KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 04
Quyển 06
Phẩm Bồ Tát Thường Bất Khinh
thứ hai mươi
Sao lại gọi là
‘’Thường Bất Khinh‘’? Kỳ thật ‘’Thường Bất
Khinh‘’ là tên của một vị Bồ Tát, có phải là
danh từ thông dụng của Bồ Tát ? Chẳng phải.
Chỉ bất quá là một biệt danh, tức là một
ngoại hiệu. Vì vị Bồ Tát này, một khi thấy
người thì cúi đầu đảnh lễ. Do đó, có những
vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni gán cho Ngài một cái
tên gọi là ‘’Thường Bất Khinh.’’ Ðó là trong
đời quá khứ của Ðức Phật Thích Ca khi hành
đạo Bồ Tát, gặp người thì năm thể sát đất
đảnh lễ họ, song một số Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni
dùng ‘’Thường Bất Khinh‘’ để gọi Ngài, chứ
chẳng phải là danh hiệu vốn có của Bồ Tát
đó. Vì khi Ðức Phật hành Bồ Tát đạo, thì
thấy người bèn nói : ‘’Tôi không dám khinh
các vị, vì các vị đều sẽ thành Phật.’’ cho
nên được tên là ‘’Thường Bất Khinh,‘’ thường
chẳng khinh khi người khác vậy.
‘’Thường Bất
Khinh‘’ lại có thể phân làm bốn thứ giải nói
:
1). Bao hàm ý niệm chẳng khinh mạn.
2). Tự đầy đủ trí huệ chẳng khinh địch.
3). Ngoài thân hành hạnh môn cung kính tất cả.
4). Ðối với tất cả cảnh giới đều tất cung tất
kính, chẳng có tâm phóng dật, cho nên nói :
‘’Tất cả là khảo nghiệm,
Xem thử bạn thế nào,
Trước mắt mà chẳng ngộ,
Phải luyện lại từ đầu.’’
Vì Bồ Tát Thường Bất Khinh nhận thức được đủ
thứ cảnh giới và sự khảo nghiệm, nên thực
hành hạnh môn Thường Bất Khinh, đây là thuộc
về thế giới tất đàn (bố thí khắp). Thân của
Ngài thực hành hạnh bất khinh, cung hành
thực tiễn, đây gọi là vị nhân tất đàn. Miệng
của Ngài nói giáo lý bất khinh, những gì nói
ra, đều là pháp môn giáo hóa chẳng khinh
người khác, đây gọi là đối trị tất đàn. Ngài
có một pháp nhìn chẳng khinh mạn đối với
người khác, đây gọi là đệ nhất nghĩa tất
đàn. Do đó ‘’Thường Bất Khinh‘’ lại bao quát
bốn thứ tất đàn này.
Bấy giờ, đức Phật bảo đại Bồ Tát Ðắc Ðại
Thế ! Ông nay nên biết, nếu Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, thọ trì Kinh Pháp
Hoa, nếu có người ác khẩu mắng chưởi phỉ
báng, thì sẽ mắc tội báo lớn, như trước đã
nói. Người trì Kinh Pháp Hoa được công đức,
cũng như ở trước đã nói, mắt tai mũi lưỡi
đều thanh tịnh.
Ðắc Ðại Thế !
Vào thuở xa xưa, đã trải qua vô lượng vô
biên số kiếp A tăng kỳ, không thể nghĩ bàn,
có vị Phật hiệu là Uy Âm
Vương Như Lai, ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Kiếp đó
tên là Ly Suy, nước đó tên là Ðại Thành.
Khi Ðức Phật nói xong Phẩm Pháp Sư Công Ðức,
thì bắt đầu nói Phẩm Thường Bất Khinh. Trước
hết, Phật bảo đại Bồ Tát Ðắc Ðại Thế, tức
cũng là Bồ Tát Ðại Thế Chí. Vị Bồ Tát này
chỉ cần cất chân lên một bước, thì mặt đất
có sáu thứ chấn động, biểu thị uy thế lực
mạnh của vị Bồ Tát này. Ðức Phật nói : ‘’Ðại
Thế Chí ! Bây giờ ông nên biết, nếu có Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, đọc
tụng, biên chép Kinh Pháp Hoa, nếu như có
người ác khẩu đến mắng chưởi, hoặc phỉ báng
họ, thì những người này mắc tội báo lớn như
núi Tu Di, như kinh văn đã nói ở trên. Còn
công đức của người trì Kinh Pháp Hoa, cũng
như đã nói ở trong Phẩm Pháp Sư Công Ðức ở
trên, đắc được công đức mắt tai mũi lưỡi
thân ý thanh tịnh.
