KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 04
Quyển 06
Phẩm công đức pháp sư thứ mười
chín
Pháp sư là gì ? Nói
đơn giản là tinh thông Phật pháp, vì người
làm thầy. Pháp sư có năm loại :
1). Thọ trì pháp sư : Ðối với Phật pháp, thọ
nơi tâm trì nơi thân, nghiêm cách thực tiễn.
2). Ðọc kinh pháp sư : Ðối với kinh điển, hằng
ngày lấy sự đọc kinh làm sự tu trì.
3). Tụng kinh pháp sư : Học thuộc kinh điển,
hằng ngày lấy sự tụng kinh làm sự tu trì.
4). Giải nói pháp sư : Vì chúng sinh mà giải
thích nghĩa kinh, nói rõ đạo lý, khiến cho
chúng sinh y pháp tu hành.
5). Biên chép pháp sư : Cung kính biên chép
kinh điển, hoặc cúng nơi tháp miếu, khiến
cho chúng sinh lễ bái, gieo trồng căn lành,
hoặc ấn tống kinh điển, truyền bá cho đời,
khiến cho chúng sinh đọc tụng, chiếu theo
nghĩa kinh mà tu hành. Tay tự biên chép kinh
điển mới có công đức không thể nghĩ bàn.
Ðầy đủ mười đức hạnh sau đây, thì là đại pháp
sư :
1). Khéo biết nghĩa của pháp.
2). Rộng tuyên nói được.
3). Trong đại chúng chẳng sợ.
4). Biện tài vô ngại.
5). Khéo nói phương tiện.
6). Pháp tùy đức hạnh.
7). Oai nghi đầy đủ.
8). Dũng mãnh tinh tấn.
9). Thân tâm chẳng mệt.
10). Thành tựu nhẫn nhục.
Công đức là gì ? Hết việc ác là công, đầy việc
lành là đức. Tức cũng là tu công đức có sở
đắc. Lại có thể nói, công là chỉ hành vi
thiện mà nói; đức là chỉ tâm lý thiện mà
nói. Phẩm này nói rõ về công đức thọ trì,
đọc tụng, giải nói, biên chép, Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, khiến cho sáu căn thanh tịnh,
có công năng hổ dụng sáu căn.
Bấy giờ, đức Phật bảo đại Bồ Tát Thường
Tinh Tấn ! Nếu người thiện nam, người thiện
nữ, thọ trì Kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc,
hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép,
thì người đó sẽ được tám trăm công đức nơi
mắt, một ngàn hai trăm công đức nơi tai, tám
trăm công đức nơi mũi, một ngàn hai trăm
công đức nơi lưỡi, tám trăm công đức nơi
thân, một ngàn hai trăm công đức nơi ý, nhờ
công đức đó, trang nghiêm sáu căn đều khiến
cho thanh tịnh.
Ðức Phật nói xong Phẩm Tùy Hỷ Công Ðức, thì
lúc đó, bảo đại Bồ Tát Thường Tinh Tấn rằng
: ‘’Nếu người thiện nam, người thiện nữ,
hoặc Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, thọ trì Kinh Pháp
Hoa, hoặc là đọc tụng, hoặc giải nói, hoặc
biên chép, thì người đó được tám trăm công
đức nơi mắt, một ngàn hai trăm công đức nơi
tai, được tám trăm công đức nơi mũi, được
một ngàn hai trăm công đức nơi lưỡi, được
tám trăm công đức nơi thân, được một ngàn
hai trăm công đức nơi ý.’’
Sáu căn của chúng ta, mỗi một căn, đều có một
ngàn hai trăm công đức, ở trước có ba trăm
công đức, ở sau có ba trăm công đức, ở bên
trái có ba trăm công đức, ở bên phải có ba
trăm công đức, hợp lại có một ngàn hai trăm
công đức. Có người hỏi : ‘’Tức nhiên mỗi một
căn có một ngàn hai trăm công đức, tại sao
con mắt chỉ có tám trăm công đức ?‘’ Vì cái
thấy của con mắt chẳng viên mãn, thấy trước
mà chẳng thấy sau, thấy bên trái chẳng thấy
bên phải, cho nên chỉ có tám trăm công đức.
Lỗ tai có thể nghe được âm thanh trước sau,
bên trái bên phải, chẳng có chướng ngại, đầy
đủ viên mãn, cho nên có một ngàn hai trăm
công đức. Lỗ mũi giữa sự hít vào thở ra có
chỗ ngừng nghỉ, cho nên chỉ có tám trăm công
đức. Lưỡi nếm mùi vị công đức đầy đủ viên
mãn, cho nên có một ngàn hai trăm công đức.
Thân thể có xúc giác thuận nghịch hai duyên,
nghịch thì chẳng thích xúc trần, thuận thì
thích xúc trần. Giữa thuận và nghịch thiếu
bốn trăm công đức. Ý thức có tư tưởng, có
phân biệt, đầy đủ viên mãn cho nên có một
ngàn hai trăm công đức.
Pháp sư thọ trì
Kinh Pháp Hoa có sáu ngàn công đức, để trang
nghiêm sáu căn, khiến cho sáu căn đều được
thanh tịnh. Mắt thấy rõ, tai thính, mũi ngửi
mùi, lưỡi nếm vị, thân tốt đẹp, ý thông đạt,
đắc được phước báu thù thắng.
Phẩm này, dùng Bồ Tát Thường Tinh Tấn làm
đương cơ chúng. Nếu muốn có công đức, thì
phải thường tinh tấn. Thân tinh tấn, tâm
tinh tấn, ngày tinh tấn, đêm tinh tấn, thời
thời siêng tinh tấn. Nếu chẳng tinh tấn thì
chẳng có công đức, cho nên người tu đạo,
phải ngày đêm sáu thời thường tinh tấn.
Người thiện nam, người thiện nữ đó, mắt
thịt cha mẹ sinh ra, thấy ba ngàn đại thiên
thế giới, trong ngoài hết thảy núi rừng,
sông biển, dưới đến địa ngục A Tỳ, trên đến
cõi trời Hữu Ðỉnh, cũng thấy tất cả chúng
sinh trong đó, và nghiệp nhân duyên quả báo,
nơi sinh đều thấy đều biết.
Người thiện nam, hoặc người thiện nữ đó, nhờ
mắt thanh tịnh của cha mẹ sinh ra, thấy
trong ngoài ba ngàn đại thiên thế giới, hết
thảy núi rừng và sông biển. (Tứ quả A
La Hán mới nhìn thấy được ba
ngàn đại thiên thế giới. Một đại thiên thế
giới là một cõi Phật. Sơ địa Bồ Tát thấy
được một trăm cõi Phật).
Pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, có thể thấy
dưới địa ngục A Tỳ. Ðịa ngục này, là ở tầng
dưới nhất địa ngục bát nhiệt. Tại sao gọi là
địa ngục vô gián ? Vì địa ngục này chẳng có
không gian, một người cũng đầy chật ních,
chẳng có lỗ trống; một vạn người cũng đầy
chật ních.
Vô gián có năm thứ
:
1). Thú quả vô gián.
2). Thọ khổ vô gián.
3). Thời vô gián.
4). Mạng vô gián.
5). Thân hình vô gián.
Tóm lại, đọa lạc vào địa ngục vô gián, thì
thời gian thọ khổ chẳng có gián đoạn, trừ
khi gặp hào quang của Phật chiếu đến, bằng
không, thì chẳng cách chi có thể ra được.
Có người hỏi :
‘’Phạm tội nghiệp gì thì đọa lạc vào địa
ngục này ?‘’ Chúng sinh phạm đại tội ngũ
nghịch, thì sẽ đọa vào địa ngục này. Ngũ
nghịch là gì ? Tức là giết cha, giết mẹ,
giết A
La Hán, làm thân Phật chảy
máu (phá hoại tượng Phật), và phá hòa hợp
Tăng. Phạm một tội nghịch, thì sẽ đọa vào
địa ngục vô gián.
Vị pháp sư đó, trên có thể nhìn thấy trời Hữu
Ðỉnh (từng trời cao nhất trong tam giới),
tức cũng là trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Dùng định lực để khống chế thức thứ tám. Tựa
như hết gọi là phi tưởng, định lực giao
động, thì thức thứ tám tựa như tồn tại, nên
gọi là phi phi tưởng. Ngoại đạo cho rằng,
cõi trời này là cảnh giới cao nhất, song
chẳng cứu kính, vẫn còn sinh tử.
Vị pháp sư đó, có
thể nhìn thấy địa ngục vô gián, và cõi trời
Hữu Ðỉnh, hết thảy chúng sinh ở trong đó
hành động làm gì, nghiệp nhân duyên quả báo,
nơi sinh đều thấy biết rõ ràng. Vị pháp sư
đó, tuy chưa chứng được thiên nhãn thông,
nhưng nhờ mắt thịt của cha mẹ sinh ra, mà có
thể thấy tất cả cảnh giới. Ðó là nguyên nhân
gì ? Do thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng:
Lúc đó, Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa lý ở
trên, bèn dùng kệ để nói ra.
Nếu ở trong đại chúng
Chẳng có tâm sợ sệt
Nói Kinh Pháp Hoa này
Ông lắng nghe công đức.
Nếu như ở trong đại chúng chẳng có tâm sợ sệt,
mới có thể giảng giải Kinh Pháp Hoa cho đại
chúng nghe. Nếu sinh tâm sợ sệt, thì không
thể nào giảng được Kinh Pháp Hoa. Bồ Tát
Thường Tinh Tấn ! Ông phải lắng nghe công
đức của vị pháp sư đó, thọ trì Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa. Nay ta vì ông mà nói.
Người đó được tám trăm
Công đức mắt thù thắng
Nhờ vậy mà trang
nghiêm
Con mắt rất thanh tịnh.
Vị pháp sư đó, đắc được tám trăm công đức nơi
mắt, chứng được con mắt thù thắng, thấy được
trong ngoài tất cả ba ngàn đại thiên thế
giới, chẳng cần có thiên nhãn thông. Vì có
công đức này trang nghiêm, cho nên con mắt
của vị đó rất thanh tịnh.
Mắt cha mẹ sinh ra
Thấy được ba ngàn cõi
Trong ngoài núi Di Lâu
Tu Di và Thiết Vi.
Và các núi rừng khác
Nước biển cả sông ngòi.
Mắt thịt do cha mẹ sinh ra, có thể thấy được
cảnh giới trong ngoài ba ngàn đại thiên thế
giới. Giống như núi Di Lâu (núi Quang Minh),
núi Tu Di (núi Diệu cao), núi Thiết Vi (núi
Vi ở ngoài bốn đại châu) và các núi rừng
khác, nước biển cả sông ngòi, thảy đều nhìn
thấy rất rõ ràng.
Dưới đến ngục A Tỳ
Trên đến trời Hữu Ðỉnh
Các chúng sinh trong đó
Hết thảy đều thấy rõ.
Tuy chưa được thiên nhãn
Sức nhục nhãn như thế.
Vì đắc được con mắt thanh tịnh, cho nên dưới
có thể nhìn thấu địa ngục vô gián, trên có
thể nhìn thấy cõi trời Hữu Ðỉnh, tất cả
chúng sinh trong đó, từng cử chỉ nói năng
hành động, đều thấy rất rõ ràng. Tuy chưa
chứng được thiên nhãn thông, nhưng sức mắt
thịt của cha mẹ sinh ra cũng được như thế.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn ! Nếu người thiện
nam, người thiện nữ, thọ trì kinh này, hoặc
đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên
chép, thì được một ngàn hai trăm công đức
nơi tai. Nhờ tai thanh tịnh, nên nghe được
tất cả các thứ tiếng, trong ba ngàn đại
thiên thế giới, dưới đến địa ngục A Tỳ, trên
đến cõi trời Hữu Ðỉnh, trong đó hết thảy các
thứ lời nói âm thanh, đều nghe rõ hết.
Ðức Phật lại gọi một tiếng Thường Tinh Tấn !
Nếu như có người thiện nam, người thiện nữ,
thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, hoặc đọc
tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, thì
người đó đắc được một ngàn hai trăm công đức
nơi tai, nhờ lỗ tai thanh tịnh, mà nghe được
tất cả âm thanh, trong ngoài ba ngàn đại
thiên thế giới, dưới đến địa ngục vô gián,
trên đến cõi trời Hữu Ðỉnh, trong đó hết
thảy các thứ âm thanh lời nói, thảy đều nghe
được, chẳng những rõ ràng, mà còn có thể
phân biệt được là âm thanh gì.
Tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng bò, tiếng xe,
tiếng khóc lóc, tiếng vui buồn, tiếng pháp
loa, tiếng trống, tiếng chuông, tiếng linh,
tiếng cười, tiếng nói, tiếng người nam,
tiếng người nữ, tiếng đồng tử, tiếng đồng
nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ,
tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng Thánh nhân,
tiếng hoan hỷ, tiếng không hoan hỷ.
Giống như tiếng voi rống kêu, tiếng ngựa hí
kêu, tiếng bò, tiếng xe, tiếng khóc lóc,
tiếng buồn vui, tiếng pháp loa, tiếng trống
pháp, tiếng chuông, tiếng linh, tiếng cười,
tiếng nói, tiếng người nam, tiếng người nữ,
tiếng đồng nam, tiếng đồng nữ, tiếng như
pháp, tiếng phi pháp, tiếng thống khổ, tiếng
vui vẻ, tiếng phàm phu, tiếng Thánh nhân,
tiếng hoan hỷ, tiếng bi ai. Những thứ tiếng
như thế, vị pháp sư đó thụ trì Kinh Pháp
Hoa, thảy đều nghe được, lại có thể phân
biệt rõ ràng.
Tiếng trời, tiếng rồng, tiếng Dạ Xoa, tiếng
Càn Thát Bà, tiếng A Tu La, tiếng Ca Lâu La,
tiếng Khẩn Na La, tiếng Ma Hầu
La Già, tiếng lửa, tiếng
nước, tiếng gió, tiếng địa ngục, tiếng súc
sinh, tiếng ngạ quỷ.
Vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, có thể nghe
được tiếng ở trên trời. Người tu hành pháp
năm giới và thập thiện, thì sau khi chết sẽ
được sinh về cõi trời, hưởng thọ khoái lạc
sung sướng, song phước trời hết, thì phát
hiện năm tướng suy, vẫn phải đọa lạc thọ
sinh tử trong luân hồi.
Năm hiện tượng suy
là gì ? Tức là :
1). Mũ hoa trên đầu héo úa : Người trời đội
cái mũ trên đầu được làm bằng hoa tươi, vĩnh
viễn tươi tốt, thanh tịnh chẳng bụi bặm. Khi
sắp hết tuổi thọ, thì mũ hoa tự nhiên héo
úa.
2). Quần áo dơ bẩn : Quần áo của người trời
mặc rất sạch sẽ, chẳng cần giặt. Vì ở trên
trời sạch sẽ chẳng có bụi bặm. Khi tuổi thọ
sắp hết, thì quần áo tự nhiên dơ bẩn.
3). Hai nách ra mồ hôi : Vì trên trời mát mẻ,
người trời vĩnh viễn chẳng ra mồ hôi. Khi
tuổi thọ sắp hết, thì dưới nách ra mồ hôi.
4). Thân thể tỏa mùi hôi : Thân của người trời
thường tỏa mùi thơm, thiện nhiều thì tỏa mùi
thơm nhiều, thiện ít thì tỏa mùi thơm ít,
mùi thơm gấp mấy lần dầu thơm ở nhân gian.
Khi tuổi thọ sắp hết thì tỏa ra mùi hôi, như
mùi tử thi, khiến cho người trời khác không
dám lại gần.
5). Ngồi chẳng yên : Người trời thường ngồi
thiền, chẳng động chỗ ngồi, cơm áo một khi
nghĩ đến là có liền, do đó có câu :
‘’Nghĩ quần áo thì quần áo đến
Nghĩ món ăn thì món ăn đến.’’
Quần áo chẳng lớn chẳng nhỏ, chẳng rộng chẳng
chật, vừa với thân thể. Thức ăn chẳng nhiều
chẳng ít, chẳng mặn chẳng lạt hợp với khẩu
vị. Nghĩ muốn đi đến đâu thì sẽ đi đến đó.
Vì người trời có thần túc thông, toại tâm sở
dục, chẳng bị gì hạn chế. Nhưng khi tuổi thọ
sắp hết, thì chẳng có định lực, biết đã phát
sinh bốn thứ hiện tượng, tâm thần tán loạn,
ngồi chẳng yên, ngồi xuống đứng dậy, bèn đọa
lạc vào trong luân hồi, đi thọ sinh tử, hoặc
đọa vào địa ngục, hoặc đầu thai làm người,
chẳng nhất định mà tùy theo nghiệp lực quyết
định.
Các bạn đừng cho rằng, sinh về cõi trời là có
bảo hiểm, chẳng tu hành ngồi thiền, như thế
thì rất dễ đọa lạc vào ba đường ác. Dù Thích
Ðề Hoàn Nhân (Ky tô giáo xưng là Thượng Ðế,
Ðạo giáo xưng là Ngọc Hoàng Ðại Ðế, Thiên
Chúa giáo xưng là Thiên Chúa) cũng không thể
tránh khỏi, chiếu theo nghiệp lực mà đi đầu
thai.
Hôm nay, tôi kể một câu chuyện về Thiên Chúa
cõi trời Ðao Lợi. Một ngày nọ phát hiện mình
có năm tướng suy, buồn rầu vô hạn, đột nhiên
nghĩ tới Ðức Phật Thích Ca có thể có biện
pháp giải cứu. Bèn đến chỗ Ðức Phật nói rõ
lai ý. Ðức Phật nói với ông ta : ‘’Ðịnh
nghiệp đã tạo, chẳng cách chi cải được. Con
phải quy y Tam Bảo, rồi đi đầu thai để tiêu
nghiệp chướng, rồi trở về Thiên cung làm
Thiên Chúa.’’ Thiên Chúa bèn đến nhân gian
đầu thai làm lừa. Lừa mẹ mang thai rồi sơ ý
đạp bể đồ sứ của chủ nhân. Chủ nhân nổi giận
dùng gậy đánh con lừa, do đó mà sẩy thai.
Thiên Chúa trở về thiên cung làm Thiên Chúa.
Từ đó về sau kính tin Phật pháp, trở thành
thần hộ pháp của Phật giáo.
Vị pháp sư đó lại
nghe được tiếng rồng. Trong quá khứ, rồng tu
hành vì "thừa cấp giới hoãn", cho nên có
thần thông, nhưng là súc sinh. Vị pháp sư
đó, nghe đến tiếng người thì biết tiền nhân
hậu quả, hoặc quá khứ là thân rồng, bây giờ
là thân người, cũng có thể bây giờ là thân
người, vị lai là thân rồng. Một khi nghe
tiếng thì biết tiền nhân hậu quả.
Tiếng Dạ Xoa dịch
là "Tiệp tật quỷ", loài quỷ này có ba loại :
1). Ðịa hành Dạ Xoa : Không bay được nhưng
chạy rất nhanh.
2). Không hành Dạ Xoa : Bay được.
3). Thiên hành Dạ Xoa : Cũng bay được. Chúng
thường làm nhiễu loạn người. Sau khi chúng
quy y Phật rồi, bèn trở thành thần hộ pháp,
bảo vệ an toàn những người tu đạo.
Tiếng Càn Thát Bà :
Dịch là "thần ngửi hương", chúng chẳng ăn
mặn mà ăn chay, thích ngửi mùi hương. Khi
Trời Ðế Thích có pháp hội lớn, thì đốt hương
ngưu đầu chiên đàn, chúng ngửi hương mà đến
Diệu Pháp Ðường, để diễn tấu âm nhạc, biểu
diễn ca múa, khiến cho chư thiên đều hoan
hỷ.
Tiếng A tu la :
Dịch là "vô đoan chánh". Tướng mạo người nam
A tu la, xấu xí vô cùng, ngũ quan chẳng đoan
chánh, cho gọi là vô đoan chánh. Song, người
nữ A tu la rất đẹp, cho nên vợ của Thích Ðề
Hoàn Nhân, là con gái của vua A tu la. Do đó
đủ thấy, người nữ A tu la rất đẹp, nếu không
thì Thích Ðề Hoàn Nhân tuyệt đối chẳng cưới
người nữ A tu la làm vợ. Chúng có phước
trời, mà chẳng có đức trời, tính tình thích
đấu tranh. Vị pháp sư đó, một khi nghe tiếng
thì biết quả báo ba đời.
Tiếng Ca Lâu La :
Dịch là "chim cánh vàng". Vì cánh của nó màu
vàng, chuyên ăn rồng.
Tiếng Khẩn Na La :
Dịch là "nghi thần", vì trên đầu có một
sừng, khiến cho người hoài nghi, nên gọi là
nghi thần. Chúng là thần nhạc của trời Ðế
Thích, diễn tấu nhạc khúc trang nghiêm,
khiến cho người nghe, sinh tâm niệm Phật
niệm Pháp niệm Tăng.
Tiếng Ma Hầu
La Già : Dịch là "thần mãng
xà", còn gọi là "đại phục hành". Trước khi
chúng chưa quy y Phật, thì chuyên phóng khí
độc để hại người, hại súc vật để làm thức
ăn. Sau khi quy y Phật rồi, cải tà quy
chánh, trở thành thần hộ pháp.
Ở trên là Thiên
long bát bộ, ai nấy đều có nhân quả riêng.
Các thứ tiếng đó, pháp sư giải nói Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, đều biết đều thấy rõ ràng.
Tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió, vị pháp sư
đó nghe, thì biết được nhân quả ba đời. Hoặc
ở trong quá khứ đã phát sinh tai nạn gì ?
Hoặc hiện tại muốn phát sinh tai nạn gì ?
Hoặc vị lai sẽ phát sinh tai nạn gì ? Biết
rất rõ ràng. Vì đắc được công đức thọ trì
Kinh Pháp Hoa gia trì, nên mới có sức thần
thông như thế.
Tiếng địa ngục, tiếng súc sinh, tiếng ngạ quỷ,
vị pháp sư đó, khi nghe đến âm thanh của
người đó, thì biết kiếp trước là gì ? Hoặc
vị lai là gì ? Ðều biết trước, tơ hào chẳng
sai.
Trước khi chúng ta ăn cơm phải niệm :
‘’Phật chế Tỳ Kheo,
Thực tồn ngũ quán,
Tán tâm tạp thoại,
Tín thí nan tiêu.’’
Nghĩa là : ‘’Phật dạy hàng Tỳ Kheo, khi ăn
phải quán năm điều, nếu phóng tâm nói bậy,
thì thức ăn của đàn na thí chủ khó tiêu.’’
Năm điều quán tưởng
là :
1). Kế công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ. Nghĩa
là : Xem xét công lao bao nhiêu, thức ăn từ
đâu đến !
2). Thổn kỷ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng.
Nghĩa là : Tính xem đức hạnh của mình, có
xứng đáng thọ dùng chăng !
3). Phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tông. Nghĩa
là : Phòng ngừa tâm tạo tội, tham lam là
gốc.
4). Chánh sự lương dược, vi liệu hình khô.
Nghĩa là : Xem thức ăn như thuốc hay, để cho
thân thể khỏi kiệt sức.
5). Vi thành đạo nghiệp, ứng thọ thử thực.
Nghĩa là : Quyết thành đạo nghiệp, mới thọ
cơm này. Nếu có sự quán tưởng năm điều này,
thì thức ăn chắc chắn sẽ tiêu hóa. Nếu chẳng
quán tưởng năm điều này, thì chắc khó mà
tiêu hóa, do đó có câu :
‘’Tam tâm bất liễu thủy nan tiêu,
Ngũ quán nhược minh kim dịch hóa.’’
Nghĩa là : Nếu ba tâm chẳng rõ, thì dù uống
một ly nước của thí chủ, cũng chẳng tiêu hóa
đặng. Nếu minh bạch năm điều quán tưởng này,
thì dù một bữa ăn đáng giá một cân vàng,
cũng tiêu hóa dễ dàng. Cho nên người xuất
gia khi ăn cơm trưa, thì phải niệm chú cúng
dường.
Người xưa có câu rằng :
‘’Thí chủ nhất lạp mễ
Trọng như Tu Di sơn,
Thực hạ bất liễu đạo
Phi mao đãi giác hoàn.’’
Nghĩa là :
Hột gạo thí chủ cho,
Nặng như núi Tu Di,
Ăn xong chẳng tu đạo,
Mang sừng đội lông trả.
Các vị hãy xem ! Ăn cơm mà chẳng tu hành, thì
tội lỗi lớn cỡ nào ! Tương lai phải biến làm
trâu làm ngựa để trả nợ, thật là đáng sợ.
Các vị phải nhận thức rõ ràng quả báo đó,
không thể nương Phật mặc y, dựa Phật ăn cơm,
tương lai tội lỗi không thể tưởng tượng
được.
Tiếng Tỳ Kheo, tiếng Tỳ Kheo ni, tiếng
Thanh Văn, tiếng Bích Chi Phật, tiếng Bồ
Tát, tiếng Phật.
Tiếng Tỳ Kheo : Tỳ Kheo dịch là "khất sĩ", bên
ngoài khất thực để (nuôi) dưỡng sắc thân,
bên trong khất pháp để nuôi huệ mạng. Người
Trung Quốc gọi Tỳ Kheo là hòa
thượng. Ðời sống của hòa thượng làm những
việc mà người không làm được, nhẫn những
việc mà người chẳng nhẫn được, tu nhẫn nhục
Ba la mật, tuyệt đối chẳng nóng giận, thanh
tâm quả dục, đời sống đạm bạc, đối với đời
chẳng tranh, đối với người chẳng cầu. Chỉ
cầu giải thoát tự tại, cho nên chẳng tham
tiền tài, chẳng kết hôn, chẳng cầu danh lợi,
chẳng ăn thịt, chẳng ngủ nhiều, chẳng luyến
ái năm dục, chuyên tâm tu đạo, thì dễ dàng
thành tựu. Do đó, mới nói người xuất gia là
làm việc của bậc trượng phu, chẳng phải một
số người làm được.
Tiếng Tỳ Kheo Ni : Người nữ xuất gia tu hành
gọi là Ni sư. Tôn giả A Nan khẩn cầu Ðức
Phật cho phái nữ xuất gia tu đạo, nhưng phải
giữ tám pháp kính. Vị pháp sư đó khi nghe
tiếng của họ, thì biết nhân quả ba đời, hoặc
trong quá khứ là người xuất gia, hoặc hiện
tại là người xuất gia ? Hoặc vị lai muốn
xuất gia ? Thấu rõ tỷ mỉ.
Tiếng Thanh Văn :
Các Ngài nghe Phật nói pháp tứ diệu đế mà
ngộ đạo, cho nên gọi là Thanh Văn. Song, các
Ngài tự độ mà chẳng độ kẻ khác, tự giác mà
chẳng giác ngộ kẻ khác, tự lợi mà chẳng lợi
ích kẻ khác, cho nên làm tự liễu hán. Tư
tưởng của tiểu thừa là chẳng lo việc của kẻ
khác, do đó có câu :
‘’Ma ha tát bất quản tha,
Di Ðà Phật các cố các.’’
Ðó là tác phong của người thiểu thừa.
Tiếng Bích Chi Phật
: Tức cũng là Duyên Giác, quán sát mười hai
nhân duyên mà giác ngộ, nên gọi là Duyên
Giác. Khi có Phật ra đời gọi là Duyên Giác,
lúc Phật không ra đời gọi là Ðộc Giác. Các
Ngài ở trong thâm sơn cùng cốc, nghiên cứu
lý vạn vật sinh diệt, mùa xuân quán trăm hoa
nở, mùa thu quán lá vàng rơi, giác ngộ tất
cả là vô thường, chẳng có thầy dạy mà chứng
được chân lý, liễu sinh thoát tử.
