KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 04
Quyển 06
Phẩm
tùy hỷ công đức thứ mười tám
Tùy hỷ là gì ? Tùy
là tùy thuận. Tùy sự, tùy lý, tùy quyền, tùy
thật. Hỷ là hỷ khánh, khánh nhân, khánh quả,
khánh hạnh, phụng hành Phật pháp, hoằng
dương Phật pháp. Nói một cách
rõ hơn, tùy sự tức là tùy thuận sự tướng;
tùy lý là tùy thuận lý tánh. Lý tức là lý
thể thực tướng, bổn tánh của pháp giới. Bổn
tánh pháp giới chẳng ngoài một tâm niệm hiện
tiền. Một tâm niệm hiện tiền, bao quát tánh
pháp giới và thể pháp giới. Một tâm niệm
hiện tiền, tùy công đức của pháp giới, cho
nên nói tuỳ hỷ công đức.
Bổn thể của Phật
tức là lý, lý của Phật cũng tức là pháp
thân. Phật xuất hiện ra đời để giáo hóa tất
cả chúng sinh trong mười phương, đó là sự.
Do lý mà tùy sự, do sự mà tùy lý, đây gọi là
lý sự không hai. Sự chẳng lìa lý, lý chẳng
rời sự. Nhìn lại là hai, song kỳ thật là
một, nhìn lại là một, nhưng lại có thể phân
làm hai. Cho nên nói hai chẳng phải hai,
chẳng phải hai mà hai. Hai mà chẳng phải
hai, chẳng phải hai mà hai, tức là lý trung
đạo.
Tùy quyền tùy thật
công đức, tức là công đức tùy hỷ của Phật
nói về quyền, công đức tùy hỷ của Phật nói
về thật. Mình có nhân lành thì mới nghe được
diệu pháp, đây là nhân của sự hỷ khánh mà
gặp được diệu pháp này. Sau khi gặp được
diệu pháp mà chuyên tâm tu trì, thì tương
lai sẽ đắc được quả bồ đề.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Di Lặc bạch đức Phật
rằng : Ðức Thế Tôn ! Nếu có người thiện nam,
người thiện nữ, nghe Kinh Pháp Hoa này mà
tùy hỷ, thì đắc được bao nhiêu phước đức ?
Bèn nói bài kệ rằng :
Sau khi nói xong Phẩm Phân Biệt Công Ðức, thì
lúc đó đại Bồ Tát Di Lặc bèn bạch với Ðức
Phật Thích Ca rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Nếu như
có người thiện nam, người thiện nữ, giữ năm
giới hành thập thiện, nghe được Kinh Pháp
Hoa mà tùy hỷ công đức, thì họ đắc được bao
nhiêu phước đức ? ‘’Ðại Bồ Tát Di Lặc lại
nói ra bài kệ.
Sau khi Phật diệt độ
Có người nghe kinh này
Mà sinh tâm tùy hỷ
Ðược bao nhiêu công đức ?
Sau khi Ðức Thế Tôn diệt độ, tương lai có
người nghe được Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mà
sinh một tâm niệm tùy hỷ, thì người đó đắc
được bao nhiêu phước đức ? Xin Thế Tôn từ bi
khai thị.
Bấy giờ, đức Phật bảo đại Bồ Tát Di Lặc : A
Dật Ða ! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, và
những người có trí khác, hoặc già, hoặc trẻ,
nghe kinh này mà tùy hỷ. Từ pháp hội ra đi
đến nơi khác.
Lúc đó Ðức Phật bảo đại Bồ Tát Di Lặc rằng :
‘’A Dật Ða ! Sau khi Như Lai vào Niết Bàn
rồi, ngoài các hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cư
sĩ nam, cư sĩ nữ, bốn chúng này ra, như có
những người trí huệ, bất cứ là già hoặc trẻ,
từ trong pháp hội nghe Kinh Pháp Hoa mà tùy
hỷ rồi, từ trong pháp hội ra đi đến những
nơi khác, vì người khác giải nói nghĩa lý
của kinh này, thì sẽ đắc được phước đức
không thể nghĩ bàn.’’
Hoặc tại nhà của chư Tăng ở, hoặc tại chỗ
vắng vẻ, hoặc tại thành ấp đường xá, xóm
làng ruộng nương, đem sự nghe của mình mà vì
cha mẹ, người thân, bạn bè, tri thức, tùy
sức mà diễn nói, khiến cho họ nghe rồi mà
tùy hỷ, lại đi diễn nói với người khác,
người khác nghe rồi cũng tùy hỷ, lại đi diễn
nói với người khác nữa, cứ như thế cho đến
người thứ năm mươi.
Hoặc tại chỗ chư Tăng ở, hoặc ở tại chỗ vắng
vẻ trong thâm sơn cùng cốc, hoặc tại thành
ấp, đường xá, xóm làng, ruộng nương .v.v...
Ðem Phật pháp mà mình nghe được ở tại pháp
hội, vì cha mẹ, người thân, bạn bè, tri
thức, tùy sức hiểu biết của mình, mà vì họ
giải nói nghĩa lý của Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, khiến cho họ gieo trồng căn lành, đắc
được lợi ích công đức tùy hỷ.
Những người tùy hỷ kinh điển đó, nghe rồi lại
đi giáo hóa người khác, vì họ giải nói nghĩa
lý trong kinh, khiến cho họ nghe rồi lại tùy
hỷ, cứ như thế cho đến người thứ năm mươi,
người đó đắc được phước đức nhiều không thể
nói đặng.
