thí, thì
mới đủ ăn bảy ngày. Nếu một nhà không bố
thí, thì một ngày không có gì ăn.
Một lần nọ, người
nhà mang cơm đến cho người nông phu đó vào
buổi trưa, vốn để cho người nông phu làm rồi
thì ăn, song thấy vị Tỳ Kheo già nghèo xuống
núi hóa duyên, mà cũng chẳng được vật gì,
người nông phu sinh tâm bố thí nghĩ : Hôm
nay ta không ăn cơm, để đem phần cơm này
dâng cho vị Tỳ Kheo già đó đã chứng quả Bích
Chi Phật. Vị Tỳ Kheo nhận phần cơm xong, rất
đặc biết hoan hỉ và khen ngợi nói : ''Như
thị, như thị ! Ngươi rất thành tâm cúng
dường, công đức này thật là không thể nghĩ
bàn''. Sau đó đi trở về núi.
Sau đó, người nông
dân nhìn thấy con thỏ chạy đến chỗ ông ta,
đột nhiên trèo lên lưng của ông ta, và dính
trên thân của ông ta, làm thế nào cũng chẳng
rớt xuống. Ông ta lập tức trở về nhà để tìm
cách lấy con thỏ xuống. Nhìn rõ ràng thì vốn
là con thỏ bằng vàng. Ông ta chặt một cái
chân con thỏ đi đổi tiền, trở về nhìn thì
cái chân bị chặt lại mọc ra như cũ, cho nên
từ đó ông ta giàu có lên. Từ đó về sau, đời
đời kiếp kiếp đều giàu có, vĩnh viễn chẳng
nghèo thiếu. Do ông ta cúng dường bữa cơm
cho vị Bích Chi Phật, với tấm lòng thành mà
được quả báo như thế, đời đời kiếp kiếp đều
"không nghèo", đó là nguồn gốc tên của Ngài
A Na Luật.
Trong Kinh Bốn Mươi Hai Chương có nói : "Cúng
dường cho một trăm người ác, chẳng bằng cúng
cho một người thiện. Cúng dường cho một ngàn
người thiện, chẳng bằng cúng cho một người
cư sĩ giữ gìn năm giới. Cúng dường cho một
vạn người cư sĩ giữ năm giới, chẳng bằng
cúng cho một vị Sa Di giữ mười giới. Cúng
dường cho mười vạn vị Sa Di, chẳng bằng cúng
cho một Tỳ Kheo. Cúng dường cho một trăm vạn
vị Tỳ Kheo, cũng chẳng bằng cúng cho một vị
chứng sơ quả Tu Ðà Hoàn. Cúng dường một ngàn
vạn vị Tu Ðà Hoàn, chẳng bằng cúng cho một
vị chứng nhị quả Tư Ðà Hàm. Cúng dường cho
một vạn vạn vị Tư Ðà Hàm, chẳng bằng cúng
cho một vị chứng quả A Na Hàm. Cúng dường
trăm ngàn vạn vạn vị A Na Hàm, chẳng bằng
cúng dường cho một vị chứng tứ quả A
La Hán. Song, bạn lại cúng
dường vô số chẳng cách chi đếm được số vị A
La Hán, cũng chẳng bằng cúng
dường một vị 'vô tu vô chứng'. Vô tu vô
chứng là gì ? Tức là Phật, tức cũng là chẳng
bằng cúng dường cho một vị Phật. Nhưng cúng
dường Hằng hà sa số chư Phật vẫn không bằng
cúng dường cho một vị vô niệm. Vô trụ, vô
tu, vô chứng".
Hôm nay, nói về tôn giả A Na Luật cúng dường
một vị Bích Chi Phật, mà đời đời kiếp kiếp
không nghèo và còn rất giàu có, không làm
thái tử con vua, thì cũng làm con trong gia
đình giàu có. Cho nên chúng ta muốn đời đời
kiếp kiếp đều không nghèo, thì phải cúng
dường Tam Bảo, thì tương lai sẽ có cơ hội
giàu có. Song, khi bạn giàu có, thì lại có
vấn đề. Vấn đề gì ? đó là :
"Bần cùng bố thí khó,
Giàu sang học đạo khó".
Tôn giả A Na Luật làm sao mà được giàu có ? Vì
Ngài nghèo khổ mà biết bố thí, hy sinh bữa
cơm trưa của mình, đem cúng dường Tam Bảo,
do một niệm chân tâm mà được vô lượng phước
báu. Người nghèo chính họ đã không no, mà
còn đem đi bố thí, thì chẳng còn gì để ăn,
cho nên nói "bố thí khó". Còn giàu có thì
sao? thì "học đạo khó". Những người giàu có,
bạn kêu họ đến học Phật pháp, thì họ chẳng
chịu đến. Ðây là hai điều khó trong hai mươi
điều.
Ðủ thứ các đường ác
Ðịa ngục quỷ súc sinh
Khổ sinh già bệnh chết
Dần dần đều dứt hết.
Các đường ác, tức là tất cả những nơi không
lành. Ðủ thứ là biểu thị nhiều thứ, chẳng
riêng gì một đường ác, mà có rất nhiều. Tổng
cộng lại thì có bốn: A tu la, ngạ quỷ, súc
sinh, địa ngục, đây là bốn đường ác. A tu la
ở trước đã giải thích rõ ràng, chúng rất
thích đấu tranh, phàm loài chúng sinh nào
thích đấu tranh, đều thuộc về A tu la. Ðịa
ngục tạo ra như thế nào? là do nghiệp chướng
của mỗi người chúng ta hình thành. Bạn tạo
nghiệp ác gì thì có địa ngục đó. Ðịa ngục
lại phân ra rất nhiều loại, trong kinh Ðiạ
Tạng có nói: "Ðiạ ngục lớn có mười tám,
ngoài ra có năm trăm địa ngục nhỏ, và còn có
trăm ngàn vô lượng vô biên điạ ngục khác".
Ðịa ngục có phải giống như ngục tù ở nhân
gian chăng? Do người xây nhà tù kiên cố, để
có ai phạm tội thì nhốt vào tù chăng? Chẳng
phải, điạ ngục là do nghiệp ác của mỗi người
tạo ra mà hiện ra. Bạn tạo nghiệp ác giết
người, thì có điạ ngục giết người hiện ra;
tạo tội ác phóng lửa, thì có địa ngục phóng
lửa hiện ra; tạo nghiệp gì thì có điạ ngục
đó, cho nên loại địa ngục cũng chẳng nhất
định. Khi nào bạn trả hết nghiệp, thì điạ
ngục chẳng còn nữa, nếu nghiệp chẳng hết thì
điạ ngục vẫn tồn tại.
Lúc tôi còn ở đông bắc bên
Trung Quốc, thì có "Ông họ
Lưu tay heo", ông ta có thể nhớ được việc
nhân quả ba đời: Ban đầu ông ta là người con
có hiếu, đối xử rất tốt với cha mẹ, về sau
thì đầu thai vào trong gia đình giàu có. Cha
của ông ta bốn mươi tuổi mới sinh ông ra,
khi ông ta mươì ba tuổi thì cưới vợ, cô vợ
lớn hơn ông ta một hai tuổi. Cha của ông ta
tuy đã hơn năm mươi tuổi, mà dâm dục vẫn
chưa dứt, lại hỏi thêm một bà vợ bé, bà vợ
bé này với cô dâu tuổi xấp xỉ nhau. Ông Lưu
có vợ chưa đến một hai năm thì sinh con, và
con của ông ta lớn lên được mười ba tuổi,
thì ông ta lại hỏi vợ cho người con. Vợ của
người con cũng lớn hơn người con của ông ta
vài tuổi. Trong thời gian đó, cha mẹ của ông
đều đã qua đời, chỉ còn lại bà vợ bé của
người cha.
Ông ta thấy bà vợ
bé của người cha xinh đẽp, thì coi như là vợ
của mình, và lúc đó đứa con của ông ta lại
chết, ông ta thấy cô vợ của con mình tướng
mạo cũng đẹp. Do đó, cô vợ của người con
cũng làm vợ của mình. Lúc đó ông ta chỉ mới
khoảng hai mươi tám tuổi. Khi ông ta được
bốn mươi tuổi, thì mới bắt đầu giác ngộ, tự
nghĩ rằng: "Ôi ta một đời tạo quá nhiều
nghiệp ác, lấy mẹ của mình làm vợ, lấy con
dâu cuả mình làm vợ, tội nghiệp này chẳng
ít". Do đó, ông ta bắt đầu tu, chuyên trì
Kinh Kim Cang.
Tụng Kinh Kim Cang
hơn mười năm, ông ta vào khoảng hơn năm mươi
tuổi thì chết. Chết rồi đến trước vua Diêm
Vương. Vua Diêm Vương là ông vua quản lý tất
cả lũ quỷ trong địa ngục, rất là lợi hại,
mặt mày đen sì, chẳng đếm xỉa gì đến nhân
tình, ông ta bị vua Diêm Vương hỏi : ‘’Tại
sao ông cứ tạo những nghiệp ác ? Bây giờ sẽ
bỏ ông vào địa ngục chảo dầu sôi, dùng chảo
dầu để chiên ông.’’ Do đó, kêu hai con quỷ
đến bắt ông ta bỏ vào chảo dầu sôi.
Lúc đó, bên cạnh có
ông quan tòa nói : ‘’Không thể được.’’ Vua
Diêm vương hỏi : ‘’Tại sao không được?’’
Quan tòa đáp : ‘’Vì ông ta đọc tụng Kinh Kim
Cang, trước hết phải xả Kinh Kim Cang ở
trong bụng của ông ta ra hết, rồi sau đó mới
dùng chảo dầu sôi chiên.’’
Do đó, lại kêu ông
ta đầu thai làm người, ông ta đầu thai vào
một gia đình nghèo khổ, cha mẹ bán đồ điểm
tâm. Ðứa trẻ này từ nhỏ rất tham ăn, nên
bụng trương lên quá to mà chết, chết rồi cha
mẹ của anh ta cùng nói rằng: ‘’Tại sao bụng
của nó lại to như thế ? Ðáo để trong bụng có
vật gì thế ? Chúng ta hãy mỗ bụng nó ra xem
thử’’. Bèn mỗ bụng ra, thì có một vật rất
cứng chắc tựa như đá kim cương, lũ quỷ bèn
nói : ‘’Ê ! Bây giờ có thể kêu ông ta vào
cạnh chảo dầu sôi là vừa.’’ Bèn mang ông ta
đến gặp vua Diêm Vương nói : ‘’Bây giờ có
thể kêu ông ta đầu thai làm heo.’’ Ông ta
lại đầu thai làm heo, bị người nuôi heo cho
ăn mập mạp rồi làm thịt. Sau đó lại trở về
địa ngục để bỏ vào chảo dầu sôi, thì ông ta
nói với vua Diêm Vương: ‘’Ông bất tất phải
bỏ tôi vào chảo dầu sôi, hãy cho tôi đầu
thai đến nhân gian làm người, ông chừa cho
tôi một tay heo để làm chứng minh, tôi sẽ
khuyên người đời đừng tạo tội nghiệp.’’ Vua
Diêm Vương nói : ‘’Như thế cũng tốt.’’ Do
đó, để cho ông ta đầu thai làm người họ Lưu.
Vì ông ta có dấu tích heo, cho nên mọi người
kêu ông ta là ‘’ông Lưu tay heo.’’ Người đó
tôi đã gặp qua, và còn nói chuyện rất nhiều
với ông ta, cho nên mới biết ông ta nhớ việc
của mình rất rõ ràng. Ðây tức là do nhân
duyên tạo thành đường ác. Ðịa ngục là nơi
rất nguy hiẻm, hy vọng mọi người đừng tạo
nghiệp ác, bằng không thì quả báo khổ khó
tránh khỏi.
Còn có một vị pháp sư tại Hợp Nhĩ Tân, một lần
nọ, ông ta mắc một chứng bịnh trầm kha, cảm
thấy mình chết đi, chết rồi thần thức hướng
về phía ngã tư đường chạy, chạy đến cách
chùa chẳng bao xa thì đi đầu thai. Ðầu thai
làm gì? Làm heo. Nhìn thấy mình biến thành
thân heo, nhưng chẳng chịu bú sữa nên bị
chết đói, chết đói rồi thần thức của ông ta
lại trở lại nơi thân của vị pháp sư đó, bèn
tỉnh dậy nói: ‘’Ôi , tôi vừa mới đi đầu thai
làm heo!’’
- Người bên cạnh hỏi ông ta rằng: ‘’Ông đến
đâu đầu thai làm heo?’’
- Ông ta nói: ‘’Bây giờ bệnh của tôi đã khỏi,
tôi sẽ dẫn anh tới nơi đó xem, nơi đó vừa
mới sinh bảy con heo con, tôi là một trong
số đó, cố ý không bú sữa nên mới chết.’’ Bèn
dẫn anh ta và các vị pháp sư khác, cùng đi
đến chỗ đó, quả nhiên có gia đình nọ có con
heo vừa sinh bảy con heo con, đã chết đi một
con.
Ðó là chính vị pháp sư đó đã trải qua, và tôi
cũng đã gặp
ông ta. Do đó có thể thấy,
được sinh làm người chẳng phải dễ, chúng ta
được thân người rất khó. Do đó có câu:
‘’Thân người khó được,
Phật pháp khó nghe
Thiện tri thức khó gặp’’.
Bạn thử tính xem, tại nước Mỹ này có bao nhiêu
triệu người, song có bao nhiêu người được
nghe Phật pháp? ‘’Thiện tri thức khó gặp’’:
Bạn muốn gặp một vị thiện tri thức chân
chánh hiểu Phật pháp, một vị thầy tốt cũng
chẳng dễ dàng. Có những người làm sư phụ, mà
ngay cả chính mình cũng chẳng hiểu đạo lý,
họ giảng đạo lý cũng giảng chẳng đúng.
Ngạ quỷ cũng do nghiệp lực sở cảm, mới bị quả
báu làm ngạ quỷ. Về ngạ quỷ tôi đã từng giải
thích rất nhiều lần. Bụng của chúng to như
trống, cổ họng nhỏ như kim, những vật mà
chúng ta ăn, khi vào trong miệng chúng, thì
cũng biến thành lửa. Cảnh giới mỗi loài mỗi
khác, chư thiên nhìn thấy nước là lưu ly,
chúng ta nhìn thấy nước là nước, cá nhìn
thấy nước là nhà của chúng, là cung điện của
chúng, quỷ nhìn thấy nước là lửa. Ðó đều là
nghiệp lực cảm nên, cho nê sự thấy cũng khác
nhau. Súc sinh, tôi vừa mới nói vị pháp sư
đó đầu thai làm heo, còn có người đầu thai
làm gà, bò, ngựa .v.v... đó đều là do người
làm thành. Những người nào chẳng hiếu thuận
với cha mẹ, chẳng cung kính sư trưởng, thì
những người đó tương lai đều có quan hệ với
súc sinh. Và người nào thích ăn thịt, thì
cũng rất nguy hiểm, cũng có mối quan hệ như
trên. ‘’Ðủ thứ các đường ác’’ tức cũng là
bao quát bốn đường ác.
Khổ sinh già bệnh
chết, nhân sinh có ba thứ khổ, tức là khổ
khổ, hoại khổ và hành khổ. Khổ khổ tức là
khổ trong sự khổ, như người nghèo khốn khổ,
tức chẳng có tiền, lại chẳng có cơm ăn, lại
chẳng có nhà ở, muốn tìm việc làm lại tìm
chẳng được, thật là khổ trong sự khổ. Khổ
trong sự khổ này, khiến cho con người không
thể chịu đựng được.