Tiếng Bồ Tát : Các
Ngài tu lục độ vạn hạnh, hành Bồ Tát đạo,
rộng cứu giúp chúng sinh lìa khổ được vui,
mới đảo giá từ thuyền, từ cõi Thường Tịch
Quang mà đến thế giới Ta Bà, để phổ độ chúng
sinh, và còn phát đại nguyện :
"Chúng sinh độ hết mới chứng bồ đề".
Lại nói :
‘’Ðịa ngục chưa trống không,
Thề không thành Phật.’’
Lại nói :
‘’Ta chẳng vào địa ngục thì ai vào ?‘’
Thật là tinh thần vĩ đại biết bao ! Chúng ta
là người xuất gia, phải học theo Bồ Tát Ðịa
Tạng, phải có tâm từ bi. Trong Phật giáo có
hai câu rằng :
‘’Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi.’’
Phải hướng theo con đường này tiến tới, dù gặp
gian nan khó khăn, cũng chẳng hồi đầu, phải
đạt đến mục đích, chẳng còn chúng sinh để độ
thì ngừng. Tư tưởng đại thừa là vì người mà
chẳng vì mình do đó :
‘’Xả mình cứu người.’’
Có hành vi như thế, thì mới chân chánh là Phật
giáo đồ. Bằng không, thì từ bi là khẩu đầu
thiền, nói mà làm chẳng được, đi ngược lại
trách nhiệm và nghĩa vụ của người xuất gia.
Tiếng Phật : Phật là người giác ngộ, vì ba A
tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp trồng tướng
tốt, cho nên đắc được ba mươi hai tướng đại
nhân, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm thân. Ðức
Phật đã viên mãn ba giác, đầy đủ vạn đức,
được hết thảy trời người tôn kính, cho nên
gọi là Thế Tôn.
Người xuất gia tu đạo, phải tu phước và tu
huệ, không thể thiên lệch. Nếu chỉ chuyên tu
một bên, thì công đức chẳng thể viên mãn, do
đó có câu :
‘’Tu phước chẳng tu huệ,
Làm voi mang chuỗi hạt;
Tu huệ chẳng tu phước,
Khất thực ôm bát không.’’
Tu phước như thế nào ? Tức là làm nhiều công
đức, cứu tế người khổ nạn. Tu huệ như thế
nào ? Là giảng kinh thuyết pháp, ấn tống
kinh điển lưu truyền.
Vị pháp sư thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
một khi nghe được tiếng này, thì biết nhân
quả ba đời. Hoặc là tiếng Thanh Văn, hoặc là
tiếng Bích Chi Phật, hoặc là tiếng Bồ Tát,
hoặc là tiếng Phật. Ðây là tiếng của bốn bậc
Thánh, hoàn toàn biết rõ và còn phân tích
rất rõ ràng, tuyệt đối chẳng lầm.
Tóm lại, trong ba ngàn đại thiên thế giới,
hết thảy tất cả các thứ tiếng trong ngoài,
tuy chưa được thiên nhĩ, dùng tai thường
thanh tịnh của cha mẹ sinh ra, thảy đều nghe
biết. Phân biệt các thứ tiếng như vậy, mà
chẳng hư nhĩ căn.
Tóm lại, hết thảy tất cả các thứ tiếng trong
ngoài ba ngàn đại thiên thế giới. Vị pháp sư
đó, tuy chưa chứng được thiên nhĩ thông,
song dùng tai bình thường thanh tịnh của cha
mẹ sinh ra, đều hoàn toàn nghe biết. Phân
biệt các thứ âm thanh như thế, mà chẳng phá
hoại nhĩ căn. Vì chẳng bị thanh trần sở
chuyển, cho nên chẳng hư nhĩ căn.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng:
Lúc đó, Ðức Phật bi tâm thiết thiết, muốn dùng
kệ nói lại nghĩa lý trường hàng ở trên.
Tai cha mẹ sinh ra
Thanh tịnh chẳng ô nhiễm
Dùng tai thường này nghe
Tiếng ba ngàn thế giới.
Pháp sư thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dùng
tai thịt của cha mẹ sinh ra rất thanh tịnh,
chẳng ô trược cấu uế. Dùng tai bình thường
này, nghe các thứ tiếng trong ngoài ba ngàn
đại thiên thế giới rất rõ ràng.
Tiếng voi ngựa xe trâu
Tiếng chuông linh loa trống
Tiếng cầm sắt không hầu
Tiếng ống tiêu ống địch.
Hoặc là tiếng voi, hoặc tiếng ngựa, hoặc tiếng
xe, hoặc tiếng trâu. Hết thảy tiếng chuông,
tiếng linh, tiếng loa, tiếng trống, cũng
phân biệt được dễ dàng. Và tiếng cầm (đờn
năm dây hoặc bảy dây), tiếng không hầu (đờn
hai mươi ba dây), tiếng ống tiêu (sáo thổi
dọc trước có năm lỗ, sau có một lỗ), tiếng
ống địch (sáo thổi ngang có bảy lỗ), đủ thứ
tiếng nhạc khí. Vị pháp sư đó, hoàn toàn đều
nghe được, lại phân biệt được rõ ràng là
tiếng khí cụ gì.
Tiếng ca hay thanh tịnh
Nghe mà chẳng chấp trước
Tiếng vô số loại người
Nghe thảy đều hiểu rõ.
Tiếng ca thanh tịnh êm tai, nhưng sau khi nghe
rồi, chẳng chấp vào tiếng ca. Bất cứ tiếng
ca của loại người nào, vị pháp sư đó đều
phân biệt hiểu rõ, chẳng có ngôn ngữ chướng
ngại không thông.
Lại nghe tiếng chư Thiên
Âm thanh ca vi diệu
Và nghe tiếng nam nữ
Tiếng đồng tử đồng nữ.
Vị pháp sư đó, lại nghe được âm thanh của chư
Thiên, lại nghe được tiếng ca vi diệu, lại
nghe được tiếng của con trai con gái, lại
nghe được tiếng của đồng nam đồng nữ. Tóm
lại, bất cứ là tiếng gì đều nghe được hết,
và còn phân biệt được rất rõ ràng.
Trong núi sông hang hiểm
Tiếng ca lăng tần già
Cộng mệnh các thứ chim
Ðều nghe rõ các tiếng.
Ở trong núi sông hang cốc, có tiếng của chim
ca lăng tần già, tiếng hót rất là êm tai,
còn gọi là tiên điểu (tiên của loài chim)
phát ra âm thanh rất hay, chẳng phải một số
người có thể nghe được. Chim cộng mệnh có
hai cái đầu, hai cái mỏ, đồng thời ăn uống,
đồng thời hót. Tất cả tiếng hót của mọi loài
chim, vị pháp sư đó hoàn toàn nghe được hết.
Các thống khổ địa ngục
Ðủ thứ tiếng rên
la
Quỷ đói khát bức bách
Tiếng tìm cầu ăn uống.
Ðịa ngục có địa ngục bát nhiệt, địa ngục bát
hàn, mười tám địa ngục .v.v... Trong địa
ngục đủ thứ tiếng khổ sở, vị pháp sư đó đều
nghe được. Tiếng ngạ quỷ đói khát bức bách,
tiếng đi khắp nơi tìm cầu ăn uống, vị pháp
sư đó đều nghe được. Ngạ quỷ vì nghiệp lực
chiêu cảm, cổ nhỏ như kim, bụng to như
trống, chẳng khi nào ăn no. Tại sao ? Vì
thức ăn vào miệng, thì biến thành lửa than,
thấy nước là máu, chẳng uống đặng, cho nên
gọi là ngạ quỷ (quỷ đói). Nguyên nhân gì mà
làm quỷ đói ? Vì người đó lúc còn sống, phỉ
báng Tam Bảo, phá hoại Tam Bảo, cho nên chết
rồi đọa làm quỷ đói. Tôn giả Mục Kiền Liên
thần thông đệ nhất. Một ngày nọ, Ngài đi tìm
mẹ của Ngài sau khi chết sinh về đâu ? Thì
phát hiện mẹ của Ngài đọa làm ngạ quỷ, thân
gầy như cây củi, rất đáng thương xót. Tôn
giả mới mang bát cơm đến cho mẹ của Ngài
dùng, bất hạnh cơm lại biến thành lửa than,
chẳng cách chi nuốt xuống được. Tôn giả thấy
như vậy đau đớn rơi lệ, đến hỏi Ðức Phật :
‘’Ðó là nhân duyên gì ?‘’ Phật bảo rằng :
‘’Vì mẹ của ông lúc còng sống, thì chẳng
những chẳng tin Phật pháp, mà còn hủy báng,
cho nên phải thọ khổ treo ngược.’’ Phật lại
nói : ‘’Vào ngày rằm tháng bảy, ngày chư
Tăng tự tứ, ông nên sắm trăm thứ vật để cúng
dường chư Tăng, thỉnh chư Tăng tụng kinh trì
chú. Nhờ công đức đó, chẳng những mẹ của ông
được cứu, mà cha mẹ bảy đời quá khứ cũng
được cứu.’’ Do đó, hàng năm mỗi chùa đều cử
hành lễ Vu Lan (dịch là giải đảo huyền, mở
trói treo ngược), siêu độ cha mẹ bảy đời,
lìa khổ được vui.
Các A tu la thảy
Ở ven cạnh bờ biển
Khi chúng cùng nhau nói
Vang ra âm thanh lớn.
Hết thảy A tu la, tính nóng giận rất lớn,
chẳng có công phu hàm dưỡng; cho nên thích
đấu tranh. Chúng ở ven cạnh bờ biển, khi
cùng nhau nói chuyện, thì phát ra âm thanh
rất lớn. Vì chẳng có tâm từ bi, chỉ có tâm
cừu hận.
Người giải nói kinh này
An trụ vào nơi nghe
Nghe xa các tiếng đó
Mà chẳng hư căn tai.
Vị pháp sư giải nói Kinh Pháp Hoa, an trụ nơi
từ bi, hay nghe được tất cả các thứ tiếng
rất xa, mà chẳng hư căn tai, vì nhờ công đức
thuyết pháp gia trì.
Trong mười phương thế giới
Tiếng cầm thú kêu
la
Người đó hay nói pháp
Hoàn toàn nghe được hết.
Trong mười phương tất cả thế giới, hết thảy
loài phi cầm, và tẩu thú tranh nhau kêu la,
vị pháp sư đó nói pháp, đều hoàn toàn nghe
được hết mọi thứ tiếng rất rõ ràng.
Trên các trời Phạm Thiên
Quang Âm và Biến Tịnh
Cho đến trời Hữu Ðỉnh
Lời nói và âm thanh.
Pháp sư ở tại đây
Thảy đều nghe được hết.
Sắc giới trời Ðại Phạm, đã lìa khỏi tâm dâm
dục của dục giới, ở đó rất yên tĩnh lại
thanh tịnh. Thiên chủ tên Thi Khí tin sâu
chánh pháp. Mỗi khi có Phật ra đời, thì ông
ta đầu tiên đến thỉnh Phật chuyển bánh xe
pháp. Bà la môn giáo sùng bái trời Phạm
Thiên, cho rằng Bà la môn là từ miệng của
trời Phạm Thiên sinh ra, là người tôn quý
nhất, xưng là quý tộc. Sát đế lợi (vua chúa)
là từ vai của trời Phạm Thiên sinh ra, cho
nên thống trị nhân dân toàn quốc. Phệ xá
(công thương nông) là từ ngực của trời Phạm
Thiên sinh ra, hay sinh sản tất cả vật ứng
dụng. Thủ đà (nô lệ) là người hạ tiện nhất,
xưng là tiện tộc, chẳng có tự do tín ngưỡng
tôn giáo, chẳng có quyền lực về chính trị,
giáo dục, kinh tế, đối đãi đều bất bình
đẳng.
Trời Quang Âm là
trời thứ ba của nhị thiền, cõi trời này
chẳng những thân tâm phóng quang thay thế
cho lời nói, mà còn phóng trí huệ quang để
giáo hóa chúng sinh. Truyền thuyết nói rằng,
tổ tiên của địa cầu là từ Trời Quang Âm đến.
Người ở cõi này thích đi du hành, đến khắp
nơi tham quan. Một lần nọ, đến quả địa cầu
(thời kiếp thành) phát hiện một thứ nước như
sữa bò rất ngon ngọt thơm mát, giống như
nước cam lồ. Nhất thời, khởi tâm tham mà
uống quá lượng, do đó mà mất đi thần túc
thông, không thể trở về trời Quang Âm, bèn ở
lại quả địa cầu trở thành tổ tiên của nhân
loại.
Trời Biến Tịnh là trời thứ ba của tam thiền.
Cõi trời này, đã đắc được khoái lạc phổ biến
thanh tịnh, tuy nhiên diệu lạc vô cùng nhưng
là sự vui hữu lậu. Một số hành giả cho rằng
đó là nơi an thân lập mạng, tham đồ khoái
lạc, mà quên đi ngôi nhà thanh tịnh, dễ bị
đọa lạc. Người chân chánh tu hành thì chẳng
ở cõi trời này hưởng thụ, cấp tốc ra khỏi
cõi trời này đến trời tứ thiền.
Ðến cõi Trời Hữu
Ðỉnh có hai lối, một là con đường chánh :
Người tu định vô lậu thì có thể chẳng đến
Trời Quảng Quả mà tiến vào Trời Ngũ Bất
Hoàn. Một lối nữa là đường tà : Người tu
định vô tưởng thì có thể đến Trời Vô Tưởng
(Trời Trường Thọ), đây là chỗ của ngoại đạo
ở, chẳng phải là chỗ cứu kính. Tạm thời tịch
nhiên bất động, khi định lực nhiếp trì chẳng
đủ, thì tự nhiên sẽ đọa vào trong luân hồi
thọ sinh tử. Giống như đạo lý "đá đè cỏ,
băng phủ lên cá".
