KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 04
Quyển 05
Phẩm Thọ Lượng Của Như Lai thứ
mười sáu
Như Lai là một
trong mười danh hiệu của Phật. Mười danh
hiệu là gì ? Tức là Như Lai, ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, đủ mười hiệu này nên
gọi là Thế Tôn. Mười phương ba đời tất cả
chư Phật đều gọi là Như Lai. Như Lai là gì ?
Tức là :
‘’Thừa như thật chi đạo,
Lai thành chánh giác.’’
Thừa là trí như như, lai là cảnh như như. Dùng
trí như như để quán sát cảnh như như. Cảnh
trí như như, cảnh trí hợp mà làm một. Tóm
lại, cũng chẳng có cảnh, cũng chẳng có trí.
Ðạo là nhân, giác là quả. Ðây là cảnh giới
nhân viên quả mãn, cho nên gọi là ‘’Như
Lai.’’ Như Lai có hai thân, tức là chân thân
và ứng thân. Chân thân là pháp thân, ứng
thân là hóa thân, tuy danh từ khác nhau,
song thể dụng giống nhau. Theo căn cơ chúng
sinh mà hiện thân, để vì chúng sinh nói
pháp. Do đó :
‘’Bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến.’’
Ví dụ như : Chân thân cũng như mặt trăng sáng
ở trong hư không, ứng thân giống như bóng
mặt trăng ở trong nước. Do đó, có câu :
‘’Thiên đàm hữu thủy thiên đàm nguyệt.’’
Nghĩa là :
‘’Ngàn ao hồ có ngàn mặt trăng hiện vào.’’
Phàm là nơi nào có nước, chỉ cần lắng trong
không đục, thì mặt trăng đều hiện bóng vào.
Song, mặt trăng trong nước chẳng đi, mặt
trăng trên trời cũng chẳng đến. Cho nên nói:
"Như Lai chẳng đến chẳng đi".
Tuy Ðức Phật thị hiện đến thế giới này, song
cũng chẳng sinh; tuy thị hiện nhập diệt,
cũng chẳng có diệt. Tại sao ? Vì bổn thể của
Ngài chẳng động. Ðó là cảnh giới không sinh
mà thị hiện sinh, không diệt mà thị hiện
diệt, khiến cho chúng sinh đừng chấp trước
có sinh có diệt. Phật thì không sinh không
diệt, huệ mạng của Phật cũng chẳng có hạn
lượng, về thời gian là vô hạn, về không gian
là vô lượng. Như Lai có ba thân, tức là :
1). Thanh Tịnh Pháp
Thân Tỳ Lô Giá Na Phật, dịch là "Biến mãn
nhất thiết xứ" (đầy khắp mọi nơi). Trí huệ
quang của Ngài chiếu khắp hư không, tận hư
không biến pháp giới. Pháp thân của Phật vô
tại vô bất tại. Tại sao ? Vì pháp thân của
Phật không hình không tướng, thuần nhất
thanh tịnh, chân Phật vô hình, cho nên không
có chỗ nào mà chẳng phải là pháp thân ở tại
chỗ đó.
Có người khởi vọng tưởng : ‘’Ðại khái nơi
chẳng thanh tịnh, thì chẳng có pháp thân của
Phật‘’ ! Nói cho bạn biết ! Pháp thân của
Phật chẳng có chỗ nào mà không có (vô sở bất
tại). Thanh tịnh hay không thanh tịnh, là do
tâm phân biệt của phàm phu mà nói. Tại cảnh
giới của Phật mà nói, thì không thanh tịnh
cũng biến thành thanh tịnh. Ở trước kinh này
có nói về ba lần biến đất đai, tức là không
thanh tịnh biến thành thanh tịnh.
2). Viên Mãn Báo
Thân Lô Xá Na Phật, dịch là "Tịnh mãn". Tức
là các hoặc đều tịnh, trí huệ viên mãn. Khi
Ðức Phật chứng đạo dưới cội bồ đề, thì hiện
thân Lô Xá Na ngàn trượng, để vì pháp thân
Ðại sĩ (Bồ Tát) nói Kinh
Hoa Nghiêm. Hàng tiểu thừa
thấy Phật chỉ là tướng Tỳ Kheo một trượng
sáu, do đó ‘’Có mắt chẳng thấy Lô Xá Na, có
tai chẳng nghe giáo viên đốn.’’ Ðây là hình
dung hàng tiểu thừa chẳng có căn tánh đại
thừa. Tuy nhiên ở tại hiện trường mà giống
như kẻ mù kẻ điếc.
Có người hỏi :
‘’Hàng nhị thừa là bậc Thánh nhân, sao chẳng
thấy Phật chẳng nghe pháp; chúng ta là phàm
phu, sao lại thấy được Kinh
Hoa Nghiêm‘’ ?
Ðáp : ‘’Vì hàng nhị thừa cơ duyên còn chưa
thành thục, cho nên chẳng nghe pháp đại
thừa. Chúng ta gặp được Kinh
Hoa Nghiêm, phải cảm kích ân
điển của Bồ Tát Long Thọ. Trong quá khứ
chúng ta đã gieo trồng căn lành, kết pháp
duyên với Kinh
Hoa Nghiêm, cho nên đời này
được nghe kinh điển này.’’
Sau khi Ðức Phật vào Niết Bàn, khoảng sáu trăm
năm sau, Bồ Tát Long Thọ ra đời ở Ấn Ðộ,
Ngài có trí huệ hơn người, bất cứ kinh gì
sách gì, qua mắt rồi thì không bao giờ quên,
thuộc lòng như nước chảy. Ngài đọc hết tất
cả kinh sách thế gian, chẳng còn sách gì để
đọc, Long Vương thỉnh Ngài xuống lầu tạng
kinh ở dưới Long Cung, để đọc kinh điển đại
thừa. Ngài phát hiện bộ Kinh
Hoa Nghiêm, gồm có quyển
thượng, trung, hạ ba quyển. Quyển thượng và
quyển trung quá nhiều bài kệ, người thế gian
không thể tiếp thọ được, chỉ có quyển hạ có
mười vạn bài kệ. Ngài tốn ba ngày thời gian,
mới đọc xong mười vạn bài kệ và nhớ vào
trong não hải, rồi trở về Ấn Ðộ, viết ra
trên lá bối chẳng xót một chữ, trở thành bộ
kinh ‘’Không thể nghĩ bàn,’’ lưu truyền ở
nhân gian. Kinh
Hoa Nghiêm mà chúng ta gặp là
bộ kinh này. Nhân duyên của chúng ta thành
thục, tương lai khi giảng xong bộ Kinh Pháp
Hoa, thì chúng ta tiếp tục giảng bộ Kinh
Hoa Nghiêm. Tôi ước lượng
khoảng mười năm mới giảng xong bộ Kinh Pháp
Giới này.
Nói đến đây lại có người khởi vọng tưởng :
‘’Bồ Tát Long Thọ làm sao mà xuống Long cung
được ? Ngài lặn xuống nước chăng‘’ ? Phàm là
người chứng quả, đều có thần thông, vào đất
như vào nước, đi trong nước như đi trên đất.
Ngài đến bờ biển thì nước biển tự nhiên rẽ
ra thành đường đi, chân Ngài chẳng dính
nước, bèn đi đến Long cung, bạn nói có diệu
chăng ! Bạn có muốn xuống Long cung tham
quan chăng ? Hãy mau ngồi thiền nhập định,
đắc được ngũ nhãn lục thông, thì bất cứ muốn
đến đâu, cũng đều toại tâm như ý, chẳng bị
vật gì hạn chế.
3). Thiên Bách ức
Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật, dịch là "Năng
nhân tịch mặc". Nghĩa là thân khẩu ý ba
nghiệp, lìa các lỗi ác được vắng lặng. Phật
tùy loại chúng sinh mà hiện thân để giáo
hóa. Tóm lại, theo cơ của chúng sinh mà hiện
thân nói pháp, chẳng những ở thế giới này
nói pháp, mà còn nói pháp ở khắp mười phương
vô lượng thế giới, để giáo hóa chúng sinh.
Phẩm này là vì giải quyết lòng nghi của chúng
mà nói : ‘’Ta thành Phật đến nay rất là lâu
xa, thọ mạng của Như Lai vô lượng A tăng kỳ
kiếp.’’ Phẩm này nói rõ công đức báo thân và
trí huệ của Phật, trên thì hợp với thật
tướng, dưới thì khế với chúng sinh.
Bấy giờ, đức Phật bảo các Bồ Tát và tất cả
đại chúng : Các thiện nam tử ! Các ông nên
tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai. Lại
bảo đại chúng : Các ông nên tin hiểu lời nói
chân thật của Như Lai. Lại bảo đại chúng :
Các ông nên tin hiểu lời nói chân thật của
Như Lai.
Sau khi Ðức Phật nói xong Phẩm Từ Dưới Ðất Vọt
Lên rồi, bèn nói Phẩm Thọ Lượng của Như Lai.
Lúc đó, Phật bảo tất cả Bồ Tát và đại chúng
trong hội Pháp Hoa nói : ‘’Các vị thiện nam
tử ! Các ông hãy thanh tịnh tâm của mình,
thu nhiếp ý của mình, chú ý lắng nghe ! Nên
tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.’’
Trước kia nói pháp ba thừa, là tùy phương
tiện mà nói, bây giờ nói pháp một thừa, nên
gọi là pháp chân thật.