Vậy người có tiền
thì chẳng khổ chăng? Khổ của người có tiền
lại càng lớn, có người nói: ‘’Pháp sư thầy
nói đạo lý này tôi chẳng tin’’. Bạn không
tin tôi cũng nói như thế, bạn tin tôi cũng
nói như thế. Tại sao? Bạn thấy tiền nhiều,
thì suốt ngày đến tối đều nghĩ rằng:’’Số
tiền này bỏ vào ngân hàng nào? Số tiền kia
tôi phải đem đi làm ăn, còn số tiền nọ phải
.v.v...’’ Ðếm tới đếm lui, đếm tới đầu bạc,
răng rụng, mắt hoa, tai điết, lúc đó vẫn
chưa đếm xong. Chưa đếm xong thì bạn nói sẽ
thế nào? Có vấn đề xảy đến, vì quá nhiều
tiền, suốt ngày đến tối cứ lo đếm tiền, đếm
tới đếm lui, bị kẻ trộm biết, tối đến phá
cửa xông vào, ăn cắp hết mang đi, đây gọi là
hoại khổ. Thứ khổ này, so với khổ bần cùng
thì lợi hại hơn, vì khổ người nghèo là khổ
tập quán, chẳng cảm thấy khổ như thế nào.
Song, người giàu có đột nhiên mất mát đi,
thứ khổ này mới là khó chịu đựng. Nhất là
người già, chẳng có tiền, tất cả mọi sự đều
bất như ý, đây gọi là hoại khổ.
Nói như thế thì, người không giàu cũng không
nghèo thì chẳng khổ? Vẫn khổ. Khổ gì? Tức là
hành khổ, do từ nhỏ lớn lên rồi già nua, già
rồi chết đi, niệm niệm thay đổi, niệm niệm
không ngừng. Tức nhiên chẳng có khổ về bần
cùng, chẳng có khổ về giàu sang, mà có hành
khổ. Ba thứ khổ này chẳng có ai tránh khỏi.
Lại có tám thứ khổ. Ba thứ khổ đã không ít,
lại còn thêm tám thứ khổ. Kỳ thật là thế
nào? Tám thứ khổ vẫn chưa nhiều. Sự khổ
chẳng phải chỉ có tám, mà là có hàng ngàn
hàng vạn vô lượng sự khổ. Khổ nhất là làm
người, làm súc sinh còn sung sướng hơn làm
người nhiều. Làm gì thì không khổ? Làm Phật
thì chẳng khổ. Tại sao nói làm súc sinh thì
sung sướng hơn làm người? Súc sinh thì chẳng
lo về cái ăn, cái mặc, chỗ ở, chúng có điều
kiện sinh hoạt thiên nhiên, chẳng lo lắng,
bạn nói có phải chăng? Chỉ có làm người là
khổ nhiều nhất. Bây giờ bất tất giảng tám
vạn bốn ngàn thứ khổ, cho đến vô lượng thứ
khổ, chỉ nói về tám thứ khổ, đó là: Khổ về
sinh, già, bệnh, chết, thương yêu mà phải xa
lìa, ghét mà gặp nhau, cầu mong chẳng được,
năm ấm thiếu đốt. Trong tám thứ khổ này, bạn
nói thứ khổ nào khổ nhất? Ðó là khổ về sinh,
nếu chẳng có sinh, thì chẳng có các thứ khổ
kia.
Có người hỏi: ‘’Khổ
về sinh là khổ như thé nào?’’ Tôi biết bạn
chẳng còn nhớ, đã quên mất khổ về sinh. Do
đó, bây giờ tôi nói cho bạn biết: ‘’Sự sinh
này là do tinh cha huyết mẹ kết hợp thành,
lại do thân trung ấm đến đầu thai mà có. Bào
thai ở trong bụng mẹ vào tuần lễ thứ nhất,
thứ nhì, thứ ba, thứ tư, đều chẳng có cảm
giác. Nếu lúc đó bà mẹ ăn đồ ăn lạnh, thì
bạn cảm thấy như ở trong núi băng, cảm giác
rất khó chịu, nếu bà mẹ ăn đồ ăn nóng, thì
cảm giác như ở trong hầm lửa, nóng vô cùng.
Ở trong bụng mẹ thì có những sự khổ như thế.
Và nếu bà mẹ khom lưng, thì thai nhi cảm
giác như bị núi đè rất khó chịu vô cùng. Ðến
lúc sinh ra thì mới là khổ nhất, đang lúc
sinh thì giống như hai quả núi đè lên, cho
nên khi đứa bé chào đời thì khóc oà lên, kỳ
thật tiếng khóc là do khổ mà ra, cho nên mới
kêu: ‘’Khổ quá, khổ quá, khổ quá’’!
Khi sinh ra thì
thống khổ như rùa sống lột mai, song một khi
lớn lên thì quên hết sư thống khổ đó, sau
khi trưởng thành rồi bất tri bất giác thì
già đi. Sự khổ của cảnh già nua cũng rất lợi
hại. Tuổi già thì tai cũng điếc, họ mắng thì
bạn cũng chẳng nghe. Mắt cũng mờ, nhìn vật
gì cũng chẳng rõ ràng. Trước hết là lỗ tai
và con mắt chẳng giúp đỡ bạn, tuy nhiên lưỡi
chẳng rụng, nhưng răng thì rụng. Trước kia
tôi gặp cụ già tám chín mươi tuổi, tôi hỏi
ông ta: Ông đã gặp người nào rụng lưỡi
chăng? Tại sao răng của ông đều rụng hết?
- Ông ta nói: Không, còn ông đã thấy chưa?
- Tôi nói: Tôi lại càng chẳng thấy qua, ông là
người tuổi tác đã cao, mà còn chưa thấy
người nào rụng lưỡi, tôi còn trẻ làm sao có
thể gặp chuyện lạ như thế?
- Tôi lại hỏi ông ta: ‘’Ông có biết vì sao
lưỡi chẳng rụng không? Trên thế gian chẳng
có ai rụng lưỡi mà chỉ rụng răng.’’
- Ông ta nói: Ðạo lý gì?
- Tôi nói: Vì răng quá cứng, cho nên rụng, còn
lưỡi quá mềm, cho nên chẳng rụng.
Răng rụng có gì
khổ? Răng rụng ăn gì cũng chẳng biết mùi vị,
nhai chẳng nát cắn chẳng đứt, chỉ nuốt vào
bụng lại khó tiêu hóa, bạn nói có khổ chăng?
Lúc đó mặt mày nhăn nhó, do đó có câu: ‘’Da
gà tóc bạc’’, da thịt rất là sù sì nhăn nhó,
đầu tóc thì bạc phơ. ‘’Tóc trắng’’ này ở
nước Mỹ mà nói, thì chẳng phải là người già,
vì người tây phương còn nhỏ khi mới sinh ra,
thì tóc đã màu trắng, đó chẳng phải là trắng
bạc của người già, mà khi còn rất rẻ cũng có
tóc trắng. Tóc bạc của người già là do tóc
đen mà biến thành trắng, đen có thể biến
thành trắng, trắng thì không thể biến thành
đen, song có lúc cũng có thể. Lúc tôi ở tại
Hồng Kông, thì tóc của tôi hoàn toàn bạc
hết, vì tôi làm chùa, làm quá sức, suy nghĩ
nhiều, nên đầu tóc bạc phơ. Về sau mọi việc
gì cũng đều buông xả hết, nên tóc đen trở
lại. Cho nên việc gì cũng chẳng có nhất
định, bây giờ đầu tóc của tôi chỉ có chút
tóc bạc.
Sự khổ về già cũng
chẳng dễ gì chịu đụng, nếu bạn không tin thì
hãy thử xem, đợi đến khi bạn già thì sẽ
biết, bạn đừng ngại sống đến bảy, tám mươi
tuổi, hoặc tám, chín mươi tuổi, thậm chí một
trăm tuổi, thì lúc đó ăn vật gì cũng chẳng
biết mùi vị, lúc đó bạn nghĩ lại: Trước kia
có vị thầy nói về sự khổ của tuổi già, mà
mình chẳng tin, bây giờ mình mới biết là
thật không sai. Lúc bấy giờ bạn mới nghĩ đến
việc tu đạo, thì đã quá muộn chẳng còn kịp
nữa. Bình đẳng nhất là ‘’khổ về bệnh’’. Bất
cứ ai cũng đều có khổ về bệnh, chẳng có bệnh
nặng thì có bệnh nhẹ. Ðau đầu thì đầu chẳng
yên vui, đau chân thì chân chẳng yên ổn,
thân đau thì thân chẳng khỏe. Bệnh có rất
nhiều thứ, như có bệnh dạ dày, thì ăn vật gì
cũng chẳng thoải mái, nếu bệnh phổi tì ho
không ngừng. Tóm lại, ngũ tạng (tim, gan,
tỳ, phổi, thận) này mà có bệnh thì khổ.
Còn có sự khổ nhất,
đó là khổ về ‘’chết’’. Có người nói: ‘’Khổ
về chết? Tôi chẳng biết mùi vị ra sao? Tôi
muốn biết trước.’’ Vậy thì bạn hãy thử xem,
chết trước một lần, song chẳng có ai bảo đảm
bạn sẽ sống lại, cho nên đừng nên thử. Chết
thì dễ lắm, chết rồi sẽ đi về đâu? Ðây là
vấn đề rất quan trọng. Chết rồi sẽ đọa vào
địa ngục? Hay là súc sinh? Hoặc tái sinh làm
người? Vấn đề này chẳng có ai bảo đảm.
Sinh, già, bệnh,
chết, đều là khổ. Tại sao Ðức Phật phải đi
xuất gia? Cũng vì cảm thấy sinh, già, bệnh,
chết chẳng dễ gì chịu được. Khi Ngài mười
chín tuổi thì, một ngày nọ đi du ngoạn, đi
đến cửa hướng đông thì thấy một người phụ nữ
đang sinh đứa bé, bèn hỏi người tùy tùng
rằng: Ðó là việc gì?
- Người tùy tùng đáp: Ðó là đang sinh đứa bé.
Thái tử thấy đứa bé
đó lớn tiếng khóc la, mà người phụ nữ đó
cũng đau khổ vô cùng, do đó tâm chẳng vui,
bèn trở về hoàng cung.
Ngày thứ ba lại đến cửa hướng tây, thì thấy
một người bệnh, do đó chẳng còn hứng thú đi
nữa, bèn trở về. Ngày thứ tư đến cửa hướng
bắc đi du ngoạn, thì thấy một người chết,
Ngài lại hỏi tùy tùng: Ðó là việc gì? - Tùy
tùng đáp: Người đó đã chết!’’
Ngài lại cảm thấy
rất buồn rầu, thấy cảnh sinh, già, bệnh,
chết, ai cũng phải trải qua, thật là khổ,
chẳng có ý nghĩa gì, bèn trở về hoàng cung.
Chính lúc đó lại xuất hiện một vị Sa môn, tức
là người xuất gia. Thái tử lại hỏi: Người đó
làm gì thế?
- Tùy tùng mới đến hỏi vị Sa môn: Ông làm gì
vậy? - Vị Sa môn nói: Tôi là người xuất gia,
tu Phật đạo, mới có thể lìa khỏi sự khổ
sinh, già, bệnh, chết.
Thái tử nghe được sự tu đạo sẽ chấm dứt sinh
tử, thì rất phấn khởi lại hỏi vị Sa môn: Tôi
cũng có thể y theo ông tu đạo có được chăng?
- Vị Sa môn trả lời: Ai tu cũng được, bất cứ
ai cũng có thể xa lìa sự khổ về sinh già
bệnh chết.
Sau khi Thái tử trở lại hoàng cung, thì nửa
đêm cùng với Xa Nặc vượt thành xuất gia tu
hành. Ðức Phật vì cảm thấy sinh già bệnh
chết chẳng có ý nghĩa gì, cũng chẳng biết
sinh từ đâu đến ? Cũng chẳng biết chết rồi
sẽ đi về đâu. Cho nên bèn phát tâm xuất gia,
đến núi Tuyết tu khổ hạnh sáu năm, vì muốn
tránh khỏi sự khổ sinh già bệnh chết. Ai
cũng đều có sinh, nhưng chẳng có ai tránh
khỏi sự chết, mọi người tương lai đều phải
chết, có người chết an lành, có người chết
chẳng an lành, có đủ thứ sự chết khác nhau.
Có người chết vì bệnh, có người chết vì đói,
có người làm việc nhiều quá lao lực mà chết,
có người chết vì tai nạn, có người bị đá
trên núi lăn xuống đè chết, hoặc có người
đánh lộn bị người đánh chết, hoặc chết ngoài
chiến trường, hoặc bị thuốc độc mà chết,
hoặc có người tự tử, hoặc có người chẳng
muốn chết mà chết, có người muốn chết lại
không chết, cho nên sự chết có đủ thứ sự
khác nhau.
Tuy là chết khác
nhau, nhưng quả báo tương lai cũng khác
nhau. Ví như những người chết oan, tức là bị
xe cán chết, hoặc bị nước ngập chết, hoặc bị
lửa thiêu chết, ở trong sự vô ý phát sinh
tai nạn mà chết đi, thì những người này
thuộc về chết oan. Hồn quỷ của họ vua Diêm
Vương chẳng quản, quỷ cũng chẳng quản. Vậy
lúc đó họ rất tự do chăng ? Tuy nói là tự
do, song là con quỷ tự do, chứ chẳng phải
người tự do. Người tự do thì có khi cũng
chẳng giữ quy cụ, hà huống là quỷ. Quỷ tự do
cũng chẳng giữ quy cụ. Người chết oan thì
muốn bắt quỷ khác thay thế họ. Ví như nơi
nào đó trên đường lộ, từng xảy ra tai nạn
chết người, thì nơi đó cứ mỗi năm, hoặc
trong vòng ba năm, lại xảy ra tai nạn chết
người nữa. Nguyên nhân gì ? Vì hồn oan quỷ ở
tại nơi đó đợi, nhất định phải làm cho người
khác chết để họ đi đầu thai, bằng không thì
họ vĩnh viễn ở đó không thể đi đầu thai.
Nếu người tự tử uống thuốc độc chết, đến địa
ngục chịu hình phạt rất là thống khổ. Hình
phạt gì ? Lúc còn sống uống thuốc độ mà
chết, thì ở trong địa ngục phải uống nước
cốt sắt nóng, vào trong bụng thì ngũ tạng
bên trong đều bị thiêu đốt, chết đi rồi lại
có gió xảo phong trong địa ngục thổi thì lại
sống dậy. Sống dậy rồi lại uống nước cốt sắt
nóng, sau đó bị chết di, chết rồi lại bị gió
xảo phong thổi, lại sống dậy, cứ như thế một
ngày đêm đều chịu hình phạt như thế, rất khó
mà chịu đựng.
Song, nếu bạn có
thể niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì dần dần
sinh già bệnh chết, đủ thứ sự thống khổ đều
chẳng còn nữa.
Ðây là nói về bốn thứ khổ về thương mà xa lìa.
Thương yêu ai ai cũng biết, thương yêu cũng
có thể nói là ham muốn. Có người ham sắc, có
ngườì thích danh, có người ham tài, cũng có
người thích lợi. Ví như có người giàu có,
tính toàn chuyện làm ăn lớn để kiếm tiền
song làm ăn thất bại lỗ vốn, mất tiền. Ðây
là người và lợi xa lìa, vốn chẳng muốn xa
lìa khỏi tiền bạc, nhưng tiền chẳng còn nửa,
đây cũng là khổ về ái biệt ly. Sắc tức là
vấn đề nam nữ, người nam thương người nữ,
người nữ thương người nam, hai bên thương
yêu với nhau, song vì nhân quả kiếp trước
gieo trồng chẳng tốt, cho nên sự thương yêu
này chẳng được lâu dài, vào dịp nào đó hai
bên sẽ chia ly. Khi chia ly, nếu chẳng có
thương yêu chân chánh thì cũng không sao;
còn nếu một bên chấp trước vào ái tình, thì
sẽ rất đau khổ. Ðây là ái biệt ly khổ về
thương yêu sắc đẹp. Còn có ái biệt ly khổ về
danh. Danh sao lại có biệt ly ? Có người nói
như vầy : ‘’Danh dự là sinh mạng thứ hai của
con người vậy.’’ Cho rằng có danh tốt, tức
là sinh mạng thứ hai của mình, song sinh
mạng thứ hai này bị hủy hoại, thì biến thành
danh dự quét đất.