Bồ Tát Ðại Thế Chí
! Vào thuở xa xưa, đã trải qua vô lượng vô
biên số kiếp A tăng kỳ không thể nghĩ bàn,
có một vị Phật hiệu là Uy Âm
Vương Như Lai. Vì vị Phật đó
đủ đại uy đức, thậm chí âm thanh của Ngài
cũng khiến cho ba ngàn đại thiên thế giới
chấn động, đại chúng đều cung kính lắng nghe
vị Phật đó nói pháp. Mỗi vị Phật đều đầy đủ
mười hiệu là Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải,
Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.’’
Như Lai : Thừa đạo như thật, lai thành chánh
giác.
Ứng Cúng : Xứng đáng thọ trời người cúng
dường.
Chánh Biến Tri : Chẳng những chánh tri (biết
chân chánh) mà còn biến tri (biết khắp hết
thảy), chẳng có gì mà chẳng biết, chẳng có
gì mà chẳng thấu.
Minh Hạnh Túc : Trí huệ cũng sung túc, tu hành
cũng viên mãn.
Thiện Thệ : Ở nơi tốt lành nhất.
Thế Gian Giải : Băc hiểu rõ thế gian nhất.
Vô thượng Sĩ : Là người có học vấn nhất, có
đạo đức nhất trên thế gian.
Ðiều Ngự Trượng Phu : Ðiều ngự ba cõi, là đại
trượng phu của tất cả chúng sinh.
Thiên Nhân Sư : Thầy dẫn đường của trời,
người.
Phật : Là ba giác tròn, vạn đức đầy.
Thế Tôn : Bậc tôn kính của thế và xuất thế.
Khi Ðức Phật Uy
Âm
Vương Như Lai còn ở đời, thì
kiếp đó tên là Ly Suy, tức là lìa khỏi mọi
tướng suy, nước tên là Ðại Thành.
Ðức Phật Uy Âm Vương ở trong cõi nước đó,
vì các hàng trời, người, A tu la mà nói
pháp. Vì người cầu Thanh Văn nói pháp tứ
diệu đế, độ thoát sinh già bệnh chết, đạt
đến cứu cánh Niết Bàn. Vì người cầu Bích Chi
Phật nói pháp mười hai nhân duyên. Vì các Bồ
Tát cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nói
pháp sáu Ba la mật, đạt đến trí huệ cứu kính
của Phật.
Vào kiếp Ly Suy, trong nước Ðại Thành, vị Phật
Uy Âm Vương đó, vì trời, người, A tu la nói
pháp siêng tu giới định huệ, tiêu diệt tham
sân si. Vì A tu la chẳng tu giới, chẳng tu
định, cũng chẳng tu huệ, mà chỉ biết tham,
sân, si. Vì tham, sân, si, nên có ngu si mới
đọa vào đường A tu la. Nổi giận là bản lãnh
của chúng, vì chúng mất đi giới định huệ. A
tu la là tiếng Phạn, dịch là "chẳng đoan
chánh", mặt mũi rất là xấu xí, đây là quả
báo của tâm sân hận.
Ðức Phật đó, lại vì
người cầu quả vị Thanh Văn nói pháp tứ diệu
đế. Tứ diệu đế là : Khổ, tập, diệt, đạo.
Thanh Văn là người nhị thừa, thuộc về tiểu
thừa, vì họ được ít mà cho là đủ, chẳng nghĩ
tiến tới cầu đại thừa, cho rằng những gì làm
đã làm xong, lầm rằng trên chẳng có Phật đạo
để thành, dưới chẳng có chúng sinh để độ. Do
đó, Phật vì họ nói chân lý tứ diệu đế.
A. Khổ đế : Khổ có
vô lượng sự khổ, ba sự khổ (khổ khổ, hoại
khổ, hành khổ), tám thứ khổ (khổ về sinh già
bệnh chết, khổ về ái biệt ly, khổ về oán
tắng hội, khổ về cầu bất đắc, khổ về ngũ ấm
sí thạnh). Nay lược giải như sau :
Ba thứ khổ :
1). Khổ khổ : Ví như người nghèo đến cực điểm,
lại thêm vào chẳng có nhà ở, chẳng có quần
áo mặc, hoàn cảnh như thế gọi là khổ trong
sự khổ.
2). Hoại khổ : Ví như có người rất giàu có,
nhưng bị nạn lửa thiêu sạch tài sản nhà cửa,
đó gọi là hoại khổ về giàu có.
3). Hành khổ : Từ nhỏ đến lớn rồi già nua, rồi
chết đi, niệm niệm thay đổi như sóng sau đẩy
sóng trước, chẳng khi nào ngừng, nên gọi là
hành khổ.
Tám thứ khổ :
1). Khổ về sinh : Khi sinh như rùa lột mai.
Cho nên khi đứa bé mới sinh ra, chỉ kêu khổ
‘’oa oa.‘’
2). Khổ về già : Khi già thì mắt tai mũi lưỡi
thân và ý sáu căn, đều chẳng còn linh mẫn.