Ðức Thế Tôn sợ rằng hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni,
cư sĩ nam, cư sĩ nữ, trong pháp hội khởi
vọng tưởng chẳng chú ý nghe pháp, cho nên
lại nói lần nữa : ‘’Các ông nên tin hiểu lời
nói chân thật của Như Lai.’’
Bấy giờ, trong đại chúng Bồ Tát, Bồ Tát Di
Lặc làm thượng thủ, chắp tay bạch đức Phật
rằng : Ðức Thế Tôn ! Xin hãy nói đi, chúng
con sẽ tin nhận lời của đức Phật nói, bạch
ba lần như thế rồi nói : Xin hãy nói đi,
chúng con sẽ tin nhận lời của đức Phật nói.
Lúc đó, trong đại chúng Bồ Tát nghe Phật nói
ba lần như thế. Bồ Tát Di Lặc đại biểu cho
đại chúng, hướng về Ðức Phật cung kính chắp
tay mà bạch rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Xin Ngài
hãy vì chúng con mà nói lời chân thật, chúng
con sẽ tin sâu tiếp thọ lời nói của Phật,
tuyệt đối chẳng hoài nghi pháp của Phật
nói.’’ Nói như thế ba lần, thì Phật yên lặng
chẳng nói (ba lần thỉnh pháp để biểu thị chí
thành khẩn thiết). Bồ Tát Di Lặc lại nói :
‘’Xin Ðức Thế Tôn hãy vì chúng con mà nói,
chúng con nhất định tin nhận lời của Phật
nói.’’
Bấy giờ, đức Thế Tôn biết các Bồ Tát ba lần
thỉnh không ngừng, bèn bảo rằng : Các ông
hãy lắng nghe, sức thần thông bí mật của Như
Lai, tất cả thế gian trời người và A tu la,
đều cho rằng hôm nay đức Phật Thích Ca Mâu
Ni, lìa bỏ hoàng cung đến thành Già Gia
chẳng bao xa, ngồi nơi Ðạo tràng, đắc được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lúc đó, Phật biết các vị Bồ Tát ba lần thỉnh
pháp không ngừng, bèn nói với các vị Bồ Tát
rằng : ‘’Các ông phải nghe cho kỹ ! Sức thần
thông bí mật của Như Lai.’’ Tất cả thế gian
trời người và A tu la đều nói rằng : ‘’Hiện
tại Phật Thích Ca Mâu Ni, lìa khỏi cung điện
của vua Tịnh Phạn, đi đến thành Già Gia
chẳng bao xa, ngồi dưới cội bồ đề, chứng
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.’’
Thiện nam tử ! Thật ra, từ khi ta thành
Phật đến nay, đã vô lượng vô biên trăm ngàn
vạn ức Na do tha kiếp. Ví như, năm trăm ngàn
vạn ức Na do tha A tăng kỳ, ba ngàn đại
thiên thế giới. Giả sử, có người nghiền ra
thành bụi, đi qua phương đông, năm trăm ngàn
vạn ức Na do tha A tăng kỳ cõi nước, mới để
xuống một hạt bụi, cứ theo hướng đông làm
như thế, hết số hạt bụi đó.
Thiện nam tử ! Thật ra ta thành Phật đến nay,
đã có vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức Na
do tha kiếp. Chứ chẳng phải hiện tại mới
chứng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Ví như, có năm trăm
ngàn vạn ức Na do tha A tăng kỳ (vô lượng
số), ba ngàn đại thiên thế giới. Giả sử, có
người đem hết các thế giới đó nghiền ra
thành bụi, đi thẳng về phương đông, qua năm
trăm ngàn vạn ức Na do tha A tăng kỳ cõi
nước, mới để xuống một hạt bụi, để hết số
hạt bụi, chẳng còn hạt bụi nào cả.
Các thiện nam tử ! Ý của các ông thế nào?
Các thế giới đó, có thể suy nghĩ tính đếm
biết được số bao nhiêu chăng?
Các thiện nam tử ! Ý của các ông thế nào ?
Những thế giới như thế có bao nhiêu ? Các
ông có thể suy nghĩ, tính đếm cứu kính có
bao nhiêu số mục, các ông có biết số chắc
chắn là bao nhiêu chăng ?
Bồ Tát Di Lặc và hết thảy Bồ Tát, đều bạch
đức Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Các thế giới
đó vô lượng vô biên, chẳng phải tính đếm mà
biết được. Tất cả hàng Thanh Văn, Bích Chi
Phật, dùng trí huệ vô lậu, cũng không thể
suy nghĩ biết được số lượng. Chúng con trụ ở
bậc bất thối, ở nơi việc này, cũng chẳng
biết được. Ðức Thế Tôn ! Các thế giới như
thế vô lượng vô biên.
Bồ Tát Di Lặc và tất cả Bồ Tát đồng thời nói
với Phật : ‘’Ðức Thế Tôn ! Những thế giới đó
vô lượng vô biên, chẳng phải tính toán mà
biết được số mục, cũng chẳng phải dùng sức
tâm của một số người, mà tưởng tượng đến
được. Dù tất cả hàng Thanh Văn và Duyên
Giác, dùng trí huệ vô lậu để suy nghĩ cũng
chẳng biết được số mục. Chúng con hàng Bồ
Tát đều trụ ở bậc bất thối, ở nơi việc này
cũng chẳng biết được. Ðức Thế Tôn ! Những
thế giới đó chẳng có số lượng, chẳng có bờ
bến, không thể nói, không thể hình dung
được.’’
Bấy giờ, đức Phật bảo đại chúng Bồ Tát :
Các thiện nam tử ! Nay ta phân minh nói cho
các ông nghe, các thế giới đó, hoặc để hạt
bụi, hoặc không để, đều nghiền ra thành bụi
hết, một hạt bụi là một kiếp. Từ ta thành
Phật đến nay, còn nhiều hơn số đó, trăm ngàn
vạn ức Na do tha A tăng kỳ kiếp. Từ đó đến
nay, ta thường ở tại thế giới Ta Bà này,
thuyết pháp giáo hóa, cũng ở nơi trăm ngàn
vạn ức Na do tha A tăng kỳ cõi nước khác,
giáo hóa lợi ích chúng sinh.
Lúc đó, Ðức Phật bảo các đại Bồ Tát ở trong
pháp hội rằng : ‘’Các vị thiện nam tử ! Nay
ta sẽ phân minh nói rõ cho các ông nghe. Ði
về hướng đông, trải qua vô lượng thế giới
như thế, hoặc để một hạt bụi xuống, hoặc
không để hạt bụi xuống, lại đem tất cả những
thế giới đó, đều nghiền ra thành bụi. Một
hạt bụi là một kiếp, từ khi ta thành Phật
đến nay, đã trải qua nhiều hơn số kiếp hạt
bụi đó, khoảng trăm ngàn vạn ức Na do tha A
tăng kỳ đại kiếp. Từ đó đến nay, ta thường ở
tại thế giới Ta Bà này, thuyết pháp giáo hóa
chúng sinh, cũng ở những thế giới khác giáo
hóa chúng sinh, tại trăm ngàn vạn ức Na do
tha A tăng kỳ cõi nước, giáo hóa lợi ích tất
cả chúng sinh.’’
Các thiện nam tử ! Trong khoảng giữa đó, ta
nói Phật Nhiên Ðăng, và còn nói đức Phật đó
vào Niết Bàn. Như thế đều dùng phương tiện
phân biệt.
Các vị thiện nam tử ! Từ lúc ban đầu ta thành
Phật, đến hiện tại pháp hội Linh Sơn, trong
khoảng giữa này ta đã từng nói qua : ‘’Ta ở
vào thời Phật Nhiên Ðăng, tên là Bồ Tát
Thiện Huệ. Sau gặp Phật Nhiên Ðăng thọ ký
cho ta, vào thời kỳ Hiền Kiếp, sẽ được thành
Phật hiệu là Phật Thích Ca Mâu Ni.’’ Ta lại
nói : ‘’Phật Nhiên Ðăng nhập Niết Bàn vào
thời nào‘’? Những pháp ta nói đó, thật là
pháp phương tiện, vì đối với căn tánh của
chúng sinh mà nói ra nhân duyên đó, sự tích
đó. Thật tế thì chẳng phải như thế, chẳng
qua phương tiện phân biệt nói mà thôi. Các
ông đừng cho nó là thật.
Các thiện nam tử ! Nếu có chúng sinh đến
chỗ ta, thì ta dùng mắt Phật quán sát, niềm
tin và các căn lợi độn của họ, để độ họ. Nơi
nơi tự nói danh tự khác nhau, tuổi tác lớn
nhỏ, cũng hiện nói sẽ vào Niết Bàn, lại dùng
đủ thứ phương tiện nói pháp vi diệu, khiến
cho chúng sinh phát tâm hoan hỷ.
Các vị thiện nam tử ! Giả sử có chúng sinh đến
chỗ ta, thì ta dùng mắt Phật để quán sát năm
căn của họ, là lợi hay là độn, để thuyết
pháp giáo hóa họ.
Nếu người có tín căn mà nghe Phật pháp, thì họ
liền tin, chẳng sinh tâm hoài nghi, giữ quy
cụ chẳng phóng dật. Sau khi tin Phật pháp
rồi, thì còn phải tinh tấn nỗ lực tu hành.