A Dật Ða ! Người thiện nam, người thiện nữ,
thứ năm mươi đó, tùy hỷ công đức, nay ta nói
ra ông nên lắng nghe.
Ðức Phật lại gọi một tiếng : ‘’A Dật Ða !
Người thiện nam, người thiện nữ, thứ năm
mươi đó, tùy hỷ công đức, bây giờ ta vì ông
mà nói ra. Ông nên tập trung chú ý nghe.’’
Nếu bốn loài sáu đường chúng sinh, trong
bốn trăm vạn ức A tăng kỳ thế giới, loài
sinh bằng trứng, loài sinh bằng thai, loài
sinh bằng ẩm ướt, loài biến hóa sinh ra,
hoặc loài có hình, loài không có hình, loài
có nghĩ tưởng, loài không có nghĩ tưởng,
loài chẳng có nghĩ tưởng chẳng phải không có
nghĩ tưởng, loài không chân, hai chân, loài
bốn chân, nhiều chân, như vậy hết thảy loài
chúng sinh. Có người cầu phước, tùy theo sự
ưa muốn của họ, mà cung cấp cho đầy đủ.
Nếu như có bốn loài sáu đường chúng sinh,
trong bốn trăm vạn ức A tăng kỳ thế giới.
Bốn loài là loài sinh bằng trứng, bằng thai,
bằng ẩm ướt, bằng biến hóa sinh ra. Sáu
đường chúng sinh là trời, người, A tu la,
súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục. Loài sinh
bằng trứng thì trứng do tưởng mà sinh ra,
loại sinh bằng thai thì thai do tình mà có,
loài sinh bằng ẩm ướt thì nhờ ẩm ướt mà hợp
cảm, loài biến hóa thì nhờ hóa mà ly ứng.
Tóm lại, loài sinh bằng trứng, thai, ẩm ướt,
biến hóa, đều là nghiệp quả sở cảm; tình
tưởng ly hợp, đều là nghiệp nhân năng cảm.
Loài sinh bằng thai : Do ái tình mà sinh ra.
Loài sinh bằng trứng : Chỉ nhờ loạn tưởng mà
sinh ra. Loài sinh bằng ẩm thấp : Ngửi hương
tham vị phối hợp mà cảm. Loài sinh bằng biến
hóa : Chán cũ vui mới, nhờ đó mà ứng. Ðây là
chúng sinh của dục giới. Chúng sinh có hình
thuộc về sắc giới; chúng sinh vô hình thuộc
về cõi vô sắc, chúng sinh không thức nhị
biên xứ. Vô tưởng là chúng sinh vô sở hữu
xứ. Phi hữu tưởng phi vô tưởng là chúng sinh
phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðây là tên gọi
của chín loài chúng sinh.
Loài không chân là loài giun .v.v... Loài hai
chân là chó, gà, chim .v.v... Loài bốn chân
là cọp, sư tử .v.v... Loài nhiều chân là
rết, cuốn chiếu .v.v... Hết thảy các loài
chúng sinh. Có người vì cầu phước mà tùy
thuận sự ưa muốn của họ, đều cung cấp cho họ
đầy đủ, chẳng thiếu món gì.
Mỗi mỗi chúng sinh đều cấp cho đầy cõi Diêm
Phù Ðề : Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ mã não,
san hô, hổ phách các thứ châu báu, và voi
ngựa xe cộ, cung điện lầu các làm bằng bảy
báu .v.v...
Hết thảy chúng sinh đều bố thí đầy Diêm Phù Ðề
: Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô,
hổ phách hết thảy các thứ châu báu đá quý và
voi, ngựa, xe cộ, cung điện, lầu các, làm
bằng bảy báu .v.v... Phàm là những gì chúng
sinh cần, thì vị đại thí chủ đó đều bố thí
tất cả, tuyệt đối không có tâm san tham.
Ðại thí chủ đó, bố thí như vậy, mãn tám
mươi năm rồi, bèn nghĩ như vầy : Ta đã bố
thí cho chúng sinh những đồ vui thích, tùy ý
sự ưa muốn của họ, nhưng những chúng sinh
này đều đã già nua, tuổi đã quá tám mươi,
tóc bạc mặt nhăn, sự chết chẳng còn bao lâu.
Ta nên dùng Phật pháp để giáo hóa họ.
Vị đại thí chủ đó, lại bố thí bảy báu, bố thí
xe cộ, bố thí cung điện cho chúng sinh.
Người nhân gian đi du hành phải đi bằng xe,
thuyền; người trên trời đi du hành bằng cung
điện. Tóm lại, người ở trên trời ngồi ở
trong cung điện, thì có thể đi du hành khắp
nơi, tốc độ còn nhanh hơn hỏa tiễn hiện đại.
Có người khởi vọng tưởng : ‘’Cung điện làm
sao di động được ?‘’ Cảnh giới này, đợi khi
nào bạn chứng được ngũ nhãn lục thông, thì
tự nhiên sẽ biết. Ðây chẳng phải là việc bí
mật, mà là việc bình thường, chỉ cần dụng
công tu hành, nỗ lực tham thiền thì sớm sẽ
hiện thực.