3). Khổ về bệnh : Thân tâm đều chẳng được
khoẻ, ngồi đứng không yên.
4). Khổ về chết : Chết giống như bò sống lột
da, tứ đại phân tán.
5). Khổ vì thương yêu mà phải xa lìa : Những
người mình thương yêu đành phải phân ly,
không được đoàn tụ.
6). Khổ vì người mình ghét mà gặp mặt : Người
thù địch mà bạn ghét nhất lại gặp nhau.
7). Khổ về cầu chẳng được : Trong tâm muốn đắc
được mà chẳng đắc được.
8). Khổ về năm ấm : Sắc, thọ, tưởng, hành,
thức, năm ấm, như lửa dữ thiêu đốt con
người, khiến cho điên đảo.
B. Tập đế : Tức chiêu cảm.
C. Ðạo đế : Tức là tu vô thượng đạo.
D. Diệt đế : Tức là chứng được sự vui tịch
diệt Niết Bàn. Ðó là lược nói về pháp tứ
diệu đế. Phật dạy hàng Thanh Văn dùng pháp
tứ đế mà độ sinh già bệnh chết, đắc được
diệu đức Niết Bàn thường lạc ngã tịnh.
Lại vì người tu
Bích Chi Phật nói pháp mười hai nhân duyên.
Bích Chi Phật gọi là Duyên Giác. Duyên Giác
có hai :
1). Lúc có Phật ra đời, tu pháp mười hai nhân
duyên mà ngộ đạo, nên gọi là Duyên Giác.
2). Lúc chẳng có Phật ra đời, tu ở trong thâm
sơn cùng cốc, mùa xuân quán hoa nở, mùa thu
quán lá vàng rơi mà ngộ đạo, nên gọi là Ðộc
Giác.
Mười hai nhân duyên là : Vô minh duyên hành,
hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh
sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc
duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ
duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão
tử, ưu bi khổ não.
Phật vì các Bồ Tát
tu Bồ Tát hạnh, đắc được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, nên vì các Bồ Tát nói pháp
môn sáu Ba la mật. Sáu Ba la mật là pháp của
Bồ Tát tự độ độ tha, tự lợi lợi tha, tự giác
giác tha. Ba la mật là tiếng Phạn, dịch là
"Ðến bờ kia". Nếu tu sáu Ba la mật, thì từ
sinh tử bên này qua dòng phiền não, đạt đến
bờ bên kia cứu kính Niết Bàn.
Ðắc Ðại Thế ! Ðức Phật Uy Âm Vương đó, thọ
bốn mươi vạn ức Na do tha Hằng hà sa số
kiếp. Chánh pháp lưu lại ở đời, kiếp số như
hạt bụi của cõi Diêm Phù Ðề, tượng pháp lưu
lại ở đời, kiếp số như hạt bụi của bốn thiên
hạ. Ðức Phật đó, lợi ích chúng sinh rồi, sau
đó mới diệt độ.
Ðức Phật lại gọi một tiếng : ‘’Ðại Thế Chí !
(Ðắc Ðại Thế tức là Ðại Thế Chí) Vị Phật Uy
Âm Vương đó, thọ đến bốn mươi vạn ức Na do
tha Hằng hà sa số kiếp. Chánh pháp ở đời, số
kiếp như số hạt bụi của cõi Diêm Phù Ðề.
Tượng pháp ở đời, kiếp số như hạt bụi của
bốn thiên hạ. Ðức Phật đó, sau khi lợi ích
phổ độ giáo hóa hết thảy chúng sinh, rồi mới
vào Niết Bàn.
Sau khi chánh pháp và tượng pháp diệt rồi,
ở cõi nước đó, lại có Phật ra đời cũng hiệu
là Uy Âm
Vương Như Lai, ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như thế
lần lượt có hai vạn ức đức Phật, cũng đều
cùng một danh hiệu. Sau khi đức Phật Uy Âm
Vương đầu tiên diệt độ rồi, chánh pháp cũng
diệt rồi, thì trong thời tượng pháp, hàng Tỳ
Kheo tăng thượng mạn có thế lực lớn. Bấy
giờ, có một Bồ Tát Tỳ Kheo tên là Thường Bất
Khinh.
Ðắc Ðại Thế ! Do
nhân duyên gì mà tên là Thường Bất Khinh ?
Vì vị Tỳ Kheo đó, bất cứ gặp ai, hoặc Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, đều
lễ lạy khen ngợi mà nói rằng : Ta rất kính
các vị, chẳng dám khinh khi. Tại sao ? Vì
các vị đều hành Bồ Tát đạo, đều sẽ thành
Phật. Mà vị Tỳ Kheo đó, chẳng chuyên đọc
tụng kinh điển, chỉ lễ lạy, cho đến ở xa
thấy bốn chúng, cũng đều cố đến gần, lễ lạy
khen ngợi mà nói rằng : Tôi chẳng dám khinh
các vị, các vị đều sẽ thành Phật.