Bằng không, có tín căn mà chẳng tinh tấn thì
đó là ‘’khẩu đầu thiền.’’ Nói mà chẳng làm
thì cũng như không, chẳng ích lợi gì. Phải
từ từ đi đứng nằm ngồi, niệm niệm không quên
mới có công hiệu. Những pháp môn học được,
chẳng thiết thực nghiên cứu, chẳng chuyên
tâm đọc tụng, thậm chí một ngày nóng mười
ngày lạnh, thì vĩnh viễn chẳng đắc được giải
thoát. Niệm căn bất thối thì mới sinh ra
định căn. Có định căn rồi thì mới sinh huệ
căn. Năm căn này đều có mối quan hệ với
nhau. Người chẳng có định căn, khi cảnh giới
đến khảo nghiệm thì hồ đồ. Tại sao ? Vì
chẳng có huệ căn, cho nên huệ căn rất là
quan trọng. Do năm căn mà sinh ra năm lực,
năm lực trợ giúp thành tựu đạo nghiệp.
Lợi căn là người
thông minh, độn căn là người ngu si. Người
thông minh thì không bị cảnh giới chuyển, mà
chuyển được cảnh giới. Cảnh giới ác chuyển
thành cảnh giới thiện, cảnh giới nghịch
chuyển thành cảnh giới thuận. Người ngu si
thì ngược lại, việc tốt làm thành việc xấu,
việc thiện làm thành việc ác, cứ làm việc
điên đảo. Tại sao lại thông minh ? Vì làm
nhiều công đức, chẳng làm việc thất đức. Tại
sao lại ngu si ? Vì chẳng làm việc công đức,
cứ muốn chiếm tiện nghi, chẳng chịu thiệt
thòi. Phải hiểu rằng :
‘’Thiệt thòi là chiếm tiện nghi.’’
Ðạo lý này các vị hãy nghiên cứu thì sẽ biết
nghĩa của nó.
Lão Tử từng nói qua bài này rằng :
‘’Ðại đạo phế, hữu nhân nghĩa.
Trí huệ xuất, hữu đại ngụy.
Lục thân bất hòa, hữu hiếu tử,
Quốc gia hỗn loạn, hữu trung thần.’’
Nghĩa đại khái là : Ðại đạo chẳng còn, thì mới
đi giảng về nhân nghĩa. Người có trí huệ
xuất hiện, thì trên thế gian sẽ có việc gian
ngụy phát sinh. Gia đình bất hòa thì mới
hiển lộ người con có hiếu. Nước nhà hỗn
loạn, thì mới xuất hiện trung thần. Tục ngữ
có câu :
‘’Chẳng có núi cao thì không hiển lộ đất
bằng.’’
Khi nước nhà thái bình, thì ai ai cũng đều là
người tốt, chẳng phân biệt được người trung
kẻ gian. Khi đất nước đại loạn, thì mới biết
rõ trung thần báo quốc, gian thần bán nước,
xưa nay đều rõ ràng.
Phật tùy theo chúng sinh nào độ được, thì
thuyết pháp giáo hóa họ, cho nên nơi nơi
chốn chốn, tự nói danh hiệu của mình, hoặc
là nói Tỳ Lô Giá Na, hoặc nói Lô Xá Na, hoặc
nói Thích Ca Mâu Ni. Tuy danh hiệu khác
nhau, song đều là một người. Tuổi tác của
Phật ở đời, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc già,
hoặc trẻ, đều khác nhau. Lại đối với hàng đệ
tử nói : ‘’Hiện tại ta sẽ vào Niết Bàn.’’ Kỳ
thật, Phật cũng chẳng sinh, cũng chẳng diệt,
thường ở tại cõi Thường Tịch Quang thuyết
pháp. Lại dùng đủ thứ phương tiện pháp môn,
diễn nói pháp vi diệu không thể nghĩ bàn,
khiến cho chúng sinh hoan hỷ.
Các thiện nam tử ! Như Lai thấy các chúng
sinh ưa thích pháp tiểu thừa, đức mỏng, trần
cấu nặng, thì vì người đó nói : Ta thiếu
niên xuất gia, đắc được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Nhưng thật ra, ta thành Phật đến
nay, rất là lâu xa, nhưng dùng phương tiện
giáo hóa chúng sinh, khiến cho họ vào Phật
đạo, mà nói như thế.
Các vị thiện nam tử ! Như Lai quán sát căn cơ
của tất cả chúng sinh, để vì họ nói pháp. Có
chúng sinh thích pháp tiểu thừa, thì vì họ
nói pháp tiểu thừa. Có chúng sinh hoan hỷ
pháp đại thừa, thì vì họ nói pháp đại thừa.
Ðối với chúng sinh phước mỏng đức cạn, hoặc
phiền não cấu nặng, độn căn thì nói : ‘’Ta
lúc thiếu niên xuất gia tu đạo, đã chứng quả
giác Vô thượng chánh đẳng chánh giác.’’
Song, thật ta thành Phật đến nay rất là lâu
xa, đã vượt hơn số bụi A tăng kỳ kiếp. Nhưng
dùng pháp môn quyền xảo phương tiện, để giáo
hóa chúng sinh, khiến cho họ cải tà quy
chánh, hồi tiểu hướng đại, phát tâm bồ đề
chứng nhập Phật đạo, cho nên mới nói pháp
như thế.
Các thiện nam tử ! Như Lai nói tất cả kinh
điển, đều vì độ thoát chúng sinh, hoặc nói
thân mình, hoặc nói thân của chư Phật, hoặc
thị hiện thân mình, hoặc thị hiện thân Phật
khác, hoặc nói việc của mình, hoặc nói việc
của Phật khác. Những lời nói ra, đều chân
thật không hư.
Các vị thiện nam tử ! Như Lai nói tất cả kinh
điển, đều vì độ thoát tất cả chúng sinh, lìa
khổ được vui mà nói. Vì chúng sinh có tám
vạn bốn ngàn trần lao, cho nên mới nói ra
tám vạn bốn ngàn pháp môn. Mỗi pháp môn đối
trị mỗi chứng bệnh. Ðối với chúng sinh tâm
tham nặng, thì nói quán pháp bất tịnh; đối
với chúng sinh tâm sân nặng, thì nói quán
pháp từ bi; đối với chúng sinh tâm si nặng,
thì nói quán pháp nhân duyên. Tóm lại, theo
bệnh cho thuốc, thì mới có công hiệu. Phật
dùng đủ thứ pháp môn, đối trị đủ thứ tập khí
mao bệnh của chúng sinh.
Phật giáo hóa chúng
sinh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân của
chư Phật, dùng thân làm khuôn phép, làm mô
phạm cho chúng sinh, hoặc thị hiện thân
mình, hoặc thị hiện thân Phật khác, để làm
mô phạm khiến cho chúng sinh học theo, hoặc
nói nhân duyên bổn sinh bổn sự của chư Phật,
Bồ Tát, Bích Chi Phật, A
La Hán. Những lời nói ra đều
chân thật không hư.
Tại sao ? Vì Như Lai thấy biết tướng ba cõi
như thật, chẳng có sinh tử, hoặc thối lùi,
hoặc xuất hiện, cũng chẳng tại thế, hoặc
diệt độ, chẳng thật, chẳng hư, chẳng như,
chẳng khác. Chẳng như ba cõi, mà thấy ba
cõi. Những sự việc đó, chỉ có Như Lai mới
thấy rõ, chẳng có sai lầm.
Ðây là nguyên nhân gì ? Như Lai dùng tri kiến
chân như thật trí, chiếu thấy tướng của ba
cõi chẳng có sinh tử. Tại bổn thân của Phật
mà nói, thì chẳng có sinh, cũng chẳng có
diệt, cũng chẳng có thối lùi, cũng chẳng có
xuất hiện, cũng chẳng trụ thế, cũng chẳng
diệt độ.
Một số phàm phu, quán tất cả pháp là thật có,
hàng nhị thừa quán tất cả pháp là không
tướng, Phật quán tất cả pháp là chẳng thật
chẳng hư. Tóm lại, trung đạo mới là chân
không diệu hữu; diệu hữu không ngại chân
không. Cũng chẳng phải như, chẳng phải khác.
Sao gọi là chẳng phải như ? Chẳng phải một.
Sao gọi là chẳng phải khác ? Cũng chẳng phải
hai. Chẳng giống như chúng sinh trong ba
cõi, thấy ba cõi thì có ba cõi. Tại Phật mà
nói, thì chẳng có sinh tử, chẳng có ba cõi.
Những sự việc như thế chỉ có Như Lai mới
thấy rõ chẳng có sai lầm.
Vì chúng sinh có đủ thứ tánh, đủ thứ dục,
đủ thứ hạnh, đủ thứ nghĩ nhớ phân biệt. Phật
muốn khiến cho sinh các căn lành, cho nên
dùng đủ thứ nhân duyên, ví dụ lời lẽ, đủ thứ
thuyết pháp, làm các Phật sự, chưa từng tạm
phế bỏ.
Vì hết thảy chúng sinh đều có đủ thứ tập tánh,
đủ thứ dục vọng, đủ thứ nghiệp hành, đủ thứ
nghĩ nhớ phân biệt. Phật muốn khiến cho
chúng sinh trồng tất cả căn lành, cho nên
dùng đủ thứ nhân duyên, đủ thứ ví dụ, đủ thứ
lời lẽ, đủ thứ thuyết pháp. Làm những Phật
sự từ lâu xa đến nay, chưa từng tạm thời phế
bỏ. Tóm lại, ngày ngày làm Phật sự chẳng có
ngừng nghỉ.