Bố thí như thế trải qua tám mươi năm. Vị đại
thí chủ đó bèn nghĩ như vầy : ‘’Ta đã bố thí
cho chúng sinh những đồ vui thích, đều tùy
thuận tâm ý của họ. Họ muốn gì thì ta bố thí
cái đó. Song, những chúng sinh đó đã già
nua, tuổi tác đã hơn tám mươi, tóc bạc mặt
nhăn, cái chết chẳng còn bao lâu. Ta nên
dùng Phật pháp để dạy họ, khiến cho họ kịp
thời tu hành, thoát khỏi biển khổ sinh về
Tịnh Ðộ.’’
Bèn triệu tập những chúng sinh đó, truyền
bá Phật pháp giáo hóa, khiến cho họ được lợi
ích sinh tâm hoan hỷ. Nhất thời đều đắc được
đạo Tu Ðà Hoàn, đạo Tư Ðà Hàm, đạo A Na Hàm,
đạo A
La Hán, sạch các hữu lậu, nơi
thiền định thâm sâu, đều đắc được tự tại, đủ
tám giải thoát. Ý của ông thế nào ? Vị đại
thí chủ đó, đắc được công đức có nhiều chăng
?
Vị đại thí chủ đó nghĩ rồi, bèn lập tức triệu
tập hết thảy chúng sinh lại, tuyên bố Phật
pháp, chỉ dạy giáo hóa họ, khiến cho họ đắc
được lợi ích Phật pháp, sinh tâm hoan hỷ.
Những chúng sinh đó, sớm đắc được quả vị A
La Hán.
Thời gian chẳng bao lâu, có
người chứng được đạo quả Tu Ðà Hoàn (sơ
quả), dịch là "dự lưu", vào dòng Thánh nhân
pháp tánh, ngược dòng phàm phu lục trần,
chẳng cùng dòng hợp ô, thân tâm thanh tịnh,
chẳng bị cảnh giới chuyển. Ðã đoạn sạch dục
giới tám mươi tám phẩm kiến hoặc. Còn bảy
lần sinh tử, mới chứng được tứ quả vô học
vị. Có người chứng được đạo quả Tư Ðà Hàm
(nhị quả), dịch là "nhất lai vãng", còn một
lần thọ sinh lên trời và sinh xuống nhân
gian, đã đoạn dục giới tư hoặc sáu phẩm
trước. Tại tam giới có cửu địa, mỗi địa có
chín phẩm tư hoặc, cộng thành tám mươi mốt
phẩm tư hoặc. Có người chứng được đạo quả A
Na Hàm (tam quả), dịch là "bất lai", chẳng
đến dục giới thọ sinh tử nữa. Ðã đoạn sạch
dục giới (ngũ thú tạp cư địa) tư hoặc ba
phẩm sau, còn sắc giới và vô sắc giới bảy
mươi hai phẩm tư tưởng chưa đoạn. Có người
chứng được đạo quả A
La Hán (tứ quả), dịch là "sát
tặc", tức là giết tặc phiền não. Lại dịch là
"ứng Cúng", tức là xứng đáng thọ nhận trời
người cúng dường. Còn có nghĩa nữa là "vô
sinh", tức là chẳng thọ quả báo sinh tử.
Cảnh giới của A
La Hán đã đoạn sạch tất cả
hữu lậu ba cõi, do đó : ‘’Chư lậu đã tận,
phạm hạnh đã lập, sở tác dĩ biện, bất thọ
hậu hữu.’’ (Các lậu đã sạch, phạm hạnh đã
vững, những gì cần làm đã làm xong, chẳng
còn thọ thân sau nữa). Ở trong thiền định
thâm diệu đều được tự tại.
Lại có đủ tám giải
thoát. Tức là xả bỏ tham ái ba cõi, giải
thoát khỏi tám thứ thiền định trói buộc:
1). Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải
thoát.
2). Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải
thoát.
3). Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ.
4). Không vô biên xứ giải thoát.
5). Thức vô biên xứ giải thoát.
6). Vô sở hữu xứ giải thoát.
7). Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát.
8). Diệt thọ tưởng định thân tác chứng cụ túc
trụ.
Phật nói với Bồ Tát Di Lặc : ‘’Ý của ông như
thế nào ? Vị đại thí chủ đó, đắc được công
đức có nhiều chăng ?‘’
Có người hỏi : ‘’Cửu địa là gì ? ‘’Ðáp : Tại
dục giới có nhất địa, gọi là ngũ thú tạp cư
địa, tức là trời, người, súc sinh, ngạ quỷ,
địa ngục, thế giới của năm loài chúng sinh ở
lộn lạo. Tại sắc giới có tứ địa.
1). Sắc giới trời sơ thiền, gọi là Ly sinh hỷ
lạc địa, vì lìa khỏi dục giới thọ sinh, cho
nên trong tâm cảm thấy vừa hoan hỷ vừa khoái
lạc.
2). Sắc giới trời nhị thiền, gọi là Ðịnh sinh
hỷ lạc địa. Vì từ trong đînh, sinh ra một
thứ hoan hỷ, chẳng gì sánh bằng, mà được
cảnh giới khoái lạc.
3). Sắc giới trời tam thiền, gọi là Ly hỷ diệu
lạc địa. Ðã lìa khỏi hoan hỷ thô, đắc được
khoái lạc vi diệu.
4). Sắc giới trời tứ thiền, gọi là Xả niệm
thanh tịnh địa. Xả bỏ diệu lạc niệm đầu của
tam thiền, thân tâm thanh tịnh, một bụi trần
không nhiễm. Tại vô sắc giới có tứ địa
1). Không vô biên xứ địa. Tuy cảm giác chẳng
có thân, nhưng có tâm thức tác dụng.
