KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 04
Quyển 06
Phẩm bổn sự của Bồ Tát Dược
Vương thứ hai mươi ba
Bồ Tát Dược Vương
chuyên tu khổ hạnh. Thứ khổ hạnh này, là thứ
khổ hạnh khó thực hành nhất, một số người
chẳng làm được. Vị Bồ Tát này, thuở xưa danh
hiệu là Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ
Kiến. Theo tên mà suy nghĩa thì, Ngài và tất
cả chúng sinh kết duyên lành, cho nên chúng
sinh đều hoan hỷ gặp Ngài.
Vị Bồ Tát này từng
phát tâm đốt thân cúng dường Phật. Sự cúng
dường này chẳng phải một số người làm được.
Có người khởi vọng tưởng : ‘’Ngài chẳng biết
đau chăng ?
- ‘’Tôi tin rằng
Ngài biết đau, nhưng Ngài nhẫn thọ, kiền
thành đem thân thể cúng dường Phật. Tôi lại
tin rằng Ngài chẳng biết đau. Tại sao ? Vì
Ngài đã quên mất thân của mình, tinh thần
tập trung quán tưởng, thân thể là do bốn đại
năm uẩn giả hòa hợp huyễn thân mà thôi,
chẳng có chỗ nào đáng ưa thích cho nên chẳng
biết đau.
Tóm lại, bất luận
là biết đau hay không biết đau, Ngài xả được
thân để cúng Phật, đó là chân cúng dường. Vị
Bồ Tát này từ bi nhất, chúng sinh có bệnh
tật, thì Ngài nhất định vì họ giải trừ bệnh
khổ, cho nên tất cả chúng sinh đều hoan hỷ
gặp Ngài.
‘’Bổn sự‘’ là nói
rõ sự tích tu hành của kiếp trước. Phẩm này
nói về tinh thần của Bồ Tát Dược Vương, vì
pháp mà quên mình, cho nên thành tựu viên
thông vô ngại phẩm đức và trí huệ. Phẩm này
là phẩm thứ hai mươi ba trong Kinh Pháp Hoa.
Bấy giờ, Bồ Tát Tú
Vương Hoa bạch đức Phật rằng
: Ðức Thế Tôn ! Bồ Tát Dược Vương đến thế
giới Ta Bà như thế nào ? Ðức Thế Tôn ! Bồ
Tát Dược Vương đó, có bao nhiêu trăm ngàn
vạn ức Na do tha sự khổ hạnh khó làm ? Lành
thay đức Thế Tôn ! Xin Ngài hãy nói ra một
ít.
Lúc đó, Bồ Tát Tú
Vương Hoa bạch Ðức Phật rằng
: ‘’Ðức Thế Tôn ! Con ở trong hội Lăng
Nghiêm nghe được Bồ Tát Dược Vương giảng
pháp viên thông, song chẳng hiểu Ngài đến
thế giới Ta Bà như thế nào, có nhân duyên gì
? Xin Ðức Thế Tôn từ bi vì con giải nói.’’
‘’Ðức Thế Tôn ! Vị
Bồ Tát Dược Vương đó, phát nguyện cứu hộ tất
cả bệnh tật của tất cả chúng sinh, trong bao
nhiêu trăm ngàn vạn ức Na do tha kiếp, nhất
định có nhiều sự khổ hạnh khó làm. Xin Ðức
Thế Tôn vì đại chúng trong pháp hội, hãy nói
việc của Bồ Tát Dược Vương tu khổ hạnh để
cho đại chúng biết.’’
Chư thiên, rồng, thần, Dạ Xoa, Càn Thát Bà,
A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu
La Già, người, chẳng phải
người. Lại có các Bồ Tát từ cõi nước khác
đến, và chúng Thanh Văn ở đây nghe được, đều
rất hoan hỷ.
Trời rồng tám bộ và quỷ thần. Lại có các vị
đại Bồ Tát từ mười phương đến, và chúng
Thanh Văn ở trong pháp hội này, nghe được Bồ
Tát Tú
Vương Hoa thỉnh vấn Phật như
thế, đều rất hoan hỷ.
Bấy giờ, đức Phật bảo Bồ Tát Tú
Vương Hoa : Thuở xưa, trải
qua vô lượng số kiếp nhiều như số cát sông
Hằng, có vị Phật hiệu là Nhật Nguyệt Tịnh
Minh Ðức Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân
Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Phật đó, có tám mươi
ức vị đại Bồ Tát, bảy mươi hai Hằng hà sa
chúng đại Thanh Văn. Ðức Phật đó, thọ mạng
bốn vạn hai nghìn kiếp, Bồ Tát thọ mạng cũng
đồng nhau.
Lúc đó, Ðức Phật bảo Bồ Tát Tú
Vương Hoa rằng : ‘’Thuở xưa
trải qua vô lượng hằng hà sa số kiếp, có một
vị Phật ra đời, hiệu là Nhật Nguyệt Tịnh
Minh Ðức Như Lai, đầy đủ mười hiệu. Vị Phật
đó có tám mươi ức đại Bồ Tát, lại có bảy
mươi hai Hằng hà sa số đại Thanh Văn chúng.
Vị Phật đó sống lâu đến bốn vạn hai nghìn
kiếp, các vị Bồ Tát trong cõi nước đó, cũng
sống lâu đến như vậy.’’
Nước đó, chẳng có người nữ, địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh, A tu la, cũng chẳng có các
hoạn nạn. Mặt đất bằng lưu ly, bằng phẳng
như bàn tay, cây báu trang nghiêm, màn báu
che phía trên. Lại có hoa báu, phan báu,
thòng rũ xuống, bình báu lư hương khắp trong
cõi nước đó.
Trong cõi nước của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh
Ðức, chẳng có người nữ, đều là người nam. Vì
sao ? Vì do hoa sen hóa sinh ra, cho nên
thân thể của họ thanh tịnh. Chẳng có bốn
đường ác, cũng chẳng có tám nạn.
Tám nạn là gì ? Tức
là:
1). Nạn khổ não.
2). Nạn lửa lớn.
3). Nạn nước lớn.
4). Nạn thú dữ.
5). Nạn đao binh.
6). Nạn loài quỷ.
7). Nạn gông cùm.
8). Nạn trộm cướp.
Lại có thể nói là :
1). Ðịa ngục.
2). Ngạ quỷ.
3). Súc sinh.
4). Sinh về Bắc Câu Lưu Châu (châu này quá
sung sướng, chẳng thấy Phật, chẳng nghe
pháp, chẳng gặp Tăng).
5). Trời Trường Thọ (trời Vô Tưởng thuộc sắc
giới, nơi của ngoại đạo ở).
6). Ðui, điếc, câm ngọng (sáu căn không đủ).
7). Thế trí biện thông (thông minh bị thông
minh lừa).
8). Sinh ra trước Phật, hay sau Phật (sinh ra
chẳng gặp Phật). Chúng sinh ở trong cõi đó
chẳng có những khổ nạn ấy.
Mặt đất cõi nước
đó, bằng phẳng như bàn tay, chẳng có gò,
đồi, chỗ lồi lõm. Tại sao ? Vì chúng sinh
trong cõi đó, đều tâm bình khí hòa, cho nên
mặt đất bằng phẳng. Nếu tâm người không
bình, thì sẽ hiện ra sơn hà đại địa. Mặt đất
cõi đó chẳng những bằng phẳng, mà đất đều
bằng chất lưu ly. Lại có cây bằng bảy báu,
ngay thẳng thành hàng, trang nghiêm cõi
nước, lại có màn báu lọng báu che ở phía
trên, còn có hoa báu, phan báu, thòng rũ
xuống, và có bình báu, lư hương báu, khắp
cõi nước đó, nơi nào cũng có cảnh giới trang
nghiêm như thế.
Bảy báu làm đài, mỗi cây thì có mỗi đài. Từ
cây đến đài cách một đường tên. Dưới các cây
báu đó, đều có các vị Bồ Tát và các vị Thanh
Văn ngồi. Ở trên các đài báu, mỗi đài đều có
trăm ức chư Thiên diễn tấu âm nhạc, ca
xướng, khen ngợi Phật để cúng dường.
Dùng bảy báu làm đài, mỗi cây thì có mỗi đài.
Cây cách đài một đường mũi tên (một trăm hai
mươi bộ). Dưới các cây báu đó, đều có Bồ Tát
và hàng Thanh Văn đang ngồi tĩnh tọa ở đó.
Trên mỗi đài báu, đều có hàng trăm ức chư
thiên diễn tấu âm nhạc, ca xướng, tán thán
Phật để dâng lên cúng dường.
Bấy giờ, đức Phật đó vì Bồ Tát Nhất Thiết
Chúng Sinh Hỷ Kiến, và các chúng Bồ Tát, các
chúng hàng Thanh Văn, diễn nói Kinh Pháp
Hoa. Vị Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến
đó, thích tu khổ hạnh, bèn ở trong pháp của
đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức, tinh tấn
kinh hành, một lòng cầu Phật đạo.