Sau khi chánh pháp và tượng pháp của Phật Uy
Âm Vương diệt rồi, ở trong cõi nước Ðại
Thành đó, lại có Phật ra đời, danh hiệu cũng
là Uy Âm
Vương Như Lai, ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như thế
có hai vạn ức vị Phật, lần lượt xuất hiện ở
trong nước Ðại Thành. Những vị Phật đó, danh
hiệu đều là Phật Uy Âm Vương. Sau khi Ðức
Phật Uy Âm Vương đầu tiên vào Niết Bàn, kế
tiếp chánh pháp cũng diệt luôn, ở trong thời
tượng pháp, hàng Tỳ Kheo cống cao ngã mạn,
tranh danh đoạt lợi có thế lực lớn, coi ai
cũng chẳng ra gì. Lúc đó, có một vị Bồ Tát
Tỳ Kheo tên là Thường Bất Khinh.
Phật lại gọi một
tiếng : Ðại Thế Chí ! Bởi nhân duyên gì, mà
vị Tỳ Kheo đó có tên là Thường Bất Khinh ?
Vì bất cứ Ngài gặp Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư
sĩ nam, cư sĩ nữ, đều đảnh lễ, khen ngợi, vì
Ngài muốn hành Bồ Tát đạo, học Bồ Tát quán
chúng sinh, ta, người, đồng một thể, chẳng
thấy có tướng ta, chẳng thấy có tướng người,
chẳng thấy có tướng chúng sinh, chẳng thấy
có tướng thọ mạng. Nếu Ngài chấp trước tướng
ta, thì chẳng thể nào hướng về người khác
cúi đầu đảnh lễ. Ngài luôn nói rằng: ‘’Tôi
rất cung kính các vị ! Tôi tuyệt đối không
dám khinh mạn các vị. Vì các vị đều hành Bồ
Tát đạo, các vị sớm sẽ thành Phật.’’ Mà vị
Thường Bất Khinh Tỳ Kheo đó, chẳng chuyên
tâm đọc tụng tất cả kinh điển, mà vẫn hành
Bồ Tát đạo, tức là mỗi ngày đều hướng về bốn
chúng đệ tử cúi đầu đảnh lễ, cho dù Ngài đến
nơi khác mà thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, cách xa họ rất xa, Ngài đều
đi đến gần họ để lễ lạy khen ngợi nói :
‘’Tôi chẳng dám khinh các vị, các vị đều sẽ
thành Phật.’’
Ở trong bốn chúng, có người sinh tâm sân
hận chẳng thanh tịnh, ác khẩu mắng chưởi nói
: Vị Tỳ Kheo vô trí này, từ đâu đến, mà tự
nói là tôi chẳng khinh các vị, mà thọ ký cho
chúng ta sẽ được thành Phật. Chúng ta chẳng
nhận lời thọ ký hư vọng như thế. Trải qua
nhiều năm như thế, thường bị mắng chửi mà
chẳng sinh tâm sân hận. Thường nói như vầy :
Các vị sẽ thành Phật. Khi nói lời đó, thì
mọi người đều dùng gậy ngói đá đánh ném.
Ngài bèn chạy trốn thật xa, mà vẫn lớn tiếng
nói : Tôi chẳng dám khinh các vị, các vị đều
sẽ thành Phật. Bởi thường nói lời như thế,
cho nên hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ, tăng thượng mạn gọi Ngài là Thường
Bất Khinh. Khi vị Tỳ Kheo đó sắp lâm chung,
thì ở trong hư không, nghe đủ hai mươi ngàn
vạn ức bài kệ Kinh Pháp Hoa, của đức Phật Uy
Âm Vương nói trước kia. Ngài nghe rồi thọ
trì, bèn được căn mắt thanh tịnh, căn tai,
mũi, lưỡi, thân, ý, đều thanh tịnh như đã
nói ở trên. Ðược sáu căn thanh tịnh rồi, thì
càng tăng tuổi thọ đến hai trăm vạn ức Na do
tha tuổi, rộng vì người nói Kinh Pháp Hoa
này.
Ở trong bốn chúng có hàng Tỳ Kheo tăng thượng
mạn, đối với Bồ Tát Thường Bất Khinh sinh
tâm sân hận. Khi Tỳ Kheo Thường Bất Khinh
hướng về họ lễ lạy, thì họ dùng chân đá đầu
của Ngài, đó là vì họ ác tâm chẳng tịnh,
tích tụ tham sân si ba độc, cố ý ác khẩu
chửi mắng Tỳ Kheo Thường Bất Khinh. Họ nói :
‘’Ông Tỳ Kheo này thật là quá ngu si ! Ông
từ đâu đến ? Ông chẳng dám khinh chúng ta,
lại thọ ký cho chúng ta, nói chúng ta sẽ
thành Phật. Chúng ta chẳng cần ông thọ ký
láo khoét như thế. Ông thật là người hồ
đồ.’’