Chư Phật đấng Ðại Thánh
Giáo hóa các chúng sinh
Ở trong các đại hội
Diễn nói vi diệu pháp.
Người trì Kinh Pháp
Hoa
Hoàn toàn đều nghe được.
Mười phương chư Phật là đấng Ðại Thánh, giáo
hóa tất cả chúng sinh. Ở trong tất cả pháp
hội diễn nói vi diệu pháp, vì thật thí
quyền, khai quyền hiển thật. Vị pháp sư thọ
trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đều hoàn toàn
nghe được.
Ba ngàn đại thiên giới
Trong ngoài các thứ tiếng
Dưới đến ngục A Tỳ
Trên đến trời Hữu Ðỉnh
Ðều nghe được tiếng đó
Mà chẳng hư căn tai.
Trong ba ngàn đại thiên thế giới trong và
ngoài, hết thảy tất cả thứ tiếng, dưới đến
địa ngục A Tỳ, trên đến cõi trời Hữu Ðỉnh.
Vị pháp sư đó, đều nghe được các thứ tiếng
đó, mà chẳng hư hoại căn tai.
Vì căn tai thông lợi
Ðều phân biệt biết được
Người trì Pháp Hoa này
Tuy chưa được thiên nhĩ
Dùng tai cha mẹ sinh
Công đức đã như thế.
Vì căn tai của vị pháp sư đó rất thông lợi,
cho nên phân biệt biết được. Vị pháp sư thọ
trì Kinh Pháp Hoa, tuy chưa chứng được thiên
nhãn thông, nhưng dùng tai thịt cha mẹ sinh
ra, có thể nghe được tất cả thứ tiếng. Tại
sao ? Do công đức thọ trì Kinh Pháp Hoa.
Ngũ nhãn là: Nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn,
pháp nhãn và Phật nhãn. Do đó có câu :
‘’Thiên nhãn thông phi ngại,
Nhục nhãn ngại phi thông,
Pháp nhãn duy quán tục,
Huệ nhãn liễu chân không,
Phật nhãn như thiên nhật,
Chiếu dị thể hoàn đồng,
Viên minh pháp giới nội,
Vô xứ bất hàm dung.’’
Trời Hữu Ðỉnh là vô sắc giới, cõi trời cao
nhất, tức cũng là Trời Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ. Lúc Ðức Phật tu ở tại núi Tuyết,
thì vị thầy hướng dẫn Ngài tu, tu đến cảnh
giới cõi trời này, Phật nhận rằng chẳng phải
là pháp thoát khỏi sinh tử, bèn bỏ ông ta ra
đi. Tự mình tu khổ hạnh sáu năm, vẫn chẳng
đắc được pháp liễu sinh thoát tử, do đó bỏ
tu khổ hạnh đến dưới cội bồ đề, tĩnh tọa tư
duy, đến đêm thứ bốn mươi chín, Ngài nhìn
thấy sao mai mọc mà ngộ đạo, chứng được lý
mười hai nhân duyên, là bánh xe của sinh
mạng.
Lời nói âm thanh của chư thiên, vị pháp sư ở
tại đây hoàn toàn nghe được, thậm chí vị
trời nói tiếng gì cũng phân biệt được rõ
ràng.
Tất cả chúng Tỳ Kheo
Và chúng Tỳ Kheo ni
Hoặc đọc tụng kinh điển
Hoặc vì người khác nói.
Pháp sư ở tại đây
Hoàn toàn đều nghe được.
Tất cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni xuất gia, hoặc
đọc tụng kinh điển, hoặc cung kính biên chép
kinh điển. Vị pháp sư đó ở nơi đây, đều hoàn
toàn nghe được họ tu trì pháp môn đó.
Lại có các Bồ Tát
Ðọc tụng kinh pháp này
Hoặc vì người khác nói
Tuyển tập giải nghĩa kinh.
Các âm thanh như thế
Hoàn toàn đều nghe được.
Lại có tất cả Bồ Tát, hoặc đọc kinh này, hoặc
tụng kinh này, hoặc vì người khác giải nói
kinh này, hoặc tuyển chọn kinh này, hoặc tập
giải nghĩa của kinh này. Các thứ âm thanh
như thế, vị pháp sư đó hoàn toàn đều nghe
được rất rõ ràng.
Tai cũng có căn tai. Vị pháp sư đó dùng tai
thường của cha mẹ sinh ra. Vì giải nói Kinh
Pháp Hoa có công đức, chẳng những nghe được
tất cả các thứ tiếng, mà còn biết được tất
cả các thứ tiếng.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn ! Nếu người thiện
nam, người thiện nữ, thọ trì kinh này, hoặc
đọc tụng giải nói, hoặc biên chép, thì thành
tựu tám trăm công đức nơi mũi. Dùng căn mũi
thanh tịnh đó, ngửi được các thứ mùi hương
trong ngoài, trên dưới trong ba ngàn đại
thiên thế giới.
Ðức Phật gọi một tiếng Bồ Tát Thường Tinh Tấn
! Nếu như có người thiện nam, người thiên
nữ, thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dù là
đọc, là tụng, là giải nói, là biên chép, đều
thành tựu tám trăm công đức nơi mũi. Dùng
căn mũi thanh tịnh này, có thể ngửi được tất
cả mùi hương trên dưới, trong ngoài ba ngàn
đại thiên thế giới.
Hương thơm của hoa tu mạn na, hương thơm
hoa xà đề, hương thơm hoa mặc lợi, hương
thơm hoa thiềm bặc, hương thơm hoa ba la la,
hương thơm hoa sen đỏ, hương thơm hoa sen
xanh, hương thơm hoa sen trắng, hương thơm
cây có hoa, hương thơm cây có quả, hương
chiên đàn, hương trầm thủy, hương đa ma la
bạt, hương đa già la, và hàng ngàn vạn thứ
hương hòa hợp, hoặc hương bột, hoặc hương
viên tròn, hoặc hương xoa. Người trì kinh
này, trụ ở nơi này, đều phân biệt được.
Hương thơm hoa tu mạn na, dịch là "hoa
duyệt ý". Hoa này vừa thơm lại vừa đẹp, hình
sắc rất là mỹ lệ, khiến cho tâm người hoan
hỷ thích thú, cho nên được tên này. Lại có
mùi hương của hoa xà đề, dịch là "hoa kim
tiền", hoa này màu vàng như là tiền vàng,
cho nên được tên này. Lại có mùi hương của
hoa mặc lợi, dịch là "hoa tóc mượt", hoa này
có thể chế biến thành hoa tóc mang trên
thân, dùng để trang nghiêm. Hiện tại còn lưu
hành ở vườn hoa, để tặng cho khách, biểu thị
sự hoan nghênh; tặng cho người chết là biểu
thị phúng điếu. Lại có mùi hương hoa thiềm
bặc, dịch là "hoa kim sắc", hoa nhỏ mà thơm,
theo gió bay đi xa mà hương thơm chẳng tan.
Lại có mùi hương ba la la, dịch là "hoa
trọng sinh", vì loài hoa này khi nở qua một
lần rồi, thì lại nở qua một lần nữa, cho nên
được tên này. Mùi hương hoa sen đỏ tức là
hoa ba đầu ma. Mùi hương hoa sen xanh tức là
hoa ưu bát la. Mùi hương hoa sen trắng tức
là hoa phân đà lợi. Mùi hương của cây có
hoa, mùi hương của cây có quả. Lại có mùi
hương của ngưu đầu chiên đàn, mọc ở núi Ngưu
Ðầu bên Ấn Ðộ, cho nên được tên này. Mùi
hương như xạ hương, cách bốn mươi dặm mà có
thể ngửi được mùi hương. Tính của nó rất mát
mẻ, có thể trị bệnh, dùng làm thuốc. Lại có
mùi hương trầm thủy chiên đàn, vì chất cây
cứng mà nặng như sắc thuộc về kim loại, bỏ
vào trong nước thì lập tức chìm xuống, cho
nên được tên này. Lại có mùi hương Ða ma la
bạt, dịch là "hoắc hương", rất thơm có thể
dùng làm thuốc. Lại có mùi hương Ða già la,
dịch là "căn hương", rễ của nó rất thơm lạ
thường, tụ lâu chẳng tan. Và hàng ngàn vạn
mùi hương hòa hợp, hoặc là hương bột, hoặc
hương viên tròn, hoặc hương xoa. Vị pháp sư
thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đều hoàn
toàn ngửi được và phân biệt được là mùi
hương gì.
Lại phân biệt biết được mùi hương của chúng
sinh, mùi hương của voi, mùi hương của ngựa,
mùi hương của bò dê, mùi hương của con trai,
mùi hương của con gái, mùi hương của đồng
tử, mùi hương của đồng nữ và mùi hương của
cỏ cây lùm rừng, hết thảy các mùi hương,
hoặc gần hoặc xa, đều ngửi được, phân biệt
chẳng sai lầm.
Lại có thể phân biệt biết được tất cả mùi
hương của chúng sinh. Như mùi hương của voi,
mùi hương của ngựa, mùi hương của bò, mùi
hương của dê. Mùi hương của con trai, mùi
hương của con gái, mùi hương của đồng tử,
mùi hương của đồng nữ. Và mùi hương của cỏ,
mùi hương của cây, mùi hương của lùm rừng.
Bất cứ là gần hay xa, hết thảy tất cả các
mùi hương đều hoàn toàn ngửi được, phân biệt
được là mùi hương gì chẳng có sai lầm.
Người trì kinh này, tuy ở nơi đây, mà cũng
ngửi được mùi hương của chư Thiên ở trên
trời, mùi hương cây ba lợi chất đa la, mùi
hương cây câu tì đà la, và mùi hương hoa mạn
đà la, mùi hương hoa ma ha mạn đà la, mùi
hương hoa mạn thù sa, mùi hương hoa ma ha
mạn thù sa, các thứ hương bột chiên đàn trầm
thủy, các thứ hương của các loại hoa. Các
mùi hương trời hòa hợp tỏa ra như thế, chẳng
có mùi hương nào mà chẳng ngửi biết được.
Pháp sư thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tuy
nhiên ở tại nhân gian, nhưng cũng ngửi được
mùi hương của chư Thiên. Mùi hương cây ba
lợi chất đa la, dịch là "thiên thụ vương". Ở
ngoài thành Hỷ Kiến trời Ðao Lợi, các thiên
chúng nghỉ ở dưới cây này, vì mùi hương thơm
ngát mũi, có công hiệu mát mẻ cho phổi. Mùi
hương cây câu tì đà la, dịch là "cây đại du
hí", chư thiên chúng du hí vui đùa ở dưới
cây này. Lại có mùi hương hoa mạn đà la,
dịch là "hoa tiểu bạch". Lại có mùi hương
hoa ma ha mạn đà la, dịch là "hoa đại bạch".
Lại có mùi hương hoa mạn thù sa, dịch là
"hoa tiểu hồng". Lại có mùi hương hoa ma ha
mạn thù sa, dịch là "hoa đại hồng". Lại có
mùi hương ngưu đầu chiên đàn, lại có mùi
hương trầm thủy chiên đàn, đủ thứ các hương
bột, đủ thứ mùi hương của các loài hoa. Các
thứ hương trời đó hòa hợp lại, tỏa ra mùi
hương. Vị pháp sư đó, chẳng có mùi hương nào
mà chẳng ngửi biết được là mùi hương gì.
Lại ngửi được mùi hương thân của chư Thiên,
mùi hương khi Thích Ðề Hoàn Nhân ở trong
Thắng Ðiện, đùa giỡn vui chơi hưởng thụ năm
dục, hoặc mùi hương khi ở trong Diệu Pháp
Ðường, vì chư Thiên trời Ðao Lợi thuyết
pháp, hoặc mùi hương khi ở trong vườn dạo
chơi, và mùi hương người nam, người nữ, của
các vị trời khác, thảy đều ngửi biết được.
Vị pháp sư thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
lại ngửi được mùi hương thân của chư thiên.
Chư thiên vì trì giới rất tinh nghiêm, tơ
hào chẳng phạm, cho nên thân tỏa ra mùi
hương. Chúng ta người xuất gia tu đạo, nhất
định phải giữ gìn giới luật, thì thân thể tự
nhiên sẽ tỏa hương thơm, bằng không thì sẽ
tỏa ra mùi hôi. Mùi hương đại biểu cho điều
thiện, mùi hôi đại biểu cho điều ác. Muốn
biết người nào đó có giữ giới không, ngửi
mùi thân của họ thì sẽ biết. Nếu làm việc
thiện nhiều thì thơm, còn nếu làm việc ác
nhiều thì hôi, tơ hào chẳng sai lầm. Phàm là
người thân thể hôi thì phải mau giữ giới,
làm nhiều công đức, từ từ thân sẽ biến thành
thơm, tuyệt đối chẳng dọa người. Trong quá
khứ, có vị Tỳ Kheo Ni tụng đọc chẳng biết
bao nhiêu bộ Kinh Pháp Hoa, về sau miệng của
vị đó tỏa ra hương thơm. Ðó là cảnh giới
không thể nghĩ bàn. Tóm lại, kiếp trước là
người tu hành thì đời này thân thể chẳng có
mùi hôi.
Thích Ðề Hoàn Nhân
là thiên chúa trên cõi trời Ðao Lợi, ông ta
quản hạt trời Tam Thập Tam. Mùi hương khi
vui chơi đùa giỡn hưởng thụ năm dục ở tại
Thắng Ðiện, hoặc mùi hương khi vì chư thiên
nói pháp ở tại Diệu Pháp Ðường, hoặc mùi
hương khi dạo chơi ở trong tất cả vườn hoa,
hoặc mùi hương của tất cả người nam người nữ
chư thiên khác. Vị pháp sư đó, đều ngửi được
các mùi hương đó, và còn phân biệt biết được
là mùi hương gì.