Chúng sinh là gì ? Phàm là có huyết, có khí,
có mạng sống, đều là chúng sinh, tức cũng là
do chúng duyên hòa hợp mà sinh. Phi, tiềm,
động, thực, đều là hữu tình chúng sinh, cây,
cỏ, vàng, đá, là vô tình chúng sinh, hữu
tình chúng sinh đang nói pháp, vô tình chúng
sinh cũng đang nói pháp, bất quá chúng ta
phàm phu chẳng thấu được mà thôi, bậc Thánh
nhân chứng được ngũ nhãn lục thông, đều biết
đều thấy.
Như thế, từ khi ta thành Phật đến nay, rất
là lâu xa, thọ mạng vô lượng A tăng kỳ kiếp,
thường trụ bất diệt.
Như ở trên vừa nói, từ khi ta thành Phật đến
nay, thời gian rất là lâu xa, tuổi thọ vô
lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, thường trụ ở
cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ, cũng chẳng
sinh, cũng chẳng diệt. Và chẳng phải chỉ
chứng đạo ở dưới cội bồ đề, nhập diệt tại Sa
La song thọ. Ðó bất quá là phương tiện thị
hiện mà thôi.
Các thiện nam tử ! Thuở xưa, ta hành Bồ Tát
đạo, được tuổi thọ đến nay vẫn chưa hết, lại
tăng thêm. Nay chẳng phải thật diệt độ, mà
nói là sẽ diệt độ. Như Lai dùng phương tiện
đó, để giáo hóa chúng sinh.
Các vị thiện nam tử ! Thuở xưa, khi ta hành Bồ
Tát đạo, được tuổi thọ đến nay vẫn chưa hết.
Còn lâu dài hơn hạt bụi số kiếp đã nói ở
trên. Hiện tại ta muốn vào Niết Bàn, chẳng
phải thật diệt độ, chỉ là phương tiện nói
pháp, bèn nói là sẽ diệt độ. Như Lai vì
phương tiện giáo hóa chúng sinh, mà nói như
thế.
Tại sao ? Nếu Phật sống lâu ở đời, thì
người đức mỏng chẳng trồng căn lành, bần
cùng hạ tiện tham trước năm dục, vào trong
lưới vọng kiến nhớ tưởng.
Tại sao Phật có diệt độ, mà nói là chẳng có
diệt độ ? Phật vốn là chẳng sinh chẳng diệt.
Nếu như Phật sống lâu ở đời chẳng vào Niết
Bàn, thì người phước mỏng sinh tâm ỷ lại,
chẳng muốn trồng căn lành. Tâm nghĩ : ‘’Phật
còn ở đời, mình từ từ trồng căn lành cũng
chưa muộn, còn có nhiều thời gian.’’ Cho
nên, bổn ý của Phật thị hiện Niết Bàn, là
khiến cho chúng sinh sớm trồng căn lành, sớm
thành Phật đạo.
Giảng đến đây, tôi nhớ lúc ở đông bắc bên Tàu,
đệ tử quy y với tôi thì rất đông, song đệ tử
tu hành thì rất ít. Dạy họ tu hành thì có
người nói : ‘’Tôi chẳng có thời giờ tu, khi
về già tu cũng chưa muộn.’’ Sau khi tôi rời
khỏi đông bắc đến Hương Cảng, thì có nhận
thư của đệ tử gởi đến nói : ‘’Người đó bây
giờ tu hành, rất là nỗ lực, chẳng giải đãi
nữa.’’ Vì sư phụ không có ở đó, thì họ mới
tu hành. Nếu sư phụ ở đó, thì họ chưa chịu
tu hành. Sau khi tôi đến Hương Cảng, cũng có
rất nhiều người quy y, song tu hành chẳng
nhận chân. Tôi rời khỏi Hương Cảng đến nước
Mỹ, thì lúc này họ mới biết chẳng có sư phụ,
thì phát sinh những việc khó khăn, chẳng
cách gì giải quyết được. Do đó, thơ này thì
thỉnh sư phụ trở về, thư kia thì thỉnh sư
phụ giúp đỡ. Tóm lại, ngày ngày gặp mặt, thì
chẳng cảm thấy quan trọng, khi không gặp thì
mới biết là quan trọng.
Nguyên nhân Phật chẳng ở lại đời, là vì chúng
sinh bần cùng hạ tiện, tham trước năm dục,
chẳng biết chẳng hay, đọa vào trong lưới
vọng kiến nhớ tưởng điên đảo, làm che lấp đi
trí huệ quang minh, cứ làm việc điên đảo.
Tại sao người lại bần cùng ? Vì kiếp trước
chưa làm việc công đức, cũng chẳng trồng căn
lành, cứ nghĩ muốn chiếm tiện nghi, cho nên
đời này chẳng có phước báo.
Nếu thấy Như Lai thường ở đời chẳng nhập
diệt, thì họ sẽ sinh tâm kiêu mạn phóng
túng, mà ôm lòng nhàm chán giải đãi, chẳng
sinh tâm khó được gặp Phật, chẳng sinh tâm
cung kính. Do đó, Như Lai dùng phương tiện
nói : Tỳ Kheo nên biết, chư Phật ra đời rất
khó được gặp.
Chúng sinh tham luyến năm dục, nếu thấy Phật
thường ở đời mà không nhập diệt, thì họ bèn
sinh tâm kiêu mạn phóng túng, chẳng giữ quy
cụ. Họ ngày ngày thấy Phật, thời thời gặp
Phật, thì sinh tâm nhàm chán giải đãi, mà
chẳng sinh tâm khó được gặp Phật ở đời,
chẳng sinh tâm cung kính Tam Bảo. Do đó, cho
nên Như Lai phương tiện nói : ‘’Này các Tỳ
Kheo ! Các ông nên biết, mười phương chư
Phật xuất hiện ra đời, chẳng dễ gì gặp
được.’’
Tại sao ? Vì những người đức mỏng, trải qua
vô lượng trăm ngàn vạn ức kiếp, hoặc có gặp
Phật, hoặc không gặp Phật. Nhờ việc đó mà ta
nói rằng : Các Tỳ Kheo ! Như Lai khó có thể
được gặp, những chúng sinh đó nghe lời như
thế, thì sẽ sinh tâm khó được gặp Phật, ôm
lòng luyến mộ khát ngưỡng đối với Phật, bèn
trồng căn lành. Do đó, tuy Như Lai chẳng
thật diệt, mà nói là diệt độ.
Vì sao nói rất khó được gặp Phật ? Vì tất cả
những người phước mỏng, trải qua vô lượng
trăm ngàn vạn ức kiếp, hoặc có gặp được
Phật, hoặc không gặp được Phật. Vì lẽ đó,
cho nên ta mới nói : ‘’Này các Tỳ Kheo ! Như
Lai rất khó gặp được.’’ Những chúng sinh đó,
nghe ta nói như thế, thì bèn sinh tâm khó
gặp Phật ra đời, trong tâm bèn luyến mộ
Phật, khát ngưỡng Phật, bèn trồng xuống căn
lành. Vì lẽ đó, cho nên Như Lai tuy chẳng
phải thật nhập diệt, mà phương tiện nói là
nhập diệt. Kỳ thật, bây giờ Phật vẫn còn ở
tại pháp hội Linh Sơn, diễn nói Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa chưa tan hội. Có gì chứng minh
? Vào đời Tùy, Thiên Thai Trí Giả Ðại Sư,
Ngài tụng Kinh Pháp Hoa đến Phẩm Dược
Vương Bồ Tát Bổn Sự, bèn nhập
định thấy được cảnh giới này, do Ngài Huệ Tư
Ðại Sư ấn chứng rằng :
- ‘’Phi nhữ mạc thức, phi ngã mạc chứng.’’
Do đó có thể biết, thật có việc đó chứ chẳng
hư cấu. Tổ Sư đại đức chẳng nói dối.
Lại nữa ! Thiện nam tử ! Pháp của chư Phật
Như Lai đều như thế, vì độ chúng sinh, đều
thật chẳng hư.
Các vị thiện nam tử ! Mười phương ba đời tất
cả chư Phật đều nói pháp như thế, do đó
‘’Phật Phật đạo đồng.’’ Vì giáo hóa chúng
sinh mà nói pháp, đều chân thật chẳng hư.
Trước hết nói pháp ba thừa, đó là vì thật
thí quyền; bây giờ nói pháp một thừa, đó là
khai quyền hiển thật. Trước ba sau một, vì
khai ngọn hiển gốc, gốc ngọn chẳng lìa. Ðây
là pháp "hết ba về một, hết ngọn về gốc".
Ví như vị lương y trí huệ thông đạt, biết
luyện chế thuốc, khéo chữa lành các chứng
bệnh. Có rất nhiều người con, hoặc mười, hai
mươi, cho đến một trăm người. Vì có duyên sự
nên đi xa đến nước khác. Các người con sau
này, uống nhầm thuốc độc, thuốc phát buồn
bực điên loạn, lăn lóc trên đất.
Phật vì nói rõ đạo lý này, mới đưa ra ba mươi
ví dụ để giải thích. Ví dụ tuy chẳng phải là
chân lý, nhưng có thể nói rõ chân lý, cho
nên có kinh ví dụ truyền bá trên thế gian.