Lúc đó, Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức, vì Bồ
Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến, các vị
đại Bồ Tát, và các chúng hàng Thanh Văn,
diễn nói Kinh Pháp Hoa. Vị Bồ Tát Nhất Thiết
Chúng Sinh Hỷ Kiến đó, hoan hỷ tu khổ hạnh.
Ngài ở trong pháp của Phật Nhật Nguyệt Tịnh
Minh Ðức tinh tấn kinh hành, chẳng giải đãi,
thường ngồi thiền ở dưới gốc cây, chuyên tâm
cầu Phật đạo.
Trọn một vạn hai ngàn năm rồi, thì đắc được
tam muội hiện tất cả sắc thân. Ðược tam muội
đó rồi, thì tâm rất hoan hỷ, bèn nghĩ như
vầy : Ta được tam muội hiện tất cả sắc thân,
đều là do nghe Kinh Pháp Hoa. Nay ta nên
cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức,
và Kinh Pháp Hoa.
Ðã trọn một vạn hai nghìn năm rồi, thì đắc
được tam muội hiện nhất thiết sắc thân, tức
cũng là biến hiện được tất cả sắc thân, giáo
hóa tất cả chúng sinh. Tóm lại, thấy người
thì biến ra người để giáo hóa họ, thấy chó
thì biến ra chó để giáo hóa. Bất cứ chúng
sinh gì, cũng đều biến hiện ra được thân
đồng loại, để giáo hóa độ thoát, khiến cho
tất cả chúng sinh liễu sinh thoát tử, lìa
khổ được vui.
Bồ Tát đắc được tam muội hiện nhất thiết sắc
thân rồi, thì trong tâm rất hoan hỷ, bèn
nghĩ như vầy : ‘’Ta chứng được chánh định
này, đều là do nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
cho nên nay ta nên cúng dường Ðức Phật Nhật
Nguyệt Tịnh Minh Ðức và Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, đó là nhờ Phật gia trì, nên khiến cho
ta chuyên tâm thọ trì bộ kinh này.’’
Lập tức, nhập vào tam muội đó, ở trong hư
không mưa xuống hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn
đà la, bột hương kiên hắc chiên đàn, đầy
khắp ở trong hư không, như mây giăng bủa,
lại mưa xuống hương thơm hải thử ngạn chiên
đàn. Hương đó lục thù giá trị như một thế
giới Ta Bà, dùng để cúng dường đức Phật.
Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến, lập tức
nhập vào tam muội Hiện nhất thiết sắc thân.
Ở trong hư không mưa xuống hoa mạn đà la
(hoa tiểu bạch) và hoa ma ha mạn đà la (hoa
đại bạch). Lại mưa hương bột kiên hắc chiên
đàn, đầy khắp hư không, giống như mây giăng
bủa dày đặc. Lại mưa xuống hương thơm hải
thử ngạn chiên đàn. Thứ hương này quý giá vô
cùng, sản xuất tại bờ biển phía bắc Nam Diêm
Phù Ðề này. Thứ hương này, nặng khoảng lục
thù (hai mươi bốn thù là một lạng), thì giá
trị đồng như giá trị của một thế giới Ta Bà.
Tóm lại, dùng một thế giới Ta Bà (ba ngàn
đại thiên thế giới) mới đổi lấy sáu thù
hương hải thử ngạn chiên đàn, dùng thứ hương
này để cúng dường Ðức Phật.
Cúng dường như thế rồi, từ tam muội dậy,
bèn tự nghĩ rằng : Tuy ta dùng thần lực cúng
dường đức Phật, chẳng bằng dùng thân cúng
dường, bèn thoa các thứ hương thơm chiên
đàn, hương huân lục, hương suất lâu bà,
hương tất lực ca, trầm thủy giao hương. Lại
uống thiềm bặc, các thứ dầu thơm của hoa.
Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến dùng các
thứ hoa quý và hương thơm cúng dường Phật
rồi, bèn từ tam muội Hiện tất cả sắc thân
xuất định, tự nghĩ như vầy : ‘’Hiện tại tuy
ta dùng sức thần thông cúng dường Phật, song
chẳng bằng dùng thân của mình để cúng dường
Phật.’’ Lập tức, uống tất cả các thứ dầu
thơm như : Hương chiên đàn, hương huân lục,
hương suất lâu bà, hương tất lực ca, hương
trầm thủy, giao hương, khiến cho bên trong
thân thể ngũ tạng lục phủ, đều được thanh
tịnh. Lại uống dầu thơm thiềm bặc, chế tạo
từ các thứ hoa, khiến cho thân được thanh
tịnh.
Trọn một ngàn hai trăm năm rồi, lại dùng
dầu thơm thoa thân, ở trước đức Phật Nhật
Nguyệt Tịnh Minh Ðức, dùng y báu trời mà
quấn vào thân mình, lại tưới các thứ dầu
thơm, dùng sức thần thông nguyện lực mà tự
đốt thân, ánh sáng chiếu soi khắp tám mươi
ức Hằng hà sa thế giới.
Uống các thứ dầu hoa thơm như thế, trải qua
một ngàn hai trăm năm rồi, lại dùng các thứ
dầu thơm thoa lên thân mình, ở trước Phật
Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức, bèn dùng y báu
trời quấn vào thân mình. Lại tưới các thứ
dầu thơm lên y trời, sau đó dùng thần thông
nguyện lực, dùng lửa tam muội thiêu đốt thân
mình, ánh sáng chiếu khắp đến tám mươi ức
Hằng hà sa thế giới.
Chư Phật ở trong các cõi nước đó, đồng thời
khen ngợi rằng : Lành thay ! Lành thay !
Thiện nam tử ! Ðó mới là chân tinh tấn, gọi
là chân pháp cúng dường Như Lai. Nếu dùng
hoa hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột,
hương xoa, phan lọng bằng lụa cõi trời, và
hương hải thử ngạn chiên đàn, cúng dường các
thứ đồ vật như thế, không thể bằng được, nếu
đem đất nước vợ con bố thí, cũng chẳng bằng
được.
Các Ðức Phật ở trong tám mươi ức Hằng hà sa
thế giới, thấy Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh
Hỷ Kiến đốt thân cúng dường Phật như thế,
chư Phật bèn cùng nhau khen ngợi nói :
‘’Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử ! Ðó
mới là chân chánh tinh tấn, gọi là chân pháp
cúng dường Ðức Phật.’’
Vào đời Tùy, Trí Giả đại sư, một ngày nọ, đọc
đến hai câu kinh văn này, thì hốt nhiên nhập
định, đắc được Nhất toàn Ðà la ni (hết thảy
kinh điển ở trong thời gian rất ngắn, hoàn
toàn minh bạch hết, thông đạt vô ngại). Lúc
đó, Trí Giả đại sư thấy pháp hội Linh Sơn
vẫn còn chưa tan. Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn
ngồi trên pháp tòa, đang diễn nói Kinh Pháp
Hoa.
Hoặc dùng các thứ hương hoa, chuỗi ngọc, và
hương đốt, hương bột, hương xoa, hoặc dùng
lọng báu, và phan báu trời, cùng với hương
hải thử ngạn chiên đàn. Dùng các thứ đồ vật
như thế, cúng dường Ðức Phật, công đức chẳng
bằng đốt thân cúng dường. Nếu như, dùng đất
nước vợ con để bố thí, công đức cũng chẳng
bằng đốt thân cúng dường. Do đó, đủ biết
công đức đốt thân cúng Phật, không thể nào
sánh được.
Thiện nam tử ! Ðó là bố thí bậc nhất, ở
trong các sự bố thí, là trên hơn hết, vì
dùng pháp cúng dường các đức Như Lai. Nói
lời đó rồi, thảy đều yên lặng. Thân Bồ Tát
Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến, đốt cháy trải
qua một ngàn hai trăm năm mới cháy hết.
Chư Phật lại đồng thời lại tán thán nói :
‘’Thiện nam tử ! Ông đốt thân bố thí cúng
dường Phật, mới là bố thí bậc nhất. Ở trong
tất cả sự bố thí, thì sự bố thí này là trên
hơn hết.’’ Dùng sắc thân để cúng dường Phật
tức là nhân duyên thành tựu pháp thân. Chư
Phật khen ngợi Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh
Hỷ Kiến rồi, thảy đều yên lặng.
Bồ Tát Nhất Thiết
Chúng Sinh Hỷ Kiến, dùng lửa thật tam muội
thiêu đốt thân mình, trải qua một ngàn hai
trăm năm thân mới cháy hết. Tinh thần đốt
thân cúng Phật, thật là vĩ đại nhất. Sau
này, cũng có nhiều người thực hành, như đốt
ngón tay cúng Phật, như Lão Hòa Thượng Hư
Vân, từng đốt ngón tay cúng Phật.
Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến, theo
như pháp cúng dường rồi. Sau khi mạng chung,
lại sinh vào trong nước của đức Phật Nhật
Nguyệt Tịnh Minh Ðức, sinh ra trong nhà vua
Tịnh Ðức, ngồi kiết già, hốt nhiên hóa sinh,
bèn vì vua cha mà nói kệ rằng :
Vị Bồ Tát đó, sau khi làm xong chân pháp cúng
dường như thế rồi, khi mạng chung, bèn sinh
trở lại nước của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh
Ðức, sinh ra trong nhà vua Tịnh Ðức, ngồi
kiết già hốt nhiên hóa sinh ra một em bé,
gọi
ông vua Tịnh Ðức là cha, lập
tức vì vua Tịnh Ðức nói bài kệ:
Nay đại vương nên biết!
Con tu hành chốn kia
Lập tức được tam muội
Hiện tất cả sắc thân.
Siêng hành đại tinh tấn
Bỏ sự thương tiếc thân
Cúng dường đức Thế Tôn
Ðể cầu vô thượng trí.
Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến (tên đời
trước của Ngài, đời kế tiếp cũng là tên của
Ngài), nói với vua Tịnh Ðức rằng : ‘’Ðại
vương ! Ngài nên biết, con đã từng tu hành ở
chỗ Ðức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức,
chẳng khi nào giải đãi. Nghe Ðức Phật diễn
nói Kinh Pháp Hoa, con y theo đạo lý trong
kinh mà tu trì, cho nên lập tức chứng được
tam muội hiện tất cả sắc thân.
Con siêng năng tu hành pháp môn này, dũng mãnh
tinh tấn, thân tinh tấn, tâm tinh tấn. Xả bỏ
sự tiếc thương thân mạng, con thành tâm dùng
lửa tam muội thiêu đốt thân con, để cúng
dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức. Tại
sao phải làm như thế ? Vì muốn cầu vô thượng
đạo, tức cũng là trí huệ của Phật, đại viên
cảnh trí.’’
Nói bài kệ đó rồi, bèn bạch vua cha rằng :
Ðức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức, hiện nay
vẫn còn, trước hết con cúng dường đức Phật
rồi, đắc được Ðà la ni hiểu tất cả ngôn ngữ
của chúng sinh, lại nghe Kinh Pháp Hoa này,
gồm có tám trăm ngàn vạn ức Na do tha, chân
ca la, tần bà la, a môn bà, bài kệ.
Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến nói bài
kệ ở trên rồi, lại nói với vua Tịnh Ðức rằng
: ‘’Phụ vương ! Ðức Phật Nhật Nguyệt Tịnh
Minh Ðức hiện nay, vẫn còn ở trong thế giới
này. Trước hết, con cúng dường Ðức Phật đó,
bèn đắc được Ðà la ni hiểu tất cả ngôn ngữ
của chúng sinh. Tức cũng là pháp môn bất cứ
ngôn ngữ nào chẳng học mà tự hiểu, chẳng
thấy mà tự biết. Con còn nghe Kinh Pháp Hoa,
kinh đó gồm có tám ngàn vạn ức Na do tha (ức
số) bài kệ, lại có Chân ca la (số mục thứ
mười sáu), Tần bà la (số mục thứ mười tám),
A môn bà (số mục thứ mười hai, tức có khoảng
năm mươi hai thứ đại số mục) bài kệ.’’
Ðại vương ! Nay con sẽ trở lại cúng dường
đức Phật đó. Nói rồi bèn ngồi trên đài bảy
báu, thăng lên hư không cao bảy cây đa la,
đến chỗ đức Phật rồi, cúi đầu đảnh lễ, chắp
tay lại dùng kệ để khen ngợi đức Phật.
‘’Ðại vương ! Hiện nay con sẽ trở lại chỗ Ðức
Phật, để tiếp tục cúng dường vị Phật đó.’’
Nói xong rồi bèn ngồi lên đài làm bằng bảy
báu, từ từ thăng lên hư không, cao khoảng
bảy cây đa la (mỗi cây cao hơn 60 thước).
Hướng về chỗ Ðức Phật, sau khi đến nơi rồi,
lập tức năm thể sát đất đảnh lễ Phật, chắp
tay lại dùng kệ để khen ngợi Phật.
Dung nhan rất xinh đẹp
Quang minh chiếu mười phương
Trước con từng cúng dường
Nay trở lại gặp Phật.
Dung nhan của Phật rất xinh đẹp lạ thường, có
ba mươi hai tướng đại nhân, tám mươi vẻ đẹp.
Quang minh của Phật chiếu sáng khắp mười
phương thế giới. Ðời trước con đã từng cúng
dường Phật, hiện tại con lại đến gần gũi
Phật.
Bấy giờ, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ
Kiến nói kệ đó rồi, bèn bạch đức Phật rằng :
Ðức Thế Tôn ! Ðức Thế Tôn ! Ngài vẫn còn ở
đời ư !
Lúc đó, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến
nói bài kệ ở trên xong rồi, lại nói với Phật
Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức rằng : ‘’Ðức Thế
Tôn ! Ðức Thế Tôn ! Ngài vẫn còn ở đời ư ?
Kiếp trước con đã gặp Ngài, đời này lại gặp
Ngài nữa, con và Ðức Thế Tôn còn nhân
duyên.’’
Bấy giờ, đức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức
bảo Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến :
Thiện nam tử ! Giờ ta vào Niết Bàn đã đến,
giờ diệt tận đã đến, ông nên xếp đặt giường
tòa, trong đêm nay ta sẽ vào Niết Bàn.
Lúc đó, Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức bảo Bồ
Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến rằng :
‘’Thiện nam tử ! Giờ ta vào Niết Bàn đã đến,
giờ diệt tận đã đến ! Bây giờ ông có thể xếp
đặt giường tòa, chuẩn bị sẵn sàng, vào nửa
đêm nay, ta sẽ vào đại bát Niết Bàn.’’
Khi Phật ra đời thì đều vào ban ngày, biểu thị
ánh sáng mặt trời chiếu sáng thế giới. Khi
Phật vào Niết Bàn thì đều vào nửa đêm, biểu
thị thế giới sẽ phải đen tối. Chẳng phải nói
là, sau khi Phật vào Niết Bàn thì thế giới
sẽ đen tối, mà là nói vào thời mạt pháp, khi
Phật pháp diệt rồi, thì tâm con người bị vô
minh che đậy, chẳng có trí huệ quang minh.
Lại bảo Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ
Kiến rằng : Thiện nam tử ! Ta đem Phật pháp
phó chúc cho ông, và các Bồ Tát đại đệ tử,
cùng với pháp Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, cũng đem ba ngàn đại thiên thế giới
bảy báu, các cây báu, đài báu, và cung cấp
chư Thiên hầu hạ, thảy đều giao phó cho ông.
Sau khi ta diệt độ, hết thảy xá lợi cũng phó
chúc cho ông, nên truyền bá, rộng thiết lập
cúng dường, nên xây hàng ngàn ngôi tháp.
Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức dạy Bồ Tát
Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến như thế rồi,
vào khoảng cuối đêm bèn vào Niết Bàn.
Ðức Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức lại bảo Bồ
Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến rằng :
‘’Thiện nam tử ! Hết thảy Phật pháp của ta,
đều giao phó chúc cho ông và các vị Bồ Tát
đại đệ tử, cùng với pháp Vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Lại đem ba ngàn đại thiên
thế giới bằng bảy báu, lại có cây báu và đài
báu, lại có chư Thiên cung cấp hầu hạ, đều
hoàn toàn phó chúc cho ông. Ông phải hạnh
khổ, sau khi ta diệt độ, thiêu hóa được xá
lợi, cũng đều phó chúc cho ông, ông vì ta mà
xử lý hậu sự. Nên truyền bá Phật pháp, lưu
rộng xá lợi xây tháp cúng dường, nên xây
hàng ngàn bảo tháp làm nơi cúng dường xá
lợi.’’ Phật phó chúc rồi, vào khoảng cuối
đêm bèn vào Niết Bàn.
Bấy giờ, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ
Kiến thấy đức Phật diệt độ, thì rất buồn
rầu, thảm não luyến mộ đức Phật, bèn dùng gỗ
hải thử ngạn chiên đàn cúng dường thân Phật,
để hỏa thiêu thân của Ngài. Sau khi lửa tắt,
thu lấy xá lợi, phân chia ra tám vạn bốn
ngàn bình báu, xây tám vạn bốn ngàn bảo
tháp, cao ba thế giới, biểu sát trang
nghiêm, thòng rũ các phan lọng, và treo các
linh báu.
Lúc đó, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến
thấy Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức vào Niết
Bàn, thì rất buồn thảm áo não nghĩ rằng :
‘’Tại sao mình không giữ Phật ở lại đời ?