2). Thức vô biên xứ địa, sáu thức trước hoàn
toàn diệt tận, chỉ có hai thức sau tồn tại.
3). Vô sở hữu xứ địa. Chế phục được thức thứ
bảy, chỉ còn thức thứ tám tồn tại.
4). Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa. Ðịnh lực
khống chế thức thứ tám, không thể hoạt động
là phi tưởng. Ðịnh lực chẳng đủ, thức thứ
tám lại hoạt động là phi phi tưởng. Bất động
tức chẳng có sinh tử, có động thì có sinh
tử. Tóm lại, đem ba cõi vẽ thành cửu địa,
làm tiêu chuẩn tiến lên của người tu hành,
dụng công tu hành thành tựu, thì thăng lên
một giai đoạn. Vượt quá phạm vi cửu địa, thì
chứng được tứ quả A
La Hán, hoặc sơ trụ Bồ Tát,
chấm dứt phân đoạn sinh tử, chưa đoạn được
biến dịch sinh tử. Tu đến Ðẳng giác Bồ Tát
vị, thì vẫn còn một phần sinh tướng vô minh
chưa đoạn. Nếu đoạn sạch thì lập tức đến
Diệu giác quả vị (quả vị Phật). Song, Bồ Tát
chẳng muốn đoạn một phần vô minh cuối cùng.
Vì Bồ Tát phát tâm đảo giá từ thuyền, phổ độ
chúng sinh, do đó:
‘’Chúng sinh độ hết, mới chứng bồ đề.’’
Bồ Tát Di Lặc bạch đức Phật rằng : Ðức Thế
Tôn ! Công đức của người đó rất nhiều, vô
lượng vô biên. Nếu vị thí chủ đó, chỉ bố thí
tất cả đồ vui thích, thì công đức đã vô
lượng, hà huống khiến cho họ đắc được quả A
La Hán.
Bồ Tát Di Lặc nói với Phật rằng : ‘’Ðức Thế
Tôn ! Công đức của vị thí chủ đó rất nhiều.
Vì vị đó chẳng những bố thí tất cả đồ vui
thích, mà còn khiến cho tất cả chúng sinh
chứng được tứ quả A
La Hán, cho nên nói công đức
vô lượng vô biên.’’
Ðức Phật bảo Bồ Tát Di Lặc: Nay ta phân
tích rõ cho ông nghe, người đó đem tất cả đồ
vui thích, bố thí cho sáu đường chúng sinh,
trong bốn trăm vạn ức A tăng kỳ thế giới.
Lại khiến cho họ đắc quả A
La Hán, công đức của người
đó, chẳng bằng người thứ năm mươi, nghe một
bài kệ Kinh Pháp Hoa, mà tùy hỷ công đức,
trăm phần, ngàn phần, trăm ngàn vạn ức phần,
cũng chẳng bằng một phần, cho đến tính đếm
thí dụ, cũng không thể biết được.
Ðức Phật bảo Bồ Tát Di Lặc : ‘’Bây giờ ta phân
tích rõ ràng đạo lý này cho
ông rõ. Vị đại thí chủ đó,
đem tất cả đồ vui thích, bố thí cho sáu
đường chúng sinh, trong trăm vạn ức A tăng
kỳ thế giới, lại khiến cho những chúng sinh
đó, đều chứng được quả vị A
La Hán, công đức của người đó
đắc được, chẳng bằng người thứ năm mươi,
nghe một bài kệ Kinh Pháp Hoa, công đức tùy
hỷ trăm phần, ngàn phần, trăm ngàn vạn ức
phần, cũng chẳng bằng một phần, cho đến tính
toán, ví dụ, để hình dung, cũng chẳng cách
chi biết được cứu kính có bao nhiêu ?‘’
A Dật Ða ! Như người thứ năm mươi đó, lần
lượt được nghe Kinh Pháp Hoa mà tùy hỷ, công
đức còn vô lượng vô biên A tăng kỳ, hà huống
là người đầu tiên, ở trong pháp hội nghe
Kinh Pháp Hoa mà tùy hỷ. Phước người này,
còn hơn phước người thứ năm mươi, vô lượng
vô biên A tăng kỳ, không thể sánh được.
Ðức Phật lại gọi một tiếng : ‘’A Dật Ða ! Như
người thứ năm mươi đó, lần lượt nghe được
Kinh Pháp Hoa, mà phát tâm tùy hỷ, còn đắc
được công đức vô lượng vô biên A tăng kỳ. Hà
huống là người đầu tiên, trực tiếp nghe Kinh
Pháp Hoa ở trong pháp hội, mà phát tâm tùy
hỷ, công đức của người này, đương nhiên phải
thù thắng hơn công đức của người gián tiếp
nghe Kinh Pháp Hoa (người thứ năm mươi vô
lượng vô biên A tăng kỳ, cũng không thể so
sánh được).’’ Tóm lại, ở trong đạo tràng
nghe Kinh Pháp Hoa mà tùy hỷ, thì công đức
không thể nói, không thể nói, tức là dù nói,
cũng nói không ra cứu kính có bao nhiêu.
Lại nữa, A Dật Ða ! Nếu có người vì kinh
này, mà đi đến phòng Tăng, hoặc ngồi, hoặc
đứng, nghe trong giây lát, thì nhờ công đức
đó, mà tái sinh đời sau, được voi ngựa, xe
cộ, châu báu, kiệu cáng, đồ thượng hạng và
cung điện.