Vị Tỳ Kheo Thường
Bất Khinh tu pháp môn nhẫn nhục lễ lạy, khen
ngợi bốn chúng như thế trải qua rất nhiều
năm. Tuy Ngài thường bị họ đánh đập chửi
mắng, nhưng Ngài chẳng bao giờ sinh tâm sân
hận, Ngài thường nói : ‘’Các vị sẽ thành
Phật.’’ Khi nói những lời đó, thì nhiều
người dùng gậy, ngói, đá, đánh ném vào thân
thể Ngài. Ngài bèn chạy mau đến chỗ xa, lại
lớn tiếng nói : ‘’Tôi chẳng dám khinh các vị
! Các vị đều sẽ thành Phật !‘’ Bởi Ngài
thường nói câu đó, cho nên hàng Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, tăng thượng
mạn bèn gọi Ngài là Thường Bất Khinh.
Vị Bồ Tát Tỳ Kheo
Thường Bất Khinh đó, lúc Ngài sắp viên tịch,
thì ở trong hư không, nghe được hai mươi
ngàn vạn ức bài kệ Kinh Pháp Hoa, của Phật
Uy Âm Vương nói trước kia. Ngài chẳng những
nghe rồi mà còn thọ trì, bèn được căn mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu căn thanh tịnh
như đã nói ở trên. Ngài đắc được sáu căn
thanh tịnh rồi, chẳng những chẳng mệnh
chung, mà ngược lại càng tăng thêm tuổi thọ,
đến hai trăm vạn ức Na do tha tuổi, thường
thường vì người diễn nói Kinh Pháp Hoa.
Bấy giờ, hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, tăng thượng mạn khinh khi vị
đó, đặt tên là Thường Bất Khinh, thấy vị đó
đắc được sức đại thần thông, sức nhạo thuyết
biện tài, tâm lương thiện. Nghe vị đó nói
pháp, đều tin thọ đi theo. Vị Bồ Tát đó, lại
giáo hóa hàng ngàn vạn ức chúng, khiến cho
họ trụ nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Sau khi mạng chung, được gặp hai ngàn
ức vị Phật, đều hiệu là Nhật Nguyệt Ðăng
Minh. Ở trong pháp đó thường nói Kinh Pháp
Hoa này. Bởi nhân duyên đó, lại được gặp hai
ngàn ức vị Phật, đồng hiệu là Vân Tự Tại
Ðăng Vương. Ở trong pháp của các đức Phật
đó, đều thọ trì đọc tụng, vì bốn chúng nói
kinh điển này, cho nên được mắt thường thanh
tịnh, tai mũi lưỡi thân ý các căn đều thanh
tịnh. Ở trong bốn chúng nói pháp tâm chẳng
sợ hãi.
Ðắc Ðại Thế ! Ðại Bồ Tát Thường Bất Khinh đó,
cúng dường hết thảy các vị Phật như thế,
cung kính tôn trọng khen ngợi, trồng các căn
lành. Về sau, lại gặp ngàn vạn ức đức Phật,
cũng ở trong pháp của các vị Phật đó, diễn
nói kinh này, công đức thành tựu sẽ được
thành Phật.
Khi Bồ Tát Thường Bất Khinh đắc được sáu căn
thanh tịnh, thì thường vì người diễn nói
Kinh Pháp Hoa. Trước kia, hàng Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, tăng thượng
mạn, lại có những người đánh đập mắng chưởi
khinh khi Ngài, đặt cho Ngài cái tên là
Thường Bất Khinh. Họ thấy Bồ Tát Thường Bất
Khinh có thần thông lớn, lại đọc tụng làu
Kinh Pháp Hoa, còn vì người mà nói Kinh Pháp
Hoa, được biện tài vô ngại, lại được thân
tâm lương thiện, chẳng sinh tâm sân hận, có
sức nhẫn nhục và sức trí huệ Bát Nhã. Khi họ
nghe vị Bồ Tát Thường Bất Khinh nói Kinh
Pháp Hoa, thì họ đều im lặng tin nhận, đi
theo Bồ Tát Thường Bất Khinh cùng nhau tu
đạo.