Ví như có vị lương y trí huệ rất thông minh,
biết rõ tính thuốc khéo điều trị tất cả nghi
nan tạp chứng. Vị lương y này (đại biểu cho
Phật), có rất nhiều con (đại biểu cho chúng
sinh), hoặc mười (thập địa Bồ Tát) người
con, hoặc hai mươi (nhị thừa) người con, cho
đến một trăm (đại biểu cho trăm pháp giới)
người con. Vị lương y này, vì có bệnh nhân
đặc biệt, nên đi xa đến nước khác, do đó
chẳng cách chi chiếu cứ các người con ở nhà.
Các người con ở nhà đều rất thơ bé, chẳng ai
chăm sóc, bèn lấy thuốc độc uống, bị trúng
độc. Trong tâm phiền muộn điên loạn, nằm lăn
lóc trên đất, thống khổ không thể tả.
Bấy giờ, người cha trở về nhà, các người
con uống thuốc độc, hoặc có người mất bản
tâm, hoặc có người không mất, ở xa trông
thấy cha về, đều rất vui mừng, quỳ lạy thăm
hỏi cha được bình an trở về. Chúng con ngu
si, uống lầm thuốc độc, xin cha hãy cứu
chữa, khiến cho chúng con khỏi bệnh được
sống lâu.
Trong lúc khẩn cấp, thì người cha từ nước khác
trở về. Những người con này đã uống thuốc
độc, có người đã mất tri giác, có người còn
tỉnh táo, trúng độc chẳng nặng lắm. Họ ở
đằng xa nhìn thấy người cha trở về, ai nấy
đều rất mừng rỡ : ‘’Ba Ba ! Ba được bình an
trở về, không việc gì chứ ! Chúng con anh em
quá ngu si, uống thuốc độc mà cứ tưởng là
nước đường. Xin ba hãy tha thứ sự ngu si của
chúng con, hãy cứu chữa khiến cho chúng con
khỏi bệnh, để sống lâu trăm tuổi.’’
Người cha thấy các con đau khổ như thế, bèn
y theo các phương pháp, tìm cỏ thuốc tốt,
sắc vị thơm ngon thảy đều đầy đủ, đâm giã
sàng rồi hòa hợp cho các người con uống, mà
nói rằng : Ðây là thuốc hay, sắc vị thơm
ngon thảy đều đầy đủ, các con hãy uống đi,
thì sớm sẽ hết khổ não, chẳng còn bị bệnh
nữa.
Vị lương y đó từ nước ngoài trở về, phát hiện
con của mình vì tham ăn mà trúng độc. Có
người bất tỉnh nhơn sự, có người còn tỉnh,
song đều rất đau khổ, thật đáng thương xót.
Bèn y chiếu theo các phương pháp tìm cỏ
thuốc giải độc hữu hiệu nhất, có màu sắc dễ
nhìn, mùi vị ngon ngọt, cho nên nói là sắc
vị thơm ngon đều đầy đủ, khiến các người con
hoan hỷ uống thuốc giải độc này (Phật pháp).
Vị lương y đem thuốc đâm giã rồi sàng lấy
bột mịn, thêm mật ong hòa hợp làm thành
viên. Các người con uống rồi bèn giải trừ
độc tố, nhanh chóng khôi phục sức khoẻ.
Về sau người cha
nói với các con rằng : ‘’Thuốc rất hay này,
sắc cũng thơm, vị cũng ngon. Các con hãy mau
uống vào, thì sẽ giải trừ được đau khổ lập
tức hết bệnh, chẳng còn bị bệnh nữa, thứ
thuốc này là vạn linh đan, trị được bá bệnh,
có bệnh thì trị bệnh, không bệnh thì càng
khoẻ.’’
Vị lương y đó tức
là Phật, các người con tức là tất cả chúng
sinh. Nói Phật đi đến nước khác, hoặc chẳng
có Phật ra đời, hoặc đã vào Niết Bàn. Lúc
đó, chúng sinh vì chẳng có trí huệ chân
chánh, cho nên chẳng phân biệt được thức ăn
có độc, hay không có độc, thấy là ăn, bèn ăn
lầm thuốc độc. Thứ thuốc độc này, tức là tà
kiến của bàng môn tả đạo, nói những đạo lý
chẳng cứu kính. Chúng sinh vô tri nhận lầm
thuốc độc, cho là thuốc trường sinh bất lão.
Tại sao phân biệt chẳng rõ ràng ? Vì si mê
quá sâu nặng, chẳng cách chi tự cứu.
Chúng sinh bị si mê
quá sâu nặng, khi gặp Phật trở về, bèn cúi
đầu đảnh lễ, thỉnh Phật từ bi thương xót cứu
ra khỏi biển khổ. Vì có chúng sinh chịu uống
thuốc, nên trừ sạch chất độc; có chúng sinh
chẳng chịu uống thuốc, nên chất độc vẫn còn
tồn tại. Cho nên, học Phật pháp quý tại thực
hành, chẳng phải ở lời nói.
Lương y có thần hiệu ‘’Diệu thủ hồi xuân,’’
bằng ngược lại, ngụ ý tức là kẻ giết người
chẳng thấy máu. Tại sao lại nói như thế ? Vì
bác sĩ bây giờ, đa số dùng bệnh nhân để làm
vật thí nghiệm, thành công thì y có tiếng
tăm, thất bại thì bệnh nhân mất mạng.
Bây giờ kể một câu chuyện, tuy là chuyện tiếu,
nhưng cũng có tính chất giáo dục, có thể
cảnh giác cho bác sĩ. Một ngày nọ, vua Diêm
Vương mắc bệnh, sai tiểu quỷ đến dương gian
mời bác sĩ.
- Tiểu quỷ nói : ‘’Việc này tôi không thể
đi‘’!
- Vua Diêm Vương hỏi : ‘’Tại sao‘’?
- Tiểu quỷ nói : ‘’Tôi không biết vị nào là
lương y‘’?
- Diêm Vương nói : ‘’Việc này rất đơn giản,
mày đến trước cửa bệnh viện, thấy chỗ nào
hồn quỷ ít, tức là lương y, thì hãy mời đến
âm gian chữa bệnh cho ta.’’ Tiểu quỷ vâng
lời đến dương gian tìm khắp nơi, cũng chẳng
được lương y. Nhìn trước cửa chỗ chẩn mạch,
đều có vô số oan hồn khóc than đòi đền mạng.
Tiểu quỷ thật chẳng có biện pháp, muốn trở
về thì lại sợ Diêm Vương nóng giận, bèn đi
về phía trước, phát hiện trước cửa một nhà
chẩn mạch, chỉ có hai oan hồn. Tiểu quỷ bèn
mời vị bác sĩ đó đến chỗ Diêm Vương, để chữa
bệnh cho Diêm Vương.
Vị bác sĩ đó đến
chỗ Diêm Vương được chiêu đãi rất ân cần,
vừa mời thuốc, vừa mời trà, khiến cho ông ta
chẩn mạch tử tế.
Vua Diêm Vương hỏi : ‘’Xin ông hãy chẩn mạch,
tôi mắc bệnh gì‘’?
Bác sĩ trả lời : ‘’Không cần phải chẩn mạch,
bất cứ bệnh gì, chỉ cần uống một viên thuốc
đặc hiệu, thì sẽ khỏi bệnh.’’
Diêm Vương nghe rồi cảm thấy mạc danh kỳ diệu,
tâm nghĩ đâu có lý này, không chẩn mạch mà
uống thuốc, thì chẳng phải là "lang trung"
chăng ? Lang trung tức là bác sĩ giả, chuyên
môn gạt những người thôn quê vô tri vô thức.
- Bèn hỏi : ‘’Bác sĩ làm nghề y đã được bao
lâu‘’?
- Bác sĩ nói : ‘’Sáng sớm hôm nay khai trương,
thì bị quỷ đại ca mời đến chữa cho Ngài.’’
Diêm Vương nghe rồi
bèn sinh hoài nghi, hỏi tiểu quỷ rằng :
‘’Trước cửa của ông ta có bao nhiêu oan
hồn?‘’
- Tiểu quỷ đáp : ‘’Chỉ có hai, đang ở đó khóc
kể, bị ông ta dùng thuốc độc làm chết, chết
rất oan uổng.’’
- Diêm Vương bèn nói với bác sĩ rằng : ‘’Ông
không cần trở về dương gian, hãy ở lại đây
để khỏi hại độc người khác chết nữa.’’ Cho
nên, vị bác sĩ đó cũng làm quỷ luôn.
Trong số các người con, ai không mất bản
tâm, thấy thuốc hay đó, sắc hương đều tốt
bèn lấy uống, bệnh lành khỏi hẳn. Người mất
đi bản tâm, thấy người cha về, tuy cũng vui
mừng thăm hỏi, xin cha chữa bệnh, tuy cũng
cho thuốc, mà chẳng chịu uống.
Trong số các người con, có người phát cuồng,
có người tỉnh táo. Những người con chưa phát
cuồng, thuốc hay sắc vị thơm ngon, thì lập
tức uống vào. Chất độc trong người đều tiêu
tan hết (tức là kiến tư hoặc, trần sa hoặc,
vô minh hoặc đều phá trừ hết). Những người
con trúng độc quá nặng, thấy người cha trở
về, tuy cũng vui mừng thăm hỏi, cũng xin cha
chữa bệnh. Nhưng người cha cho họ thuốc giải
độc, mà họ chẳng chịu uống (biết Phật pháp
là thuốc hay, chuyên trị tham sân si phiền
não mà chẳng chịu y giáo phụng hành, giống
như những đứa con thơ bé trúng độc, mà chẳng
chịu uống thuốc).