Bổn lai chẳng muốn
mất danh dự, song chẳng có cách nào hơn, vì
nhất thời làm việc sai lầm, khiến cho danh
dự mất đi, đây cũng là một thứ khổ ái biệt
ly về danh. Khổ ái biệt ly rất nhiều. Ví như
vợ chồng chẳng phân ly, nhưng sinh ra đứa
con xinh đẹp dễ thương lại thông minh, quý
trọng đứa con như châu báu, song đột nhiên
đứa con đó qua đời, lúc đó họ rất đau đớn
buồn rầu không ngui, đó cũng là ái biệt ly
khổ. Hoặc có người rất có hiếu với cha mẹ,
rất cung kính thương yêu, vốn chẳng muốn cha
mẹ lìa khỏi mình, song chẳng may cha mẹ qua
đời, đó cũng là ái biệt ly khổ.
Tức nhiên biết khổ
về ái biệt ly, nhưng đừng chấp trước về ái,
đừng đặc nặng sự thương yêu về một người, mà
hãy thương yêu bình đẳng đối với tất cả
chúng sinh, hành Bồ Tát đạo để độ tất cả
chúng sinh, đừng nghĩ tưởng riêng mình, hãy
nghĩ tưởng vì chúng sinh, được như thế thì
chẳng có khổ về ái biệt ly.
Sự khổ về ái biệt
ly này, có người càng chấp trước về ái tình,
chẳng có khổ mà tự mình đi tìm khổ. Giống
như có những chàng thanh niên vừa kết hôn
rồi, suốt ngày đến tối cứ buồn rầu. Buồn về
chuyện gì ? Sợ vợ của y đi tìm bạn trai khác
bên ngoài, đó chẳng phải không có khổ mà đi
tìm khổ chăng ? Cũng có những người phụ nữ
kết hôn rồi, nhưng người chồng quá đẹp trai,
nên suốt ngày cứ buồn bã sợ chồng của cô ta
có bạn gái khác, thậm chí nghĩ đến thì không
thể ăn cơm. Bạn nói đó có phải là quá ngu si
chăng ? Còn những người chẳng thương người
mà thương chó, lại có người thương mèo, coi
chó mèo như mạng sống của mình, cho đến đối
với tất cả súc sinh hoặc vật chất đều sinh
tâm thương yêu. Khi sinh tâm thương yêu thì
cũng rất xảo diệu, thương chó mà chó chết
đi, thương mèo mà mèo cũng mất đi, họ cũng
đau đớn khóc lóc, đó cũng là ái biệt ly khổ.
Tóm lại, đối với bất cứ sự vật gì mà bạn
nhìn chẳng thấu, buông xả chẳng đặng, và khi
có sự phân ly, khiến cho bạn chẳng được sở
nguyện như ý, thì cảm thấy rất thống khổ, đó
đều gọi là khổ về ái biệt ly.
Có người nói :
‘’Chỉ thương yêu mà có nhiều sự khổ như thế,
thì tôi chẳng thương yêu nữa, về sau tôi bắt
đầu ghét.’’ Ghét tức là không thương, có sự
chán ghét, có tâm oán hận, đối với sự vật gì
cũng đều chẳng thương yêu, đó là sai lầm.
Vậy nói thương yêu là có khổ, còn nếu không
thương yêu ? Cũng có khổ như nhau, tức là có
khổ về ‘’Ghét mà gặp nhau.’’ Trong trường
hợp nào đó, bạn đều cảm thấy rất chán ghét,
rất hận những người khác và cũng chẳng có
duyên với bất cứ ai, cảm thấy người nào cũng
đều không tốt, cho nên ai tôi cũng đều chẳng
hoan hỉ. Bạn chẳng thương người, cũng chẳng
thương chó, càng chẳng thương mèo, gì cũng
đều chẳng thuận mắt, thấy vật gì cũng đều
nổi giận. Do đó, dọn nhà đi đến chỗ khác ở,
không ngờ về chỗ đó rồi, lại gặp những người
và vật như ở trên, thậm chí còn tệ hơn hoàn
cảnh ban đầu.
Những sự tình mà
bạn chẳng muốn thấy, càng thấy càng chán
ghét, thì những sự tình đó lại càng đến. Rất
kỳ lạ, rất kỳ lạ ! Bạn sợ thấy mèo, mà suốt
ngày đều có mèo chạy đến chỗ bạn, đánh nói
cũng chẳng chạy. Ghét chó, vừa mới thương
đó, bây giờ lại ghét, bạn càng ghét nó, thì
nó càng gần gũi bạn. Bạn ghét phụ nữ, mà
người phụ nữ đó suốt ngày cứ đến tìm bạn.
Bạn chẳng vui vẻ lại muốn dọn nhà, đến nơi
khác lại có những người và hoàn cảnh như
thế, còn tệ hơn lúc trước, chẳng có ngày nào
vui vẻ thoải mái. Bạn nói đó có khổ chăng ?
Sự khổ này từ đâu
đến ? Vốn từ trong tự tánh của bạn chiêu cảm
đến, vì tự tánh của bạn thiếu định lực. Bạn
ở nơi đó chẳng có hòa khí với những người
lân cận, thì dọn đến chỗ khác cũng chẳng hòa
khí, đó chẳng phải là người ta đối với bạn
không tốt, mà là chính bạn đối với người
không tốt. Vì mình cảm thấy chẳng có duyên
với bất cứ ai, cho nên người khác đối với
bạn cũng chẳng có duyên. Vậy cảm thấy tốt
cũng là khổ, cảm thấy không tốt vẫn là khổ,
thì làm cách nào ? Phải hợp với trung đạo,
đối với bất cứ việc gì cũng đừng thái quá,
thái quá thì cũng như bất cấp. Sự khổ về
ghét mà gặp nhau này kỳ quái như thế. Bạn
càng không thích điều gì, thì điều đó lại
đến; bạn chẳng muốn gặp người uống rượu, mà
người đó suốt ngày ở bên cạnh bạn. Chẳng
thích người hút thuốc, mà người hút thuốc cứ
đến nhà bạn. Chẳng thích người đánh bạc, mà
người đánh bạc mỗi ngày cứ đến tìm bạn. Tại
sao ? Vì bạn có sự oán ghét, cho nên tụ lại
một chỗ là khổ. Sự khổ về oán ghét gặp nhau,
và ái biệt ly, đều là vì mình không minh
bạch chân chánh về trung đạo, bị lệch về một
bên, lệch về một bên nên mới có khổ. Nếu giữ
trung đạo thì chẳng có khổ.
Tin rằng chẳng có
ai nhàm chán oán ghét ‘’tiền bạc’’, song nếu
bạn càng ghét tiền, càng ham nó, thì nó càng
không đến. Ham thích mà nó chẳng đến, tức là
‘’khổ về cầu chẳng được’’.
Vừa mới nói ái là
khổ, ghét cũng khổ, trong ái có sở cầu, có
sở cầu mà cầu chẳng được. Có người suốt đời
muốn cầu phát tài, song lao lực khổ nhọc, từ
khi biết làm ăn cho đến già, đều muốn phát
tài, nhưng đến khi chết cũng chẳng phát tài,
vẫn nghèo sơ nghèo xát, đó là khổ về cầu
chẳng được. Có người cảm thấy làm quan là
tốt, do đó bằng mọi cách cầu làm quan, song
cầu suốt đời cuối cùng cũng chẳng được, đó
cũng là khổ về cầu chẳng được. Có người suốt
đời cầu danh, song một đời cũng cầu chẳng
được. Có người chẳng có con, thì muốn sinh
người con thông minh, xinh đẹp, song cầu tới
cầu lui, cũng cầu chẳng được, đó cũng là khổ
về cầu chẳng được. Suốt cuộc đời không cầu
cái này thì cầu cái kia, song chẳng cầu được
cái gì cả. Những người đi học thì mong làm
bác sĩ, song quá khứ chẳng tài bồi căn lành
học vấn, nên học đến già mắt chẳng còn thấy,
tai chẳng còn nghe được nữa, học suốt đời
cũng chẳng đậu được bác sĩ. Ở
Trung Quốc có người tên là
Lương Hạo, học đến tám mươi
hai tuổi mới đỗ trạng nguyên, song được
trạng nguyên rồi chẳng bao lâu thì chết, tuy
cầu được, nhưng chưa hưởng thụ thì chết mất,
đó cũng là khổ. Cầu cái này chẳng được, cầu
cái kia không thành, tóm lại những gì bạn
tham cầu mà chẳng được, đó đều là khổ.
Lại có khổ về năm ấm, tức là sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Ở trong Tâm Kinh có nói : ‘’Sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc
tức là không, không tức là sắc.’’ Nếu bạn
nhìn nó đều là không, thì chẳng có khổ. Năm
ấm này thiêu đốt rất là hừng hẫy, là khổ
nhất, song ai ai cũng chẳng lìa được năm ấm
này. Bảy thứ khổ ở trên vừa nói là thuộc về
cầu khổ; còn sắc, thọ, tưởng, hành, thức,
này có đủ ở trong tự tánh, luôn luôn đều bên
cạnh bạn, muốn lìa cũng lìa chẳng được, đây
gọi là khổ về năm ấm thiêu đốt.
Quán chân quán thanh tịnh
Quán trí huệ rộng lớn
Quán bi và quán từ
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng.
‘’Quán chân quán thanh tịnh’’: ‘’Quán chân’’
là gì ? Tức là quán chân không. Chân không
tức là chẳng có tướng người, tướng ta, tướng
chúng sinh, tướng thọ mạng, đó gọi là quán
chân không. Tuy là chẳng có tướng ta, chẳng
có tướng người, chẳng có tướng chúng sinh,
chẳng có tướng thọ mạng, nhưng cũng chẳng
lìa khỏi tướng ta, tướng người, tướng chúng
sinh, tướng thọ mạng. Do đó, ‘’vô tướng’’
chứ chẳng phải lìa khỏi ta, người, chúng
sinh, thọ mạng, mới không có tướng, mà là ở
tại tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh,
tướng thọ mạng, chẳng có tướng ta, tướng
người, tướng chúng sinh, tướng thọ mạng, đây
gọi là tại tướng mà lìa tướng, tức cũng như
lúc trước tôi thường nói:
‘’Mắt thấy hình sắc bên trong chẳng có,
Tai nghe việc đời tâm chẳng hay.’’
Minh bạch có hình có sắc, mà tại sao bên trong
chẳng có ? Là vì chẳng chấp trước. Ðây là
quán không, cũng giống như đại viên cảnh
trí.
Trong đại viên cảnh trí, tuy nhiên có vật tất
hiện, có tướng tất ứng, có cảnh giới gì, thì
hiện cảnh giới đó, song nó chẳng lưu lại dấu
vết. Quán chân không của Bồ Tát Quán Thế Âm
cũng tức là như vậy.
Quán thanh tịnh :
Thanh tịnh là đối với nhiễm ô mà nói. Nhiễm
ô là gì ? Có sự chấp trước tức là mhiễn ô,
có sự ái trước cũng là nhiễm ô, có sự tham
trước cũng là nhiễm ô. Thanh tịnh là chẳng
có mọi sự tham, sân, si, nếu có tham sân si
thì chẳng thanh tịnh. Ví như sự bố thí, một
số người bố thí thường phạm tư tưởng như vầy
: ‘’Người này có chút quan hệ với tôi, anh
ta là bạn thân của tôi, hoặc là ở gần tôi,
tôi phải bố thí cho anh ta, giúp đỡ anh
ta.’’ Ða số trước khi bố thí, đều so sánh
người xa gần, có quan hệ, sau đó mới bố thí
cho người xa. Ðó là đã có tâm phân biệt xa
gần thân sơ, có tâm chấp trước tướng, thì
không thể vô tướng bình đẳng bố thí, đó cũng
gọi là quán bất thanh tịnh.
Bố thí pháp của Bồ
Tát Quán Thế Âm, là Ngài chẳng phân biệt ta
người, chẳng phân biệt kẻ thân người lạ,
chẳng phân biệt xa gần, chỉ vì bố thí mà bố
thí. Bố thí gồm có bố thí tiền tài, bố thí
pháp, bố thí vô úy. Bố thí tài lại có bố thí
nội tài, và bố thí ngoại tài. Ngoại tài là
vật ngoài thân, nội tài là vật trong thân.
Khi Bồ Tát hành Bồ Tát đạo thì có tài thí,
tài thí này hướng bên ngoài thí xả đất nước,
vợ con, đem tất cả đất nước bố thí cho người
khác, đem vợ của mình và con cái của mình,
đều bố thí cho chúng sinh, đó mới là thật bố
thí, thật xả bỏ, mới đến tất cả ruộng đất,
nhà cửa, sự nghiệp, đều bố thí cho người có
đạo đức, đây gọi là bố thí ngoại tài.
Bố thí nội tài :
Tức là đem đàu, mắt, tủy, não, tính mạng của
mình bố thí hết. Trong tâm thường nghĩ :
‘’Nếu có thể đem thân này để cứu tất cả
chúng sinh trên thế giới, thì tôi sẽ đem
thân thể này bố thí cống hiến cho thế giới.
Cho đến quả tim của tôi cũng bố thí cho
người, sinh mạng cũng bố thí cho người. Nếu
như có người cần cái đầu của tôi, thì tôi
chặt cái đầu này xuống để dâng cho họ.’’
Như Ngài Xa Lợi
Phất khi thực hành Bồ Tát đạo, thì có người
xin Ngài một con mắt, Ngài Xá Lợi Phất bèn
móc một con mắt ra bố thí cho anh ta, song
anh ta nói : ’’Ông lầm rồi, tôi chẳng muốn
con mắt này, mà tôi muốn con mắt kia.’’ Do
đó, Ngài Xá Lợi Phất thối bồ đề tâm. Ngài
nghĩ : ‘’Bồ Tát đạo rất khó thực hành.’’
Ngài chỉ xả bỏ một nửa nội tài, còn nửa kia
xả chẳng được. Nhưng Bồ Tát thì nghĩ như
vầy: ‘’Nếu có thể lấy não và cốt tủy của tôi
làm thành thuốc để cứu người, thì tôi cũng
nguyện bố thí.’’ Ðây gọi là bố thí nội tài.
Phàm là những gì thuộc về thân thể, trí huệ,
tinh thần, đó đều gọi là nội tài.
Còn có bố thí pháp, tức là thuyết pháp giáo
hóa chúng sinh. Sự bố thí này lớn hơn hết,
do đó:
‘’Trong các sự bố thí,
Bố thí pháp là hơn hết.’’
Bố thí pháp là quan trọng nhất. Cho nên hiện
tại chúng ta ở tại Phật Giáo Giảng Ðường
này, tuy giảng đường chẳng lớn, nhưng pháp
lực cũng không nhỏ. Ngày thứ năm do Quả Ðịa
giảng, ngày thứ sáu do Quả Phổ giảng, ngày
thứ bảy do Quả Toàn giảng, ngày chủ nhật thì
bắt đầu giảng Phẩm Phổ Môn.
Phật Giáo Giảng Ðường này, hằng ngày đều bận
rộn, vì pháp mà quên mình, vì Phật pháp mà
quên đi thân tâm tính mạng, chẳng lo cho sức
khỏe của mình. Mỗi ngày ai cũng đều làm
việc, tôi là pháp sư cũng làm việc như nhau,
tất cả mọi việc tôi đều làm. Mấy ngày nay
thân thể hơi đau, tối hôm qua tôi cũng lười
một chút, chẳng đến vì làm việc quá mệt nhọc
khổ cực, song tôi làm khổ cực, lười một chút
cũng không sao, vì tôi đã học tập nhiều năm
rồi, nên tôi lười biếng một chút tình còn có
thể tha thứ. Song, các vị là đệ tử thì không
thể lười biếng, bất cứ ai giảng kinh cũng
đều phải đến nghe. Nghe pháp tức là biểu
hiện hộ trì đạo tràng. Mọi người đến đông
thì pháp hội càng lớn, nếu chẳng có ai đến
thì pháp hội càng nhỏ. Do đó, muốn ủng hộ
Phật Giáo Giảng Ðường thì đến nghe giảng
kinh.