Ðức Phật lại gọi một tiếng : ‘’A Dật Ða ! Nếu
như có người, vì ngưỡng mộ Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, mà đến chỗ chư Tăng ở, hoặc là
ngồi, hoặc là đứng, để nghe Kinh Pháp Hoa
trong chốc lát. Do công đức đó, mà tái sinh
đời sau, được sinh vào nhà vua, có đủ voi
ngựa, xe cộ, châu báu, kiệu cáng, hoặc được
sinh về cõi trời có cung điện bảy báu.’’
Nếu lại có người, ngồi ở nơi giảng pháp, có
người đến mà khuyên bảo, khiến cho họ ngồi
nghe pháp, hoặc phân chia chỗ cho họ ngồi,
thì công đức của người đó, khi chuyển thân
khác, sẽ được chỗ ngồi của trời Ðế Thích,
hoặc chỗ ngồi của Phạm Vương, hoặc chỗ ngồi
của vua Chuyển luân thánh vương.
Nếu lại có người, ngồi ở nơi giảng pháp nghe
Kinh Pháp Hoa, sau đó lại có người đến bèn
khuyên họ ngồi xuống nghe kinh, hoặc phân
chia nửa chỗ của mình cho họ ngồi, hai người
cùng ngồi một chỗ, hoặc nhường chỗ ngồi cho
họ ngồi, thì công đức của người đó, khi tái
sinh đời sau, sẽ được chỗ ngồi của trời Ðế
Thích, hoặc chỗ ngồi của Phạm Thiên Vương
hoặc chỗ ngồi của vua Chuyển Luân Thánh
Vương.
Các vị ! Nếu như có
người đến Phật Giáo Giảng Ðường nghe kinh,
phải chiêu đãi giúp tìm chỗ ngồi. Nếu có
người không có chỗ ngồi, thì hãy chia nửa
chỗ ngồi của mình cho họ ngồi, hoặc là
nhường chỗ ngồi của mình cho họ ngồi, thì
tương lai chắc chắn sẽ có phước báu. Tóm
lại, phàm là người đến nghe kinh thì phải
chiêu đãi, đừng giống như người gỗ, chẳng
đếm xỉa gì đến họ, khiến cho họ sinh sợ, lần
sau họ chẳng dám đến nữa. Phải biết chiêu
đãi khách, là lễ phép chứ chẳng phải phan
duyên, điểm này phải chú ý.
A Dật Ða ! Nếu lại có người, nói với người
khác rằng : Có kinh tên là Pháp Hoa, chúng
ta có thể cùng nhau đến nghe, người đó nghe
lời, bèn đến nghe trong chốc lát. Công đức
của người đó chuyển thân sau, được sinh cùng
một chỗ với Bồ Tát Ðà
La Ni, có lợi căn trí huệ.
Phật lại gọi một tiếng : ‘’A Dật Ða ! Nếu như
lại có người, nói với người khác rằng : Hiện
nay có đạo tràng giảng Kinh Pháp Hoa, chúng
ta có thể cùng nhau đi đến nghe. Người đó
nghe lời khuyên, đi đến nghe Kinh Pháp Hoa
trong chốc lát. Người khuyên và người nghe
kinh đó, đắc được công đức, khi sinh thân
sau sẽ cùng sinh một chỗ với Bồ Tát Ðà
La Ni, được trí huệ sáu căn
thông lợi.’’
Hiện tại Phật Giáo Giảng Ðường đang giảng Kinh
Pháp Hoa. Các vị có thể khuyên các người
thân bạn bè, khiến cho họ đến nghe kinh.
Chẳng những các vị có công đức, mà người
thân bạn bè của quý vị, cũng được công đức,
trồng xuống căn lành, phước báu tương lai
không thể hạn lượng.
Trong trăm nghìn vạn đời, chẳng bao giờ bị
câm, hơi miệng chẳng hôi thối, lưỡi thường
chẳng có bệnh tật, miệng cũng chẳng có bệnh
tật, răng chẳng dơ, chẳng đen, chẳng vàng,
chẳng thưa, cũng chẳng thiếu rụng, chẳng so
le, chẳng cong. Môi chẳng thòng xuống, cũng
chẳng co rút lại, chẳng thô rít, chẳng ung
nhọt, cũng chẳng khuyết xấu, cũng chẳng cong
vẹo, chẳng dày chẳng lớn, cũng chẳng đen
xạm, chẳng có các sự đáng chê.
Trong trăm nghìn vạn đời chẳng mắc bệnh câm.
Trong miệng chẳng có mùi hôi, thân chẳng tỏa
ra mùi hôi. Người tu hành mà chẳng giảng
kinh thuyết pháp, thì sẽ mắc bệnh câm; người
tu hành chẳng giữ gìn giới luật, thì sẽ tỏa
ra mùi hôi thối. Nếu khuyên người khác nghe
kinh, thì được công đức lưỡi chẳng bị bệnh
tật, miệng chẳng bị bệnh tật, răng chẳng dơ,
chẳng đen, chẳng vàng, chẳng thưa, chẳng
thiếu rụng, chẳng so le, chẳng cong, rất
ngay thẳng và trắng sạch.