Chúng sinh ở cõi
dục giới đều có tâm dâm dục, dù lục dục
thiên cũng thế, bất quá tâm dâm dục giảm bớt
hơn ở nhân gian mà thôi. Khi đến cõi sắc
giới thì chẳng còn ăn và dâm hai thứ. Cho
nên, sắc giới tuy có hình thể mà chẳng có
phân biệt nam nữ, nhưng vẫn có dục niệm về
vật chất, cho nên vẫn có lầu gác cung điện.
Khi đến cõi vô sắc giới thì chẳng những
chẳng có ăn uống và dâm dục, tức là hình thể
cũng chẳng có, chỉ có tâm thức mà thôi. Do
đó, có thể chứng minh người tu đạo nhất định
phải đoạn dục khử ái, mới có thể ra khỏi tam
giới. Chư thiên chưa đoạn dục niệm, cho nên
vẫn còn sinh tử.
Như thế, lần lượt đến trời Ðại Phạm. Trên
đến trời Hữu Ðỉnh, mùi hương nơi thân của
chư thiên cũng đều ngửi được, mùi hương đốt
của chư thiên, và mùi hương của Thanh Văn,
mùi hương của Bích Chi Phật, mùi hương của
Bồ Tát, mùi hương thân của chư Phật, cũng
đều ngửi được, và biết ở đâu. Tuy ngửi được
những mùi hương đó, mà căn mũi chẳng hư,
chẳng sai lầm. Nếu muốn phân biệt giải nói
cho người khác, thì nhớ nghĩ chẳng quên.
Lần lượt như thế, đến sắc giới trời Ðại Phạm,
trên đến trời Hữu Ðỉnh, mùi hương nơi thân
của chư thiên cũng ngửi được. Chẳng những
ngửi được, mà còn phân biệt được rất rõ
ràng. Và cũng ngửi được mùi hương xông đốt
của chư thiên. Và mùi hương đốt của Thanh
Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát, chư Phật. Bậc
Thanh Văn đốt hương Tứ Diệu Ðế, Bích Chi
Phật đốt hương mười hai nhân duyên, Bồ Tát
đốt hương lục độ vạn hạnh, chư Phật đốt
hương giải thoát bồ đề. Những mùi hương đó,
tuy ở xa (cõi Thường Tịch Quang), nhưng pháp
sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, đều ngửi được mùi
hương của bốn bậc Thánh vừa nói ở trên, và
cũng biết được mùi hương đó ở đâu. Tuy ngửi
được mùi hương đó, cũng chẳng tổn hại căn
mũi, cũng chẳng phán đoán sai lầm. Nếu như
đem cảnh giới của mình thấy, phân biệt vì
người khác nói, thì sẽ nhớ chẳng quên, nhớ
rõ ràng ở trong đầu óc, chẳng có sai lầm.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng.
Lúc đó, Ðức Phật muốn thuật lại nghĩa lý vừa
nói ở trên, bèn dùng kệ để nói.
Người đó mũi thanh tịnh
Ở trong thế giới này
Hoặc vật thơm hay hôi
Các thứ đều ngửi được.
Vị pháp sư đó thọ trì Kinh Pháp Hoa, có căn
mũi rất thanh tịnh. Ở trong thế giới này,
hoặc là vật thơm, hay là vật hôi thối, các
thứ mùi vị đều hoàn toàn ngửi được, chẳng có
sai lầm.
Căn mũi chẳng bị hương trần làm ô nhiễm, thì
sẽ có cảnh giới sáu căn hổ dụng với nhau.
Sáu căn dụng với nhau như thế nào ? Tức là
con mắt có thể nghe được, lỗ tai thấy được,
lỗ mũi nếm được, lưỡi ngửi được mùi hương,
thân thể biết các pháp, ý thức xúc giác. Ðó
là cảnh giới sáu căn dụng với nhau. Mỗi một
căn đều có tác dụng sáu căn, bạn nói có diệu
chăng ? Kỳ thật, một chút cũng chẳng diệu,
người tu đạo tu đến hỏa hầu, thì đều sinh ra
tác dụng như thế, chẳng có thần bí gì cả,
chỉ bất quá phương diện sinh lý khởi biến
hóa mà thôi.
Một số người chỉ
biết mắt thấy hình sắc, tai nghe tiếng, mũi
ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý biết
pháp. Nếu nói với họ cảnh giới sáu căn hổ
dụng với nhau, thì họ cho rằng là người ngu
nói mộng, việc chẳng thể nào có. Ðến khi họ
tu đến cảnh giới này, thì chẳng nói họ cũng
biết; cho nên Phật pháp chẳng phải ở lời
nói, mà ở tại thực hành. Ðến lúc đó, thấy mà
chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, ngửi mà
chẳng ngửi, nếm mà chẳng nếm, xúc mà chẳng
xúc, duyên mà chẳng duyên. Chẳng bị cảnh
giới chuyển, mới có sự sáu căn hổ tương dụng
với nhau.
Tu mạn na xa đề
Ða ma la chiên đàn
Trầm thủy và hương quế
Các thứ hương hoa quả.
Hương hoa tu mạn na, hương hoa xà đề, hương đa
ma la, mùi hương chiên đàn, mùi hương trầm
thủy, mùi hương cây quế, các thứ hương của
hoa, các thứ mùi hương của trái cây. Vị pháp
sư thọ trì Kinh Pháp Hoa ngửi, thì sẽ biết
được là mùi hương cây cỏ gì.
Và hương các chúng sinh
Hương người nam người nữ
Người thuyết pháp ở xa
Ngửi hương biết chỗ nào.
Lại biết được mùi hương của chúng sinh, như
mùi hương của ngựa, trâu, dê .v.v... lại
biết được mùi hương của người nam người nữ.
Vị pháp sư diễn nói Kinh Pháp Hoa, tuy ở nơi
xa mà khi ngửi đến mùi hương, thì biết được
mùi hương ở đâu.
Ðại thế chuyển luân
vương
Tiểu chuyển luân và con
Quần thần các cung nhân
Ngửi hương biết chỗ nào.
Chuyển Luân Thánh Vương phân làm bốn loại :
Kim luân vương cai trị bốn thiên hạ, Ngân
luân vương cai trị ba thiên hạ, Ðồng luân
vương cai trị hai thiên hạ, Thiết luân vương
cai trị một thiên hạ. Kim Luân Vương là đại
thế chuyển luân vương, có một ngàn thái tử,
lại có bảy báu :
1). Bánh xe báu.
2). Voi báu.
3). Ngựa báu.
4). Châu báu.
5). Nữ báu.
6). Kho tàng báu.
7). Binh báu.
Còn ba luân kia đều là tiểu chuyển luân vương.
Ðại chuyển luân vương, tiểu chuyển luân
vương, ngàn người con, quần thần, cung nhân
.v.v... Vị pháp sư đó, một khi ngửi mùi thì
biết được chỗ nào. Do đó, có thể chứng minh
lỗ mũi cũng có công năng của mắt.
Thân mang các châu báu
Và tạng báu trong đất
Chuyển luân vương nữ báu
Ngửi hương biết ở đâu.
Trên thân mang tất cả châu báu, tất cả kho
tàng châu báu ẩn tàng dưới đất và hành tung
của chuyển luân thánh vương và nữ báu ở đâu,
khi vị pháp sư đó ngửi mùi hương thì sẽ biết
rõ.
Mọi người thân trang sức
Quần áo và chuỗi ngọc
Và các thứ hương xoa
Ngửi hương đều biết rõ.
Những người ở trên trời và ở tại nhân gian,
dùng đồ vật để trang sức, như quần áo, chuỗi
ngọc, và các thứ hương xoa. Vị pháp sư đó,
một khi ngửi mùi thì sẽ biết thân họ trang
sức đồ gì.
Chư thiên đi hoặc ngồi
Ðùa giỡn và thần biến
Người trì kinh pháp này
Ngửi hương đều biết được.
Chư thiên trong ba cõi, hoặc đi, hoặc ngồi
thiền, hoặc đùa giỡn, hoặc thân biến. Vị
pháp sư đó, một khi ngửi mùi hương thì sẽ
biết được họ đang làm gì.
Các cây hoa quả thật
Và dầu tô hương vị
Người trì kinh ở đây
Biết rõ ở chỗ nào.
Hết thảy tất cả cây, hoa, quả thật và mùi
hương dầu tô thắp đèn. Vị pháp sư thọ trì
Kinh Pháp Hoa ở nơi đây, một khi ngửi mùi
hương thì hoàn toàn biết được ở chỗ nào.
Nơi núi sâu nguy hiểm
Cây chiên đàn nở
hoa
Chúng sinh ở trong đó
Ngửi hương đều biết được.
Ở chỗ thâm sơn cùng cốc rất nguy hiểm, có cây
chiên đàn nở hoa rất sum sê rất thơm tho.
Tất cả chúng sinh ở trong thâm sơn làm gì,
vị pháp sư đó ngửi mùi hương thì hoàn toàn
biết rõ.
Núi Thiết Vi biển cả
Các chúng sinh trong đất
Người trì kinh ngửi hương
Ðều biết ở chỗ nào.
Núi Thiết Vi và biển cả, và tất cả chúng sinh
ở trong đất. Vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp
Hoa, một khi ngửi mùi hương thì hoàn toàn
biết họ đang ở đâu, chẳng sai lầm.
Nam nữ A tu
la
Và quyến thuộc của họ
Khi đấu tranh vui đùa
Ngửi hương đều biết được.
Nam nữ A tu la đều có tâm thích đấu tranh. Nếu
có việc bất như ý thì họ nổi giận, như phu
nhân của Ðế Thích là con gái của vua A tu
la, cô ta rất đố kỵ, thường nổi giận với Ðế
Thích, thậm chí phát sinh chiến tranh. Nam
nữ A tu la và quyến thuộc khi đùa giỡn,
tranh đấu để làm trò chơi, nổi giận để làm
tiêu khiển, vẫn làm thường xuyên chẳng thấy
có gì quái lạ. Vị pháp sư đó, một khi ngửi
mùi hương thì biết được tình hình của họ.
Nơi khoáng dã nguy hiểm
Sư tử voi hổ lang
Bò hoang trâu nước thảy
Ngửi mùi biết chỗ ở.
Ở nơi khoáng dã không có người, hoặc ở nơi
nguy hiểm. Hoặc có sư tử, voi, cọp, sài
lang, hoặc bò hoang, trâu nước .v.v... Vị
pháp sư đó, một khi ngửi mùi hương thì biết
nơi của chúng ở.
Nếu có người mang thai
Chưa biết trai hay gái
Vô căn và phi nhân
Ngửi hương đều biết được.
Nếu như có người nữ đã mang thai, mà chẳng
biết được là trai hay gái, hoặc là quỷ thai
hoặc là quái thai. Vị pháp sư đó vì thọ trì
Kinh Pháp Hoa, một khi ngửi mùi hương thì sẽ
biết được rõ ràng, chẳng phán đoán sai lầm.
Bởi nhờ sức ngửi hương
Biết được sự mang thai
Thành tựu chẳng thành tựu
An lạc sinh quý tử.
Vì nhờ sức ngửi hương mà biết được tình hình
khi mang thai, thành tựu hay chẳng thành
tựu, ngửi mùi hương thì sẽ biết. Giống như
trái cây, chín thì sẽ rụng xuống, chưa chín
thì không thể rụng xuống. Ðây là hiện tượng
tự nhiên, không thể ép buộc để sinh ra thì
rất nguy hiểm cho mẹ và con. Hiện tại sự phá
thai rất là nhiều, đây là việc bất nhân đạo
nhất. Những người đó đã gieo trồng xuống
nhân quả rất là ác độc.
Thai nhi ở trong bụng mẹ mười tháng mới thành
tựu, có thể sinh ra, mẹ con nhất định bình
an. Nếu bảy tháng mà sinh ra thì chẳng thành
tựu, đứa bé khó mà nuôi sống, người mẹ khi
sinh con thì rất nguy hiểm. Nếu quy y Tam
Bảo, đọc tụng kinh điển, thì sẽ an lạc sinh
ra con có phước báu.
Bởi nhờ sức ngửi hương
Biết nam nữ nghĩ gì
Tâm nhiễm dục si sân
Cũng biết người tu thiện.
Bởi nhờ sức ngửi mùi hương, nên biết được
người nam nghĩ gì ? Và biết được người nữ
nghĩ gì ? Chẳng ngoài những sự nghĩ tưởng là
nhiễm dục. Vì ngu si mới nghĩ việc trai gái
hoặc sân hận. Các tâm lý như thế, vị pháp sư
đó hoàn toàn biết rõ và cũng biết người nào
tu pháp lành.
Trong đất có kho tàng
Vàng bạc các châu báu
Ðồ đồng dùng đựng chứa
Ngửi hương đều biết được.
Lại biết kho tàng châu báu ẩn tàng dưới lòng
đất, hoặc là mỏ vàng, mỏ bạc, hoặc các châu
báu. Trong đồ đồng đựng chứa những gì ? Vị
pháp sư đó, một khi ngửi mùi hương thì đều
biết được.
Ðủ thứ các chuỗi ngọc
Không biết được giá cả
Ngửi hương biết tốt xấu
Xuất xứ và ở đâu.
Ðủ các thứ chuổi ngọc, chuỗi ngọc dùng bảy báu
(vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích
châu, mã não) chế thành, thường đeo ở trên
cổ, là đồ trang sức. Lúc Phật còn tại thế, ở
Ấn Ðộ nhà quý tộc đều mang, đó là biểu thị
sự trang nghiêm. Các vị thấy đó ! Các vị Bồ
Tát trên thân đều có chuỗi ngọc. Trong Phẩm
Phổ Môn có nói : ‘’Bồ Tát Vô Tận Ý, cởi sâu
chuỗi quý báu trên cổ, giá trị trăm ngàn
lượng vàng, cúng dường cho Bồ Tát Quán Thế
Âm !‘’
Giá trị của chuỗi ngọc, phàm phu chẳng biết
được giá cả, chẳng biết là quý, cũng chẳng
biết là chẳng quý, chẳng cách chi biết được
giá là bao nhiêu. Nhưng vị pháp sư đó, một
khi ngửi mùi hương thì biết được là quý báu,
hay tầm thường, hạt châu báu sinh sản ở đâu,
và bây giờ ở đâu ?