Nếu thỉnh Phật ở lại đời, thì Phật hứa sẽ
không vào Niết Bàn.’’ Ngài luyến mộ nhớ Ðức
Phật, không đành lìa khỏi Phật. Sau khi Phật
vào Niết Bàn, bèn dùng gỗ hải thử ngạn chiên
đàn, loại gỗ quý nhất để làm giàn thiêu hoá
di thể của Phật. Sau khi thiêu hóa xong di
thể của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức, thu
được rất nhiều xá lợi, phân ra đựng trong
tám vạn bốn ngàn bình báu, lại xây dựng tám
vạn bốn ngàn ngôi tháp báu, cúng dường xá
lợi ở trong bình báu. Tháp đó cao ba thế
giới. Ở trước bảo tháp có biểu sát rất trang
nghiêm, treo tất cả phan lọng và các linh
báu, vang ra âm thanh vi diệu xa gần đều
nghe.
Nói đến đây, tôi nhớ tới chuyện của Ngài Ấn
Quang đại sư, Ngài ngồi niệm Phật rồi thị
tịch tại núi Linh Nham ở Tô Châu, khi hỏa
thiêu thì dùng gỗ chiên đàn để thiêu di thể.
Lúc đó, người tham dự chẳng biết là bao
nhiêu. Từ trên núi xuống dưới chân núi
khoảng ba dặm, mà đầy dẫy mọi người đều đến
đưa đám. Sau khi thiêu xong thì lượm được
rất nhiều xá lợi năm màu.
Ngài Ấn Quang chẳng
những dụng công tu hành, mà còn tinh thông
kinh điển. Ngài tu ở trên núi Phổ Ðà mười
tám năm. Trong thời gian đó, Ngài chuyên tâm
duyệt đọc Ðại Tạng Kinh. Khi duyệt đọc thì
ngồi ngay thẳng, cung kính cầm quyển kinh.
Khi vào nhà cầu thời cởi y áo giày dép, thay
đổi áo khác giày khác để vào. Trở ra thì mặc
vào lại. Vì cung kính như thế, cho nên đã
khai ngộ. Sau khi khai ngộ thì chuyên môn
niệm ‘’Nam Mô A Di Ðà Phật,’’ sáu chữ hồng
danh.
Về sau thành lập
đạo tràng ở trên núi Linh Nham ở Tô Châu, đề
xướng pháp môn niệm Phật, pháp môn này rất
dễ tu trì. Ngài Ấn Quang về mặt học vấn và
đạo đức đều là thượng thừa, chẳng hổ là một
bậc
cao Tăng. Ðáng tiếc giọng nói
quá nặng (người ở Xiểm Tây Cáp Dương), một
số người chẳng hiểu lời của Ngài nói. Cho
nên, Ngài rất ít giảng kinh thuyết pháp.
Song, Ngài dùng văn tự để tuyên
dương Phật pháp. Do đó, có
câu :
‘’Lời nói khuyên người một thời,
Sách vở khuyên người trăm đời.’’
Do đó, lưu lại văn sao của Ngài Ấn Quang,
người sau được ích lợi không ít.
Một năm nọ, Ngài Ấn
Quang đến Nam Kinh giảng kinh, cũng có thể
người tin Phật rất ít, mấy ngày đầu còn có
người nghe kinh, về sau dần dần giảm bớt.
Cuối cùng chỉ còn một người ngồi ở đó nghe.
Ngài Ấn Quang từ pháp tòa nhìn xuống đạo
tràng rộng lớn, mà chỉ có một người nghe
kinh, tâm nghĩ, "một người nghe kinh cũng
phải giảng kinh".
Sau khi giảng xong,
rời khỏi pháp toà đến trước người đó bèn hỏi
: ‘’Cư sĩ ! Ông có hiểu tôi giảng kinh chăng
?‘’
- Người đó đáp : ‘’Tôi chẳng hiểu Ngài giảng
cái gì ?‘’
- Ngài Ấn Quang trả lời :‘’Nếu ông không hiểu,
sao lại đến nghe kinh ?‘’
- Người đó đáp :‘’Tôi là người quản lý ở đây,
đợi khi thầy giảng xong, thì tôi thu xếp bàn
ghế lại.’’
Từ đó, Ngài Ấn Quang phát nguyện, chẳng giảng
kinh ở Nam Kinh nữa.
Một năm nọ, Ngài Ấn Quang đến Thượng Hải giảng
Kinh A Di Ðà, có đăng tin tức trên báo,
khiến cho người có duyên đến nghe kinh gieo
trồng căn lành, tích tụ công đức. Lần pháp
hội đó, rất long trọng trang nghiêm, rất
nhiều người đến nghe kinh đều là tín đồ kiền
thành.
Ðương thời, có một
nữ cư sĩ (chẳng phải là Phật tử) ở trong
mộng thấy có người mặc áo giáp màu vàng, bảo
với cô ta rằng :‘’Con hãy đến Thượng Hải để
nghe Bồ Tát Ðại Thế Chí giảng Kinh A Di
Ðà.’’ Cô ta nhớ rất rõ ràng. Ngày thứ hai
sáng sớm xem báo, thì thấy tin tức họ cung
thỉnh Ngài Ấn Quang giảng Kinh A Di Ðà. Cô
ta vì tâm háo kỳ, mà đến chỗ đó để cầu kiến
Ngài Ấn Quang. Khi thấy Ngài Ấn Quang thì tự
động đảnh lễ, bèn nói với Ngài Ấn Quang rằng
:‘’Con chẳng phải là Phật giáo đồ, vì đêm
hôm qua con nằm mộng thấy, có người bảo con
đến chỗ này nghe Bồ Tát Ðại Thế Chí giảng
Kinh A Di Ðà. Xin hỏi Ngài ! Không chừng
Ngài là Bồ Tát Ðại Thế Chí.’’
- Lúc đó, Ngài Ấn
Quang dơ tay thị ý :‘’Việc này, con biết, ta
biết, đừng nói cho ai biết.’’ Vị nữ cư sĩ
đó, bèn quy y Tam Bảo, cuối cùng vẫn giữ tin
này bí mật, chẳng thố lộ với bất cứ ai. Ba
năm sau, khi Ngài Ấn Quang viên tịch trên
núi Linh Nham, thì vị cư sĩ này, mới tuyên
bố cảnh giới này ở trước công chúng. Lúc đó,
mọi người mới biết Ngài Ấn Quang là hóa thân
của Bồ Tát Ðại Thế Chí, Bồ Tát thừa nguyện
trở lại. Ðời sau, tôn xưng là Tổ Sư thứ mười
ba phái Liên Tông. Tuy nhiên, đệ tử quy y
với Ngài khắp thiên hạ, nhưng chẳng có đệ tử
truyền pháp. Tại sao ? Vì Ngài thệ nguyện
chẳng lập chùa, chẳng thu đệ tử xuất gia.
Bấy giờ, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ
Kiến lại tự nghĩ rằng : Tuy ta cúng dường
như thế, tâm vẫn cảm thấy chưa đủ. Nay ta
nên cúng dường xá lợi, bèn nói với các Bồ
Tát đại đệ tử, và trời rồng Dạ Xoa, hết thảy
tất cả đại chúng, các ông nên một lòng nghĩ
nhớ, nay ta cúng dường xá lợi của Phật Nhật
Nguyệt Tịnh Minh Ðức.
Lúc đó, vị Bồ Tát đó lại nghĩ rằng :‘’Tuy kiếp
trước ta đốt thân cúng dường Phật, mà tâm
vẫn cảm thấy chưa đủ chân thành. Hôm nay
phải cúng dường xá lợi của Phật.’’ Bèn nói
với các vị Bồ Tát đại đệ tử và trời rồng tám
bộ chúng rằng :‘’Các ông đại chúng nên một
lòng nghĩ nhớ, nay ta phải cúng dường xá lợi
của Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Ðức.’’
Nói lời đó rồi, bèn ở trước tám vạn bốn
ngàn bảo tháp, đốt cánh tay trăm phước trang
nghiêm, trải qua bảy vạn hai ngàn năm, dùng
để cúng dường, khiến cho vô số chúng cầu
Thanh Văn, vô lượng A tăng kỳ người phát tâm
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều khiến
cho trụ vào tam muội hiện tất cả sắc thân.
Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến nói xong
lời đó rồi, lập tức ở trước tám vạn bốn ngàn
bảo tháp, đốt cánh tay trăm phước trang
nghiêm của mình, trải qua bảy vạn hai ngàn
năm để cúng dường.
Có người hỏi : ‘’Kỳ
lạ ! Vị Bồ Tát đó, kiếp trước đốt thân cúng
dường trải qua một ngàn hai trăm năm. Tại
sao lần này đốt tay phải trải qua bảy vạn
hai ngàn năm ? Tôi chẳng hiểu đạo lý bên
trong, xin Thầy từ bi khai thị.’’
- Nói cho bạn biết
! Vị Bồ Tát đó, kiếp trước dùng sắc thân để
cúng Phật, lần này dùng hóa thân để cúng
Phật, muốn thiêu bao lâu cũng được, chẳng có
hạn chế thời gian, bạn hiểu chứ !