Môi rất đẹp, chẳng thòng xuống, cũng chẳng co
rút lại, cũng chẳng thô rít, cũng chẳng bị
nhọt, cũng chẳng khuyết xấu, cũng chẳng cong
vẹo, cũng chẳng dày lớn, cũng chẳng đen xạm,
chẳng có chỗ khiến cho người nhàm chán. Có
người môi thì trời bao đất (môi trên thì dài
môi dưới thì ngắn), hoặc đất bao trời (môi
trên thì ngắn môi dưới thì dài), đó là do
tiền kiếp thích nói chuyện thị phi mà bị quả
báo.
Mũi chẳng dẹp, cũng chẳng cong. Sắc mặt
chẳng đen, cũng chẳng dài hẹp, cũng chẳng
cong trũng, chẳng có những tướng khiến cho
người thấy chẳng vui.
Mũi ngay thẳng, cũng chẳng dẹp, cũng chẳng
cong. Sắc mặt chẳng đen cũng chẳng dài hẹp,
cũng chẳng trũng ngắn. Chẳng có những tướng
khiến cho người thấy chẳng vui. Muốn khiến
cho sáu căn trang nghiêm, thì hãy làm nhiều
công đức lành, đừng làm việc tội ác. Phàm là
người có ngũ quan đoan chánh, thì không cần
hỏi mà vẫn biết, nhờ công đức vậy.
Môi lưỡi răng thảy đều tốt đẹp trang
nghiêm, mũi thì cao thẳng. Mặt mày tròn đầy,
mi cao mà dài, trán rộng bằng phẳng, nhân
tướng đây đủ. Ðời đời sinh ra đều gặp Phật,
nghe pháp tin nhận lời của Phật dạy.
Ðây là người khuyên người khác đi nghe kinh,
và người nghe lời khuyên đi nghe kinh, đều
được môi lưỡi răng tốt đẹp trang nghiêm. Mũi
thì cao thẳng, mặt mày tròn đầy, mi cao mà
dài, trán rộng bằng phẳng, tướng tốt đầy đủ,
đời đời sinh ra nơi nào cũng được thấy Phật,
nghe pháp, sinh niềm tin, tiếp nhận lời Phật
dạy, tức là y giáo phụng hành.
A Dật Ða ! Ông xem đó, khuyên một người
khiến cho họ đến nghe pháp, mà được công đức
như thế, hà huống là một lòng nghe giảng,
đọc tụng, rồi ở trong đại chúng, vì mọi
người phân biệt giải nói pháp tu hành.
Phật lại gọi một tiếng : ‘’A Dật Ða ! Ông hãy
xem, chỉ khuyên một người đến đạo tràng nghe
pháp, mà được công đức nhiều như thế. Hà
huống là chuyên tâm nghe giảng, đọc tụng, ở
trong đại chúng lại hay phân biệt vì người
giải thích pháp tu hành, công đức đó càng
rộng lớn.’’
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng:
Lúc đó, Ðức Phật muốn thuật lại nghĩa lý
trường hàng ở trên, bằng kệ dưới đây.
Nếu người trong pháp hội
Ðược nghe kinh điển này
Cho đến một bài kệ
Tùy hỷ với người nói.
Như vậy lần lượt dạy
Ðến người thứ năm mươi
Người cuối cùng được phước
Nay sẽ phân biệt nói.
Nếu như có người, ở trong pháp hội được nghe
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cho đến một bài kệ,
mà có sở tâm đắc, tùy hỷ đối với người khác
giảng nói nghĩa lý bài kệ đó. Cứ như thế
truyền dạy đến người thứ năm mươi, thì người
đó đắc được phước báu như thế nào ? Nay ta
sẽ vì ông mà phân biệt giải nói, mong rằng
các ông hãy lắng nghe.
Như có đại thí chủ
Bố thí vô lượng chúng
Tròn đủ tám mươi năm
Tùy ý muốn của họ.
Thấy họ tướng già nua
Tóc bạc và mặt nhăn
Răng rụng hình khô gầy
Nghĩ họ chết sắp đến.
Lần lượt nói ra, như có vị đại thí chủ, dùng
đủ thứ của cải vật chất, để bố thí cho vô
lượng vô số chúng sinh đã hơn tám mươi năm,
tùy ý muốn cần dùng của họ, đều khiến cho họ
mãn nguyện.
Vị đại thí chủ đó, thấy những chúng sinh đó đã
già nua, tóc bạc mặt nhăn, răng rụng, hình
hài khô gầy. Lại biết họ sống chẳng còn bao
lâu, bèn khởi tâm thương xót, khiến cho họ
thoát khỏi biển khổ sinh tử, đến được bờ
Niết Bàn bốn đức : Thường, lạc, ngã, tịnh.
Nay ta nên dạy họ
Khiến cho được đạo quả
Bèn dùng phương tiện nói
Pháp Niết Bàn chân thật.
Ðời đều chẳng lâu bền
Như bọt nước ngọn lửa
Các ông phải nên biết
Sớm sinh tâm nhàm lìa.
Bây giờ ta phải dạy họ pháp môn tu ra khỏi thế
gian, khiến cho họ đều đắc được đạo quả A
La Hán. Lập tức dùng phương
tiện, vì họ nói từ sinh tử bờ bên này, vượt
qua dòng phiền não, đạt đến bờ Niết Bàn bên
kia.
Tất cả sự tướng thế gian đều chẳng vững bền,
đều hư vọng huyễn hóa chẳng thật. Giống như
bọt nước ngọn lửa đều vô thường. Các ông nên
biết đều là không, đừng tham luyến hồng
trần, hãy mau nhàm lìa thế giới Ta Bà, trở
về ngôi nhà tự có sẵn; cõi Thường Tịch Quang
Tịnh Ðộ.