Trong số các vị có
hộ giáo sử, bố giáo sĩ, tuyên giáo sư. Tuyên
giáo sư tức giảng kinh thuyết pháp, bố giáo
sĩ là phải đến các nơi truyền bá cho Phật
giáo rộng lớn. Hộ giáo sử tức là tận tâm ủng
hộ đạo tràng, khiến cho đạo tràng ngày càng
phát triển, ngày càng phát dương quang đại.
Hộ trì đạo tràng tức là hộ trì Phật giáo, hộ
trì Phật giáo tức cũng là hộ trì Phật Pháp
Tăng Tam Bảo. Ðó là trách
nhiệm củ mỗi quý vị. Người tây phương đối
với Phật pháp xưa kia, có thể nói là kiến
giải tựa như trẻ con, vốn chẳng hiểu Phật
pháp, giống như có những người Mỹ tự xưng là
trưởng giả, bậc pháp sư, bây giờ các vị đều
đã biết. Khi hỏi họ Phật giáo là gì, thì họ
chẳng biết Phật giáo là gì ? Bây giờ các bạn
đã nghe Kinh Lăng Nghiêm ba tháng rồi, có
thể nói rằng sự hiểu biết về Phật pháp của
quý vị chẳng ít. Hiện tại giảng đến bố thí
pháp tức là đem sự hiểu biết về Phật pháp
của các bạn, giới thiệu đến với tất cả chúng
sinh, phải đi tuyên truyền đến với mỗi
người. Vì hoằng
dương Phật pháp, có thể quên
ăn cơm cũng chẳng cảm thấy đói, quên ngủ
cũng chẳng cảm thấy mệt.
Tôi biết quá khứ
tôi đã đi tuyên
dương Phật pháp, nên đã có sự
việc người nào muốn học Phật pháp, thì dù
tôi không ăn cơm, không ngủ, cũng vì họ
giảng giải. Giảng giải cho họ minh bạch rồi,
thì trách nhiệm của tôi mới xong. Tôi hy
vọng các bạn cũng y chiếu theo tôi như thế,
làm hóa thân của tôi đi hoằng
dương Phật pháp, đi bố thí
pháp. Bố thí pháp so với bạn xả bỏ bao nhiêu
tiền vẫn có giá trị hơn. Hiện tại các bạn
tích cực học tập Phật pháp, có mấy người
muốn xuất gia, đó thật là việc hiếm có. Ở
nước Mỹ có thể nói là phá kỷ lục.
Nhiều người như thế
muốn xuất gia, muốn làm hòa thượng, muốn làm
Tỳ Kheo ni, đó thật là không thể nghĩ bàn.
Hiện tại các bạn nên lập cơ sở và quy cụ cho
vững chắc, làm tiền đồ cho Phật giáo nước
Mỹ, mỗi người đều phải gánh lấy trách nhiệm,
phải nghĩ như vầy: ‘’Tôi còn hơi thở, thì
Phật giáo là trách nhiệm của tôi.’’ Nếu
người khác nói họ cũng muốn gánh một phần
trách nhiệm, như thế thì được, chứ chẳng
phải nói tôi gánh trách nhiệm, thì bạn không
thể gánh trách nhiệm. Cho nên nói, trách
nhiệm của Phật giáo là ai ai cũng có phần,
đừng thối thác, các bạn nên đứng vững dậy,
lấy việc hoằng
dương Phật pháp làm trách
nhiệm của mình, đó là điều kiện cơ bản bố
thí pháp.
Ngoài ra còn có bố thí vô úy (bố thí không sợ
hãi). Bố thí vô úy như Bồ Tát Quán Thế Âm
cứu bảy nạn, giải trừ ba độc, ứng hai cầu,
đều là một trong bố thí vô úy. Bố thí vô úy
tức là người nào đó, có sự sợ hãi kinh
hoàng, khi sắp xả bỏ tính mạng, mà bạn hiện
thân vô úy, đem sự vô úy an ủi họ. Hiện thân
vô úy là gì ? Ví như có người ở trong nạn
lửa, sắp bị lửa thiêu đốt, vì bị khói mù dày
đặc chẳng biết đông tây nam bắc, đã chẳng
biết lối nào thoát khỏi hầm lửa. Lúc đó bạn
chẳng sợ, dấng thân vào trong lửa để cứu họ
ra, đó chẳng phải là việc dễ làm được. Ðây
gọi là xả thân mạng để cứu hộ chúng sinh,
tức cũng là bố thí vô úy. Hoặc có người rớt
vào trong biển, mắt trông thấy họ sắp bị
chết đuối, bạn cũng chẳng nghĩ đến tính mạng
của mình, bèn nhảy xuống biển vớt người đó
lên bờ. Chẳng những nạn nước lửa, mà cho đến
trong đao, binh, pháo lửa, có người bị pháo,
hoặc bị giáo thương làm tổn thương, trong
chiến trận rất nguy hiểm, mà bạn cũng chẳng
màng thân tâm tính mạng của mình, xông vào
nơi nguy hiểm nhất để cứu người ra, đó gọi
là bố thí vô úy. Tóm lại, tức là lúc người
ta sợ hãi, gặp cảnh giới nguy hiểm, mà bạn
có thể dùng tâm từ bi, tâm dũng cảm, phát
huy tinh thần đại vô úy, tinh thần gì cũng
chẳng sợ, đi cứu hộ tất cả chúng sinh. Như
Ngài Bồ Tát Trì Ðịa, tuy Ngài chẳng phải
trực tiếp tu bố thí vô úy, mà là tu gián
tiếp. Tu như thế nào ? Ngài biết người qua
sông thì cần phải có cầu, không có cầu thì
không thể qua sông được, do đó Ngài bèn dùng
sức của mình làm chiếc cầu gỗ, khiến cho
người khi qua sông chẳng có nguy hiểm.
Song, tuy có cầu
chẳng nguy hiểm nhưng nếu gặp lúc nước lớn
dâng lên, thì cũng rất nguy hiểm. Giống như
Hòa thượng Hư Vân từ Cửu
Hoa Sơn đi xuống núi, Ngài
nhớ nơi đó vốn có chiếc cầu, bèn y theo như
xưa đi đến nơi đó muốn qua sông, không ngờ
chiếc cầu đó sớm đã bị nước lớn làm gãy cầu,
kết quả Ngài bị rớt xuống sông, ở dưới sông
trải qua một ngày một đêm, mới được ông đánh
cá kéo lưới lên. Khi kéo lưới ông ta nghĩ:
‘’Ồ ! Lần này nhất định giàu to, trong lưới
có con cá thật to.’’ Không ngờ kéo lưới lên
thì nhìn thấy vốn là một vị hòa thượng,
nhưng chẳng còn hơi thở. Ở gần đó có ngôi
chùa nhỏ, ông đánh cá bèn chạy vào trong
chùa kêu người xuất gia nói :’’Hòa thượng!
Hòa thượng! Hôm nay tôi kéo lưới lên, thì
trong lưới có một vị hòa thượng, hãy theo
tôi đến xem.’’ Người trong chùa nghĩ: ’’Thật
là kỳ lạ, sao trong lưới đánh cá lại có vị
hòa thượng ? Ðến nơi xem thì vị hòa thượng
đó chính là hòa thượng Ðức Tịnh. Bèn giúp
Ngài làm cho nước trong bụng trào ra hết,
lúc đó Ngài mới sống trở lại, thật là được
mạng sống lần thứ hai.
Sau khi hòa thượng
Hư Vân bị nước ngập chìm không chết, Ngài
đến Chùa
Cao Mân đả thiền thất, bèn
sinh bịnh nặng. Song, thầy phương trượng
Nguyệt Lãng cũng chẳng tha thứ cho Ngài, còn
muốn kêu Ngài làm đại lý phương trượng (chủ
trì về khóa thiền thất). Ngài Hư Vân nghĩ :
‘’Tôi bệnh như thế này, làm sao mà có thể
làm đại lý phương trượng?’’ Do đó, Ngài Hư
Vân từ chối, kết quả bị hòa thượng Nguyệt
Lãng đánh hương bản. Bạn thấy đó, Ngài Hư
Vân có thể nói là đại thiện tri thức của
Trung Quốc, mà ở chùa
Cao Mân khổ chẳng biết bao
nhiêu.
Bồ Tát Trì Ðịa
chuyên môn làm cầu sửa đường. Lúc Ngài Hư
Vân đi đến Vân Nam, trên đường đi cũng gặp
một vị hòa thượng sửa đường, suốt ngày đến
tối cầm sẻn làm đường, cũng chẳng nói
chuyện, đó cũng là hóa thân của Bồ Tát Trì
Ðịa. Phàm là trên đường có ngói đá, mảnh
chai, Ngài đều lượm nhặt để một chỗ bên lề
đường, khiến cho đường xá tốt lành.
Suốt ngày Ngài khổ
công làm như thế, vậy ai trả tiền công cho
Ngài ? Chẳng có ai trả tiền công cho Ngài,
bạn nói đó có phải là ngu si chăng ? Song vì
Ngài làm công miễn phí, nên mới tu thành Bồ
Tát Trì Ðịa, chứng được cảnh giới vị bất
thối, niệm bất thối, hạnh bất thối, đó tức
là tu bố thí vô úy. Pháp môn bố thí vô úy
rất là rộng lớn. Tóm lại, lúc người ta sợ
hãi thì bạn hãy làm bố thí.
Ðây là những ví dụ
dễ hiểu, nếu như có người đã mấy ngày chẳng
có cơm ăn, gần chết đói, trong tâm sợ hãi
hoang mang nghĩ rằng : ‘’Lần này chắc sắp
chết mất, chẳng có tiền để mua vật gì ăn, đi
ăn cắp chăng ? Lại phạm pháp !’’ Trong lúc
tiến lùi đều khó khăn, nếu bạn biết được,
thấy họ mặt mày vàng vọt ốm yếu, đôi chân
chẳng còn sức, đi chẳng nổi, lúc đó bạn hỏi
họ : ‘’Anh thế nào rồi ? Có phải bị bệnh
chăng ?’’ Họ chắc chắn sẽ nói : ‘’Tôi đã bốn
năm ngày chẳng có gì để ăn.’’ Bạn nói :
’’Ðược, để tôi về nhà lấy đồ ăn cho anh.’’
Người chẳng có quần
mặc, chịu khổ về mùa đông lạnh lẽo, thì bạn
cho họ ít đồ để họ mặc; người chẳng có nhà
ở, thì bạn cho họ nhà để ở, đây gọi là bố
thí vô úy. Song một hai ngày thì có thể, chứ
không thể vĩnh viễn được, ở
Trung Quốc có câu : ‘’Có thể
cho một bữa chứ không thể cho trăm bữa.’’
Cho họ một bữa ăn thì có thể, nhưng nếu ngày
nào cũng phải cho bạn ăn, thì không thể
được. Vì trên thế giới này, ai ai cũng đều
phải đi làm công, không nên sinh tâm ỷ lại.
Nếu bạn sinh ra tư tưởng rằng : ‘’Tôi mong
rằng có người hành Bồ Tát đạo, thì tôi cũng
chẳng cần làm việc, đến bữa ăn thì đến nhà
có người tin Phật nói : ’’Hôm nay tôi chẳng
có cơm ăn, bạn hãy cho tôi một chút bố thí
vô úy, khiến cho tôi chẳng sợ hãi về việc
chẳng có cơm ăn, chẳng chịu khổ về đói
khác.’’ Như thế thì chẳng hợp quy cụ.
Người nào gặp
trường hợp bất đắc dĩ, xin người ta giúp đỡ
thì được, nhưng nếu bạn còn hơi thở, thì hãy
tự cường bất tức, vì thế giới này mà đem lại
phước lợi, đừng tiêu hao vật chất của thế
giới. Có nghĩa là mọi người đều trợ giúp thế
giới này, đừng ỷ lại thế giới này. Trợ giúp
cho thế giới như thế nào ? Tức là phải có
ích lợi cho người khác, chứ chẳng phải là để
cho người khác làm ích lợi cho mình. Nếu bạn
có tâm hy vọng người khác lợi ích cho mình,
thì đó là tâm ỷ lại mà chẳng có tâm tự
cường. Mọi người đều nên có tâm tự cường bất
tức, đừng ỷ lại người khác, đó là tông chỉ
của tôi.
Quán thanh tịnh tức
là sức quán thanh tịnh, tức là mọi phương
diện bố thí, đừng chấp trước về tướng bố
thí, đó là quán thanh tịnh, mà chẳng có pháp
nhiễm ô. Bồ Tát Quán Thế Âm bố thí chẳng
chấp tướng, đều lìa tất cả tướng, cho nên
thanh tịnh. Nếu chấp trước thì chẳng thanh
tịnh.
‘’Quán trí huệ rộng
lớn’’: Bồ Tát Quán Thế Âm có sức quán trí
huệ rộng lớn, phổ độ tất cả chúng sinh, giáo
hóa chúng sinh.
‘’Quán bi và quán
từ’’: Ngài còn có quán bi. Có người hiểu lầm
nghĩa kinh nói: ‘’Bồ Tát Quán Âm cũng thường
thường khóc, chẳng hoan hỉ, vì Ngài bi
quan’’. Ðây là sai lầm. Bi ở đây chẳng phải
là bi thương, mà nghĩa là thương xót. Bồ Tát
sinh tâm thương xót đối với tất cả chúng
sinh. Tâm thương xót là gì ? Bồ Tát luôn
luôn nghĩ rằng : ‘’Người này thật đáng
thương ! Tôi phải dùng các phương pháp để
giáo hóa họ, mà họ vẫn không hiểu, vẫn điên
điên đảo đảo.’’ Ngài thương xót chúng sinh
như thế, nên gọi là quán bi. Vì Ngài thương
xót chúng sinh đó, cho nên Ngài phải độ
chúng sinh đó. Giống như bạn thấy đứa bé nọ
rất là thiên chân hoạt bát, ai thấy cũng
thương. Tại sao được mọi người hoan hỉ ? Vì
đứa bé được người thương mến.
Sự thương xót này
gọi là quán bi. chứ chẳng phải là Bồ Tát
Quán Thế Âm suốt ngày đến tối chẳng hoan hỉ,
thậm chí thường thường khóc lóc rơi lệ bi
ai. Nếu bạn muốn học Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
đừng suốt ngày đến tối khóc lóc sầu muộn mà
phải ‘’Rộng sinh hoan hỉ chẳng sinh buồn’’.
Quán bi của Ngài như thế, chứ chẳng phải
khóc lóc bi quan, do đó đừng nên hiểu lầm.
Quán từ, từ hay ban
vui, bi hay cứu khổ. Quán bi tức là giải trừ
sự thống khổ của chúng sinh. Quán từ tức là
ban cho chúng sinh sự an vui. Sự ban cho
niềm vui này, chẳng phải là sự an vui tạm
thời, mà là sự an vui vĩnh cữu, là sự an vui
chân chánh chứ chẳng phải là sự an vui của
thế gian. Sự an vui gì ? Tức là ban cho tất
cả các pháp, khiến cho chúng sinh thật sự
hiểu biết về Phật pháp, để không còn làm
chuyện điên đảo thống khổ, đây gọi là ban
vui. Việc điên đảo là gì ? Giống như người
thích uống rượu, uống say sưa thì cảm thấy
mình tựa như thành thần, đi thì nghiêng qua
ngã lại, họ cho rằng như thế là tốt nhất,
tri giác của họ như khúc gỗ, thậm chí gì
cũng chẳng biết. Bạn nói đó chẳng phải là
điên đảo chăng ? Một người có chút thông
minh, nếu bị rượu chi phối thì chẳng có việc
gì mà chẳng làm, nào là giết người, phóng
lửa.