Tại sao vị Bồ Tát
đó lại đốt cánh tay, để cúng dường Phật xá
lợi ? Vì muốn cảm hóa những chúng sinh chẳng
có tâm chân thành, phát khởi tâm chân thành
để cúng dường Phật xá lợi, vì muốn khiến cho
vô lượng A tăng kỳ người phát tâm Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, do đó mà đốt cánh tay
để làm ảnh hưởng chúng sinh phát tâm bồ đề,
đều khiến cho chúng sinh trụ tại cảnh giới
tất cả sắc thân tam muội.
Bấy giờ, các vị Bồ Tát, trời, người, A tu
la thảy, đều thấy vị Bồ Tát đó chẳng còn
cánh tay, thì rất buồn rầu bi ai, bèn nói
rằng : Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến
này, là thầy của chúng ta, giáo hóa chúng
ta, mà nay đốt đi cánh tay, thân chẳng còn
đầy đủ.
Lúc đó, các vị đại Bồ Tát, hàng trời người và
A tu la, quỷ thần thảy, đều thấy vị Bồ Tát
đó chẳng còn hai cánh tay, thì mọi người đều
buồn rầu bi ai, khác miệng cùng lời nói
:‘’Vị Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến
là thầy của chúng ta, giáo hóa chúng ta,
khiến cho chúng ta hiểu Phật pháp, khiến cho
chúng ta tu trì Phật pháp, nhưng Ngài phát
nguyện đốt cánh tay cúng Phật, hiện nay thân
tướng chẳng còn đầy đủ.’’
Lúc đó, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ
Kiến ở trong đại chúng lập thệ nguyện rằng :
Ta xả bỏ cánh tay, tất sẽ được thân sắc vàng
của Phật, nếu thật không hư, thì khiến cho
cánh tay của ta hoàn lại như cũ, thệ nguyện
vừa xong, thì cánh tay tự nhiên hoàn lại.
Bởi do Bồ Tát đó phước đức trí huệ sâu dày,
nên được như thế.
Lúc đó, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến ở
trong đại chúng lập thệ nguyện rằng :‘’Ta
đốt cánh tay cúng Phật, thì tương lai nhất
định được thân sắc vàng tía của Phật. Nếu
như là chân thật không hư, thì khiến cho
cánh tay của tôi đót, lập tức khôi phục lại
như cũ. Phát nguyện như thế rồi, thì tự
nhiên sinh ra cánh tay mới như ban đầu,
chẳng có gì khác biệt. Ðó là nhờ duyên gì ?
Vì Bồ Tát đó có phước đức lớn, trí huệ lớn
sâu dày, lại thành thật, cho nên mới có cảnh
giới cảm ứng không thể nghĩ bàn như thế.’’
Bấy giờ, ba ngàn đại thiên thế giới sáu thứ
chấn động, trời mưa xuống hoa báu, tất cả
trời người được chưa từng có.
Lúc đó, ba ngàn đại thiên thế giới đều có sáu
thứ chấn động. Trời mưa hoa báu xuống, tất
cả trời người đều cho là việc ít có, từ khi
sinh ra chưa từng gặp qua cảnh giới này.
Ðức Phật bảo Bồ Tát Tú
Vương Hoa : Ý của ông thế nào
? Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến đâu
phải là ai xa lạ, nay là Bồ Tát Dược Vương
này vậy, vị đó xả thân bố thí như thế, vô
lượng trăm ngàn vạn ức Na do tha số lần.
Ðức Phật bảo Bồ Tát Tú
Vương Hoa rằng :‘’Ông cảm
thấy khổ hạnh đó như thế nào ? Ông có biết
vị Bồ Tát đó là ai chăng ? Là Bồ Tát Dược
Vương này vậy. Vị Bồ Tát đó xả thân cho
Phật, bố thí cho chúng sinh, nhiều vô lượng
trăm ngàn vạn ức Na do tha, số lượng này
không thể nói hết được, bất quá, nay ta chỉ
nói vị đó đốt thân và đốt cánh tay cúng
dường Phật mà thôi.’’
Tú
Vương Hoa ! Nếu có người phát
tâm muốn được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, mà có thể đốt một ngón tay, cho đến
một ngón chân, cúng dường tháp Phật, còn hơn
là người dùng đất nước vợ con, và ba ngàn
đại thiên thế giới, núi rừng sông ngòi, các
châu báu, mà cúng dường.
Ðức Phật lại gọi một tiếng :‘’Tú
Vương Hoa ! Nếu như có chúng
sinh, phát tâm muốn được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, hoặc phát tâm đốt một ngón
tay, hoặc phát tâm đốt một ngón chân, để
cúng dường Phật, để cúng dường tháp của
Phật, thì công đức cúng dường đó, hơn là
công đức của người đem đất nước vợ con ra bố
thí, cũng hơn công đức dùng ba ngàn đại
thiên thế giới, núi rừng sông ngòi, và các
châu báu vật quý đem cúng dường Phật.’’
Hoặc lại có người, dùng bảy báu đầy ba ngàn
đại thiên thế giới, để cúng dường Phật và
đại Bồ Tát, Bích Chi Phật, A
La Hán, công đức của người đó
đắc được, chẳng bằng thọ trì Kinh Pháp Hoa
này, cho đến một bài kệ bốn câu, thì phước
này thắng hơn phước kia.
Ðức Phật lại nói :‘’Nếu như có người dùng bảy
báu đầy dẫy ba ngàn đại thiên thế giới, để
cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, chư Bích
Chi Phật, các vị A
La Hán, công đức cúng dường
bốn bậc Thánh như thế, chẳng bằng thọ trì
một bài kệ bốn câu trong Kinh Pháp Hoa, công
đức được thù thắng hơn. Tóm lại, bất cứ cúng
dường bốn bậc Thánh như thế nào, cũng chẳng
bằng công đức thọ trì Kinh Pháp Hoa, đọc
tụng Kinh Pháp Hoa.’’
Tú
Vương Hoa ! Ví như nước trong
sông ngòi, kinh rạch, thì biển là bậc nhất.
Kinh Pháp Hoa này cũng lại như thế, ở trong
các kinh của Như Lai nói, là sâu rộng lớn
nhất.
Phật lại nói :‘’Bồ Tát Tú
Vương Hoa ! Ví như nước ở
trong tất cả sông ngòi, kinh rạch, thì biển
cả là bậc nhất. Bộ kinh này cũng như thế,
trong các kinh điển mười phương chư Phật
nói, thì thâm diệu rộng lớn bậc nhất.’’
Lại như : Núi đất, núi đen, núi Thiết Vi
nhỏ, núi Thiết Vi lớn, và núi mười báu, ở
trong các núi, thì núi Tu Di là bậc nhất.
Kinh Pháp Hoa này cũng lại như thế, ở trong
các kinh là trên hết.
Lại như : Núi đất, núi đen, núi Thiết Vi nhỏ,
núi Thiết Vi lớn, và núi mười báu, ở trong
các núi, thì núi Tu Di là bậc nhất. Bộ Kinh
Pháp Hoa này cũng lại như thế, ở trong tất
cả kinh điển, là trên hơn hết, chẳng có bộ
kinh nào cao hơn. Bộ kinh này là kinh thành
Phật, chỉ cần y pháp tu hành, thì có hy vọng
thành Phật.
Lại như ở trong các ngôi sao, thì mặt trăng
là bậc nhất. Kinh Pháp Hoa này cũng lại như
thế, ở trong ngàn vạn ức các kinh pháp, thì
kinh này chiếu sáng nhất.
Lại giống như ở trong các ngôi sao, thì mặt
trăng chiếu sáng nhất. Bộ Kinh Pháp Hoa này
cũng lại như thế, ở trong ngàn vạn ức các
kinh điển, thì kinh này chiếu sáng nhất.
Lại như mặt trời chiếu phá mọi sự tối tăm,
kinh này cũng lại như thế, hay phá trừ tất
cả sự tối tăm bất thiện.
Lại giống như mặt trời hay phá trừ tất cả đen
tối, Kinh Pháp Hoa cũng như thế, hay phá trừ
tất cả sự đen tối bất thiện. Tóm lại, thọ
trì Kinh Pháp Hoa sẽ đắc được đại trí huệ,
quang minh này hay phá trừ đen tối vô minh.
Lại như trong các ông vua, thì vua chuyển
luân thánh vương là bậc nhất. Kinh này cũng
lại như thế, ở trong các kinh là tôn quý hơn
hết.
Lại giống như trong các ông vua, thì địa vị
của vua chuyển luân thánh vương là bậc nhất,
chẳng ai có thể sánh. Kinh Pháp Hoa cũng lại
như thế, ở trong các kinh điển là tôn quý
hơn hết.
Lại như trời Ðế Thích, là vua cõi trời Ba
Mươi Ba. Kinh này cũng lại như thế, là vua
trong các kinh.