Vị Bồ Tát Thường
Bất Khinh giáo hóa hàng ngàn vạn ức chúng
sinh, đều khiến cho họ trụ nơi Vô thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Sau khi đời thứ nhất
mạng chung rồi, thì có hai ngàn ức vị Phật
xuất hiện ra đời, đều hiệu là Nhật Nguyệt
Ðăng Minh Phật. Ở trong pháp của hai ngàn ức
vị Phật đó, Bồ Tát Thường Bất Khinh vẫn nói
bộ Kinh Pháp Hoa này. Nhờ nhân duyên đó, lại
gặp hai ngàn ức vị Phật xuất hiện ra đời,
đều đồng hiệu là Vân Tự Tại Ðăng
Vương Phật. Ở trong pháp của
hai ngàn ức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh, và
hai ngàn ức Phật Vân Tự Tại Ðăng Vương, Bồ
Tát Thường Bất Khinh đời đời kiếp kiếp, đều
thọ trì đọc tụng và vì bốn chúng đệ tử rộng
nói bộ Kinh Pháp Hoa này, đắc được mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý, các căn thường thanh
tịnh chẳng nhiễm. Ở trong bốn chúng nói pháp
tâm chẳng sợ hãi.
Phật lại gọi một
tiếng : ‘’Ðắc Ðại Thế ! Vị Bồ Tát Thường Bất
Khinh đó, đã từng cúng dường, cung kính, tôn
trọng, khen ngợi chư Phật như đã nói ở trên,
và ở trước chư Phật gieo trồng các căn lành.
Sau đó, lại có ngàn vạn ức vị Phật ra đời.
Ngài cũng ở trong pháp của chư Phật diễn nói
bộ Kinh Pháp Hoa này. Nhờ công đức Ngài diễn
nói bộ kinh này thành tựu, cho nên Ngài được
thành Phật.’’
Ðắc Ðại Thế ! Ý ông thế nào ? Bồ Tát Thường
Bất Khinh thuở đó là người nào vậy ? Chính
là thân ta. Nếu trong đời quá khứ, ta chẳng
thọ trì đọc tụng kinh này, chẳng vì người
khác diễn nói, thì không thể sớm được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác. Vì trước kia,
ta ở chỗ các đức Phật thọ trì đọc tụng kinh
này, vì người diễn nói, nên sớm được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác.
Ðắc Ðại Thế !
Lúc đó bốn chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, dùng tâm sân hận khinh tiện
ta, cho nên trải qua hai trăm ức kiếp thường
chẳng gặp Phật, chẳng nghe Pháp, chẳng thấy
Tăng. Ngàn kiếp ở trong địa ngục A Tỳ, thọ
đại khổ não, hết tội đó rồi, lại gặp Bồ Tát
Thường Bất Khinh, giáo hóa cho họ đạo Vô
thượng chánh đẳng chánh giác.
Ðắc Ðại Thế ! Ý
ông thế nào ? Bốn chúng thường khinh khi Bồ
Tát Thường Bất Khinh, đâu phải là ai khác,
nay ở trong hội này, đó là Bạt Ðà Bà La cả
thảy năm trăm vị Bồ Tát, Sư Tử Nguyệt cả
thảy năm trăm vị Tỳ Kheo, Ni Tư Phật cả thảy
năm trăm vị cư sĩ nam, đều chẳng thối chuyển
nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Ðắc Ðại Thế !
Nên biết Kinh Pháp Hoa này, lợi ích rất lớn
cho các đại Bồ Tát, khiến cho đạt đến quả vị
Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bởi thế,
các đại Bồ Tát sau khi Như Lai diệt độ,
thường hay thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên
chép, kinh này.
Bấy giờ, đức Thế
Tôn muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ
rằng :
Ðức Phật lại gọi một tiếng : ‘’Ðắc Ðại Thế !
Theo ý của ông thấy thì thế nào ? Vị Bồ Tát
Thường Bất Khinh là người nào vậy ? Ông ta
chính là tiền thân của ta (Phật Thích Ca Mâu
Ni). Nếu như thuở xưa, ta chẳng thọ trì và
đọc tụng Kinh Pháp Hoa này, hoặc chẳng vì
người khác giải nói kinh này, thì ta không
thể nào, sớm được thành tựu quả vị Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bởi vì ta thuở xưa ở
chỗ các Ðức Phật, hay thọ trì đọc tụng bộ
kinh này, và vì người khác giải nói, cho nên
ta sớm được thành tựu Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác.
‘’Ðắc Ðại Thế !
Những vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ nam, cư
sĩ nữ, bốn chúng đệ tử, dùng tâm sân hận và
khinh khi ta là vô trí, cho nên ở trong hai
trăm ức kiếp thường chẳng gặp Phật, chẳng
nghe được Phật pháp, cũng chẳng thấy được
Tăng. Ngàn kiếp ở trong địa ngục A Tỳ, chịu
hành hình khổ não, sau khi thọ xong tội báo,
thì lại đầu thai làm người, gặp Bồ Tát
Thường Bất Khinh để giáo hóa họ, khiến cho
họ phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
‘’Ðắc Ðại Thế !
Theo ý của ông thế nào ? Bốn chúng thường
khinh khi Bồ Tát Thường Bất Khinh thuở đó là
ai vậy ? Chính là Bạt Ðà Bà La cả thảy năm
trăm vị Bồ Tát, Sư Tử Nguyệt cả thảy năm
trăm vị Tỳ Kheo, Ni Tư Phật cả thảy năm trăm
vị cư sĩ nam, đều đang ở trong pháp hội này.