Có một buổi sáng sớm nọ ở tại bến xe bus, có
một gã say rượu xin tôi tiền để đi mua rượu
uống, vì gã chưa uống đủ. Tôi lại nghĩ ra
một chuyện, cũng tại bến xe bus, có một
người da đen đi ngang qua chẳng nói gì cả,
tôi cũng chẳng quen anh ta, anh ta cũng
chẳng quen tôi, không hiểu tại sao anh ta
lại quỳ xuống lạy tôi, lạy rồi cũng chẳng
nói gì, đứng dậy bỏ đi. Người đó chẳng phải
đến lạy để xin tiền, ở trước mặt một đám
đông lạy tôi, lạy xong rồi đi. Cũng chẳng
biết anh ta là quỷ hay là thần ? Thật là lạ
kỳ, tôi thấy anh ta chẳng phải say rượu,
không biết có phải là một sự linh cảm nên
anh ta lạy tôi. Ða số quỷ thấy tôi thì lạy,
và thần thấy tôi cũng lạy. Mà người đó lại
xưng là hắc quỷ cung kính lạy tôi, lạy xong
cũng chẳng dám nhìn tôi, bèn bỏ đi. Tôi nghĩ
đại khái là trên thân của anh ta có quỷ.
Uống rượu là như
thế, hút thuốc thì càng điên đảo hơn. Tại
sao ? Bổn lai phổi của bạn sạch sẽ, mà làm
cho nó do bẩn. Có người nói : ‘’Hòa thượng,
thầy giảng sai rồi, trong phổi của tôi chẳng
sạch sẽ.’’ Không sai ! Phổi của bạn chẳng
sạch sẽ. Sự không sạch sẽ này vẫn không sao.
Bạn dùng khói đem vào phổi, xông ướp phổi
ngày càng đen, ngày càng nám, song bạn chẳng
thấy nên không biết. Bạn hít vào một hơi
khói, thì cũng giống như tấm gương phủ lên
một lớp tro, lại hút một hơi nữa, lại phủ
lên một lớp tro. Bổn lai phổi là sạch sẽ,
song bạn muốn xông ướp những lớp bụi tro, đó
chẳng phải là điên đảo chăng ?
Và còn hút nha
phiến, á phiện, hút vào thì cảm thấy tinh
thần lâng lâng, thậm chí như đi trên chín
tầng mây. Khi hút ghiền rồi, thì khắp thân
chẳng an vui, rất khó chịu. Cho nên tôi hy
vọng những người hút thuốt hãy mau bỏ thuốc;
người uống rượi hãy mau bỏ rượu; người siêng
năng thì đừng học lười biếng. Nên làm nhiều
việc thiện, làm việc thiện mới có công đức,
nếu không làm thì chẳng có công đức. Công
đức là từ việc thiện mà ra, cứ làm việc
thiện thì tự nhiên sẽ có công đức, tự nhiên
sẽ chẳng điên đảo nữa. Bạn không làm công
đức, còn sử dụng tiền chẳng đúng chỗ thì đó
gọi là điên đảo. Nếu bạn dùng tiền vào việc
hữu dụng, thì đây chẳng phải là điên đảo,
cho nên điên đảo rất là nhiều thứ.
Bồ Tát Quán Thế Âm,
hay chỉ rõ hành vi điên đảo của bạn, kêu bạn
đừng điên đảo, khiến cho bạn đắc được an vui
thật sự, an vui vĩnh viễn, đây gọi là từ; bi
hay cứu khổ, chẳng phải là cứu khổ tạm thời
của bạn, mà là cứu khổ đời đời kiếp kiếp của
bạn. Song, bạn phải sinh niềm tin. Bạn có
niềm tin thì Bồ Tát Quán Thế Âm mới có tâm
từ bi. Nếu bạn chẳng có niềm tin, thì quán
từ và quán bi của Bồ Tát Quán Thế Âm với
bạn, cũng như nước với lửa, nước và lửa
chẳng dung hợp. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng từ
bi rất lớn, để đối đãi bạn mà bạn lạnh lùng
như băng chẳng hợp với Ngài.
Băng lạnh tức là
chẳng có niềm tin. Nếu bạn có niềm tin, thì
càng hợp với quán từ và quán bi của Bồ Tát
Quán Thế Âm. Hợp với nhau thì bạn sẽ lìa khổ
được vui.
Khổ là gì ? Phiền
não của con người tức là khổ. Nếu bạn chẳng
có phiền não thì sẽ an vui. Tại sao bạn
chẳng an vui ? Vì bạn có phiền não; chẳng có
phiền não tức là an vui. Bồ Tát Quán Thế Âm
hay làm cho phiền não của bạn tiêu trừ,
khiến cho bạn đắc được an vui thật sự, đó
tức là quán bi và quán từ.
‘’Thường nguyện
thường chiêm ngưỡng’’: Tôi nguyện luôn luôn
chiêm ngưỡng tướng mạo từ bi của Ngài Quán
Thế Âm, càng nhìn thì càng sinh tâm hoan hỉ,
sinh tâm cung kính. Lạy đại bi sám là một sự
biểu hiện cung kính Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu
bạn chẳng lạy đại bi sám, thì cũng giống như
người Mỹ chẳng muốn lạy đảnh lễ, cho đến một
cái cúi đầu cũng chẳng cúi, đó gọi là tin
Phật gì ? Bạn tin ông Phật đó là Phật gì ?
Có người nói : ‘’Tôi tin ông Phật của tôi’’.
Nếu bạn tin ông Phật của bạn thì chẳng thể
có. Vì bạn chẳng tìm được ông Phật của bạn,
cho nên Phật bên ngoài mà bạn cũng chẳng
biết. Nếu tin ông Phật của mình, thì không
thể không lạy Phật. Lạy là biểu thị sự cung
kính nhất, đây gọi là năm thể sát đất, cũng
là một thứ lễ mạo. Bạn chẳng có lễ mạo thì
làm sao nói đến tin Phật ?
Trước kia có một vị bác sĩ, khắp nơi ai cũng
đều tin ông ta, xem ông ta như sắp thành
Phật. Ông ta bèn kêu họ đừng lễ Phật. Mọi
người thì lễ Phật, còn ông ta thì đứng một
bên, giống như khúc gỗ. Tại sao ? Vì tướng
ta quá to lớn. Người không lạy Phật, thứ
nhất là ngã mạn, cảm thấy cái ta rất lớn,
còn lớn hơn Phật thì làm sao mà lạy Phật? Vì
ông ta cống cao ngã mạn nên thấy Phật cũng
chẳng lễ bái. Như thế thì làm sao mà học
Phật, tin Phật ? Căn bản ông ta chẳng hiểu
gì về Phật giáo, song ông ta đi khắp nơi
giảng Phật pháp cho mọi người nghe, đó thật
là hại người không ít.
Quang thanh tịnh không dơ
Huệ nhật phá các tối
Hay phục nạn gió lửa
Chiếu sáng khắp thế gian.
Bốn câu kệ này thật diệu không thể tả. Diệu
không thể tả như thế nào ? Bốn câu kệ này
hay chữa bệnh mắt. Nếu mắt của người nào
bệnh, mà có thể luôn luôn niệm bốn câu kệ
này, thì bệnh mắt sẽ hết. Tuy bệnh mắt hết
nhưng bạn vẫn phải sinh ra trí huệ, thì mới
trị hết triệt để. Nếu chẳng sinh ra trí huệ,
thì chỉ hết tạm thời thôi, tương lai sẽ tái
phát.
Ở trong quyển Quan
Âm Dị Ký có ghi là hay chữa trị bệnh mắt.
Vậy cứu kính thì chữa bệnh mắt như thế nào ?
Ðây là cảnh giới không thể nghĩ bàn, đó là
nhờ sức thần thông gia bị của Bồ Tát Quán
Thế Âm. Tóm lại, bạn phải tin kinh văn để
ứng dụng vào bất cứ việc gì, thì đều rất
linh nghiệm, có hiệu dụng. Nếu bạn không tin
thì chẳng có công hiệu. Cho nên Phật pháp
như biển cả, chỉ có niềm tin mới vào được.
Pháp của Phật vô lượng vô biên như biển cả,
chẳng biết lớn cỡ nào, sâu cỡ nào. Nếu bạn
có niềm tin, thì Phật sẽ có thể tiếp dẫn bạn
vào.
‘’Không nhơ quang
thanh tịnh’’: Không nhơ là gì ? Nhơ la bụi
bặm, cũng là vật không sạch sẽ. Nếu bạn
không có những bụi bặm không thanh tịnh, thì
tự nhiên sẽ phóng ra quang minh thanh tịnh.
Quang minh thanh tịnh là đối với bụi bặm mà
nói, chẳng có bụi bặm thì sẽ có quang minh
thanh tịnh; có bụi bặm thì chẳng có quang
thanh tịnh. Do đó, chẳng có bụi bặm dơ bẩn,
thì sẽ phóng ra quang minh thanh tịnh. Thế
nào thì gọi là chẳng có bụi bặm ? Tức là
chẳng còn vọng tưởng. Bạn chẳng còn vọng
tưởng thì chẳng có bụi bặm. Nếu bạn khởi một
vọng tưởng thì có một lớp bụi bặm, khởi ba
lớp vọng tưởng thì có ba lớp bụi bặm. Khởi
vọng tưởng càng nhiều, thì bụi bặm tích lũy
càng dày. Người tham thiền nói là ‘’Minh tâm
kiến tánh’’, minh tâm tức cũng là chẳng có
bụi bặm, kiến tánh tức cũng là thấy được
quang minh thanh tịnh. Bạn chẳng có bụi bặm
thì mới thấy được quang minh thanh tịnh. Nếu
có bụi bặm thì chẳng thấy được quang minh
thanh tịnh. Cho nên minh tâm kiến tánh tức
là thấy rõ bản tâm mình, thấy được bản tánh
mình.
Bản tâm tính tức là
trong Kinh Lăng Nghiêm có nói: ‘’Thường trụ
chân tâm, tính tịnh minh thể’’. Thường trụ
chân tâm tức là minh tâm; tính tịnh minh thể
tức là thanh tịnh minh thể, tức cũng là tính
Như Lai tạng. Minh tâm kiến tánh tức cũng là
minh bạch tính Như Lai tạng của mình vốn có,
đây gọi là không nhơ.
‘’Huệ nhật phá các
tối’’: Huệ nhật là trí huệ như mặt trời,
chiếu phá tất cả chỗ đen tối. Ðen tối là gì
? Ðen tối có rất nhiều, bây giờ nói đen tối
ví như: Bạn chẳng có niềm tin tức là đen
tối, bạn chẳng có trí huệ tức la đen tối,
bạn chẳng có tâm nguyện cũng là đen tối,
chẳng có tâm thực hành cũng là đen tối. Và
nữa bạn chẳng giữ giới luật tức là đen tối,
bạn chẳng tu định lực là đen tối, bạn chẳng
tu huệ là đen tối. Bạn chẳng tu theo con
đường giới định huệ, đó là đi trên con đường
đen tối. Bạn y theo giới định huệ tu hành
tức là quang minh. Cho nên ‘’Huệ nhật phá
các tối’’, trí huệ mặt trời chiếu phá tất cả
sự đen tối. Bạn muốn nghe Phật pháp, đó tứ
là quang minh. Trong tâm bạn nói: ‘’Tôi nghe
đã mấy ngày rồi, cũng chẳng còn ý nghĩa gì
nữa. Vị pháp sư này ở trên pháp tòa giảng đi
giảng lại đều giảng về cái đó, tôi nghe đã
nhiều lần rồi, đều kêu mọi người trừ khử
tham sân si, tu giới định huệ, tôi nghe đã
nhàm quá rồi’’. Bạn nghe nhàm rồi, tức là
đen tối hiện tiền. Bạn nghe chẳng nhàm, nói
: ‘’Vị pháp sư này giảng càng nghe càng có ý
nghĩa, càng nghe càng có vị đạo, thậm chí
tôi nghe tiếng nói và dáng cười của Pháp sư,
sau khi nghe rồi mà pháp sư vẫn ở tại lỗ tai
tôi giảng kinh thuyết pháp, suốt ngày đến
tối tôi đều nghe tiếng của pháp sư đang nói
pháp bên cạnh tôi’’. Ðó tức là quang minh.
Chẳng thích nghe tức là đen tối.
Giảng đến đây, tôi
nhớ ra một câu chuyện : Ở tại Hồng Kông có
một vị nữ cư sĩ đến gặp tôi, sau khi gặp tôi
rồi, thì khi cô ta đi đứng nằm ngồi lúc nào
cũng đều thấy tôi đang giảng kinh nói pháp ở
đó, song vị nữ cư sĩ này nói như thế nào ?
Cô ta nói : ‘’Vị pháp sư Ðộ Luân này là ma !
Sao tôi luôn luôn đều thấy ông ta ?’’ Cô ta
thường thấy pháp sư thuyết pháp mà nói là
ma. Nếu cô ta thấy ma, chắc cô ta lại cho là
Phật. Cho nên người đó thường thấy tôi, mà
cứ nói là thấy ma, lại chưởi mắng, lại muốn
đánh, chưa đến mấy tháng thì vị nữ cư sĩ đó
bệnh ung thư chết. Bổn lai tôi muốn cứu cô
ta, nhưng cô nói tôi là ma, nên tôi cũng
thương xót mà chẳng giúp được. Hôm nay tôi
nhớ đến chuyện này, cho nên cô ta thấy pháp
sư mà nói là ma; nếu thấy ma thì cô ta lại
thế nào ? Do đó, có rất nhiều người thế gian
đều nhận giả làm thật. Thật mà họ cho là
giả, khi giả thì họ nói là thật.
Trí huệ của Bồ Tát
Quán Thế Âm như ánh sáng mặt trời, chiếu phá
moị sự đen tối. Chiếu phá những đen tối gì ?
Bồ Tát Quán Thế Âm tu quán chân không, chiếu
phá đen tối thấy và nghĩ (kiến tư), chứng
được đức Bát nhã. Kiến hoặc là gì ? Tức là
mê lý khởi phân biệt. Bồ Tát Quán Thế Âm tu
quán thanh tịnh, phá trừ đen tối trần sa,
chứng được đức giải thoát. Bồ Tát Quán Thế
Âm tu quán trí huệ, phá trừ đen tối vô minh,
chứng được đức pháp thân.
Ðây gọi là ba đức :
Ðức Bát nhã, đức giải thoát, đức pháp thân.
Bồ Tát Quán Thế Âm tu ba quán (quán chân
không, quán thanh tịnh, quán trí huệ), mà
chứng được ba đức, đoạn trừ đen tối kiến tư,
trần sa và vô minh. Cho nên nói huệ nhật phá
các tối. Huệ ở đây tức là quán, quán tất cả
huệ.
‘’Hay phục nạn gió
lửa’’ : Bồ Tát Quán Thế Âm hàng phục được ba
tai nạn, đó là nạn nước, gió, lửa. Lửa thiêu
hủy đến cõi sơ thiền, nước ngập đến trời nhị
thiền, gió thổi tan trời tam thiền. Tại sao
trời sơ thiền bị lửa thiêu hủy ? Vì người
trời ở cõi sơ thiền, vẫn còn có lửa phiền
não, cho nên lửa trong tự tánh của họ dẫn
khởi lửa ở thế gian. Lúc đó, trong hư không
xuất hiện bảy mặt trời, thiêu sạch hết tất
cả động, thực vật trong đại địa, sau đó
thiêu cạn nước trong biển cả, thiêu sạch hết
núi non, chẳng còn tồn tại vật gì.