Giống như trời Ðế Thích, là vua cõi trời Ba
Mươi Ba, quản hạt ba mươi hai cõi trời, Kinh
Pháp Hoa cũng như thế, là vua ở trong tất cả
kinh điển.
Lại như vua Ðại Phạm Thiên, là cha của tất
cả chúng sinh. Kinh này cũng lại như thế, là
cha của tất cả các bậc hiền Thánh học vô
học, và những người phát tâm Bồ Tát.
Lại như vua Ðại Phạm Thiên, là cha của tất cả
chúng sinh. Vì sao xưng là cha của tất cả
chúng sinh ? Vì thế giới có thành trụ hoại
không bốn trung kiếp (mỗi trung kiếp có hai
mươi tiểu kiếp). Ðến thời kỳ kiếp không, thì
Thiên chúng của cõi Sơ thiền, tự nhiên tỵ
nạn đến cõi trời Nhị thiền. Ðến thời kỳ kiếp
thành lập, thì Thiên chúng tỵ nạn ở cõi Nhị
thiền lại trở về cõi trời Sơ thiền. Người
đầu tiên trở lại là vua Ðại Phạm Thiên. Vì
người sau này càng ngày càng đến nhiều, cho
nên vua Ðại Phạm Thiên đối với đại chúng
tuyên bố :‘’Ta là cha của các ngươi, các
ngươi phải tôn kính ta, phải nghe lời ta,
không thể làm trái ngược ý chỉ của ta.’’
Bà la môn ở Ấn Ðộ
cho rằng : Tổ tiên của họ là từ miệng trời
Phạm Thiên sinh ra, cho nên có thần Thánh ưu
việt không thể xâm phạm, đáng hưởng thọ đặc
quyền, cho đó là việc thiên kinh địa nghĩa.
Do đó, ở Ấn Ðộ tạo ra hiện tượng giai cấp
chẳng bình đẳng, đến nay vẫn còn như thế,
khiến cho kẻ nô lệ vĩnh viễn không được đối
đãi bình đẳng.
Kinh Pháp Hoa cũng lại như thế, là cha của tất
cả bậc hiền Thánh, bậc hữu học (sơ, nhị, tam
quả A
La Hán), bậc vô học (tứ quả A
La Hán), và những người phát
tâm Bồ Tát tu đạo Bồ Tát.
Lại như, trong tất cả những người phàm phu,
Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A
La Hán, thì Bích Chi Phật là
bậc nhất. Kinh này cũng lại như thế, ở trong
các kinh của Phật nói, hoặc Bồ Tát nói, hoặc
Thanh Văn nói, thì kinh này là bậc nhất.
Lại giống như ở trong tất cả phàm phu, Tu Ðà
Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A
La Hán, thì Bích Chi Phật là
bậc nhất. Kinh Pháp Hoa cũng như thế. Ở
trong tất cả kinh pháp của chư Phật nói,
hoặc kinh điển của Bồ Tát nói, hoặc kinh
điển của hàng Thanh Văn nói, thì kinh này là
bậc nhất.
Có người hay thọ trì kinh này cũng lại như
thế, ở trong tất cả chúng sinh cũng là bậc
nhất.
Nếu như có người hay thọ trì Kinh Pháp Hoa
cũng như thế, ở trong tất cả chúng sinh là
bậc nhất. Bộ kinh này là pháp môn ai ai cũng
có thể tu, ai kiền thành tu trì, thì người
đó là bậc nhất. Tu hành phải cước đạp thật
địa, cung hành thực tiễn, không nên cứ tìm
tiện nghi, phải thấu rõ việc thiên hạ, không
thể nào không làm mà có thu hoạch. Người xưa
nói :
‘’Trồng trọt một phần,
Thì thu hoạch một phần.’’
Dụng công một ngày, thì tiếp cận gần cảnh giới
của Phật một dặm đường.
Ở trong tất cả hàng Thanh Văn, Bích Chi
Phật, thì Bồ Tát là bậc nhất. Kinh này cũng
lại như thế, là bậc nhất ở trong tất cả kinh
pháp.
Ở trong tất cả hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật,
thì Bồ Tát là bậc nhất. Kinh Pháp Hoa cũng
lại như thế, ở trong tất cả các kinh pháp,
thì kinh này là bậc nhất, cho nên gọi là vua
trong các kinh.
Như Phật là vua của các pháp, kinh này cũng
lại như thế, là vua trong các kinh.
Lại giống như Phật là vua của tất cả các pháp,
Kinh Pháp Hoa là vua của tất cả các kinh.
Ðức Phật cử ra những ví dụ đó, để nói rõ
tính quan trọng của Kinh Pháp Hoa, khiến cho
người thọ trì Kinh Pháp Hoa, biết được công
đức rộng lớn của Kinh Pháp Hoa, chẳng gì
sánh bằng.
Tú
Vương Hoa ! Kinh này hay cứu
hộ tất cả chúng sinh, kinh này hay khiến cho
tất cả chúng sinh lìa các khổ não, kinh này
làm lợi ích rất lớn cho tất cả chúng sinh,
khiến cho họ đều được mãn nguyện.
Phật lại gọi một tiếng : ‘’Bồ Tát Tú
Vương Hoa ! Bộ Kinh Pháp Hoa
này dụng đồ rất rộng lớn, hay cứu độ tất cả
chúng sinh lìa khỏi phiền não, hay khiến cho
tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, lại hay
lợi ích cho tất cả chúng sinh được mãn
nguyện. Tóm lại, phàm là người thọ trì Kinh
Pháp Hoa, bất cứ cầu gì cũng được mãn
nguyện.’’ Song, phải chánh nguyện chứ chẳng
phải tà nguyện, điểm này phải rõ ràng. Dưới
đây sẽ cử ra mười hai điều lợi ích.
Như hồ nước mát mẻ, hay khiến cho tất cả
những người khát khao được hết khát, như
người lạnh được lửa, như người trần truồng
được quần áo, như người buôn bán gặp chủ,
như con gặp mẹ, như người qua sông gặp
thuyền, như người bệnh gặp được thuốc, như
tối gặp được đèn, như người nghèo gặp của
báu, như dân gặp được vua, như khách buôn
gặp được biển, như đuốc sáng trừ tối tăm.
Công dụng của Kinh Pháp Hoa giống như hồ nước
trong sạch mát mẻ, hay khiến cho người khát
giải trừ sự khát uy hiếp. Giống như người
lạnh lẽo gặp được lửa để sưởi ấm. Giống như
người trần truồng gặp được quần áo. Trước
khi chưa thọ trì Kinh Pháp Hoa, thì như là
trần truồng; sau khi kiền thành thọ trì kinh
này, thì đồng như được quần áo. Giống như
người buôn bán làm ăn gặp chủ nhân, giống
như đứa con mất mẹ đã lâu, bây giờ gặp được
mẹ thì vui mừng không thể tả được, tức cũng
là gặp được pháp thân người mẹ. Giống như
muốn đi qua sông mà gặp được thuyền. Kinh
Pháp Hoa là thuyền pháp lớn, đưa chúng sinh
qua biển sinh tử, giống như người bệnh tật
gặp thầy thuốc, thuốc vào thì hết bệnh.
Chúng ta là người mắc bệnh ba độc, Kinh Pháp
Hoa là thầy thuốc giỏi, hay cứu bệnh khổ
phiền não của chúng ta.
Kinh Pháp Hoa giống
như chỗ tối tăm có đèn chiếu sáng, chiếu phá
vô minh ở trong tâm, khiến cho trí huệ quang
minh hiện tiền. Giống như người nghèo được
bảy báu vô giá; giống như dân gặp được ông
vua anh minh nhân từ, giống như khách buôn
được châu báu ở trong biển, giống như đuốc
lớn hay phá trừ tất cả đen tối.
Kinh Pháp Hoa cũng lại như thế, hay khiến
cho chúng sinh lìa tất cả sự khổ, tất cả
bệnh khổ, giải thoát tất cả sự trói buộc
sinh tử.
Bộ Kinh Pháp Hoa này, có mười hai thứ diệu
dụng này, hay khiến cho tất cả chúng sinh
lìa khỏi tất cả sự khổ não, và tất cả mọi
bệnh tật, lại hay giải trừ tất cả sự trói
buộc sinh tử của chúng sinh, khiến cho được
tự tại.
Nếu người nào được nghe Kinh Pháp Hoa này,
hoặc tự biên chép, hoặc khiến cho người biên
chép, thì công đức đắc được, dùng trí huệ
của Phật suy lường, cũng chẳng biết được bờ
mé là bao nhiêu.
Nếu như người có căn lành được nghe Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa rồi, mà phát tâm biên
chép kinh này, hoặc là tự mình biên chép,
hoặc nhờ người khác biên chép, thì công đức
đắc được đều đồng nhau. Công đức này dù dùng
trí huệ của Phật để suy lường là bao nhiêu,
cũng chẳng cách chi biết được bờ mé của công
đức.