Các thứ hoa trên trời
Mạn đà mạn thù sa
Cây ba lợi chất đa
Ngửi hương đều biết được.
Trên cõi trời Ðao Lợi có rất nhiều cây hoa,
như hoa tiểu bạch và hoa tiểu hồng, hoặc cây
thiên thụ vương .v.v... Vị pháp sư đó, một
khi ngửi mùi hương thì hoàn toàn biết được.
Các cung điện trên trời
Thượng trung hạ khác nhau
Các hoa báu trang
nghiêm
Ngửi hương đều biết được.
Trên cõi trời Ðao Lợi có rất nhiều cung
điện, nhưng phân ra ba hạng, thượng trung và
hạ khác nhau. Bất cứ cung điện gì, dùng thứ
báu gì, và các thứ hoa gì để trang nghiêm.
Vị pháp sư đó ngửi mùi hương thì sẽ biết
được.
Vườn rừng Thắng Ðiện trời
Các quán Diệu Pháp Ðường
Vui đùa ở trong đó
Ngửi hương đều biết được.
Trong vườn hoa trên trời Ðao Lợi, tất cả cây
lớn đều dùng bảy báu trang nghiêm. Gốc cây
dùng ngọc làm thành, lá dùng vàng bạc làm
thành, hoa dùng trân châu làm thành, quả
dùng mã não làm thành. Thắng Ðiện trong vườn
là nơi vui đùa của người trời. Các quán và
Diệu Pháp Ðường là nơi luận sự của người
trời. Vị pháp sư đó, một khi ngửi mùi, thì
biết tình hình người trời đang vui đùa trong
đó.
Hoặc chư thiên nghe pháp
Hoặc khi thọ năm dục
Lai vãng đi ngồi nằm
Ngửi hương đều biết được.
Chư thiên thường đến Diệu Pháp Ðường, nghe
Thích Ðề Hoàn Nhân giảng Phật pháp, hoặc khi
ở tại Thắng Ðiện hưởng thọ năm dục, hoặc đi,
hoặc đến, hoặc ngồi thiền, hoặc nằm, các thứ
tư thế. Vị pháp sư đó, một khi ngửi mùi thì
đều biết rõ.
Y phục thiên nữ mặc
Hương hoa quý trang
nghiêm
Khi đi dạo du hí
Ngửi hương đều biết được.
Y phục của thiên nữ mặc, vừa nhẹ lại rất đẹp,
đều dùng hoa hương quý để trang nghiêm,
hương thơm tỏa khắp, họ chẳng những xinh đẹp
mà còn duyên dáng. Khi họ đi dạo, du hí nhảy
múa, khoái lạc vô cùng. Vị pháp sư đó, một
khi ngửi mùi hương, thì hoàn toàn biết được
tình hình khi họ du hí.
Như vậy lần lượt lên
Cho đến trời Phạm Thế
Người nhập thiền xuất thiền
Ngửi hương đều biết được.
Như vậy, lần lượt lên cho đến sắc giới trời
Phạm Thế, hoặc người nhập thiền định, hoặc
người xuất thiền định. Vị pháp sư đó, một
khi ngửi mùi hương, thì hoàn toàn biết được.
Người trên cõi trời đều tu thiền định. Án
chiếu theo sự thô tế sâu cạn của thiền định
để quyết định, hoặc thăng đi lên, hoặc đi
xuống. Trời sơ thiền gọi là Ly sinh hỷ lạc
địa, tức là lìa khỏi sự khoái lạc của chúng
sinh cõi dục giới, mà sinh ra khoái lạc đặc
biệt. Trời nhị thiền gọi là Ðịnh sinh hỷ lạc
địa, ở trong định đắc được sự hỷ lạc không
gì sánh bằng. Ðây là thiền duyệt vi thực,
pháp hỷ sung mãn, chẳng đói chẳng khát. Trời
tam thiền là Ly hỷ diệu lạc địa, lìa khỏi
cảnh giới nhị thiền, đắc được sự khoái lạc
không thể tả. Trời tứ thiền gọi là Xả niệm
thanh tịnh địa, xả bỏ tâm niệm khoái lạc,
đạt đến chỗ vô vi mà vô bất vi, trong tâm
rất thanh tịnh, chẳng có tạp nhiễm. Ðây là
cảnh giới sơ bộ của thiền định, vẫn còn là
cảnh giới của phàm phu, chứ chẳng phải là
cảnh giới của Thánh nhân. Nếu tiếp tục nỗ
lực dụng công, thì khi đạt đến trời Ngũ Bất
Hoàn, mới nhập vào dòng Thánh nhân pháp
tính, ngược dòng phàm phu lục trần.
Trời Quang Âm Biến Tịnh
Cho đến trời Hữu Ðỉnh
Sơ sinh và đến chết
Ngửi hương đều biết được.
Một số người chỉ biết trời ở trên đầu, mà
chẳng biết ngoài cõi trời, lại có cõi trời
khác, trong vũ trụ có vô lượng cõi trời.
Trong kinh Phật có nói, tại dục giới có sáu
cõi trời, tại sắc giới có mười tám cõi trời,
tại vô sắc giới có bốn cõi trời, tổng cộng
có hai mươi tám cõi trời, đó là nói theo
nghĩa hẹp. Nếu nói theo nghĩa rộng, thì có
vô lượng cõi trời. Trong mỗi cõi trời có một
Thiên chúa. Ngoại đạo chỉ biết một Thiên
chúa, kỳ thật có vô lượng Thiên chúa.
Thiên chúa ở trong
Phật giáo, bất quá là một vị thần hộ pháp mà
thôi, địa vị rất thấp, thân phận ở trước
Phật chỉ có đứng, chứ chẳng có tư cách ngồi.
Tại sao ? Vì ông ta là thần hộ pháp ! Giống
như Bồ Tát Vi Ðà, Bồ Tát Già Lam, tay cầm
chùy báu kim cang, đứng ở trước Phật để bảo
hộ Phật.
Trời Quang Âm là
từng trời thứ sáu của sắc giới. Người trời ở
đây dùng ánh sáng (hào quang) để nói chuyện,
đại biểu cho tiếng nói. Trời Biến Tịnh là
từng trời thứ chín của sắc giới, người trời
ở cõi này, biến khắp đắc được an lạc thanh
tịnh. Trời Hữu Ðỉnh là từng trời thứ tư của
vô sắc giới, cũng là từng trời thứ hai mươi
tám của tam giới, là từng trời cao nhất, gọi
là trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tuổi thọ
của cõi trời là tám vạn đại kiếp, song đến
lúc đọa lạc thì chiếu theo sự thọ khổ luân
hồi. Ngoại đạo cho rằng đây là cảnh giới cao
nhất. Ra khỏi cõi trời này, mới có thể chấm
dứt phân đoạn sinh tử, đến bực vô học thì
chứng được tứ quả A
La Hán, đoạn sạch kiến tư
(thấy, nghĩ) hai hoặc. Do đó, có câu : ‘’Các
lậu đã sạch, phạm hạnh đã vững, những gì cần
làm đã làm xong, chẳng còn thọ thân sau
nữa.’’ Ðây là cảnh giới A La Hán.
Cõi trời mà chúng
ta thấy là trời Tứ Thiên Vương. Hướng đông
là Trì Quốc Thiên Vương, hướng tây là Quảng
Mục Thiên Vương, hướng nam là
Tăng Trưởng Thiên Vương,
hướng bắc là Ða Văn Thiên Vương. Mỗi vị
Thiên vương có tám đại tướng quân, trấn giữ
bốn hướng cõi trời Ðao Lợi, phòng giữ binh A
tu la xâm phạm. Bồ Tát hộ pháp Vi Ðà, là một
trong ba mươi hai đại tướng, Ngài ở trong
một ngàn vị Phật ở Hiền kiếp, sẽ là vị Phật
cuối cùng, danh hiệu là Lâu Chí Phật.
Thời gian một ngày
đêm ở cõi trời Tứ Thiên Vương, thì đồng ở
nhân gian năm mươi năm, tuổi thọ ở cõi trời
này là năm trăm tuổi, như vậy tính theo ở
nhân gian, tức là chín trăm hai mươi hai vạn
năm ngàn năm. Còn tuổi thọ của các cõi trời
khác cứ theo số này mà nhân lên.
Từ sơ sinh ban đầu đến cõi trời và đến lúc
chết, năm tướng suy phát hiện là ngừng. Vị
pháp sư đó, một khi ngửi mùi hương thì hoàn
toàn biết được rất rõ ràng chẳng có sai lầm.
Các chúng Tỳ Kheo thảy
Với pháp thường tinh tấn
Hoặc ngồi hoặc kinh hành
Và đọc tụng kinh điển.
Tất cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni .v.v... đối với
Phật pháp rất dũng mãnh tinh tấn, tu trì học
tập, chẳng có giải đãi, hoặc ngồi thiền,
hoặc đi kinh hành, hoặc đọc tụng kinh điển,
rất dụng công chẳng có lười biếng giải đãi,
do đó :
‘’Siêng tu giới định huệ,
Diệt trừ tham sân si.’’
Hoặc dưới cây trong rừng
Chuyên tinh tấn ngồi thiền
Người trì kinh ngửi hương
Ðều biết họ ở đâu.
Họ ở dưới cây lớn trong rừng, chuyên nhất tinh
tấn ngồi thiền. Vì trong rừng thanh tịnh,
không khí mát mẻ, dễ đắc được tam muội khinh
an. Có người hỏi : ‘’Nhập định và ngủ có gì
khác nhau ?‘’ Khi nhập định thì trong tâm
biết, ngồi ngay ngắn, thân chẳng lay động,
đầu chẳng cúi chẳng nghiêng. Ðó là cảnh giới
tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch.
Khi ngủ thì gì cũng chẳng biết, thậm chí còn
ngáy như sấm, tư thế ngược lại. Vị pháp sư
thọ trì Kinh Pháp Hoa, một khi ngửi mùi
hương, thì biết họ đang ở đâu, tu trì pháp
môn gì.
Bồ Tát chí vững chắc
Ngồi thiền hoặc đọc tụng
Hoặc vì người nói pháp
Ngửi hương đều biết được.
Bồ Tát phát bồ đề tâm hành Bồ Tát đạo, chí
nguyện rất vững chắc, bất cứ gặp chướng ngại
gì cũng chẳng sinh tâm thối chuyển. Bất cứ
là ngồi thiền, hoặc đọc tụng kinh điển, hoặc
vì người nói pháp. Vị pháp sư đó một khi
ngửi mùi hương thì biết rõ.
Thế Tôn trong mười phương
Ðược tất cả cung kính
Thương chúng mà nói pháp
Ngửi hương đều biết được.
Trong thế giới mười phương, bất cứ Ðức Thế Tôn
ở phương nào, đều được tất cả chúng sinh
cung kính. Vì thương xót chúng sinh, nên
Phật vì chúng sinh mà diễn nói diệu pháp
liễu sinh thoát tử, lìa khổ được vui. Vị
pháp sư đó một khi ngửi mùi hương, thì biết
được Ðức Phật đó ở phương nào.
Chúng sinh ở trước Phật
Nghe kinh đều hoan hỷ
Như pháp mà tu hành
Ngửi hương đều biết được.
Hết thảy chúng sinh ở trước Phật, nghe Phật
diễn nói kinh điển, đều hoan hỷ nhảy nhót
vui mừng. Sau khi nghe kinh rồi, y theo pháp
mà tu hành. Vị pháp sư đó, một khi ngửi mùi
đều biết được người nào y theo pháp tu hành.
Lỗ mũi thì có công năng của mắt và tai, thấy
được nghe được. Bạn nói có diệu chăng ? Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa diệu không thể tả !
Tuy chưa được vô lậu
Pháp sinh tỷ Bồ Tát
Mà người trì kinh này
Trước được tướng mũi này.
Vị pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, tuy chưa
chứng được Bồ Tát vô lậu pháp sinh tỷ. Vì
thọ trì kinh này nên trước hết đắc được
tướng mũi này.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn ! Nếu người thiện
nam, người thiện nữ, thọ trì kinh này, hoặc
đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên
chép, thì được một ngàn hai trăm công đức
nơi lưỡi. Hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc ngon,
hoặc dở, và các đồ đắng cay, khi đến căn
lưỡi, thì đều biến thành vị thượng diệu như
là cam lồ, chẳng có gì mà không ngon.
Ðức Phật gọi một tiếng Thường Tinh Tấn Bồ Tát
! Nếu người thiện nam, người thiện nữ, thọ
trì bộ Kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc tụng kinh
này, hoặc giải nói kinh này, hoặc biên chép
kinh này. Y chiếu theo đạo lý của Kinh Pháp
Hoa mà tu hành, thì sẽ chứng được một ngàn
hai trăm công đức nơi lưỡi. Lưỡi chẳng những
nói pháp được, mà còn nói diệu pháp viên
dung vô ngại, cho nên công đức của lưỡi rất
lớn, đầy đủ viên mãn.
Lưỡi có công đức
nói pháp, cũng nói chuyện thị phi tạo tội
nghiệp. Nếu không nói pháp mà nói thị phi,
thì có một vạn hai ngàn tội lỗi. Tại sao ?
Vì lưỡi có thể nói dối, nói lời thêu dệt,
nói hai lưỡi, chưởi mắng, càng tạo càng
nhiều, tạo thành vô lượng vô biên tội lỗi.