Mọi người nghe pháp đó
Ðều đắc A La Hán
Ðầy đủ sáu thần thông
Ba minh tám giải thoát.
Người năm mươi cuối cùng
Nghe bài kệ tùy hỷ
Người này phước hơn kia
Không thể ví dụ được.
Những chúng sinh đó, nghe pháp của vị đại thí
chủ đó rồi, bèn phát tâm tu hành, sau đó hết
thảy đều đắc được quả A La Hán.
Họ có đủ sáu thần
thông, sáu thần thông là gì ?
1). Thiên nhãn thông : Nhìn thấy được cảnh
giới khoái lạc của trời người, lại thấy được
tình hình thọ khổ dưới địa ngục, rõ ràng như
xem truyền hình.
2). Thiên nhĩ thông : Chẳng những thấy được
hành động của trời người, mà còn nghe được
trời người nói chuyện, giống như nghe máy
thu băng.
3). Tha tâm thông : Biết được trong tâm kẻ
khác nghĩ việc gì.
4). Túc mạng thông : Quán sát được nhân duyên
quá khứ, và nhân quả tương lai của chính
mình và người khác.
5). Thần túc thông : Có thể hành động ở trong
định, hoặc đi đứng ở trong hư không, đến đi
tự tại, nhậm vận tự tại, chẳng bị điều kiện
hạn chế nào.
6). Lậu tận thông : Tức là quét trừ tất cả
phiền não, chẳng có mọi vọng tưởng. Các lậu
đã sạch, chẳng thọ thân sau nữa. Ngoại đạo
chỉ có năm thần thông, mà chẳng có lậu tận
thông.
Lại có đủ ba minh và tám giải thoát. Ba minh :
1). Túc mạng minh.
2). Thiên nhãn minh.
3). Lậu tận minh.
Tức cũng là biết
tướng sinh tử đời quá khứ của mình, và của
người khác; lại biết tướng sinh tử vị lai
của mình, và của kẻ khác; lại biết tướng khổ
hiện tại, trí huệ đoạn sạch tất cả phiền
não. Ba minh ở tại Phật là ba đạt, ở tại A
La Hán là ba minh. Trí biết
pháp hiển rõ là ba minh. Tám giải thoát đã
giải thích ở trước rồi, chẳng cần nói nữa.
Lần lượt đến người thứ năm mươi, họ chỉ nghe
được một bài kệ Kinh Pháp Hoa, mà tùy hỷ
công đức, thì đắc được phước báu, lớn hơn so
với vị đại thí chủ gấp trăm lần. Phước báu
đó chẳng cách chi nói hết được, dù dùng ví
dụ để hình dung, cũng chẳng nói được bờ mé
của nó.
Lần lượt nghe như vậy
Phước đức còn vô lượng
Hà huống trong pháp hội
Người đầu nghe tùy hỷ.
Lần lượt nghe kinh như thế, còn được vô lượng
phước báo, hà huống là người đầu tiên ở
trong pháp hội nghe, mà tùy hỷ công đức,
công đức của người đó càng lớn hơn. Các vị
chú ý ! Phàm là nơi nào có giảng kinh thuyết
pháp, mà tùy hỷ tham gia, thì nhất định có
phước đức không thể nghĩ bàn.
Nếu khuyên được một người
Dẫn họ nghe Pháp
Hoa
Nói kinh này thâm diệu
Ngàn vạn ức khó gặp.
Bèn nghe lời đến nghe
Cho dù nghe chốc lát
Phước báu của người đó
Nay sẽ phân biệt nói.
Nếu như có người dẫn họ đến đạo tràng (chùa)
nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, và nói với họ
: ‘’Kinh Pháp Hoa là kinh thâm áo vi diệu
nhất, trong trăm nghìn vạn kiếp khó gặp
được.’’ Tóm lại, chẳng dễ gì gặp được cơ hội
có người giảng Kinh Pháp Hoa. Cho nên, tôi
khuyên các vị phải tùy hỷ nghe kinh, bất cứ
người nào giảng kinh gì, ở trong phạm vi có
khả năng, thì phải tham gia pháp hội, được
phước báo chẳng nhỏ. Có cơm có thể không ăn,
nhưng kinh thì không thể không nghe, có tư
tưởng như thế, thì mới là tiêu chuẩn của
Phật giáo đồ. Nên nhớ, không thể một bên thì
nghe kinh, một bên thì khởi vọng tưởng, hoặc
là ngủ gục, do đó có câu: ‘’Tâm chẳng chú ý,
thì thấy mà chẳng thấy, nghe mà chẳng
nghe.’’ Pháp sư giảng giải nghĩa kinh mà
chẳng hiểu biết. Tại sao như vậy ? Vì chẳng
lọt vào tai.
Người đó nghe lời
bèn đến đạo tràng nghe Kinh Pháp Hoa, dù
trong thời gian rất ngắn, mà chuyên tâm nghe
giảng, thì người đó đắc được phước báu, nay
ta (Ðức Phật) sẽ phân biệt nói cho ông (Bồ
Tát Di Lặc) nghe.
Ðời đời miệng chẳng bệnh
Răng chẳng thưa vàng đen
Môi chẳng dày co thiếu
Chẳng có tướng đáng chê.