Họ đã đắc được cảnh giới không thối chuyển
đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
‘’Ðắc Ðại Thế ! Ông
nên biết bộ Kinh Pháp Hoa này, lợi ích hết
thảy tất cả các đại Bồ Tát, hay khiến cho
các Ngài đắc được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, cho nên các đại Bồ Tát, sau khi Như
Lai diệt độ, luôn luôn thọ trì đọc tụng giải
nói biên chép bộ Kinh Pháp Hoa này. Lúc ấy,
Ðức Phật muốn tường thuật lại, bèn dùng kệ
để nói.’’
Quá khứ có Phật
Hiệu Uy Âm
Vương
Thần trí vô lượng
Dẫn dắt tất cả.
Trời người rồng thần
Cùng đến cúng dường
Phật đó diệt rồi
Lúc pháp sắp diệt.
Có một Bồ Tát
Tên Thường Bất Khinh
Khi đó bốn chúng
Chấp trước nơi pháp.
Bồ Tát Bất Khinh
Ði đến chỗ họ
Bèn nói lời rằng:
Tôi chẳng khinh Ngài.
Các Ngài hành đạo
Ðều sẽ thành Phật
Mọi người nghe rồi
Khinh khi mắng chưởi.
Bồ Tát Bất Khinh
Chịu đựng nhẫn nhục
Tội nghiệp hết rồi
Khi sắp lâm chung.
Nghe được kinh này
Sáu căn thanh tịnh
Nhờ sức thần thông
Tăng thêm tuổi thọ.
Lại vì mọi người
Rộng nói kinh này
Những người chấp pháp
Ðều nhờ Bồ Tát.
Giáo hóa thành tựu
Khiến trụ Phật đạo
Bất Khinh mạng chung
Gặp vô số Phật.
Nhờ nói kinh này
Ðược vô lượng phước
Dần đủ công đức
Sớm thành Phật đạo.
Bất Khinh thuở đó
Tức là thân ta.
Ðức Phật nói : ‘’Vô lượng đời trong quá khứ,
có một vị Phật ra đời hiệu là Phật Uy Âm
Vương. Thần thông của vị Phật đó vô lượng,
trí huệ cũng vô lượng. Ngài tiếp dẫn tất cả
chúng sinh, làm lãnh tụ tất cả chúng sinh,
để dẫn dắt họ sớm thành Phật đạo. Lúc đó,
tất cả các trời người và các rồng thần, cùng
đến cúng dường vị Phật đó. Vị Phật đó hoằng
dương Phật pháp, trải qua
thời gian lâu dài mới vào Niết Bàn. Sau khi
Phật vào Niết Bàn rồi, khi tượng pháp sắp
diệt, thì có một vị Bồ Tát xuất hiện ra đời
tên là ‘’Thường Bất Khinh,’’ tức là luôn
luôn chẳng khinh khi bất cứ ai. Ngài đối với
tất cả chúng sinh như cung kính đối với
Phật. Vào lúc pháp sắp diệt hết, thì có
nhiều bốn chúng đệ tử nghiệp chướng thêm
nặng, thân tuy xuất gia mà chẳng tu đạo. Vì
họ đều sinh tâm cống cao ngã mạn, tâm tăng
thượng mạn, xem người khác chẳng ra gì. Bởi
Phật pháp sắp muốn diệt tận, cho nên tất cả
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, đều dụng công phu ngoài
da, chấp trước nơi pháp, cho nên sinh tâm
tăng thượng mạn.
Lúc đó, Bồ Tát
Thường Bất Khinh đến chỗ bốn chúng tăng
thượng mạn nói rằng : ‘’Tôi chẳng dám khinh
mạn các vị, vì các vị hiện đang thực hành Bồ
Tát đạo, cho nên tương lai đều sẽ thành
Phật‘’. Hàng bốn chúng tăng thượng mạn nghe
những lời đó rồi, thì khinh khi phỉ báng
mắng chưởi Ngài. Tuy Bồ Tát Thường Bất Khinh
chịu đựng sự đánh đập mắng chửi, cho đến
dùng gậy, ngói, đá, đánh đập Ngài, song Ngài
cũng chẳng sinh tâm sân hận, nhẫn thọ mọi sự
thử thách, luôn cúi đầu đảnh lễ. Sau khi vị
Bồ Tát Thường Bất Khinh trả hết nghiệp cũ,
khi lâm chung, thì nghe được đạo lý Kinh
Pháp Hoa không thể nghĩ bàn, đắc được sáu
căn thanh tịnh, sáu căn hổ tương dụng với
nhau. Bởi đắc được đại thần thông, đại trí
huệ, đại thế đại lực, cho nên tuổi thọ lại
tăng lên rất nhiều. Sau đó, Ngài lại vì hết
thảy mọi người rộng nói bộ Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa này.