Tại sao ? Vì chất độc vào sâu mất đi bản
tâm. Do đó, thuốc hay thơm ngon, mà cho là
không ngon. Người cha bèn nghĩ rằng : Những
đứa con này thật đáng thương, vì trúng độc
nên tâm điên đảo. Tuy thấy ta vui, xin ta
cứu chữa, thuốc hay như thế, mà chẳng chịu
uống. Nay ta sẽ bày phương tiện, khiến cho
chúng uống thuốc này.
Ðây là đạo lý gì ? Vì trúng độc quá nặng, chất
độc đã xâm nhập vào ngũ tạng lục phủ, cho
nên mất đi bản tâm tỉnh táo, biến thành hồ
đồ. Ðối với thứ thuốc hay sắc vị thơm ngon
này, mà nói là chẳng ngon chẳng ngọt.
Phật là vị lương y, chuyên trị bệnh nhiệt não
của chúng sinh, vì giải trừ khổ độc của
chúng sinh, mà nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
song chúng sinh chẳng tin, Phật cũng chẳng
có biện pháp. Phật bi tâm thiết thiết, khổ
khẩu bà tâm, để giáo hóa chúng sinh: Ðừng
tham, đừng sân, đừng si, đây là ba chất độc
hại người, nhưng chúng sinh xem lời vàng
ngọc của Phật như gió thoảng qua tai, qua
rồi chẳng lưu lại, thật là cô phụ Phật, Bồ
Tát một phen khổ tâm.
Người cha (Phật) thấy những người con trúng
độc (chúng sinh), thật là đáng thương xót.
Vì trúng độc (tin pháp của ngoại đạo) quá
nặng, cho nên tâm điên đảo (tà tri tà kiến).
Tuy nhiên thấy ta về thì rất vui mừng, xin
ta chữa trị, nhưng ta vì họ lựa cỏ thuốc
thượng hạng (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa), mà họ
chẳng chịu uống. Bây giờ, ta bày pháp môn
phương tiện, khiến cho những người con trúng
độc quá nặng phát tâm uống thuốc giải độc
này.
Bèn nói như vầy : Các con nên biết, nay ta
già nua, thời kỳ chết đã đến, thuốc hay tốt
này, nay để ở tại đây, các con có thể lấy
uống, đừng có lo lắng là bệnh không lành.
Dạy như thế rồi, lại đến nước khác, sai sứ
về nói là cha của nhà người đã chết.
Người cha từ bi đó, bèn nói với các người con
không nghe lời rằng : ‘’Các con nên biết ta
tuổi đã già, thân thể suy yếu, thời kỳ chết
đã đến. Ta chế thuốc hay để lại đây cho các
con, các con hãy tùy tiện mà lấy uống, đừng
có lo lắng là bệnh sẽ không lành. Chỉ cần
uống vào thì nhất định sẽ khỏi.’’
Dặn dò xong rồi, từ giã các con, lại đi đến
nước khác. Chẳng bao lâu, cố ý sai sứ về nói
với các người con : ‘’Cha của các ngươi đã
chết ở nước khác.’’ Ðây là pháp phương tiện,
khiến cho các người con phản tỉnh, biết
người cha dụng tâm lương khổ.
Bấy giờ, các người con nghe tin cha mất
rồi, tâm rất buồn rầu đau khổ, mà nghĩ như
vầy : Nếu cha mình còn sống, thì sẽ thương
xót chúng ta, cứu hộ chúng ta. Nay đã bỏ
chúng ta mất ở xứ người, chúng ta cô độc,
lại chẳng có chỗ nương tựa, thường ôm lòng
bi cảm, tâm bèn tỉnh ngộ, mới biết thuốc này
sắc vị thơm ngon, lập tức lấy uống, bệnh độc
đều khỏi.
Lúc đó, các người con trúng độc, nghe tin
người cha đã chết ở nước khác, thảy đều buồn
rầu đau khổ, mà nghĩ như vầy : ‘’Nếu như cha
mình còn ở đời, thì sẽ thương yêu chúng ta,
cứu hộ chúng ta. Bây giờ, cha đã bỏ chúng ta
đi qua đời ở nước khác. Bây giờ, chúng ta cô
độc chẳng có chỗ nương tựa’’! Vì trong tâm
bi cảm đến cực điểm, cho nên đã tỉnh lại,
biết rằng khi cha ở đời, có để lại thuốc
hay, đầy đủ sắc vị thơm ngon, lập tức lấy
uống, tức thời chất độc giải trừ, thân tâm
thanh tịnh, khôi phục lại diệu minh chân tâm
vốn có.
Lúc đó, trừ khử sạch pháp của ngoại đạo,
chuyên tâm nhất chí tu học Phật pháp. Phật
pháp là thuốc hay, cũng là phương pháp duy
nhất chữa lành tâm lý triệt để.
Người cha nghe tin con đều đã khỏi bệnh,
bèn trở về, khiến cho các người con gặp lại.
Vị lương y này xử dụng kế này, để khiến cho
các người con uống thuốc. Các người con sau
khi uống thuốc vào, thì chất độc được giải
trừ, khôi phục lại sức khoẻ. Người cha ở
nước khác nghe tin rất là an ủi, do đó bèn
trở về. Các người con lại thấy mặt cha mừng
rỡ vô cùng, bèn phát nguyện từ nay về sau,
nhất định phải nghe lời cha dạy bảo, làm
người con hiếu thuận.
Các thiện nam tử ! Ý các ông nghĩ sao ? Có
người nào cho rằng, vị lương y đó phạm tội
vọng ngữ chăng ? Không vậy, đức Thế Tôn !
Các vị thiện nam tử ! Ý của các ông thế nào ?
Có ai nói : ‘’Vị lương y đó nói dối phạm tội
vọng ngữ chăng ? ‘’Ðại chúng khác miệng cùng
lời đáp : ‘’Không có tội, Ðức Thế Tôn ! Ông
ta vì phương tiện dạy con, cho nên mới nói
như thế, chẳng phải nói dối.’’
Ðức Phật nói : Ta cũng như thế, ta thành
Phật đến nay, vô lượng vô biên trăm ngàn vạn
ức Na do tha A tăng kỳ kiếp, vì chúng sinh
mà dùng sức phương tiện, nói là sẽ diệt độ,
cũng chẳng có ai có thể nói, ta có lỗi nói
dối.
Ðức Phật nói : ‘’Pháp của ta nói cũng như thế.
Trước hết nói Kinh A Hàm, Kinh Phương Ðẳng,
Kinh Bát Nhã, cuối cùng nói Kinh Pháp Hoa,
tình trạng cũng giống như vị lương y. Từ khi
ta thành Phật đến nay, đã vô lượng vô biên
trăm ngàn vạn ức Na do tha A tăng kỳ kiếp.
Vì phương tiện giáo hóa chúng sinh, vì thật
thí quyền, mới nói với chúng sinh : Ta sẽ
diệt độ, song không ai có thể nói : ‘’Phật
nói dối, có lỗi hư vọng.’’ Ta nghĩ rằng,
chẳng có ai có thể nói, ta có lỗi hư vọng
không thật !‘’
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Lúc đó, Ðức Phật muốn thuật lại nghĩa lý
trường hàng ở trên, mới nói lại lần nữa,
khiến cho chúng sinh tương lai hiểu rõ ràng,
cho nên bèn dùng kệ để thuật lại.
Ta thành Phật đến nay
Trải qua các kiếp số
Vô lượng trăm ngàn vạn
ức kiếp A tăng kỳ.
Thường nói pháp giáo hóa
Vô số ức chúng sinh
Khiến vào trong Phật đạo.
Ðức Phật nói : ‘’Từ khi ta chứng quả vị Phật
đến nay, trải qua các kiếp số vô lượng trăm
ngàn vạn ức Na do tha A tăng kỳ. Ta luôn
luôn diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, giáo
hóa vô số ức chúng sinh, khiến cho họ vào
Phật đạo, chứng Vô thượng chánh đẳng chánh
giác.’’
Vô lượng kiếp đến nay
Vì độ hóa chúng sinh
Phương tiện hiện Niết Bàn
Mà thật chẳng diệt độ.
Thường ở đây nói pháp
Ta thường trụ nơi đây
Dùng các sức thần thông
Khiến chúng sinh điên đảo
Tuy gần mà chẳng thấy.
Từ vô lượng kiếp đến nay, vì độ hóa chúng
sinh, cho nên phương tiện thị hiện Niết Bàn.
Kỳ thật, ta chẳng có diệt độ, vẫn ở tại thế
giới Ta Bà này, vì chúng sinh nói pháp. Tuy
nhiên ta thường trụ ở hội Pháp Hoa trên núi
Linh Thứu, dùng tất cả sức thần thông để vì
chúng sinh điên đảo nói pháp. Song, họ gần
mà chẳng thấy thân của ta. Tại sao ? Vì họ
bị vô minh che đậy, trí huệ chẳng hiện tiền,
chẳng có pháp nhãn thanh tịnh, cho nên chẳng
thấy ta.
Chúng thấy ta diệt độ
Rộng cúng dường xá lợi
Ðều ôm lòng luyến mộ
Mà sinh tâm khát ngưỡng.
Chúng sinh bèn tin phục
Ý chất trực mềm dịu
Một lòng muốn gặp Phật
Chẳng tự tiếc thân mạng.