Lưỡi tạo nghiệp ác, thì ăn đồ vật chẳng biết
mùi vị, chẳng phân biệt được đắng cay chua
mặn ngọt năm vị. Bất cứ hương vị đồ ăn như
thế nào cũng chẳng biết. Nếu lưỡi tạo công
đức lành, thì biết mùi vị của vật ăn ngon
hay là dở. Bất cứ là tốt hoặc là xấu, chẳng
màng là vị đắng, hay vị cay, một khi đến căn
lưỡi, thì thức ăn thức uống đều biến thành
vị ngon thượng diệu, hương thơm ngon ngọt
như là cam lồ, chẳng có mùi vị không ngon.
Chữ đắng và chữ khổ tuy khác, song nghĩa vẫn
là một, do đó có câu :
‘’Ăn khổ trong sự khổ,
Mới là người hơn mọi người khác.’’
Có hai câu thơ hình dung người siêng năng khổ
sở học hành :
‘’Thọ tận thập niên hàn song khổ
Nhất cử thành danh thiên hạ tri.’’
Nghĩa là :
Mười năm khổ cực để học hành,
Một khi đỗ đạt thiên hạ đều biết.
Người thời xưa học hành là một người khổ học
tại thư phòng, học Tứ Thư, Ngũ Kinh; ngày
cũng học đêm cũng học, chẳng có nghỉ ngơi,
chẳng có chơi lêu lổng với bạn bè, cũng
chẳng vui đùa tiêu khiển, do đó có câu :
‘’Tam canh đăng hỏa ngũ canh kê,
Chánh thị nam nhi lập chí thời.’’
Dụng công như thế trải qua mười năm khổ sở
lạnh lẽo, học vấn phong phú. Ðến khi thi cử
thì tam nguyên cập đệ, bảng vàng đề danh
tiếng trạng nguyên. Lúc đó, thiên hạ ai ai
cũng biết người đó trúng trạng nguyên, sáng
lạng tổ tông. Trước kia chẳng có ai biết là
khổ, bây giờ thiên hạ biết là ngọt, do đó
‘’khổ tận cam lai.’’ Nghĩa là hết khổ đến
sướng. Trước kia người nghèo thì học văn,
người giàu thì học võ, cho nên mới nói hàn
song khổ.
Hoặc dùng căn lưỡi ở trong đại chúng diễn
nói pháp thâm sâu vi diệu, khiến cho tâm của
người nghe, đều hoan hỷ sung sướng.
Hoặc dùng căn lưỡi ở trong đại chúng diễn nói
pháp thâm sâu vi diệu, tiếng âm thanh vi
diệu đó, nhập vào tâm của người nghe, khiến
cho họ sinh tâm hoan hỷ, sung sướng đến cực
điểm, tình chẳng tự chủ được bèn nhảy nhót
lên.
Lại có các Thiên tử Thiên nữ, các vị trời
Ðế Thích Phạm Thiên .v.v... nghe được âm
thanh diễn nói pháp vi diệu như thế, lời nói
có thứ lớp thì đều đến nghe.
Lại có tất cả Thiên tử Thiên nữ, lại có trời
Ðế Thích, trời Ðại Phạm và các thiên chủ của
các cõi trời khác, họ nghe được âm thanh
thâm diệu đó, thì tâm sinh hoan hỷ. Phàm là
vị pháp sư đó, diễn nói trước sau đều có thứ
lớp, phân môn biệt loại, chẳng phải tạp loạn
lộn xộn, cho nên họ đều đến nghe giảng.
Và các rồng, rồng nữ, Dạ Xoa, Dạ Xoa nữ,
Càn Thát Bà, Càn Thát Bà nữ, A Tu La, A Tu
La nữ, Ca Lâu Na, Ca Lâu Na nữ, Khẩn Na La,
Khẩn Na La nữ, Ma Hầu
La Già, Ma Hầu
La Già nữ, vì nghe pháp mà
đến gần gũi cung kính cúng dường.
Lại có rồng và rồng nữ, lại có Dạ Xoa và Dạ
Xoa nữ, lại có Càn Thát Bà và Càn Thát Bà
nữ, lại có A tu la và A tu la nữ, lại có Ca
Lâu Na và Ca Lâu Na nữ, lại có Khẩn Na La và
Khẩn Na La nữ, lại có Ma Hầu
La Già và Ma Hầu
La Già nữ. Những vị trời rồng
tám bộ đó, vì nghe vị pháp sư đó diễn nói
Kinh Pháp Hoa, mà đến gần gũi cúng dường vị
pháp sư đó.
Và Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ
nữ, quốc vương, thái tử, quần thần quyến
thuộc, tiểu chuyển luân vương, đại chuyển
luân vương, bảy báu, ngàn người con, quyến
thuộc nội ngoại, đều ngồi cung điện đến để
nghe pháp.
Lại có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư sĩ nam cư sĩ
nữ, ông vua, thái tử, quần thần quyến thuộc,
tiểu chuyển luân vương, đại chuyển luân
vương, bảy báu, ngàn người con, quyến thuộc
nội ngoại, thảy đều ngồi cung điện đến để
nghe pháp. Nghe pháp gì ? Nghe diệu pháp của
Kinh Pháp Hoa.
Bởi Bồ Tát đó khéo nói pháp, cho nên các Bà
la môn, cư sĩ nhân dân trong nước, suốt đời
theo hầu hạ cúng dường.
Vì vị pháp sư đó là Bồ Tát pháp sư, do khéo
giải nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cho nên
các Bà la môn (tu hạnh thanh tịnh) và cư sĩ
(người tại gia tu đạo), cùng với nhân dân
trong nước, họ suốt đời lúc nào cũng hầu hạ
và cúng dường vị Bồ Tát pháp sư đó.
Lại nữa, các vị Thanh Văn, Bích Chi Phật,
Bồ Tát, chư Phật, thường ưa thấy vị pháp sư
đó. Vị đó ở đâu, thì chư Phật đều hướng về
vị đó nói pháp, vị đó đều thọ trì tất cả
Phật pháp, lại có thể nói ra pháp âm thâm
sâu vi diệu.
Lại tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát,
Chư Phật bốn bậc Thánh đều hoan hỷ thấy vị
pháp sư đó, bất cứ ở đâu, mười phương chư
Phật đều hướng về chỗ của vị đó nói pháp. Vị
pháp sư đó hoàn toàn thọ trì tất cả Phật
pháp của chư Phật nói. Lại có thể nói ra
pháp âm thâm sâu vi diệu.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng.
Lúc đó, Ðức Phật bi tâm thiết thiết, muốn
tường thuật lại nghĩa lý ở trên, bèn nói ra
bài kệ rằng:
Căn lưỡi người đó tịnh
Trọn chẳng thọ vị dở
Người đó ăn những gì
Ðều biến thành cam lồ.
Vị pháp sư đó, căn lưỡi đắc được thanh tịnh,
tự tánh cũng thanh tịnh, chẳng bao giờ thọ
vị dở, còn chuyển được vị dở thành vị thượng
diệu. Bất luận là ăn vật gì, một khi vào căn
lưỡi thì đều biến thành diệu vị cam lồ, tức
cũng là diệu vị đề hồ vô thượng.
Dùng tiếng diệu thâm tịnh
Trong đại chúng nói pháp
Dùng nhân duyên ví dụ
Dẫn dắt tâm chúng sinh.
Người nghe đều hoan hỷ
Sắm các thứ cúng dường.
Vị pháp sư đó, dùng lời nói thâm sâu thanh
tịnh vi diệu, ở trong đại chúng diễn nói
diệu pháp. Dùng đủ thứ nhân duyên và đủ thứ
ví dụ dẫn dắt chúng sinh, khiến cho họ phát
bồ đề tâm thành tựu quả vị Phật. Chúng sinh
nghe pháp đều hoan hỷ, chúng sinh sắm tất cả
đồ cúng dường tối thượng, để cúng dường vị
pháp sư đó.
Các trời rồng Dạ Xoa
Và A tu la thảy
Ðều dùng tâm cung kính
Cùng đến để nghe pháp.
Trời rồng tám bộ chúng vốn có tâm đấu tranh,
nhưng sau khi quy y Phật rồi, thì tâm sân
hận biến thành tâm từ bi, phát nguyện làm
thiện thần hộ pháp. Họ đều dùng tâm cung
kính để nghe vị pháp sư đó nói pháp.
Người đó diễn nói pháp
Hoặc muốn dùng diệu âm
Vang khắp ba ngàn cõi
Tùy ý bèn đến được.
Vị pháp sư đó giải nói Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, muốn dùng pháp âm thâm sâu vi diệu, thì
sẽ vang khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Chỉ
cần quán tưởng như thế, thì diệu âm sẽ tùy ý
đến lỗ tai của hết thảy chúng sinh, trong ba
ngàn đại thiên thế giới.
Vua luân vương lớn nhỏ
Và ngàn con quyến thuộc
Chắp tay tâm cung kính
Thường đến nghe thọ pháp.
Vua đại chuyển luân và vua tiểu chuyển luân,
cùng với ngàn người con và quyến thuộc, đều
chắp tay cung kính đến pháp hội để nghe thọ
Phật pháp của vị pháp sư đó giảng. Những
người đó nghe vị pháp sư giảng kinh thuyết
pháp, thì cảm thấy hơn là đọc kinh điển, do
đó có câu:
‘’Thính quân nhất tịch thoại,
Thắng độc thập niên thư.’’
Nghĩa là :
Nghe một
buổi giảng pháp,
Hơn mười năm đọc sách.
Các trời rồng Dạ Xoa
La sát Tỳ xá xà
Cũng dùng tâm hoan hỷ
Thường thích đến cúng dường.
Chư thiên trong tam giới, Long vương trong bốn
biển và Dạ Xoa, La sát, Tỳ xá xà .v.v...
Loài quỷ vốn chẳng sinh tâm hoan hỷ, nhưng
hiện tại cũng sinh tâm hoan hỷ, luôn luôn
thích muốn đến cúng dường vị pháp sư đó.
Trời Phạm Thiên ma
vương
Tự Tại Ðại Tự Tại
Hết thảy các Thiên chúng
Thường đến chỗ người đó.
Trời Ðại Phạm Thiên (Thi Khí) và Ma vương (Ba
Tuần) cùng với trời Tự Tại (trời Tha Hoá Tự
Tại), trời Ðại Tự Tại (trời Cứu Kính), hết
thảy các Thiên chúng thường đến chỗ vị pháp
sư đó, nghe Phật pháp và cúng dường pháp sư.
Chư Phật và đệ tử
Nghe người đó nói pháp
Thường nhớ mà bảo hộ
Hoặc có khi hiện thân.
Mười phương chư Phật và hàng đệ tử (Thanh Văn,
Bích Chi Phật, Bồ Tát), nghe âm thanh của vị
pháp sư đó diễn nói diệu pháp, thì thường
nghĩ nhớ vị pháp sư đó mà bảo vệ đạo tràng,
hoặc có khi mười phương chư Phật, và chúng
đệ tử hiện thân để cho vị đó thấy. Ðó là cảm
ứng của sự thọ trì Kinh Pháp Hoa.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn ! Nếu người thiện
nam, người thiện nữ, thọ trì kinh này, hoặc
đọc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, thì
được tám trăm công đức nơi thân, được thân
thanh tịnh như lưu ly, chúng sinh đều thích
thấy.
Ðức Phật lại gọi một tiếng Bồ Tát Thường Tinh
Tấn ! Nếu như có người nam tu hành, và người
nữ tu hành, hoặc thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, hoặc đọc kinh này, hoặc tụng kinh này,
hoặc giải nói kinh này, hoặc biên chép kinh
này, thì đắc được tám trăm công đức nơi
thân, được thân thể thanh tịnh như lưu ly.
Hết thảy chúng sinh đều hoan hỷ thấy vị pháp
sư đó.
Vì thân người đó thanh tịnh, cho nên chúng
sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới, khi
sinh, khi chết, trên trời, dưới địa ngục,
tốt xấu, sinh về chỗ lành, sinh về chỗ dữ,
thảy đều hiện ra trong thân người đó.
Vì thân thể vị pháp sư đó thanh tịnh, cho nên
chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới,
hoặc khi sinh, hoặc khi chết, hoặc ở trên
trời, hoặc ở dưới địa ngục, tướng mạo tốt
hay xấu, sinh về chỗ lành hay chỗ ác, thảy
đều hiện ra trong thân thể thanh tịnh, rõ
ràng chẳng tạp loạn. Thân thanh tịnh này là
một tấm gương tròn lớn, hiện ra tất cả hình
bóng.
Và núi Thiết Vi, núi đại Thiết Vi, núi Di
Lâu, núi đại Di Lâu, hết thảy các núi, và
chúng sinh ở trong đó, đều hiện ra trong đó.
Và núi Thiết Vi (ngoài bốn đại châu có núi bao
quanh), núi đại Thiết Vi (ngoài ba ngàn đại
thiên thế giới có núi bao quanh), núi Di Lâu
và núi đại Di Lâu, hết thảy các núi, chúng
sinh ở trong đó hoàn toàn hiện ra ở trong
thân thanh tịnh. Thân thanh tịnh đó lại
giống như máy lôi đạt (radar), bất cứ máy
bay ở đâu bay đến, đều nhìn thấy rất rõ
ràng.
Dưới đến địa ngục A Tỳ, trên đến cõi trời
Hữu Ðỉnh, hết thảy cảnh giới và tất cả chúng
sinh, đều hiện ra ở trong đó.
Dưới đến địa ngục vô gián, trên đến cõi trời
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, hết thảy cảnh
giới và hết thảy chúng sinh, hoàn toàn hiện
ra ở trong thân thanh tịnh. Lại giống như
máy truyền hình, chỉ cần bấm nút thì hình
ảnh sẽ xuất hiện, người tu đạo mà nghiên cứu
minh bạch Phật pháp, thì sẽ có cảnh giới như
thế xuất hiện.
Hoặc hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ Tát,
chư Phật thuyết pháp, đều hiện ra hình bóng
ở trong thân người đó.
Hoặc là hàng Thanh Văn, hoặc là Bích Chi Phật,
hoặc là Bồ Tát, hoặc là chư Phật, ở trong
mười phương thế giới thuyết pháp, đều hiện
ra hình bóng ở trong thân thanh tịnh của vị
pháp sư đó.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Lúc đó, Ðức Phật muốn tường thuật lại nghĩa ở
trên vừa nói, bèn dùng kệ nói ra.