Nếu biên chép quyển kinh này, mà dùng hương
hoa, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương
xoa, phan lọng, y phục, các thứ đèn, đèn tô,
đèn dầu, các đèn dầu thơm, đèn dầu thiềm
bặc, đèn dầu tu mạn na, đèn dầu ba la la,
đèn dầu bà lợi sư ca, đèn dầu ba ma lợi, để
cúng dường, thì công đức đắc được cũng vô
lượng.
Nếu như có người khi biên chép bộ kinh điển
này, mà dùng đủ thứ hoa tươi, hương quý,
chuỗi ngọc, để cúng dường kinh này, hoặc
dùng các thứ hương đốt, hương bột, hương
xoa, để cúng dường kinh này, hoặc dùng các
thứ phan báu, hoa báu, y phục báu, để cúng
dường kinh này. Hoặc dùng các thứ đèn để
cúng dường, nào là đèn dầu tô, đèn dầu, đèn
dầu thơm, đèn dầu thiềm bặc, đèn dầu tu mạn
na, đèn dầu ba la la, đèn dầu bà lợi sư ca,
đèn dầu na bà ma lợi, công đức đắc được cũng
vô lượng vô biên, không thể biết được.
Tú
Vương Hoa ! Nếu có người nghe
được Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương này,
thì cũng đắc được vô lượng vô biên công đức.
Ðức Phật gọi một tiếng :‘’Bồ Tát Tú
Vương Hoa ! Nếu người có căn
lành, dù chỉ nghe được Phẩm Bổn Sự của Bồ
Tát Dược Vương, thì cũng đắc được vô lượng
vô biên công đức.’’
Nếu có người nữ, nghe được phẩm bổn sự của
Bồ Tát Dược Vương, mà hay thọ trì, thì khi
hết thân nữ này, về sau chẳng thọ lại nữa.
Nếu có người nữ, nghe được Phẩm Bổn Sự của Bồ
Tát Dược Vương, mà hay thọ trì phẩm này, thì
đời vị lai chẳng làm thân người nữ. Song,
nếu thích làm thân nữ thì chẳng có gì để
nói.
Nếu sau khi Như Lai diệt độ, trong năm trăm
năm sau, nếu có người nữ nghe được kinh này,
theo như trong kinh nói mà tu hành, thì sau
khi mạng chung, sẽ được vãng sinh về thế
giới An Lạc, cõi của đức Phật A Di Ðà, được
chúng đại Bồ Tát vây quanh chỗ ở.
Sau khi Phật vào Niết Bàn, trong năm trăm năm
sau, nếu có người nữ nghe được Kinh Pháp
Hoa, mà phát tâm y theo đạo lý trong kinh
nói để tu hành, tức là tu nhẫn nhục, từ bi,
pháp không, ba pháp môn. Sau khi mạng chung,
thì sẽ vãng sinh về thế giới An Lạc, tức
cũng là thế giới Cực Lạc, được gặp Phật A Di
Ðà, ‘’hoa nở thấy Phật‘’ có Thanh Tịnh Ðại
Hải Chúng Bồ Tát vây quanh chỗ ở.
Sinh trên đài báu trong hoa sen, chẳng bị
tham dục làm phiền não, cũng chẳng bị sân
hận ngu si làm phiền não, cũng chẳng bị sự
kiêu mạn, đố kỵ, các cấu, làm phiền não,
được thần thông của Bồ Tát, và vô sinh pháp
nhẫn.
Người hóa sinh trên đài báu trong hoa sen,
chẳng còn bị tham dục làm phiền não, chẳng
còn bị sân hận ngu si làm phiền não, chẳng
còn bị ngu si làm phiền não. Giải trừ ba độc
thanh tịnh, tức là thân tâm khinh an. Ba độc
này có mối quan hệ với nhau. Sinh tâm tham
dục mà chẳng đắc được, thì bèn khởi nóng
giận. Khi nóng giận thì sẽ mất đi lý trí,
tức là ngu si. Trí huệ chẳng hiện tiền thì
chẳng rõ thị phi, chẳng biết thiện ác. Vô
minh hiện tiền thì làm việc điên đảo, tạo
thành nghiệp thân khẩu ý chẳng thanh tịnh.
Phạm mười điều ác rồi, thì vĩnh viễn đọa vào
ba đường ác trong luân hồi, chẳng có kỳ hạn
thoát khỏi.
Khống chế tham sân
si như thế nào ? Thì phải siêng tu giới định
huệ, hay giữ giới luật thì chẳng có tâm
tham, hay giữ định lực thì chẳng có tâm sân,
hay học trí huệ thì chẳng ngu si. Ví như một
bồn nước đục (vô minh) muốn cho nó thanh
tịnh lắng trong, thì cho vào một chút phèn
trắng (giới pháp), đừng quấy động (định
lực), từ từ sẽ lắng xuống và hiện ra thanh
tịnh (trí huệ), hay phản chiếu vạn vật.
Nếu minh bạch nghĩa
lý Kinh Pháp Hoa, thì cũng chẳng bị kiêu
mạn, đố kỵ, các cấu bẩn gây phiền não. Nếu
người nào có hai thứ tâm lý biến thái này,
thì vĩnh viễn chẳng thể khai ngộ, chẳng thể
được trí huệ. Tu đạo trước hết phải đừng có
tâm cống cao ngã mạn, chẳng có tâm đố kỵ
chướng ngại, học tinh thần từ bi hỷ xả của
Bồ Tát.
Trong tâm chẳng có
dơ bẩn, thì sẽ đắc được thần thông của Bồ
Tát và vô sinh pháp nhẫn. Vô sinh pháp nhẫn
là gì ? Nói đơn giản là chẳng thấy có chút
pháp sinh, chẳng thấy có chút pháp diệt,
nhẫn ở nơi tâm.
Nhẫn tức là nhẫn
nại, đối diện với cảnh nghịch mà chẳng sinh
tâm sân hận. An trụ trên lý pháp mà chẳng
động tâm. An trụ tâm vào chân như thật
tướng, thì cảm thấy chẳng có tơ hào tình
niệm của phàm phu, có thể xả bỏ, cũng chẳng
có kiến giải của Thánh nhân, có thể thủ lấy.
Lúc đó, cảm thấy mười pháp giới chẳng có
chút pháp sinh, cũng chẳng có chút pháp
diệt, chẳng có sinh diệt, song trên pháp lý
đều là như như bất động. Vì như như bất
động, cho nên chẳng có sinh diệt, từ đó thấy
tất cả các pháp đều chẳng có sinh diệt. Thật
sự thấy được chân như thật tướng, mới đắc
được sự nhẫn đó, mà vĩnh viễn chẳng bị cảnh
bên ngoài làm mê hoặc, giao động tâm.
Tóm lại, buông bỏ
được tất cả, chẳng có chấp trước tức là vô
sinh pháp nhẫn. Chứng được vô sinh pháp
nhẫn, tức là pháp thân Bồ Tát. Phàm là người
thượng phẩm thượng sinh về thế giới Cực Lạc,
một khi đến Tịnh Ðộ thì lập tức hoa nở thấy
Phật, lập tức được vô sinh pháp nhẫn, có đại
trí huệ, có đại thần thông, trợ giúp Phật
giáo hóa chúng sinh, khiến cho sớm được lìa
khổ được vui, sinh về Tịnh Ðộ.
Ðắc được nhẫn đó rồi, thì căn mắt thanh
tịnh, nhờ căn mắt thanh tịnh, nên thấy được
bảy trăm vạn hai ngàn ức Na do tha, Hằng hà
sa các đức Phật Như Lai.
Ðắc được vô sinh pháp nhẫn rồi, thì căn mắt
thanh tịnh, tức cũng là đắc được pháp nhẫn.
Dùng pháp nhãn thanh tịnh, có thể thấy được
bảy trăm vạn hai ngàn ức Na do tha, Hằng hà
sa các Ðức Phật.
Lúc đó, các đức Phật cùng nhau khen ngợi
nói : Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử !
Ông ở trong pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni,
hay thọ trì đọc tụng suy gẫm kinh này, vì
người khác nói, phước đức đắc được vô lượng
vô biên, lửa không thể thiêu đặng, nước
không thể ngập chết đặng, công đức của ông
ngàn đức Phật cùng nói, cũng không hết được.
Lúc đó, chư Phật nhiều như số cát sông Hằng ở
trong mười phương cõi nước, đều cùng nhau
khen rằng :‘’Lành thay ! Lành thay ! Thiện
nam tử ! Ông ở trong pháp của Phật Thích Ca
Mâu Ni, hay thọ trì kinh này, đọc tụng kinh
này, tư duy kinh này. Lại vì người khác giải
nói kinh này, công đức đắc được vô lượng vô
biên. Lửa lớn không thể thiêu đặng, nước lớn
không thể ngập chết. Công đức của ông dù
ngàn vị Phật cùng nhau nói, cũng nói không
hết được.’’
Ông nay đã phá được các ma tặc, dẹp tan
quân sinh tử, các oán địch khác cũng đều
tiêu diệt.