Nạn lửa lớn như thế
trải qua bảy lần, rồi sau đó phát sinh một
lần nạn nước lớn. Nạn nước lớn ngập đến trời
nhị thiền. Tại sao ? Vì người trời ở cõi nhị
thiền vẫn còn đầy dẫy nước phiền não, do đó
dẫn khởi nạn nước lớn ở thế gian, sóng dâng
lên ngập chìm hết tất cả, chẳng còn nơi đất
liền nào tồn tại, tất cả động vật và thực
vật đều chẳng tồn tại.
Trải qua bảy lần
nạn nước lớn rồi, thì phát sinh nạn gió lớn.
Nạn gió này còn lợi hại hơn, so với nạn lửa
và nước vừa nói ở trên, chẳng những thổi sơn
hà đại địa ở thế gian nát thành bụi, mà còn
thổi đến trời tam thiền, khiến cho trời tam
thiền cũng chẳng tồn tại. Có câu kệ nói rằng
:
‘’Lục dục chư thiên cụ ngũ suy,
Tam thiền thiên thượng hữu phong tai,
Nhậm quân tu đáo Phi Phi Tưởng,
Bất như tây phương quy khứ lai.’’
Nghĩa là :
‘’Sáu cõi trời dục giới có năm tướng suy,
Trên trời tam thiền có nạn gió,
Cho dù tu đến trời Phi Phi Tưởng,
Chẳng bằng sinh về cõi tây phương.’’
Năm tướng suy là gì ?
1. Thứ nhất là mũ
hoa trên đầu héo úa. Người trời dùng hoa làm
mũ đội trên đầu, thứ hoa này chẳng phải
người trồng, mà là tự nhiên sinh ra làm mũ
đội. Ðến khi năm tướng suy hiện ra thì hoa
úa phai tàn. Lúc chẳng có năm tướng suy hiện
ra, thì hoa luôn luôn tươi tốt. Khi hoa bắt
đầu phai tàn, thì họ biết tuổi thọ sắp hết.
2. Thứ hai là quần
áo dơ bẩn. Quần áo của người trời mặc, chẳng
giống như quần áo thế gian, mỗi tuần phải
giặt một lần, hoặc hai tuần phải giặt một
lần. Nếu chẳng giặt thì chẳng sạch. Quần áo
của người trời mặc, chẳng cần phải giặt, vì
nó chẳng dơ. Song, đến khi năm tướng suy
hiện, quần áo của họ dơ bẩn, thì họ biết
tuổi thọ sắp hết. Giống như người chúng ta,
khi hơi thở chưa tắt mà trên thân có chỗ đã
sinh trùng. Bình thường nó chẳng sinh trùng,
đến khi hơi thở sắp chấm dứt, thì trên thân
rất nhiều chỗ đều có trùng. Quần áo của
người trời dính bụi cũng là nghiệp báo chiêu
cảm. Tại sao trên thế giới của chúng ta có
rất nhiều bụi bặm ? Trong Kinh Lăng Nghiêm
có nói, vì trong tâm của chúng ta quá nhiều
vọng tưởng, cho nên bụi trên thế giới cũng
biến thành nhiều. Vọng tưởng của chúng ta
như là bụi bặm, chẳng có gì khác biệt. Do
đó, tất cả bụi bặm đều do tâm vọng tưởng của
chúng ta tạo thành. Năm tướng suy của người
trời hiện tiền, thì quần áo cũng có bụi bặm.
3. Thứ ba là hai
nách ra mồ hôi, thân của người trời chẳng
giống như thân của chúng ta, luôn luôn ra mồ
hôi, họ chẳng bao giờ có mồ hôi, song, năm
tướng suy hiện tiền thì hai nách ra mồ hôi.
4. Thứ tư là thân
thể hôi hám. Thân của người trời suốt ngày
đến tối, đều tỏa ra mùi hương thơm, chẳng
phải họ xoa dầu thơm, mà là tự nhiên tỏa ra
mùi thơm. Khi năm tướng suy hiện tiền, thì
trên thân chẳng còn mùi thơm mà tỏa ra mùi
hôi hám.
5. Thứ nămn
là chẳng thích ngồi trên tòa nữa. Người trời
thật là tự tại, suốt ngày đến tối đều thích
ngồi thiền nhập định, chẳng có việc gì để
làm. Khi năm tướng suy hiện tiền, thì họ
ngồi chẳng yên, ngồi một chút lại đứng lên,
đứng lên lại ngồi xuống, cứ đứng lên ngồi
xuống như thế, một niệm mất đi tri giác thì
sẽ đọa lạc, người trời hết tuổi thọ.
Ðó là trời lục dục
có năm tướng suy hiện, song trời sơ thiền
thì có nạn lửa, trời nhị thiền thì có nạn
nước, trời tam thiền thì có nạn gió, vì
người trời cõi tam thiền có gió phiền não,
cho nên tiếp xúc với luồng gió thế gian, mà
dẫn đến nạn gió. Từ khi bạn sinh về cõi trời
Phi Phi Tüởng, hưởng thọ phước trời tám vạn
đại kiếp, song khi phước trời hết, thì vẫn
bị đọa lạc vào nhân gian, hoặc đọa làm ngạ
quỷ, súc sinh, hoặc đọa vào địa ngục, chẳng
nhất định, cho nên rất là nguy hiểm.
Chẳng bằng tu vãng
sinh về cõi Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, sau
đó trở lại con thuyền từ bi, giống như Bồ
Tát Quán Thế Âm đến giáo hóa chúng sinh.
‘’Chiếu sáng khắp
thế gian’’: Trí huệ quang minh của Bồ Tát
Quán Thế Âm chiếu soi khắp thế giới Phàm
Thánh Ðồng Cư (thế giới người phàm và Thánh
nhân ở với nhau). Nơi hiện nay chúng ta đang
ở gọi là cõi Phàm Thánh Ðồng Cư, tức là nơi
phàm phu và bậc Thánh đều ở. Bồ Tát Quán Thế
Âm tu đại trí đại huệ, lại chiếu soi khắp
thế giới Phương Tiện Hữu Dư, tức là thế giới
của hàng nhị thừa ở. Phương tiện tức là
thiện xảo phương tiện. Hữu dư là chỉ thế
giới đó, phiền não vẫn chưa đoạn sạch, còn
dư thừa. Bồ Tát Quán Thế Âm đầy đủ đại trí
huệ, lại chiếu khắp thế giới Thật Báo
Trang Nghiêm, tức là thế giới
Bồ Tát ở. Thế giới của Phật ở là thế giới
Thường Tịch Quang, còn gọi là Thường Tịch
Quang Tịnh Ðộ. Ðại trí huệ của Bồ Tát Quán
Thế Âm đều chiếu khắp cõi Thường Tịch Quang,
cõi Thật Báo
Trang Nghiêm, cõi Phương Tiện
Hữu Dư, cõi Phàm Thánh Ðồng Cư, cho nên nói
: ‘’Chiếu sáng khắp thế gian.’’
Bi thế giới lôi chấn
Ý từ diệu mây lớn
Rưới mưa pháp cam lồ
Dập tắt lửa phiền não.
‘’Bi thế giới lôi chấn’’ : Bốn câu kệ này là
khen ngợi từ bi của Bồ Tát Quang Thế âm. Bồ
Tát Quán Thế Âm dùng từ bi làm pháp thể của
Ngài. Từ bi pháp thể của Ngài từ đâu sinh ra
? Là từ giữ giới mà sinh ra. Lúc ban đầu Bồ
Tát Quán Thế Âm tu đạo, thì chuyên tu giới
luật mà sinh ra đại từ bi rộng lớn, pháp thể
vô duyên đại từ. Thứ pháp thể này âm thanh
lớn như là tiếng sét đánh, đánh thức tất cả
chúng sinh, người điết cũng nghe được, người
ngu cũng nghe được. Cho nên câu ‘’Bi thế
giới lôi chấn’’ này, là khen ngợi thân
nghiệp của Bồ Tát Quán Thế Âm không thể nghĩ
bàn.
‘’Ý từ diệu mây
lớn’’: Bồ Tát Quán Thế Âm dùng từ bi bình
đẳng, mắt từ nhìn chúng sinh. Trong bổn kinh
cũng nói : ‘’Mắt từ nhìn chúng sinh, biển
phước tụ vô lượng.’’ Bồ Tát Quán Thế Âm tu
phước đức vô lượng vô biên như biển cả. Ý
niệm từ bi của Ngài bình đẳng ban vui cho
chúng sinh, cảnh giới không thể nghĩ bàn
này, giống như đám mây lớn ở trong hư không.
‘’Rưới mưa pháp cam
lồ’’: Rưới nghĩa là mưa xuống, mưa xuống
nước pháp cam lồ. Cam lồ là gì ? Cam lồ tức
là thuốc trường sinh bất lão ở trên trời,
tuổi thọ của người trời lâu như thế, là do
uống thuốc trường sinh bất lão. Có người nói
: ‘’Người trời cũng uống thuốc, khó trách
người bây giờ muốn khai ngộ cũng uống
thuốc.’’ Song, thuốc trên trời là tự nhiên,
là ở trên trời vốn có, chẳng cần trải qua
làm bằng tay, uống thứ thuốc bất lão này thì
chẳng già. Mây lớn vi diệu của Bồ Tát Quán
Thế Âm, rưới xuống mưa pháp cam lồ, rưới
xuống thuốc trường sinh bất lão, khiến cho
tất cả mọi người lìa khỏi khổ sinh già bệnh
chết.
‘’Dập tắt lửa phiền
não’’: Bồ Tát Quán Thế Âm dập tắt hết lửa
phiền não của con người trên thế gian, mỗi
người đều có phiền não. Tại sao chẳng thành
Phật ? Vì có phiền não. Tại sao chẳng khai
ngộ ? Vì có phiền não. Tại sao bạn chẳng
được giải thoát, chẳng được tự tại thật sự ?
Cũng vì bạn có phiền não. Phiền não tức cũng
là chấp trước. Chấp trước tức là một tên
khác của phiền não. Bạn có sự chấp trước thì
chẳng được giải thoát, có rất nhiều phiền
não. Vậy chấp trước lại từ đâu đến ? Là từ
tâm ích kỷ lợi mình mà sinh ra. Nếu bạn
chẳng có tâm ích kỷ lợi mình, mà đại công vô
tư, thì bạn lại có gì để chấp trước ? Nếu
bạn chẳng có tâm ích kỷ, thì chẳng có sự
chấp trước. Chẳng chấp trước thì chẳng có
phiền não, chẳng phiền não thì giải thoát,
đắc được giải thoát, thì khai ngộ cũng là
thành Phật. Cho nên, phiền não của chúng ta
là một vật tệ nhất. Song, mỗi người đều xả
bỏ chẳng đặng vật tệ hại này, đều muốn đi
đứng nàm ngồi với phiền não, lìa chẳng khỏi,
có người nói : ‘’Tôi luôn luôn an vui, đó
gọi là chẳng có phiền não.’’ Nếu bạn thật sự
đắc được an vui, thì đương nhiên chẳng có
phiền não. Nếu chẳng đắc được an vui thật
sự, thì tức là miễn cưỡng dùng tâm tạo tác
để làm sự an vui này, đó chẳng phải là an
vui thật sự, vì phiền não vẫn ẩn tàng ở bên
trong. Một ngày nào đó nó sẽ phát tác, giống
như dùng một hòn đá lớn đè lên cỏ, tuy cỏ
chẳng lớn, nhưng tương lai lấy hòn đá ra,
thì cỏ sẽ lớn lên tươi tốt. Trong bốn hoằng
thệ nguyện, thì nguyện thứ nhất là : ‘’Chúng
sinh thệ nguyện độ.’’ Tại sao Bồ Tát Quán
Thế Âm lại đến thế giới này ? Là vì :
‘’Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.’’
‘’Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn’’ : Bồ
Tát Quán Thế Âm có phiền não chăng ? Ngài đã
đoạn sạch phiền não, song Ngài lấy phiền não
của chúng sinh làm phiền não của mình. Ngài
thấy phiền não của chúng sinh chưa đoạn, nên
Ngài dùng đủ thứ pháp môn giáo hóa chúng
sinh, khiến cho chúng sinh đoạn trừ phiền
não. Phiền não thì chẳng cùng tận, giống như
sóng biển, niệm trước diệt thì niệm sau sinh
ra; niệm sau diệt rồi, thì niệm sau nữa lại
sinh, liên tục không ngừng, phiền não cũng
như thế. ‘’Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học’’: Phật pháp có vô lượng vô biên pháp
môn. Có người đọc một bộ kinh, hoặc đọc được
hai bộ kinh thì tự mãn, nói họ đã hiểu Phật
pháp. Phật pháp mà họ hiểu, thật là chẳng
bằng một giọt nước trong biển cả. Giống như
con kiến ra biển uống nước, uống no nê đầy
bụng rồi nói : ‘’Tôi đã uống cạn hết nước
trong biển.’’ Nước ở trong biển, nó chẳng
uống được một giọt. ‘’Phật đạo vô thượng thệ
nguyện thành’’: Chẳng có gì cao hơn Phật
đạo, do đó mỗi người nên phát nguyện thành
Phật, không nên coi mình quá nhỏ bé, phải
xem mình bổn lai là Phật. Song, bổn lai là
Phật, chứ chẳng phải hiện tại là Phật. Bổn
lai ban đầu chúng ta đều đầy đủ Phật tánh
như Phật, không hai không khác. Song, hiện
tai chúng ta vì chẳng biết tu hành, cho nên
chẳng có ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu
thông, đại bản lãnh của Phật, đó là bốn thệ
nguyện lớn. Bồ Tát Quán Thế Âm vốn chiếu
theo bốn thệ nguyện lớn này, để giáo hóa
chúng sinh, cho nên rưới mưa pháp cam lồ,
khiến cho tất cả chúng sinh đắc được mát mẻ,
chẳng còn phiền não. Ðây gọi là ‘’Dập tắt
lửa phiền não.’’
Tranh kiện nơi quan tòa
Trong trận chiến sợ hãi
Nhờ sức niệm Quan Âm
Các oán địch lui tan.
‘’Tranh kiện nơi quan tòa’’. Tranh là đấu
tranh. Vào thời mạt pháp là thời đấu tranh
kiên cố. Khi Phật còn tại thế là thời đại
chánh pháp, sau khi Phật diệt độ là thời đại
tượng pháp. Sau khi Phật diệt độ trải qua
hai ngàn năm, là thời đại mạt pháp. Thời đại
chánh pháp là thiền định kiên cố, ai ai cũng
đều thích tham thiền, tập định, tu định lực.
Thời đại chánh pháp một ngàn năm. Từ khi
Phật ra đời đến Phật diệt độ một ngàn năm
gọi là thời đại chánh pháp. Qua thời đại
chánh pháp thì đến thời kỳ tượng pháp, thời
kỳ này là chùa chiền kiên cố, ai cũng hoan
hỉ phấn khởi làm chùa, tạo tượng Phật, cho
nên trên thế giới có những nước có rất nhiều
chùa, thời đại tượng pháp là một ngàn năm.
Qua một ngàn năm rồi, thì đến thời đại mạt
pháp, pháp đến đoạn cuối.
Thời đại mạt pháp
gồm có mười ngàn năm, thời kỳ này chẳng phải
thiền định kiên cố, cũng chẳng phải chùa
chiền kiên cố, mà là đấu tranh kiên cố. Nước
này với nước khác đấu tranh, nhà với nhà kia
đấu tranh, người với người đấu tranh, súc
sinh với súc sinh đấu tranh, quỷ với quỷ đấu
tranh, khắp nơi đều đấu tranh. Tại sao phải
đấu tranh. Vì thời đại mạt pháp, con người
chỉ biết đấu tranh. Song, trong thời kỳ mạc
pháp cũng có thời đại chánh pháp. Thời đại
tượng pháp cũng có thời đại chánh pháp.