Chúng sinh thấy ta diệt độ, đại chúng rộng
cúng dường xá lợi (linh cốt), đều ôm lòng
luyến mộ sinh tâm khát ngưỡng. Lúc đó, chúng
sinh bèn tin, lại được điều phục, cá tính
chất trực thật thà, tâm ý mềm dịu điều
thuận, một lòng muốn gặp lại Phật, vì cầu
Phật pháp, dù xả bỏ thân mạng cũng chẳng
tiếc.
Người xuất gia có đốt liều ở trên đầu, đó là
biểu hiện chẳng tiếc thân mạng, thành khẩn
đồng như đốt thân cúng Phật, thành tâm một
lòng quy y Tam Bảo. Khi đốt liều, thì tinh
thần tập trung quán tưởng, suốt đời vì Tam
Bảo cống hiến xác thân; vì độ chúng sinh mà
hy sinh tất cả. Nếu tập trung tinh thần quán
chiếu như thế, thì đau cũng chẳng biết đau.
Có người hỏi : ‘’Xá
lợi là gì ?‘’ Vấn đề này rất có ý nghĩa, nói
đơn giản là ‘’linh cốt‘’ cũng gọi là ‘’kiên
cố tử’’, tinh thể từ tử thi thiêu ra, giống
như hột xoàn, phát quang óng ánh, cứng chắc
như kim cang. Bình thường có màu trắng, đó
là cốt xá lợi, có màu đỏ là thịt xá lợi. Tóm
lại, phàm là
cao Tăng đại đức, tu hành đến
cảnh giới viên mãn, sau khi viên tịch, thiêu
đốt tử thi, từ cốt tro mà sàng ra xá lợi.
Xá lợi có hai thứ :
Một là toàn thân xá lợi, như xá lợi của Phật
Ða Bảo. Hai là vụn thân xá lợi, như xá lợi
của Phật Thích Ca. Còn có sinh thân xá lợi,
và pháp thân xá lợi hai thứ. Sinh thân xá
lợi là do huân tu giới định huệ, pháp thân
xá lợi là tất cả kinh điển.
Cao Tăng đại đức thời xưa
tụng kinh, thì từ trong miệng phun ra xá
lợi, chép kinh thì từ ngòi bút nhả ra xá
lợi, thật là không thể nghĩ bàn. Có khi đốt
đèn cúng Phật, do đó có câu ‘’đăng hoa báo
hỷ,’’ từ đèn hoa cũng hiện ra xá lợi, chỉ
cần thành tâm thì sẽ cảm ứng xá lợi hiện ra.
Khi ta và chúng
Tăng
Cùng ở tại Linh Thứu
Có lúc nói chúng sinh
Thường tại đây chẳng diệt.
Vì dùng sức phương tiện
Hiện có diệt không diệt.
Lúc đó, chúng sinh tâm thành sở chí, bèn có
cảnh giới cảm ứng đạo giao. Ta và tất cả Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni, cùng xuất hiện tại pháp
hội ở núi Linh Thứu. Ta thường nói với chúng
sinh : ‘’Ta thường ở trên núi Linh Thứu, vì
chúng sinh nói pháp, chứ chưa diệt độ. Vì
sức quyền xảo phương tiện, cho nên có khi
thị hiện diệt độ, có khi thị hiện chẳng diệt
độ.’’ Do đó : ‘’Sinh mà chưa sinh, diệt mà
chưa diệt,’’ tức là cảnh giới này.
Nước khác có chúng sinh
Ai cung kính tin ưa
Ta lại ở trong họ
Vì nói pháp Vô thượng.
Ở trong cõi nước khác có chúng sinh, họ đều
sinh tâm cung kính tin ưa Phật pháp đại
thừa, thì ta ở trong họ để diễn nói pháp vi
diệu thâm sâu Vô thượng, khiến cho họ phát
bồ đề tâm, thành tựu quả giác ngộ vô thượng.
Các ông chẳng nghe đây
Cho rằng ta diệt độ
Ta thấy các chúng sinh
Trôi lăn nơi khổ não.
Nên chẳng vì hiện thân
Khiến họ sinh khát ngưỡng
Do tâm họ luyến mộ
Mới hiện thân nói pháp.
Các ông chẳng nghe nói qua đạo lý này, bèn cho
rằng ta diệt độ rồi. Kỳ thật, ta chưa diệt
độ. Ta thấy tất cả chúng sinh đều trôi lăn ở
trong biển khổ năm dục, cho nên chẳng hiện
thân Phật vì họ nói pháp, khiến cho họ sinh
tâm khát ngưỡng luyến mộ, sau đó lại hiện
thân thuyết pháp giáo hóa chúng sinh.
Như thế, khiến cho chúng sinh biết Phật pháp
khó nghe, thân người khó được, mà đề cao
cảnh giác, không thể bỏ qua cơ hội. Cho nên
:
‘’Thân người khó được nay đã được
Phật pháp khó nghe nay đã nghe
Ðời này chẳng độ thân này
Còn đợi khi nào độ thân này’’!
Khi Phật còn tại thế, cùng chúng đệ tử đi qua
làng nọ thuyết pháp, Phật bèn bốc lên một
nắm đất hỏi đệ tử :
- ‘’Các con xem ! Ðất trong tay của ta nhiều,
hay là đất ở ngoài đại địa nhiều ?‘’
- Chúng đệ tử đáp : ‘’Ðương nhiên đất đại địa
nhiều.’’
- Phật nói : ‘’Ðược thân người như đất trong
bàn tay của ta, mất đi thân người như đất
ngoài đại địa.’’
Lúc đó, chúng đệ tử tỉnh ngộ, từ đó về sau,
dụng công tu hành, chẳng bao lâu chứng được
quả A
La Hán. Thuyết pháp không
nhất định ở trên pháp tòa thuyết pháp, mà
tùy thời tùy lúc đều là nơi thuyết pháp.
Sức thần thông như thế
Trong A tăng kỳ kiếp
Thường ở núi Linh Thứu
Và ở các nơi khác.
Tại sao chúng sinh có thể gặp Phật, có chúng
sinh không thể gặp Phật ? Chúng sinh có
duyên với Phật, thì tùy thời tùy lúc có thể
gặp Phật; chúng sinh chẳng có duyên với
Phật, thì chẳng gặp Phật. Có người nói :
‘’Tôi với Phật chẳng có duyên, vĩnh viễn
chẳng được gặp Phật, vậy phải làm thế nào
?‘’ Bạn phải trồng căn lành, làm nhiều công
đức, thì kết duyên với Phật. Trồng căn lành
như thế nào ? Kết duyên với Phật như thế nào
? Tức là cúng dường Tam Bảo, đó là biện pháp
duy nhất. Thời gian lâu thì tự nhiên sẽ kết
duyên với Phật.
Tại sao diệt độ lại nói là chẳng diệt độ;
chẳng diệt độ lại nói rằng diệt độ, đó là
đạo lý gì ? Ðối với người chưa khai ngộ mà
nói, thì cho rằng diệt độ; đối với người
khai ngộ mà nói, thì chẳng có diệt độ. Vì
người khai ngộ chứng được ba thân, bốn trí,
năm nhãn, sáu thông, thường ở một chỗ với
Phật, luôn luôn ở cạnh Phật, cho nên thường
gặp Phật. Chưa chứng được cảnh giới này, thì
đương nhiên chẳng nhìn thấy Phật. Phật nói
chẳng có diệt độ, là đối với người khai ngộ
mà nói. Tóm lại, đó đều là sức thần thông
của Phật biến hiện.
Vì sức thần thông
như thế, cho nên trong A tăng kỳ kiếp,
thường ở trong hội Pháp Hoa tại núi Linh
Thứu và ở các nơi khác, vì chúng sinh nói
nghĩa chân thật Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, sớm
sinh về cõi Thường Tịch Quang, ở với chư
Phật Bồ Tát.
Chúng sinh thấy kiếp tận
Khi lửa lớn thiêu đốt
Ta cõi này an ổn
Trời người thường đầy dẫy.
Vườn rừng những lầu các
Ðủ thứ báu trang
nghiêm
Cây báu nhiều hoa quả
Nơi chúng sinh dạo chơi.
Khi chúng sinh thấy kiếp tận, thì phát sinh
nạn lửa lớn, thiêu hủy đến cõi Sơ thiền. Lục
dục thiên (trừ cõi trời Ðâu Suất ra, vì là
nơi ở của Bồ Tát Bổ Xứ Phật vị), các nơi
khác đều thiêu hủy hết. Trên từ trời Ðại
Phạm, dưới đến địa ngục vô gián, chẳng tồn
tại vật gì cả. Phật ở cõi Thường Tịch Quang
rất an ổn, chẳng bị lửa lớn thiêu hủy, chư
thiên và loài người đều đầy dẫy ở cõi đó,
vườn rừng lầu các đều trang nghiêm bằng bảy
báu, cây báu đơm hoa kết trái rất sum sê.
Ðây là nơi dạo chơi của những chúng sinh đầy
đủ căn lành.
Chư Thiên đánh trống trời
Thường tấu các âm nhạc
Mưa hoa mạn đà
la
Rải Phật và đại chúng.
Cõi tịnh ta chẳng hủy
Mà chúng thấy thiêu sạch
Lo sợ các khổ não
Như thế đều đầy dẫy.
Chư Thiên trong ba cõi thường đánh trống trời,
vì Phật mà tấu âm nhạc. Trên trời mưa xuống
hoa Mạn đà la rất là xinh
đẹp, để rải lên Phật và đại chúng, biểu thị
trang nghiêm đạo tràng, chúc mừng pháp hội.