Ở trên nói về chúng sinh chấp trước pháp, và
tăng thượng mạn, thọ hết quả báo trong địa
ngục rồi, lại được đầu thai làm người, được
gặp Bồ Tát Thường Bất Khinh, có đại oai thần
lực như thế, nên đều nhờ Bồ Tát giáo hóa
thành tựu, khiến cho họ trụ nơi Phật đạo.
Sau khi Bồ Tát Thường Bất Khinh mạng chung,
lại có vô số chư Phật xuất hiện ra đời, mà
Bồ Tát Thường Bất Khinh trong đời đời kiếp
kiếp, vẫn diễn nói bộ Kinh Pháp Hoa này, cho
nên Ngài đắc được vô lượng phước báu trang
nghiêm, dần dần đầy đủ công đức Phật đạo,
sớm được thành Phật. Ta nói Bồ Tát Thường
Bất Khinh thuở đó là ai ? Chính là ta (Phật
Thích Ca).
Bốn bộ chúng đó
Những người chấp pháp
Nghe Bất Khinh nói
Ông sẽ thành Phật.
Bởi nhân duyên đó
Gặp vô số Phật
Bồ Tát hội này
Chúng năm trăm người.
Và bốn bộ chúng
Thiện nam tín nữ
Nay ở trước ta
Nghe kinh pháp này.
Ta ở đời trước
Khuyên những người đó
Nghe thọ kinh này
Là pháp bậc nhất.
Khai thị dạy người
Khiến trụ Niết Bàn
Ðời đời thọ trì
Kinh điển như thế.
ức ức vạn kiếp
Không thể nghĩ bàn
Nên mới được nghe
Kinh Pháp Hoa này.
ức ức vạn kiếp
Không thể nghĩ bàn
Chư Phật Thế
Tôn
Diễn nói kinh này.
Bởi thế hành giả
Sau Phật diệt độ
Nghe được kinh này
Chớ sinh nghi hoặc.
Hãy nên một lòng
Rộng nói kinh này
Ðời đời gặp Phật
Sớm thành Phật đạo.
Bốn chúng phỉ báng chưởi mắng Bồ Tát Thường
Bất Khinh, một số người chấp trước pháp mà
sinh tâm tăng thượng mạn, nghe thấy Bồ Tát
Thường Bất Khinh nói họ sẽ thành Phật. Bởi
nhờ nhân duyên đó, được thấy vô lượng vô số
chư Phật. Hiện tại Bạt Ðà Bà La năm trăm vị
Bồ Tát ở trong pháp hội này, tức là một
trong bốn chúng khinh khi phỉ báng Bồ Tát
Thường Bất Khinh thuở đó, hiện tại các vị đó
đã chứng được bất thối chuyển, khéo giữ giới
luật. Và có những Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, thuở xưa tăng thượng mạn,
hiện nay họ đều ở trước ta phát tâm đại bồ
đề, vì ta thuở xưa khiến cho họ gieo trồng
xuống hạt giống bồ đề, cho nên hiện tại đến
nghe ta nói pháp.
Kiếp trước ta
khuyên hết thảy mọi người, khiến cho họ phát
bồ đề tâm, tu vô thượng đạo. Ta đời đời kiếp
kiếp đều giảng bộ Kinh Pháp Hoa này, mà họ
đều đã nghe qua. Kinh Pháp Hoa là bộ kinh
diệu bậc nhất, ta khai thị giáo hóa mọi
người, khiến cho họ trụ ở Niết Bàn an vui,
chứng được diệu quả thường lạc ngã tịnh. Ta
lại giáo hóa tất cả chúng sinh, đời đời kiếp
kiếp, thọ trì bộ Kinh Pháp Hoa này. Ta cũng
đời đời kiếp kiếp, thọ trì bộ Kinh Pháp Hoa
này, thời gian ức ức vạn kiếp chẳng có số
lượng, cho đến thời gian không thể nghĩ bàn,
mới nghe được bộ Kinh Pháp Hoa này. Cho đến
ức ức vạn kiếp, và thời gian không thể nghĩ
bàn, mười phương ba đời tất cả chư Phật Thế
Tôn, đều luôn luôn nói bộ Kinh Pháp Hoa này.
Bởi thế, các vị những người tu đạo Bồ Tát,
sau khi ta diệt độ, nghe được Kinh Pháp Hoa
không thể nghĩ bàn này, thì ngàn vạn đừng
sinh tâm nghi hoặc. Các vị phải chuyên tâm
vì tất cả chúng sinh rộng nói bộ kinh này.
Các vị đời đời kiếp kiếp, đều có thể gặp
được tất cả chư Phật, sớm thành tựu Phật
đạo, thành tựu bồ đề.