Nghĩa là thời đại mạt pháp, cũng không thể
nói là không có sự tham thiền đả tọa. Giống
như hiện tại chúng ta, mỗi người đều bận
rộn, hoặc sáng sớm, hoặc buổi tối, hoặc buổi
trưa, tranh thủ tu hành, tham thiền đả tọa,
đây cũng là thời đại chánh pháp, bất quá một
phần ít trong thời đại mạt pháp, ít lại càng
ít. Cho nên trong thời đại mạt pháp, chúng
ta vẫn giảng kinh thuyết pháp, còn có người
rất bận rộn, thậm chí chẳng ngủ, chẳng ăn để
nghe kinh, đây cũng là chánh pháp trong thời
đại mạt pháp. Bây giờ, mọi người đều đề
xướng làm chùa, thành lập đạo tràng, đây
cũng là việc làm của thời đại tượng pháp.
Cho nên thời đại mạt pháp cũng có thời đại
tượng pháp, cũng có thời đại chánh pháp.
Thời đại tượng pháp cũng có thời đại chánh
pháp, cũng có thời đại mạt pháp. Vì thời đại
tượng pháp cũng có người chẳng làm chùa,
chẳng tin Phật pháp, đó cũng giống như mạt
pháp. Tại sao thời đại tượng pháp phải làm
chùa ? Làm chùa có thể khiến cho mọi người
tụ lại một chỗ để dụng công tu hành, đây
cũng là thời đại chánh pháp. Trong thời đại
chánh pháp cũng có tượng pháp và mạt pháp.
Thời đại chánh pháp cũng có người làm chùa,
giống như thời đại tượng pháp. Thời đại
chánh pháp cũng chẳng phải ai ai cũng học
Phật pháp, có người học chút chút Phật pháp,
sau đó chẳng học nữa, thì nói chi đến nghiên
cứu, đó cũng là mạt pháp ở trong thời đại
chánh pháp. Ở trong mỗi thời kỳ, đều có đủ
chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp.
Hiện tại thời đại
mạt pháp này là đấu tranh kiên cố, mà chúng
ta có thể duy trì Phật pháp, khiến cho Phật
pháp trụ lâu ở đời, mỗi ngày tụng trì Chú
Lăng Nghiêm đều có lợi ích rất lớn đối với
thế giới. Tại sao ? Vì nếu trên thế giới
chẳng còn ai tụng trì Chú Lăng Nghiêm, thì
thế giới này sẽ sớm hủy diệt. Lúc đó yêu ma
quỷ quái, tất cả lị mị vọng lượng đều xuất
hiện. Tại sao bây giờ chúng chẳng dám xuất
hiện ? Vì trên thế giới này còn có người
tụng trì Chú Lăng Nghiêm, tu bốn mươi hai
tay và mắt của Chú Ðại Bi, tu pháp môn thiên
thủ thiên nhãn, cho nên yêu ma quỷ quái
chẳng dám xuất hiện hoành hành.
Kiện tụng là đến
tòa án để nói lý lẽ. Nói lý lẽ phải mời luật
sư. Luật sư có thể nói người có lý lẽ thành
người chẳng có lý lẽ. Người chẳng có lý lẽ
thì có thể nói họ thành có lý lẽ. Ðây gọi là
điên đảo thị phi. Trước đây mấy tháng, có
một phụ nữ giết chồng, song cô ta giàu có
bèn ra điều kiện với luật sư, nếu luật sư có
thể tẩy sạch tội của cô ta, đánh bại ông
tòa, thì cô ta sẽ cho ông ta một số tiền. Vị
luật sư đó biết cô ta là người giết chồng,
song ở tại tòa án thì ông ta cường từ đoạt
lý, biện luận thế cho cô ta, mà chẳng bắt cô
ta phải đền mạng. Bạn nói như thế có lý lẽ
chăng ? Chỉ cần có tiền thì dù giết người
cũng chẳng có tội, đây tức là kiện tụng. Tức
nhiên chẳng có tội, chẳng cần đền mạng, thì
thử hỏi trên thế giới này còn có chân lý
chăng ? Bổn lai muốn ra tòa án là để nói lý
lẽ, song đến đó thì luật sư vì người biện
luận có lý lẽ thì biến thành chẳng có lý lẽ,
chẳng có lý lẽ cũng biến thành có lý lẽ,
chẳng có lý lẽ cũng biến thành có lý lẽ. Bạn
nói thế giới này chẳng phải là thế giới đen
tối chăng ?
‘’Nơi quan tòa’’:
Quan tòa là nơi nói lý lẽ, xem thử ai phải
ai trái. Song, lúc đó dù bạn đúng mà chẳng
có tiền thì cũng thành có tội. Nếu bạn sai
mà bạn có tiền thì cũng thành vô tội. Cho
nên trên thế giới này, con người vẫn bị tiền
chi phối, làm cho lương tâm con người mất
đi.
‘’Trong trận chiến
sợ hãi’’: Khi gặp hoàn cảnh sợ hãi, thì bạn
nên niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
‘’các oán địch lui tan’’, tất cả các oán hận
đều lui tan. Kiện tụng và ở trong trận chiến
đấu tranh với nhau, đều do đời đời kiếp kiếp
kết oán quá nhiều, cho nên mới tụ hội lại
một chỗ, cùng nhau trả quả báu.
Song, nếu bạn niệm
Bồ Tát Quán Thế Âm, thì những quả báo đó đều
sẽ giảm bớt, nặng biến thành nhẹ, nhẹ thì
biến thành không có gì cả. Nêu chẳng niệm Bồ
Tát Quán Thế Âm, thì vấn đề đó sẽ nghiêm
trọng, nếu bạn niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, thì
sẽ giảm nhẹ. Do đó, cảnh giới của Bồ Tát
Quán Thế Âm không thể nghĩ bàn, chẳng phải
một số người biết được.
Vào thế chiến thứ
hai, ở Thượng Hải có một vị cư sĩ tên là Phí
Phàm Cảnh, bình thường ông ta đều niệm Bồ
Tát Quán Thế Âm, vào thời kỳ Nhật Bản chiếm
Trung Quốc, thì Thượng Hải
thường bị quân Nhật bắn phá thả bom. Ông ta
có cảm giác rằng nhà của ông đang ở sẽ có
nguy hiểm, sẽ bị bom đạn. Do đó, bèn dọn nhà
đến nơi khác. Ông ta vừa mới dọn đi thì, nơi
đó quả nhiên bị quân Nhật bắn phá. Nơi mà
ông ta mới dọn đến cách bốn năm ngày sau,
ông cũng cảm thấy chẳng an toàn lắm, do đó
ông ta lại dọn đến khu Tô Giới. Ở Thượng Hải
có một khu vực của người nước ngoài mượn của
Trung Quốc để ở, cho nên Nhật
Bản chẳng dám đến đất Tô Giới để xâm chiếm.
Ông ta dọn đến đất Tô Giới rồi, ông ta lại
sợ chỗ này cũng chẳng an toàn, lại muốn đi.
Nhưng chung quanh bên ngoài Tô Giới đều có
lưới điện bao bọc, cho nên ông ta cũng chẳng
có cách nào để đi, trong lúc tiến thối lưỡng
nan, không thể quyết định thì gặp một đứa bé
nói với ông ta rằng : ‘’Hãy đi mau, đằng sau
có quân Nhật đến’’. Do đó, ông ta nhìn thấy
lưới điện có lỗ trống rộng khoảng hai thước,
chỉ vừa đủ một người chun ra. Ông ta thấy
cậu bè chun ra, thì cả nhà ông ta cũng đều
chun ra chạy. Sau đó họ nhìn bốn phía đất Tô
Giới đều có quân đội phòng thủ, cảm thấy rất
kỳ lạ, chẳng biết sao họ lại ra được ? Ðến
khi ông ta tìm đứa bé, thì chẳng thấy nữa,
nhìn lại lưới điện thì cũng chẳng thấy lỗ
trống đó nữa. Ông ta cảm thấy rất kỳ quái,
ông ta bèn đi đến Tô Châu, tai nạn quân đội
tác chiến ông ta cũng được bình an vô sự.
Do đó có thể chứng
minh, cảnh giới của Bồ Tát Quán Thế Âm thật
là cao sâu khó dò, con người chẳng dễ gì
hiểu được. Trong những hoàn cảnh đó, Bồ Tát
Quán Thế Âm sẽ bảo hộ người niệm danh hiệu
của Ngài, cho nên mỗi người chúng ta, nên
sinh niềm tin chân thành niệm Bồ Tát Quán
Thế Âm.
Các oán địch, tức
mới vừa nói nước này với nước kia đấu tranh,
nhà với nhà đấu tranh, người với người đấu
tranh, quỷ với quỷ đấu tranh, đó đều là do
nghiệp lực của chúng sinh sở cảm, mà tạo
thành cục diện như thế. Bây giờ có rất nhiều
nước, song bạn đừng cho rằng trong những
nước đó đều là người. Có những bầy chuộc đi
đầu thai làm người mà trở thành một nước,
nhiều ếch nhái cũng đầu thai làm người, và
trở thành một nước. Mùa xuân năm nay, có
người đem đến tin tức trong báo nói rằng : Ở
Thái Lan có mấy chục ngàn con ếch nhái tự
sát. Tại sao ? Vì nước đó cũng là nước có
nhiều ếch nhái, cho nên chúng tự sát có thể
đi đầu thai làm người. Người trong mỗi nước
đều đồng một giống loài, giống loài đó kiếp
trước đa số là một loài súc sinh, cho nên
cùng nhau làm dân trong một quốc gia. Mùa
xuân năm nay tôi nói về vấn đề này thì có
người hỏi : ‘’Ða số người Mỹ là từ giống gì
tái sinh ? Là giống loại gì mà thành một
nước ? ‘’Tôi trả lời : ‘’Người và súc sinh
đều có, vì nước Mỹ là do các nước di dân
đến, là người và súc sinh tạp nhạp với
nhau.’’ Ðây là sự thật chứ chẳng phải nói
đùa. Nếu các bạn mở ngũ nhãn, thì sẽ biết
người của thế giới này, chẳng nhất định là
người, mà đủ loại. Làm sao nhìn thấy được ?
Nếu bạn có mắt Phật, khai mở mắt trí huệ,
muốn biết người đời trước là gì ? Ở đời
trước làm gì ? Thì bạn có thể nhìn hình dáng
phía sau của người đó, hình dáng kiếp trước
đó, đời này vẫn theo họ. Nếu kiếp trước là
người, thì hình dáng là người, nếu là súc
sinh thì hình dáng là súc sinh, nếu là yêu
quái thì có hình dáng yêu quái. Chỉ có người
khai mở ngũ nhãn, thì mới có thể nhìn thấy
rõ ràng. Nếu người chẳng khai mở ngũ nhãn,
thì chẳng phân biệt được.
Cho nên bạn thấy
người đừng cho rằng đó là người. Làm thế nào
biết được những vấn đề đó ? Nếu bạn đắc được
thiên nhãn thông thì sẽ biết dễ dàng. Chỉ
cần bạn chân thật dụng công tu hành, thì
muốn biết gì cũng đều được. Còn có nước
(chẳng phải là tôi chưởi người) rất nhiều
người đều là chuột biến thành, bất quá, tuy
có rất nhiều chuột, nhưng trong nước đó cũng
có rất nhiều người, cũng có rất nhiều quỷ và
súc sinh. Tóm lại, mỗi nước đều có trâu ngựa
dê gà chó heo, đủ thứ loại. Con người cũng
do những chúng sinh đó biến thành. Ðạo lý
này nói ra thật là vi diệu. Một số người
chẳng chứng thật về việc này cho nên không
tin. Muốn chứng thật về việc này, thì phải
cước đạp thật địa dụng công tu hành, đắc
được thần thông thì sẽ nói : ‘’Trước kia có
một vị pháp sư nói về đạo lý này, thật chẳng
sai chút nào, sao việc vi diệu như thế, Ngài
đều có thể nói ra’’, lúc đó bạn sẽ biết.
Tiếng diệu Quán Thế Âm
Tiếng phạm tiếng hải triều
Hơn hẳn tiếng thế gian
Cho nên thường phải niệm.
‘’Tiếng diệu Quán Thế Âm’’: Bài kệ ở trước là:
‘’Quán chân quán thanh tịnh, quán trí huệ
rộng lớn, quán bi và quán từ, thường nguyện
thường chiêm ngưỡng.’’ Tức là nói về chữ
‘’quán’’. Bây giờ là nói về chữ ‘’tiếng’’
(âm). ‘’Tiếng’’ này là tiếng diệu Quán Thế
Âm. Tiếng của Quán Thế Âm là tiếng vi diệu,
âm thanh vi diệu này tức là Quán Thế Âm.
‘’Tiếng phạm tiếng
hải triều’’: Âm thanh của Bồ Tát Quán Thế Âm
chẳng những vi diệu, mà còn thanh tịnh, như
tiếng hải triều. Khi biển đến lúc nhất đînh,
thì sẽ phát sinh hải triều. Tiếng thanh tịnh
của Bồ Tát Quán Thế Âm như tiếng hải triều.
‘’Hơn hẳn tiếng thế
gian’’: Âm thanh của Bồ Tát Quán Thế Âm, hơn
hẳn mọi âm thanh của thế gian.
‘’Cho nên thường phải niệm’’: Vì vậy, cho nên
chúng ta mỗi người, đều phải thường niệm Bồ
Tát Quán Thế Âm.
Niệm niệm chớ sinh nghi
Quán Thế Âm tịnh Thánh
Khi khổ não nạn chết
Hay làm nơi nương tựa.
‘’Niệm niệm chớ sinh nghi’’: Khi chúng ta niệm
Bồ Tát Quán Thế Âm, thì đừng bao giờ sinh
tâm nghi ngờ, đừng nghĩ như vầy: ‘’Niệm có
ích gì? Niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, chẳng phải
là chẳng có ý nghĩa gì chăng ?’’ Hằng ngày
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm mà bạn sinh tâm hoài
nghi. Quan trọng nhất là đừng sinh tâm nghi
ngờ, trong một niệm cũng đừng sinh tâm hoài
nghi, phải sinh niềm tin.
‘’Quán Thế Âm tịnh
thánh’’: Bồ Tát Quán Thế Âm là bậc Thánh
thanh tịnh.
‘’Khi khổ não nạn
chết’’: Khi bạn có khổ não đau đớn, hoặc khi
gặp nguy hiểm sắp chết.
‘’Hay làm chỗ nương tựa’’: Lúc đó Bồ Tát Quán
Thế Âm sẽ bảo hộ bạn. Bạn có thể đem thân
tâm tính mạng giao cho Bồ Tát Quán Thế Âm,
thì Ngài nhất định sẽ trợ giúp bạn.
Ðủ tất cả công đức
Mắt từ trông chúng sinh
Biển phước tụ vô lượng
Cho nên phải đảnh lễ.
‘’Ðủ tất cả công đức’’: Bồ Tát Quán Thế Âm đầy
đủ tất cả thần thông diệu dụng, đầy đủ tất
cả các thứ công đức, tất cả thần thông diệu
dụng không thể nghĩ bàn đều không thiếu.
‘’Mắt từ trông
chúng sinh’’: Bồ Tát Quán Thế Âm đều dùng
mắt cha lành nhìn chúng sinh. Bất cứ chúng
sinh có lỗi gì, hoặc chẳng có lỗi lầm, có
tội nghiệp, hoặc chẳng có tội nghiệp, Ngài
đều từ bi đến cứu độ như nhau.
‘’Tụ biển phước vô
lượng’’: Vì Bồ Tát Quán Thế Âm dùng đại từ
bi bình đẳng phổ độ chúng sinh, cho nên
phước báu của Ngài tu lớn như biển cả, vô
lượng vô biên, sâu không thể dò.
‘’Cho nên phải đảnh
lễ’’: Vì công đức của Bồ Tát Quán Thế Âm đều
đầy đủ, cho nên chúng ta mỗi người, đều nên
đảnh lễ Bồ Tát Quán Thế Âm.