Khi
cao Tăng đại đức giảng kinh
thuyết pháp, cũng có điềm tốt hoa trời rơi
xuống, đất vọt lên hoa sen. Bất quá, phàm
phu chẳng nhìn thấy cảnh giới này mà thôi.
Nếu người chứng được pháp nhãn, thì nhìn
thấy rất rõ ràng.
Phật lại nói :
‘’Cõi Tịnh Ðộ của ta vĩnh viễn chẳng bị hủy
hoại, mà vọng kiến của chúng sinh và phiền
não kiến, đều bị kiếp lửa thiêu sạch, lo sợ
và tất cả tâm khổ não đều đầy dẫy.’’
Chúng sinh có tội đó
Bởi nhân duyên nghiệp ác
Qua A tăng kỳ kiếp
Chẳng nghe tên Tam Bảo.
Những người tu công đức
Tâm nhu hòa chất trực
Thảy đều thấy thân ta
Ở tại đây nói pháp.
Những chúng sinh đó có tội, bởi nhân duyên
nghiệp ác, dù trải qua số kiếp A tăng kỳ,
cũng chẳng nghe được danh hiệu Phật, cũng
chẳng nghe thấy được Pháp, cũng chẳng nghe
được danh từ Tăng. Ở thế giới này, trước khi
Phật ra đời, chẳng có ai biết về Phật pháp,
cho nên chẳng nghe tên Tam Bảo. Giống như Tu
Ðạt Ða (Cấp Cô Ðộc) trưởng giả, khi nghe
được danh hiệu Phật, thì toàn thân dựng lông
lên. Vì chưa bao giờ nghe đến danh từ Tam
Bảo, cho nên có hiện tượng như thế.
Tất cả những người tu hành, hết thảy những
người trồng căn lành, đều có công đức, tính
tình của họ nhu hòa và chất trực. Những
người như thế, mới có thể thấy được thân ta,
đang ở tại pháp hội Linh Sơn nói Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa. Phàm là chúng sinh có tội
nghiệp, chẳng những chẳng thấy được thân
Phật, mà cho đến tượng Phật cũng chẳng thấy
đặng. Nếu có thể thấy được tượng Phật, thì
cũng giảm bớt tội nghiệp. Tóm lại, tu hành
có công đức, mới có thể thấy được Phật, nghe
được Pháp, gặp được Tăng.
Có khi vì chúng đó
Nói Phật thọ vô lượng
Người lâu mới thấy Phật
Thì nói Phật khó gặp.
Trí lực ta như thế
Huệ quang chiếu vô lượng
Thọ mạng vô số kiếp
Do tu lâu mà được.
Hoặc có lúc, vì chúng sinh nói thọ mạng của
Phật là vô lượng vô biên. Ðối với chúng sinh
thường gặp Phật, thì nói Phật sống vô lượng.
Ðối với chúng sinh lâu được gặp Phật, thì
nói chẳng dễ gì được gặp Phật, khiến cho họ
sinh tâm khát ngưỡng. Trí lực của ta là như
thế, trí huệ quang chiếu khắp vô lượng chúng
sinh, trong vô lượng thế giới, khiến cho họ
phát bồ đề tâm, tu vô thượng đạo. Thọ mạng
lâu dài vô lượng đại kiếp, đó là quả báo tu
thiện nghiệp lâu dài.
Muốn tuổi thọ lâu
dài, thì phải siêng làm thiện nghiệp phóng
sinh. Có công đức đó, mới có thể sống lâu
trăm tuổi, nếu giết hại sinh linh, thì tuổi
thọ ngắn ngủi. Trong bài khuyên đời nhân quả
ba đời có nói rằng :
‘’Ðời này trường thọ là nhân gì ?
Ðời trước giữ giới sát, nhiều phóng sinh.
Ðời này chết yểu là nhân gì ?
Ðời trước giết hại chúng sinh linh.’’
Các ông người có trí
Chớ nên sinh hoài nghi
Hãy đoạn khiến dứt sạch
Lời Phật thật không hư.
Như lương y phương tiện
Vì trị bệnh cho con
Thật còn mà nói chết
Không thể nói hư vọng.
Các ông đều là người có đại trí huệ, đừng nên
sinh hoài nghi đối với lời của ta nói, nên
đoạn sạch tâm hoài nghi, khiến cho nó vĩnh
viễn đừng sinh nữa. Các ông phải tin lời của
Phật là chân thật không hư, Phật là bậc
Thánh chẳng nói dối.
Giống như vị lương
y, vì cứu bệnh điên cuồng của con, cho nên
cố ý nói mình đã chết, vì khiến cho các con
uống thuốc để giải trừ chất độc, đó là pháp
phương tiện, chẳng có ai có thể nói vị lương
y đó là người nói dối.
Một số người đều có
tâm ỷ lại. Khi Phật còn ở đời, thì cho rằng
chẳng cần nghe pháp. Sau khi Phật vào Niết
Bàn, thì mới biết sự quan trọng của việc
nghe pháp, mới bắt đầu học Phật pháp. Pháp
của Phật để lại là thuốc hay, chuyên trị
phiền não. Bây giờ, chúng sinh tu giữ giới
luật, tham thiền đả tọa, tụng kinh lạy Phật,
trì chú lễ sám, đó là chiếu theo toa thuốc
mà uống, có thuốc đến thì bệnh tiêu trừ. Nếu
như nghiên cứu Phật pháp mà chẳng tu hành,
thì đó là khẩu đầu thiền, nói mà chẳng thực
hành, thì giống như là người què. Nếu tu
hành mà chẳng minh bạch Phật lý, thì thành
là á
dương Tăng, giống như người
câm. Người tu hành bây giờ, chẳng chịu hợp
tác với nhau, đều cho rằng pháp môn của mình
là chánh tông, pháp môn của người khác tu
chẳng phải là nghĩa chân thật của Phật. Tôi
thì cho rằng đều là đệ tử của Phật, bất cứ
pháp môn gì, cũng đều từ kim khẩu của Phật
nói ra, đều khiến cho chúng sinh trừ chấp
trước, bỏ tâm tham. Tôi đề xướng thiền,
tịnh, giáo tam tu, như thế mới có thể thành
pháp môn giới định huệ tam học.
Ta là cha cõi đời
Cứu những người khổ nạn
Vì phàm phu điên đảo
Thật còn mà nói diệt.
Do bởi thường thấy ta
Mà sinh tâm kiêu ngạo
Phóng dật chấp năm dục
Ðọa trong ba đường ác.
Ðức Phật nói : ‘’Ta là cha của tất cả người
thế gian, cho nên phải cứu hộ tất cả chúng
sinh khổ nạn. Vì phàm phu đều có ý nghĩ điên
đảo, cho nên mới nói diệt độ. Thật tế thì ta
chẳng diệt độ.’’
Tại sao
chúng sinh điên đảo ? Vì vô minh đang làm
chủ nhân ông trong nhà, tống đuổi trí huệ
đi, đúng mà nói là không đúng, không đúng mà
nói là đúng. Tóm lại, tự tánh có đại quang
minh tạng, thì đen tối sẽ biến thành quang
minh. Tự tánh chẳng có đại quang minh tạng,
thì quang minh biến thành đen tối. Ðại quang
minh tạng là gì ? Tức là tướng chân như.
Chân như là gì ? Tức là bổn thể của các
pháp, lìa hư vọng là chân thật, thường trụ
chẳng thay đổi, tức cũng là dọc cùng tam tế,
ngang khắp mười phương, Phật tánh tại chư
Phật chẳng tăng, tại chúng sinh chẳng giảm.
Thật tướng là gì ? Tức là tướng như thật
thanh tịnh. Tóm lại, chẳng có tâm chấp hai
bên, chẳng có tâm bốn tướng tức là thật
tướng.
Phật lại
nói : ‘’Tại sao ta nói diệt độ ? Vì chúng
sinh hằng ngày nhìn thấy ta, cho nên sinh
tâm kiêu ngạo, chẳng y theo pháp tu hành,
chẳng giữ quy cụ, chấp trước vào cảnh giới
năm dục, tương lai phải đọa vào trong ba
đường ác.’’
Ta biết rõ chúng sinh
Hành đạo chẳng hành đạo
Tùy chúng sinh độ được
Mà nói đủ thứ pháp.
Tự ý thường nghĩ rằng :
Làm sao khiến chúng sinh
Ðược vào vô thượng đạo
Sớm thành tựu thân Phật.
Ta biết tâm niệm của tất cả chúng sinh, do đó
trong kinh có câu :
‘’Tất cả chúng sinh, bao nhiêu thứ tâm,
Như Lai đều biết đều thấy.’’
Chúng sinh hành đạo chẳng hành đạo, ta hoàn
toàn biết hết. Chúng sinh này đáng dùng thân
Phật độ được, thì ta bèn thị hiện thân Phật,
để vì họ nói pháp. Chúng sinh kia đáng dùng
thân chúng sinh độ được, thì ta thị hiện
thân chúng sinh, để vì họ nói pháp. Tóm lại,
đáng dùng thân gì độ được, thì ta thị hiện
thân đó, mà vì họ nói pháp.
Phật
thường quán tưởng, dùng phương pháp gì để
giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh
được vào vô thượng đạo ? Khiến cho chúng
sinh sớm thành tựu pháp thân của Phật.