Lưỡi chẳng khô đen ngắn
Mũi vừa cao lại thẳng
Trán rộng và bằng phẳng
Mặt mày rất đoan nghiêm.
Khiến người hoan hỷ thấy
Hơi miệng chẳng hôi thối
Thơm như hoa ưu bát
Thường từ trong miệng ra.
Người tùy hỷ nghe Kinh Pháp Hoa, đắc được
phước báu đời đời miệng chẳng có bệnh, răng
chẳng thưa, chẳng vàng, chẳng đen, rất ngay
thẳng, đều trắng sạch. Bậc Thánh nhân có bốn
mươi cái răng, phàm phu có ba mươi hai cái,
Phật có bốn mươi cái răng. Bồ Tát
Hoa Nghiêm (Ðường Chứng Quán
Quốc Sư) có bốn mươi cái răng. Có gì chứng
minh Bồ Tát
Hoa Nghiêm là Chứng Quán Sư,
còn gọi là Thanh
Lương Quốc Sư, Ngài là thầy
của bảy vị vua nhà Ðường. Tướng của Ngài rất
trang nghiêm, chẳng những có bốn mươi cái
răng, mà con mắt sáng như sao, ban đêm phóng
quang, hai tay dài quá đầu gối, mắt nhìn một
lần mười hàng, thiên sinh dị bẩm (trời sinh
khác thường). Sau khi Ngài viên tịch, thì ở
Ấn Ðộ có vị Tăng đã chứng đắc A
La Hán, đến
Trung Quốc hoằng
dương Phật pháp, tục Phật huệ
mạng, đi ngang qua Thông Lĩnh, đột nhiên
thấy có hai đồng tử đằng vân đi qua, vị Tăng
đó dùng thần thông chận hai vị đồng tử lại,
mới hỏi họ đang đi đâu ? Và có việc gì ? Hai
vị đồng tử đáp : ‘’Chúng tôi đến
Trung Quốc thỉnh răng của Bồ
Tát
Hoa Nghiêm về an trí tại Ðiện
Văn Thù ở Ấn Ðộ để cúng dường.’’ Vị Tăng hỏi
: ‘’Ai là hóa thân của Bồ Tát
Hoa Nghiêm ?‘’ Hai vị đồng tử
đáp : ‘’Chứng Quán Quốc Sư.’’ Nói xong hai
vị đồng tử đằng vân mà đi.
Vị A
La Hán đó đến Trường An, đem
việc đó tấu rõ cho vua nghe, cho phép mở
quan tài của Ngài Chứng Quán Quốc Sư, quả
nhiên phát hiện thiếu hai cái răng cửa. Do
đó, mọi người đủ biết Ngài Chứng Quán Pháp
Sư là hóa thân của Bồ Tát
Hoa Nghiêm, thừa nguyện đến
để giáo hóa chúng sinh.
Người tùy hỷ Kinh
Pháp Hoa thì môi chẳng dày, cũng chẳng mỏng,
vừa đẹp. Lại chẳng co chẳng thiếu, rất đoan
chánh, chẳng có tướng đáng chê. Lưỡi chẳng
khô khan, chẳng đen xạm, chẳng ngắn nhỏ. Mũi
vừa cao vừa thẳng, chẳng cong gãy. Trán thì
rộng bằng phẳng. Mặt như trăng rằm, mắt màu
xanh biếc, hoàn toàn trang nghiêm. Ngũ quan
của người đó đoan chánh, ai ai cũng hoan hỷ
thấy họ. Trong miệng của người đó, chẳng có
hơi hôi thối, thường tỏa ra hương vị thơm
của hoa ưu bát, vì thường đọc tụng Kinh Pháp
Hoa.
Nếu đi đến nhà
Tăng
Muốn nghe Kinh Pháp
Hoa
Hoan hỷ nghe chốc lát
Nay sẽ nói phước đó.
Sau sinh trong trời người
Ðược voi ngựa xe báu
Châu báu và kiệu cáng
Và ngồi cung điện trời.
Nếu như có người muốn nghe Kinh Pháp Hoa, mà
đến chỗ của chư Tăng ở, dù nghe kinh này
trong thời gian chốc lát, mà sinh tâm tùy
hỷ, y giáo phụng hành, nay ta sẽ vì ông nói
ra phước báu của họ đắc được. Sau khi người
đó chết đi, chẳng sinh về cõi trời, thì sinh
vào cõi người, được voi ngựa xe báu. Ở cõi
trời thì được ở cung điện trời, đắc được
phước báu như thế.
Nếu ở nơi giảng pháp
Khuyên người ngồi nghe kinh
Nhờ phước đó nên được
Tòa Thích Phạm chuyển luân.
Hà huống một lòng nghe
Giải nói nghĩa lý kinh
Như lời nói tu hành
Phước đó chẳng hạn lượng.
Nếu như ở chỗ giảng kinh thuyết pháp, mà
khuyên họ ngồi xuống nghe kinh, do nhân
duyên đó nên được phước báo, tương lai có
thể ngồi ở chỗ ngồi của trời Ðế Thích, hoặc
chỗ ngồi của Ðại Phạm Thiên Vương, hoặc chỗ
ngồi của vua Chuyển Luân Thánh Vương. Hà
huống tự mình chuyên tâm nghe kinh, giải nói
được nghĩa lý của Kinh Pháp Hoa, y theo pháp
nói trong Kinh Pháp Hoa mà tu hành, thì được
phước báu không thể hạn lượng.