Bây giờ đã giảng xong phần bài kệ. Chúng ta có
cơ hội được nghe toàn bộ Kinh Pháp Hoa, thật
là khó được gặp gỡ. Hiện tại đừng nói là
nước Mỹ, dù ở
Trung Quốc, cũng chẳng dễ gì
được nghe toàn bộ Kinh Pháp Hoa. Ở Hồng
Kông, Ðài Loan có cơ hội này, nhưng cũng rất
khó khăn. Hiện tại chúng ta đang sống an
toàn ở nước Mỹ, mà nghe được Bộ Kinh Pháp
Hoa này, thật là may mắn. Bạn đến nghe kinh
trong sự vô hình, trợ giúp cho thế giới này.
Chúng ta đang nghe kinh ở đây, mà khắp thế
giới đều tràn trề bầu không khí cát tường.
Phàm là nơi nào có pháp hội giảng kinh, thì
trời rồng tám bộ chúng đều đến ủng hộ đạo
tràng. Chúng ta có cơ hội này, đều là người
có căn lành lớn. Nếu chẳng có căn lành, muốn
đến nghe cũng đến chẳng được. Khi muốn đến
nghe thì chẳng phải ma chướng này sinh, thì
ma chướng kia sinh ra. Tóm lại, khiến cho
bạn chẳng thể nào đến nghe kinh được. Hiện
tại chúng ta nghe kinh nghe pháp, công đức
này thật là vô lượng vô biên, không thể hết
được. Ðến nghe kinh mỗi người đều có công
đức.
Bấy giờ, Bồ Tát Trì Ðịa bèn từ tòa ngồi
đứng dậy, đến trước đức Phật bạch rằng : Ðức
Thế Tôn ! Nếu có chúng sinh nghe được Phẩm
Bồ Tát Quán Thế Âm này, nghiệp tự tại phổ
môn thị hiện sức thần thông, thì nên biết
người đó công đức chẳng ít. Khi đức Phật nói
Phẩm Phổ Môn này, thì có tám vạn bốn ngàn
chúng sinh ở trong chúng, đều phát tâm Vô
thượng chánh đẳng chánh giác.
Bấy giờ là lúc đó, tức là sau khi Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni nói xong phần bài kệ. Bồ Tát
Trì Ðịa tức là Bồ Tát Trì Ðịa mà trong Kinh
Lăng Nghiêm có nói đến. Vị Bồ Tát này, ở
trong vô lượng kiếp về trước, là một vị
chẳng đọc sách, chẳng biết chữ, nhưng sức
lực của Ngài rất lớn. Sức của Ngài chẳng
những mạnh, mà còn vô cùng vô tận. Có đồ vật
mà một số người chẳng khiên nổi, mà Ngài một
mình vác nổi, có đồ vật mà một số người gánh
chẳng nổi, mà Ngài gánh nổi, việc mà một số
người chẳng làm được, mà Ngài làm được. Ngài
làm gì ? Tức là tu sửa đường bằng phẳng, làm
đường, làm cầu. Có khi xe qua cầu mà qua
chẳng được, Ngài bèn giúp họ đẩy xe. Có
người gánh đồ khổ cực, thì Ngài giúp họ gánh
đồ. Song, Ngài chẳng đòi giá cả, chẳng đòi
tiền công. Ngài thực hành khổ hạnh như thế
rất lâu. Có một lần nọ, gặp Ðức Phật Phù Xá
Lô, Phật hỏi Ngài :
- ‘’Tại sao con phải tu sửa đường bằng
phẳng?’’
- Ngài nói : ‘’Con tu sửa đường bằng phẳng, là
để cho những người đi được an toàn.’’
- Phật Phù Xá Lô nói: ‘’Con làm đường bằng
phẳng là bỏ gốc theo ngọn, đây là dụng công
phu trên ngọn ngành, chỉ tu hành ở ngoài
da.’’
- Phật Phù Xá Lô nói tiếp: ‘’Con muốn tu sửa
đường bằng phẳng, thì trước hết phải tu sửa
"đất tâm" cho bằng phẳng. Tại sao đường xá
chẳng bằng phẳng? Thế giới có núi cao, có
đất bằng, có biển cả, là vì tâm của con
người chẳng bằng phẳng. Trong tâm của con
người có núi cao, cho nên đất chẳng bằng
chẳng. Nếu đất tâm của con bằng phẳng, thì
thê giới chẳng có chỗ nào mà không bằng
phẳng.’’ Bồ Tát Trì Ðịa nghe Phật Phù Lô Xá
giáo hóa rồi, bèn tu pháp môn "đất tâm", làm
bằng phẳng mảnh đất trong tâm, tu thành
chứng quả, đắc được quả vị Bồ Tát. Do đó,
Ngài có tên là ‘’Bồ Tát Trì Ðịa.’’
Bồ Tát, ở trên đã
có nói rồi, tức là giác hữu tình, giác ngộ
hữu tình chúng sinh. Cũng là một bậc giác
ngộ ở trong chúng sinh. Bồ Tát Trì Ðịa bèn
từ tòa ngồi của Ngài đứng dậy, hướng về Ðức
Phật nói : ‘’Ðức Thế Tôn ! Nếu như có chúng
sinh nào nghe được Phẩm Bồ Tát Quán Thế Âm
nghiệp tự tại, phổ môn thị hiện ba mươi hai
ứng thân, bốn vô úy thần thông lực như thế,
thì nên biết công đức của người đó chẳng ít,
công đức họ nghe được Phẩm Phổ Môn không thể
hạn lượng.’’ Không ít tức là nhiều, chẳng có
số lượng, vô lượng vô biên. Khi Ðức Phật
Thích Ca diễn nói Kinh Pháp Hoa, nói đến
Phẩm Phổ Môn, thì ở trong chúng có tám vạn
bốn nghìn chúng sinh, đều phát tâm Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, tức là A nậu đa la
tam miệu Tam bồ đề.
‘’Tám vạn bốn nghìn
chúng sinh là gì ? Tám vạn bốn nghìn chúng
sinh ở đây, tức cũng là tám vạn bốn nghìn
phiền não của chúng ta. Mỗi một phiền não là
một chúng sinh, hơn nữa ở trong thân của mỗi
người chúng ta, đều có tám vạn nghìn vi sinh
vật, vi sinh vật tức là vi khuẩn. Trong thân
của chúng ta đều có vi trùng. Con người
chúng ta là trùng lớn, ở trong thân trùng
lớn này, có trùng nhỏ, ở trong máu, ở trong
thịt, trong ngũ tạng, chẳng biết có bao
nhiêu vi trùng ? Con người chúng ta làm thế
nào mà có thể sinh tồn ? Tức cũng là thân
trùng lớn nuôi dưỡng những trùng nhỏ, trùng
nhỏ trợ giúp cho trùng lớn. Bạn cho rằng con
người là gì ? Ở trong thân thể có vô lượng
vô biên vi sinh vật (sinh bật nhỏ bé).
Một vi sinh vật là một chúng sinh. Vậy có bao
nhiêu vi sinh vật ? Có nhiều đếm không hết
được. Tóm lại, thì có tám vạn bốn nghìn. Kỳ
thật, chẳng phải chỉ tám vạn bốn nghìn, hoặc
là mười vạn tám nghìn, cũng chẳng nhất định.
Trong tự tánh của mỗi người chúng ta, đều
đầy đủ tám vạn bốn nghìn chúng sinh. Tám vạn
bốn nghìn chúng sinh ở trong pháp hội đó,
tức cũng là tám vạn bốn nghìn thứ niệm ở
trong tâm, niệm niệm sinh diệt, niệm niệm
chẳng ngừng, niệm sinh tức là một chúng
sinh, niệm diệt cũng là một chúng sinh. Sinh
sinh diệt diệt có tám vạn bốn nghìn chẳng
lìa khỏi tự tánh. Tám vạn bốn nghìn chúng
sinh đều phát tâm vô đẳng đẳng, chẳng có gì
có thể bằng tâm, chẳng có gì có thể sánh với
tâm, tức là tâm vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
A nậu đa la tam
miệu tam bồ đề là tiếng phạn. A dịch là vô,
nậu đa la dịch là thượng, tam dịch là chánh,
miệu dịch là đẳng, bồ đề dịch là giác, hợp
lại là vô thượng chánh đẳng chánh giác. ‘’Vô
thượng’’ là chẳng có gì cao hơn nữa. ‘’Chánh
đẳng’’ là chân chánh đồng với Phật. ‘’Chánh
giác’’ là giác ngộ của Phật. Chân chánh đồng
quả vị giác ngộ của Phật, tức cũng là phát
tâm thành Phật. Có tám vạn bốn nghìn chúng
sinh phát tâm thành Phật. Phát tâm thành
Phật rồi, sau đó mới đắc được quả vị. Trong
pháp hội đó, có tám vạn bốn nghìn chúng sinh
nghe Phẩm Phổ Môn rồi, đều phát tâm vô
thượng chánh đẳng chánh giác, đó là nhân
duyên rất thù thắng.
Hiện tại chúng ta
đang giảng Phẩm Phổ Môn, ở trong Phật Giáo
Giảng Ðường có hơn hai mươi người đến nghe
kinh. Hơn hai mươi người này, mỗi người đều
có tám vạn bốn nghìn chúng sinh, bạn tính
xem nó bao nhiêu vạn chúng sinh ? Nhưng bao
nhiêu vạn chúng sinh đó, có phải đều phát
tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác ? Tôi
tin rằng tuy chẳng phát tâm như thế, đa số
cũng phát tâm muốn thành Phật. Ở trong hội
Pháp Hoa này, người nào nghe được Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, thì tương lai đều có phần sẽ
thành Phật. Hiện tại chúng ta nghe được Phẩm
Phổ Môn của Bồ Tát Quán Thế Âm, đều do trong
quá khứ đã trồng căn lành, cho nên bây giới
cũng có nhân duyên, để tụ lại một chỗ cùng
nghiên cứu Phật pháp, đây là cảnh giới không
thể nghĩ bàn.
A Nậu Ða
La Tam Miệu Tam Bồ Ðề là quả
vị cao nhất, tức là quả vị Phật, dịch ra là
Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Chánh giác
là nói người khai ngộ được chánh giác. Hàng
nhị thừa A
la Hán đắc được sự khai ngộ
chánh giác, nhưng chưa đắc được chánh đẳng.
Bồ Tát thì đắc được chánh đẳng và chánh
giác. Chánh giác nơi Phật cho nên gọi là
đẳng giác. Chánh giác là A
la Hán, chánh đẳng là Bồ Tát.
Bồ Tát có thể thành chánh đẳng, nhưng không
thể thành vô thượng. A
la Hán có thể thành chánh
giác, nhưng không thể thành chánh đẳng. Vì
Bồ Tát là Hữu Thượng Sĩ, ở trên Ngài còn có
bậc cao hơn. Phật gọi là Vô Thượng Sĩ, tức
là chẳng có gì cao hơn Ngài nữa. Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, tức là viên mãn bồ
đề, quy vô sở đắc, đắc được ba giác tròn,
vạn đức đầy, chẳng có gì cao hơn vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Chỉ có Phật mới có tư
cách xưng danh hiệu này. Ngoài ra các Bồ
Tát, A
la Hán đều không thể sánh
được, cho nên đây là quả vị cao nhất. Quả vị
cao nhất này làm thế nào mà thành ? Có phải
từ chỗ cao nhất mà thành chăng ? Chẳng phải.
Quả vị tối cao là từ chỗ thấp nhất mà thành.
Khi bạn tu đạo, thì nên nhớ đừng có tâm tự
mãn, tâm cống cao ngã mạn, đó tức là từ chỗ
thấp nhất mà thành quả vị cao nhất.
Ngài Lão tử có nói
: ‘’Nước khéo lợi ích vạn vật mà chẳng
tranh, ở nơi mà mọi người không thích ở.’’
Nước lợi ích cho tất cả vạn vật mà chẳng
tranh. Vật tức là chỉ phi tiềm động thực,
hết thảy tứ sinh (thai noãn thấp hóa), đều
cần nước bồi dưỡng tưới tẩm, song bản thân
của nước chẳng bao giờ có tư tưởng như vầy :
‘’Hết thảy những vạn vật của các vị, đều do
tôi lợi ích cho các vị, do tôi đến trợ giúp
các vị.’’ Chẳng tranh gì ? Tức là chẳng kể
công, chẳng tuyên truyền với mọi người rằng
: ‘’Việc đó là do tôi làm, công đức đó là do
tôi làm thành, ngôi chùa đó là do tôi làm,
cái cầu kia là do tôi xây’’, chẳng bao giờ
có tâm như thế, nó chẳng ích kỷ, chẳng tư
lợi, cho nên Lão tử mới nói, nên học tập
giống như nước. Nước khéo lợi ích vạn vật mà
chẳng tranh, chẳng kể công, chẳng tranh
danh, chẳng tranh lợi. ‘’Ở nơi mà mọi người
không thích ở’’ : Nước ở chỗ thấp, chẳng ở
trên cao. Có người nói : ‘’Sao nước lại
chẳng ở trên cao ? Khi trời mưa thì nước từ
trên cao mưa xuống !’’ Không sai, bạn nói
rất có lý, trời mưa xuống là từ trên cao mưa
xuống. Vậy nó làm thế nào mà đi lên cao ? Nó
từ nơi thấp mà đi lên cao, chứ chẳng phải
nguyên lai là ở trên cao. Nó ở trên cao vẫn
phải rơi xuống đất thấp, ở dưới đất thấp lại
chảy vào biền, vào sông, vào suối, vẫn chảy
xuống chỗ thấp, bất quá tạm thời ở trên cao
mà thôi. Cho nên nước ở chỗ mà chúng sinh
chẳng thích, ở chỗ mà con người chẳng hoan
hỉ. Tại sao người tu đạo chẳng ở nhà tốt ?
Suốt ngày đến tối ở trong sơn động ? Tức
cũng là học giống như nước, ở chỗ thấp. Vì
nước ở chỗ mà chúng sinh chẳng thích, nên
hợp với đạo. Bạn muốn thành vô thượng chánh
đẳng chánh giác cũng như thế, cũng phải từ
chỗ thấp mà hướng đi lên, chẳng phải từ trên
cao mà rớt xuống, cũng chẳng phải một đời
sinh ra, thì được vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Bạn muốn thành Phât, thì trước hết
phải làm chúng sinh cho thật tốt. Làm chúng
sinh tốt như thế nào ? Tức là bất cứ làm
việc gì, đều phải làm việc thiện việc lành,
chớ đừng làm ác, do đó có câu :
‘’Lựa việc thiện mà theo,
Việc ác thì sửa đổi’’.
Con đường lành thì nên làm, đường chẳng lành
thì sửa đổi, phải sửa lỗi làm mới lại, phải
đạo thì tiến tới, trái với đạo thì thối lùi,
hợp với đạo thì tiến bước về trước, chẳng
hợp với đạo thì lùi về sau, như thế mới có
thể đắc được vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
Chỗ diệu của Phẩm
Phổ Môn là vô cùng vô tận, chẳng phải thời
gian ngắn mà nói hết được. Tương lai khi nào
có cơ hội sẽ nghiên cứu sâu hơn bước nữa.
Thứ bảy này là ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm
thành đạo, bây giờ chúng ta đã giảng xong
Phẩm Phổ Môn, Biết được thần thông diệu dụng
của Bồ Tát Quán Thế Âm, thì đến ngày đó mọi
người phát tâm cúng dường Bồ Tát Quán Thế
Âm, niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, và lạy đại bi
sám cầu nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm hiển hiện
diệu dụng không thể nghĩ bàn. Ai có sở cầu
thì có thể âm thầm cầu Ngài gia bị, tin
tưởng Ngài, thì nhất định sẽ khiến cho bạn
toại tâm mãn nguyện. Kinh Pháp Hoa là kinh
thành Phật, ai nghe được Kinh Pháp Hoa, thì
sẽ có phần thành Phật, cho nên đây là cơ hội
rất khó được gặp.