Hiện tại ông đã phá trừ được tất cả ma tặc. Ma
hay chướng ngại chánh đạo, hay hại huệ mạng,
tặc là sáu tên tặc, tức là sáu căn cướp đi
pháp tài. Lại phá hoại được quân sinh tử,
chẳng còn thọ khổ trong luân hồi, còn các
oán địch khác thì thảy đều tiêu diệt, chẳng
còn đến nhiễu hại nữa.
Thiện nam tử ! Trăm ngàn các đức Phật dùng
sức thần thông cùng bảo hộ ông. Ở trong tất
cả thế gian trời người chẳng có ai bằng ông,
ngoài Như Lai ra, các hàng Thanh Văn, Bích
Chi Phật, cho đến Bồ Tát, trí huệ thiền
định, cũng chẳng có ai bằng ông.
‘’Thiện nam tử ! Trăm ngàn các Ðức Phật, cùng
dùng sức đại thần thông, cùng bảo hộ ông. Ở
trong tất cả thế gian trời người chẳng có ai
cao hơn ông. Trừ Như Lai ra, dù tất cả Thanh
Văn, Bích Chi Phật, cho đến trí huệ và thần
thông của Bồ Tát, cũng chẳng bằng ông
được.’’ Tóm lại, địa vị của Bồ Tát đó đã gần
bậc Diệu Giác.
Tú
Vương Hoa ! Bồ Tát đó thành
tựu sức công đức trí huệ như thế.
Phật lại gọi một tiếng :‘’Tú
Vương Hoa Bồ Tát ! Vị Bồ Tát
nghe kinh tu trì đó, vãng sinh Tịnh Ðộ thành
tựu sức công đức trí huệ như thế.’’ Do đó,
có thể biết, thọ trì, đọc tụng, giải nói,
biên chép bộ Kinh Pháp Hoa này, thì có cảnh
giới không thể nghĩ bàn.
Nếu có người nghe Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát
Dược Vương, mà tùy hỷ khen ngợi, thì người
đó, hiện đời trong miệng thường tỏa ra hương
thơm hoa sen xanh, lỗ lông nơi thân thường
tỏa ra hương thơm ngưu đầu chiên đàn, công
đức đắc được như trên đã nói.
Nếu có người nghe Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược
Vương, mà tùy hỷ tán thán :‘’Lành thay !’’
Thì người đó hiện đời trong miệng thường tỏa
ra hương thơm hoa sen xanh, lỗ lông nơi thân
thường tỏa ra hương thơm ngưu đầu chiên đàn,
công đức đắc được như trên đã nói.
Bởi thế, Tú
Vương Hoa ! Ta đem Phẩm Bổn
Sự của Bồ Tát Dược Vương này, phó chúc cho
ông. Sau khi ta diệt độ, trong năm trăm năm
sau, hãy rộng truyền bá khắp cõi Diêm Phù
Ðề, đừng khiến cho đoạn tuyệt, đừng để ác
ma, dân ma, chư Thiên, rồng, Dạ Xoa, Cưu Bàn
Trà, hết thảy được phương tiện đó.
Phật nói :‘’Bởi vì thế, Tú
Vương Hoa Bồ Tát ! Ta đem
phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương này, phó
chúc cho ông. Sau khi ta diệt độ, trong năm
trăm năm sau, ông phải truyền bá phẩm này,
lưu truyền ở cõi Diêm Phù Ðề, đừng khiến cho
đoạn tuyệt thất truyền, đừng khiến cho con
ma, cháu ma, thần ma, dân ma, trời, rồng,
tám bộ chùng, thảy được phương tiện đó.’’
Tú
Vương Hoa ! Ông nên dùng sức
thần thông giữ gìn kinh này. Vì sao ? Vì
kinh này là thuốc hay cho những người bệnh ở
cõi Diêm Phù Ðề. Nếu người có bệnh mà được
nghe kinh này, thì bệnh liền tiêu diệt,
chẳng già, chẳng chết.
Phật lại gọi một tiếng :‘’Bồ Tát Tú
Vương Hoa ! Ông nên dùng sức
thần thông để giữ gìn bộ kinh này. Vì sao ?
Vì bộ kinh này là thuốc hay, trị được bệnh
của con người ở cõi Diêm Phù Ðề. Người có
bệnh si ái, thì kinh này trị được bệnh si
ái. Nếu như có người mắc bệnh mà nghe được
Kinh Pháp Hoa, thì liền tiêu trừ bệnh hoạn,
thậm chí không già không chết.’’
Tú
Vương Hoa ! Nếu ông thấy có
người thọ trì kinh này, thì nên dùng hoa sen
xanh, và đựng đầy hương bột cúng dường rải
lên trên người đó. Rải lên rồi, bèn nghĩ
rằng : Người này chẳng bao lâu sẽ lấy cỏ
ngồi ở Ðạo tràng, phá các quân ma, thổi pháp
loa, đánh trống pháp, độ thoát tất cả chúng
sinh, lìa khỏi biển sanh già bệnh chết. Bởi
thế, người cầu Phật đạo, thấy người thọ trì
kinh điển này, thì nên sinh tâm cung kính
như thế.
Phật lại gọi một tiếng :‘’Bồ Tát Tú
Vương Hoa ! Nếu ông thấy có
người thọ trì kinh này, thì nên dùng hoa sen
xanh và đựng đầy hương bột cúng dường rải
lên trên họ. Rải rồi thì nghĩ rằng : ‘’Người
này chẳng bao lâu nữa sẽ lấy cỏ làm tòa,
ngồi dưới cội bồ đề phá các quân ma, hàng
phục ma nữ, thành Chánh Giác, thổi đại pháp
loa, đánh trống pháp lớn, vì tất cả chúng
sinh mà thuyết pháp, độ thoát tất cả chúng
sinh, lìa khỏi biển khổ sanh già bệnh chết.
Bởi thế phàm là người cầu Phật đạo, thấy
người thọ trì kinh này, thì nên sinh tâm
cung kính như thế.
Khi đức Phật nói Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát
Dược Vương, thì có tám vạn bốn ngàn vị Bồ
Tát, đắc được Ðà la ni tất cả ngôn ngữ của
chúng sinh.
Khi Ðức Phật nói Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược
Vương, thì có tám vạn bốn ngàn vị Bồ Tát,
đắc được Ðà la ni tất cả ngôn ngữ của chúng
sinh.
Ðức Ða Bảo Như Lai ở trong bảo tháp khen Bồ
Tát Tú
Vương Hoa rằng : Lành thay !
Lành thay ! Tú
Vương Hoa ! Ông thành tựu
công đức không thể nghĩ bàn, mới có thể hỏi
đức Thích Ca Mâu Ni việc như thế, lợi ích vô
lượng tất cả chúng sinh.
Ðức Ða Bảo Như Lai ở trong bảo tháp, cũng khen
ngợi Bồ Tát Tú
Vương Hoa rằng :‘’Lành thay !
Lành thay ! Tú
Vương Hoa ! Ông thành tựu
công đức không thể nghĩ bàn, mới có thể hỏi
Phật Thích Ca Mâu Ni, về việc khổ hạnh khó
hành của Bồ Tát Dược Vương đốt thân, đốt
cánh tay, hay lợi ích vô lượng tất cả chúng
sinh.’’
Hết tập 4
Hồi hướng công đức
Trong các sự bố
thí, thì bố thí pháp là cao thượng nhất. Vì
ấn tống kinh điển bố thí cho mọi người đọc,
khiến cho họ hiểu rõ những lời đức Phật dạy,
phát tâm tu học, thực hành hạnh Bồ Tát, tự
lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác ta,
tích tụ căn lành công đức, hồi hướng về quả
Vô thượng bồ đề, cuối cùng sẽ chứng ngộ quả
vị Phật. Nhờ giáo lý Pháp bảo mà chúng ta
tin, hiểu, thực hành, và chứng ngộ.
Xin hồi hướng công đức pháp thí cao thượng
nầy, đến các bậc Thầy Tổ, và toàn thể tất cả
Phật tử đã phát tâm hùn phước ấn tống, hữu
danh hoặc vô danh, và thân bằng quyến thuộc
của tất cả quý vị còn sống hoặc đã quá vãng,
cùng pháp giới chúng sinh, thảy đều được lợi
lạc, căn lành tăng trưởng, tâm bồ đề kiên
cố, luôn luôn an trụ ở trong chánh pháp, tu
hành chánh pháp, rốt ráo được thoát khỏi
sinh tử luân hồi, đến được bờ giác ngộ bên
kia.
Nam Mô Hộ Pháp Vi Ðà
Tôn Thiên Bồ Tát
Kệ hồi hướng công đức
Nguyện đem công đức
nầy
Trang Nghiêm cõi Phật tịnh
Trên đền bốn ân nặng
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có ai thấy nghe
Liền phát tâm bồ đề
Khi bỏ báo thân nầy
Sinh về cõi Cực Lạc.