Nếu người trì Pháp Hoa
Ðược thân rất thanh tịnh
Tịnh như là lưu ly
Chúng sinh đều ưa thấy.
Nếu như vị pháp sư thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, thì sẽ được thân thể rất thanh tịnh,
chẳng có nhiễm ô, giống như lưu ly thanh
tịnh sáng chói. Hết thảy chúng sinh đều hoan
hỷ thấy vị pháp sư đó nói pháp.
Lại tịnh như gương sáng
Ðều thấy các hình bóng
Bồ Tát nơi thân tịnh
Ðều thấy toàn thế giới.
Chỉ riêng mình thấy rõ
Người khác chẳng thấy được.
Thân thanh tịnh đó, lại giống như gương sáng,
hoàn toàn thấy được tất cả hình bóng. Hình
bóng đến thì hiện, đi thì chẳng có, chẳng
lưu ảnh lại. Ở trong thân thanh tịnh của Bồ
Tát, nhìn thấy được hình bóng toàn thế giới.
Cảnh giới đó, chỉ riêng Bồ Tát tự mình thấy
rõ, ngoài ra người khác chẳng thấy đặng.
Trong ba ngàn thế giới
Tất cả hữu vô tình
Trời người A tu la
Ðịa ngục quỷ súc sinh.
Các hình bóng như thế
Ðều hiện ra trong thân.
Ở trong ba ngàn đại thiên thế giới, hết thảy
tất cả chúng sinh và tất cả cảnh giới như
người ở trên trời, người ở nhân gian và A tu
la (đây là ba đường lành), và địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh (đây là ba đường ác). Tất cả
hình bóng trong sáu đường như thế, đều hiện
ra ở trong thân thanh tịnh lưu ly của Bồ
Tát, chẳng những rõ ràng mà còn chẳng tạp
loạn.
Cung điện của chư Thiên
Cho đến trời Hữu Ðỉnh
Núi Thiết và Di Lâu
Các biển cả sông ngòi
Ðều hiện ra trong thân.
Cung điện của chư Thiên trong ba cõi, cho đến
cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, núi
Thiết Vi và núi Di Lâu, núi đại Du Lâu. Hết
thảy tất cả biển cả sông ngòi, đều hiện ra
trong thân thanh tịnh của vị pháp sư trì
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Chư Phật và Thanh Văn
Phật tử Bồ Tát thảy
Hoặc riêng hoặc trong chúng
Nói pháp đều hiện ra.
Mười phương chư Phật và hàng Thanh Văn, Bích
Chi Phật, Bồ Tát thảy, hoặc độc thân một
người, hoặc ở trong đại chúng, nói pháp giáo
hóa chúng sinh, đều hoàn toàn hiện ra trong
thân thanh tịnh như lưu ly. Cảnh giới đó
thật là không thể nghĩ bàn; diệu không thể
tả.
Tuy chưa được vô lậu
Và pháp tánh diệu thân
Dùng thân thanh tịnh thường
Tất cả hiện trong đó.
Người đó thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tuy
chưa chứng được Thánh quả vô lậu, và diệu
thân pháp tánh. Song, thân thường của cha mẹ
sinh ra, mà hết thảy tất cả đều hiện ra ở
trong thân thanh tịnh. Cảnh giới đó chỉ có
vị đó mới biết được, còn người khác chẳng
thấu được.
Lại nữa, Thường Tinh Tấn ! Nếu người thiện
nam, người thiện nữ, sau khi Như Lai diệt
độ, mà thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc
tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, thì
được một ngàn hai trăm công đức nơi ý. Nhờ ý
căn thanh tịnh đó, cho đến nghe một bài kệ,
một câu, mà thông đạt được nghĩa lý vô lượng
vô biên.
Ðức Phật lại gọi một tiếng Bồ Tát Thường Tinh
Tấn ! Nếu như người nam, người nữ tu hành,
sau khi Phật diệt độ, có ai thọ trì bộ Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa này, hoặc đọc, học tụng,
hoặc giải nói, hoặc biên chép, thì được một
ngàn hai trăm công đức nơi ý. Nhờ căn ý
thanh tịnh đó, cho đến nghe được dù một bài
kệ, hoặc nghe được một câu kinh văn, thì có
thể thông đạt được toàn bộ nghĩa lý kinh
văn.
Hiểu nghĩa lý đó rồi, mà có thể diễn nói
một câu kinh, một bài kệ, thậm chí giảng đến
một tháng, bốn tháng, cho đến một năm. Các
pháp nói ra, tùy theo nghĩa lý đều hợp với
thật tướng, chứ chẳng trái ngược với thật
tướng, hoặc nói kinh sách thế gian, lời lẽ
trị thế, nghề nghiệp làm ăn, thảy đều hợp
với chánh pháp.
Thấu hiểu minh bạch nghĩa lý đó rồi, lại vì
chúng sinh diễn nói diệu pháp, giải thích
diệu lý dù một bài kệ, hoặc một câu kinh, mà
phát huy được vô lượng vô biên đạo lý. Một
câu kinh văn, một bài kệ, thậm chí giảng đến
một tháng (đại biểu cho pháp một thừa thật
tướng), hoặc giảng đến bốn tháng (đại biểu
cho pháp tứ đế tiểu thừa), hoặc giảng đến
một năm (đại biểu cho pháp mười hai nhân
duyên). Tuy là một câu pháp, mà khiến cho
hợp với tất cả các pháp. Tất cả pháp nói ra,
đều tùy thuận nghĩa lý thú hướng. Ðạo lý nói
ra đều hợp với thật tướng, hợp với đệ nhất
nghĩa đế, tuyệt đối chẳng đi ngược lại nghĩa
lý thật tướng.
Hoặc là giảng nói tất cả kinh sách của thế
gian, như Tứ Thư Ngũ Kinh, hoặc lời lẽ trị
thế, hoặc sinh sống làm ăn, thảy đều thuận
với chánh pháp, chẳng trái ngược. Tất cả đều
chiếu theo bát chánh đạo mà thực hành, dùng
bát chánh đạo làm mô phạm.
Sáu đường chúng sinh trong ba ngàn đại
thiên thế giới, tâm nghĩ gì, tâm khởi làm
những gì, và tâm hí luận, thảy đều biết rõ.
Tuy chưa được trí huệ vô lậu, mà căn ý của
người đó thanh tịnh như thế. Người đó có suy
nghĩ tính toán nói năng, đều là Phật pháp,
chẳng có gì mà chẳng chân thật, cũng là đạo
lý ở trong kinh trước kia Phật đã nói.
Hết thảy sáu đường chúng sinh trong ba ngàn
đại thiên thế giới, trong tâm của họ nghĩ
làm gì, khởi lên việc gì, vọng niệm sinh ra,
hết thảy mọi hí luận, vị pháp sư đó đều biết
rõ. Vị đó tuy chưa chứng được trí huệ vô
lậu, nhưng thắng ý căn của vị đó đắc được
thanh tịnh. Vị pháp sư đó nghĩ gì, tính
toán, nói năng, đều là Phật pháp, diệu pháp,
pháp không nghĩ bàn. Tại sao ? Vì vị đó thọ
trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, có nghĩ gì và
làm gì, đều là chân thật không hư. Pháp nói
ra và sự tu đạo, đều là pháp môn chân thật,
đều là đạo lý trước kia Phật nói. Tuy toàn
bộ kinh Phật chưa đọc hết, nhưng đã thấu rõ
đại ý trong kinh. Vì đắc được cảnh giới diệu
tam muội.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Lúc đó, Ðức Phật muốn tường thuật lại nghĩa lý
kinh văn ở trên vừa nói, cho nên dùng kệ để
diễn nói lại.
Người đó ý thanh tịnh
Sáng suốt chẳng vẩn đục
Nhờ căn diệu ý đó
Biết pháp thượng trung hạ.
Căn thắng ý của vị pháp sư đó rất thanh tịnh,
chẳng những sáng mà còn suốt thấu, chẳng có
vẩn đục ô uế. Nhờ thắng ý căn vi diệu đó,
nên biết Phật pháp thượng trung hạ, do đó có
câu : ‘’Vào sâu tạng kinh, trí huệ như
biển.’’
Cho đến nghe bài kệ
Thông đạt vô lượng nghĩa
Thứ lớp như pháp nói
Tháng bốn tháng một năm.
Dù chỉ nghe được một bài kệ, mà thông đạt được
vô lượng nghĩa lý. Thứ lớp như pháp mà giải
nói, tuyệt đối chẳng nói pháp lộn xộn, chẳng
có đầu đuôi. Giải nói một bài kệ, hoặc giảng
đến một tháng, hoặc giảng đến bốn tháng,
hoặc giảng một năm, đắc được cảnh giới nhạo
thuyết vô ngại.
Trong ngoài thế giới đó
Tất cả các chúng sinh
Hoặc trời rồng và người
Chúng Dạ Xoa quỷ thần.
Trong ngoài ba ngàn đại thiên thế giới, hết
thảy tất cả chúng sinh, hoặc người ở trên
trời, hoặc người ở nhân gian, hoặc các loài
rồng, Dạ Xoa, quỷ thần .v.v...
Tất cả trong sáu đường
Khởi suy nghĩ những gì
Nhờ trì Kinh Pháp Hoa
Ðồng thời đều biết rõ.
Tất cả chúng sinh luân hồi trong sáu đường,
nghĩ nhớ những gì. Nhờ thọ trì Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, nên biết rõ tất cả chúng sinh
khởi tâm động niệm. Chúng sinh nào phải làm
bò, làm ngựa, chúng sinh nào phải làm cọp,
sư tử, chúng sinh nào phải làm cá, rùa, tôm,
cua, chúng sinh nào phải làm gà, vịt, ngỗng,
chim, thì đều biết được, một khi nghĩ, thì
biết tiền nhân hậu quả.
Vô số Phật mười phương
Trăm phước tướng trang
nghiêm
Vì chúng sinh nói pháp
Khiến họ nghe thọ trì.
Mười phương thế giới có vô số ức chư Phật, vì
thuở xưa các Ngài đã từng trải qua ba A tăng
kỳ tu phước huệ, trăm kiếp gieo trồng tướng
tốt, cho nên có tướng trăm phước trang
nghiêm thân. Vì hết thảy chúng sinh diễn nói
diệu pháp, khiến cho họ nghe rồi, thì thọ
trì và y theo pháp mà tu hành.
Suy gẫm vô lượng nghĩa
Thuyết pháp cũng vô lượng
Trọn chẳng quên hoặc sai
Do nhờ trì Pháp Hoa.
Có thể từ một đạo lý, mà liên tưởng đến vô
lượng đạo lý; từ vô lượng đạo lý, mà quy về
viên ngộ một đạo lý, do đó có câu :
‘’Một gốc tán làm vạn thù,
Vạn thù quy về một gốc.’’
Thuyết pháp cũng vô lượng vô biên, thủy chung
chẳng quên Phật pháp, hoặc giảng sai lầm,
tuyệt đối chẳng có chuyện đó xảy ra. Bởi do
thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Ðều biết tướng các pháp
Theo nghĩa nói thứ lớp
Rõ danh từ lời lẽ
Theo sự biết diễn nói.
Vì có đại trí huệ, nên thông đạt liễu ngộ đạo
lý thật tướng của các pháp. Thật tướng là gì
? Tức là vô tướng : Chẳng có tướng ta, chẳng
có tướng người, chẳng có tướng chúng sinh,
chẳng có tướng thọ mạng. Có bốn tướng đó là
phàm phu; chẳng có bốn tướng tức là Thánh
nhân. Chẳng có bốn tướng này, cũng chẳng
phải là chẳng có tướng như thật thanh tịnh,
chỗ này phải hiểu cho rõ.
Tùy theo nghĩa kinh mà giảng pháp có thứ lớp,
trước sau đều có thứ tự, khiến cho người
nghe dễ hiểu. Thông đạt danh từ giải thích,
lời lẽ khéo léo, đắc được văn tự Bát Nhã,
ngôn ngữ tam muội, chiếu theo đạo lý mà mình
liễu ngộ hiểu biết, để vì chúng sinh diễn
nói diệu pháp.
Người đó nói những gì
Ðều là pháp Phật nói
Bởi nhờ nói pháp đó
Nên trước chúng chẳng sợ.
Pháp sư thọ trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nói
những pháp gì, đều là diệu pháp trước kia
Ðức Phật đã nói, bất quá vị đó nói lại nữa
mà thôi. Vì vị đó diễn nói diệu pháp, cho
nên ở trước đại chúng chẳng có sợ sệt, mà
thao thao bất tuyệt, vì chúng sinh nói pháp,
đầu đầu thị đạo, phân tích rõ ràng, có cảnh
giới hoa trời rải xuống, hoa sen từ dưới đất
vọt lên.
Người trì Kinh Pháp Hoa
Ðược căn ý thanh tịnh
Tuy chưa được vô lậu
Trước có tướng như thế.
Pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa được căn ý thanh
tịnh. Tuy nhiên chưa chứng được trí huệ vô
lậu, nhưng trước hết đắc được tình hình như
thế.
Người đó trì kinh này
An trụ nơi hi hữu
Ðược tất cả chúng sinh
Hoan hỷ và thương kính.
Pháp sư thọ trì Kinh Pháp Hoa, an trụ ở nơi hy
hữu nhất, được tất cả chúng sinh hoan hỷ
thương mến và cung kính.
Hay dùng ngàn vạn thứ
Lời lẽ rất khéo léo
Ðể phân biệt diễn nói
Bởi trì Kinh Pháp Hoa.
Hay dùng hàng ngàn vạn thứ lời lẽ, ví dụ
phương tiện khéo léo, phân tích rõ ràng để
vì chúng sinh giải nói diệu pháp. Tại sao
lại có trí huệ như thế ? Vì thọ trì Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa.