KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 04
Quyển 05
Phẩm
Từ Dưới Đất Vọt Lên thứ mười lăm
Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa chia làm bảy quyển, tổng cộng có hai
mươi tám phẩm. Mười bốn phẩm trước, là nói
về nhân của một thừa. Mười bốn phẩm sau là
nói về quả của một thừa. Cũng có thể nói
mười bốn phẩm trước là khai quyền hiển thật
(Mở bày phương tiện, để hiện ra tướng chân
thật), mười bốn phẩm sau là khai cận hiển
viễn (Mở bày gần để biết xa), đều nói pháp
tối thượng thừa.
Phẩm này thuật lại vô lượng vô biên đại Bồ
Tát, trụ ở trong hư không, ở thế giới phương
dưới, các Ngài từ dưới đất vọt lên. Tại sao
? Vì muốn cúng dường Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, thì phải hộ trì Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa. Ðó là những pháp thân Ðại Sĩ (đại Bồ
Tát) ở trong quá khứ, đã từng làm đệ tử của
đức Phật Thích Ca. Bây giờ, các Ngài đều đến
hoằng
dương Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa.
Bấy giờ, các vị đại Bồ Tát đến từ các cõi
nước phương khác, số nhiều hơn số cát của
tám sông Hằng, ở trong đại chúng đều đứng
dậy chắp tay làm lễ, mà bạch đức Phật rằng :
Ðức Thế Tôn ! Xin Ngài lóng nghe, sau khi
Phật diệt độ, chúng con sẽ ở tại thế giới Ta
Bà này, siêng năng tinh tấn, hộ trì đọc
tụng, biên chép cúng dường kinh điển này, sẽ
ở cõi này mà vì chúng sinh rộng nói kinh
này.
Lúc đó, tức cũng là sau khi nói xong Phẩm An
Lạc Hạnh, chính là lúc phải nói phẩm ‘’Từ
dưới đất vọt lên‘’, tức là vào lúc có rất
nhiều các vị đại Bồ Tát, đến từ các cõi nước
phương khác, số đông vô lượng nhiều hơn số
cát tám sông Hằng. Các Ngài đến gặp đức Phật
Ða Bảo và Phật Thích Ca. Những vị đại Bồ Tát
này, ở trong đại chúng cùng nhau đứng dậy,
cung kính chắp tay mà bạch Phật rằng : ‘’Ðức
Thế Tôn ! Xin Ngài nghe chúng con phát
nguyện, sau khi Phật diệt độ, chúng con nhất
định tu hành ở tại thế giới Ta Bà này, siêng
năng tinh tấn hộ trì Kinh Pháp Hoa, đọc tụng
Kinh Pháp Hoa, biên chép Kinh Pháp Hoa, cúng
dường Kinh Pháp Hoa. Chúng con ở trong cõi
nước này, rộng vì tất cả chúng sinh, diễn
nói đạo lý chân thật của Kinh Pháp Hoa,
khiến cho tất cả chúng sinh gieo trồng căn
lành, sớm thành tựu quả vị Phật.
Bấy giờ, đức Phật bảo các chúng đại Bồ Tát
: Thôi đi ! Thiện nam tử ! Không cần các ông
hộ trì kinh này, tại sao ? Vì thế giới Ta Bà
của ta đây, đã có các đại Bồ Tát nhiều như
số cát sáu vạn sông Hằng. Mỗi vị Bồ Tát đều
có quyến thuộc, nhiều như số cát sáu vạn
sông Hằng. Hết thảy những người đó, sau khi
ta diệt độ, sẽ hộ trì, đọc tụng, rộng nói
kinh này.
Lúc đó, đức Phật bảo các vị đại Bồ Tát số đông
nhiều như số cát tám sông Hằng, đến từ các
phương khác rằng : ‘’Thôi đi ! Không cần
đâu. Thiện nam tử ! Các ông đừng phát nguyện
đến hộ trì Kinh Pháp Hoa.’’ Tại sao lại nói
vậy ? Vì Ðức Phật Thích Ca muốn khiến cho đệ
tử của mình, gieo trồng nhiều căn lành, làm
nhiều công đức. Lại nói tiếp : ‘’Vì thế giới
Ta Bà của ta đây, đã có các đại Bồ Tát, đông
nhiều như số cát sáu vạn sông Hằng. Mỗi vị
Bồ Tát đều có quyến thuộc (đệ tử) đông nhiều
như số cát sáu vạn sông Hằng. Hết thảy những
người đó sớm đã phát nguyện, sau khi ta diệt
độ sẽ hộ trì, đọc tụng, biên chép, rộng nói
bộ Kinh Pháp Hoa này.
Khi đức Phật nói như thế, thì ba ngàn đại
thiên thế giới Ta Bà, mặt đất rúng nứt, và
trong sự rúng nứt đó, có vô lượng ngàn vạn
ức đại Bồ Tát đồng thời vọt lên, các vị Bồ
Tát đó, thân đều màu vàng, đủ ba mươi hai
tướng, có vô lượng quang minh. Các vị Bồ Tát
đó, đều trụ ở trong hư không, ở dưới cõi Ta
Bà.
Khi Ðức Phật Thích Ca nói những lời như thế,
thì tại thế giới Ta Bà ba ngàn đại thiên thế
giới, tất cả đất đai đều chấn động nứt ra,
trong sự đất nứt ra có vô lượng ngàn vạn ức
đại Bồ Tát đồng thời vọt lên. Những vị đại
Bồ Tát đó, đều là đệ tử của Ðức Phật Thích
Ca giáo hóa ở trong quá khứ.
Các vị Bồ Tát từ dưới đất vọt lên, thân đều
màu vàng tía, đầy đủ ba mươi hai tướng đại
nhân, lại có vô lượng quang minh. Các Ngài
đều trụ ở trong hư không, ở dưới cõi Ta Bà.
Các vị Bồ Tát đó, nghe tiếng của đức Phật
Thích Ca Mâu Ni diễn nói diệu pháp, bèn từ
phương dưới mà đến, mỗi vị Bồ Tát đều là đạo
sư của đại chúng, ai nấy đều mang theo quyến
thuộc, nhiều như số cát sáu vạn sông Hằng,
có vị mang theo quyến thuộc, nhiều như số
cát năm vạn, bốn vạn, ba vạn, hai vạn, một
vạn sông Hằng.
Chỗ ở của các vị Bồ Tát đó, tuy nhiên cách thế
giới của chúng ta ở rất xa, xong pháp âm của
Ðức Phật Thích Ca diễn nói Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa, các Ngài đều nghe được rất rõ
ràng, cho nên từ phương dưới mà đến pháp hội
Linh Sơn. Các Ngài đều là đạo sư giáo hóa
chúng sinh, làm sư biểu của chúng sinh. Ðều
là thủ lãnh của đại chúng.
Mỗi vị Bồ Tát đều mang theo quyến thuộc (đệ tử
theo Bồ Tát học Phật pháp) đến pháp hội. Có
vị Bồ Tát đem theo quyến thuộc, nhiều như số
cát sáu vạn sông Hằng, hoặc có vị mang theo
quyến thuộc nhiều như số cát năm vạn, bốn
vạn, ba vạn, hai vạn, một vạn, sông Hằng.
Hoặc có vị chỉ mang theo quyến thuộc, nhiều
như số cát một sông Hằng, nửa sông Hằng, một
phần tư, cho đến một phần ngàn vạn ức Na do
tha. Lại có vị mang theo ngàn vạn ức Na do
tha quyến thuộc, hoặc là ức vạn quyến thuộc,
hoặc ngàn vạn, trăm vạn, cho đến một vạn,
hoặc một ngàn, một trăm, cho đến mười, hoặc
có vị chỉ mang theo năm, bốn, ba, hai, một
vị đệ tử.
Có vị Bồ Tát mang theo ngàn vạn ức Na do tha
quyến thuộc, hoặc ức vạn quyến thuộc, hoặc
mang theo ngàn vạn quyến thuộc, hoặc mang
theo trăm vạn quyến thuộc, cho đến một vạn
quyến thuộc, hoặc có vị mang theo một ngàn
quyến thuộc, hoặc mang theo một trăm quyến
thuộc, cho đến mười quyến thuộc, hoặc mang
theo năm vị đệ tử, hoặc mang theo bốn vị đệ
tử, hoặc ba, hai, một vị đệ tử. Những số mục
này chẳng nhất định. Theo biểu pháp mà
giảng, thì năm là đại biểu cho năm uẩn, bốn
đại biểu cho bốn đế, ba đại biểu cho ba độc,
hai đại biểu cho hai đức (trí huệ), một đại
biểu cho một thật đạo (chân như, chân lý
tuyệt đối).
Lại có vị Bồ Tát sống một mình, ưa thích
hạnh xa lìa thế gian, hết thảy như thế vô
lượng vô biên, không thể nào tính đếm, ví
dụ, biết được số lượng.
Có vị Bồ Tát phát nguyện chẳng thu nhận đệ tử,
tự mình sống một mình, tu hành ở trong rừng
sâu núi thẳm, xa lìa sự ồn ào thế gian, đó
là ‘’ưa thích hạnh xa lìa‘’, tức cũng là tu
hạnh đầu đà (khổ hạnh). Hết thảy như thế
nhiều vô lượng vô biên, chẳng cách chi tính
đếm, ví dụ để biết được số lượng chính xác.
Các vị Bồ Tát đó, từ dưới đất vọt lên rồi,
đều đến chỗ tháp bảy báu trong hư không, của
đức Ða Bảo Như Lai, và đức Phật Thích Ca Mâu
Ni.
Ðến rồi, ai nấy
đều hướng về hai đức Thế Tôn, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Phật, và đến dưới các cây báu
chỗ của chư Phật, ngồi trên tòa sư tử cũng
đều làm lễ, nhiễu bên phải ba vòng, chắp tay
cung kính, dùng đủ thứ pháp khen ngợi của
các Bồ Tát để khen ngợi, rồi lui về một bên
chiêm ngưỡng hai đức Thế Tôn.
Vô lượng vô biên những vị đại Bồ Tát đó, sau
khi từ dưới đất vọt lên rồi, mỗi vị Bồ Tát
đều đến chỗ tháp bảy báu trong hư không, của
đức Ða Bảo Như Lai và đức Phật Thích Ca Mâu
Ni.
Ðến rồi, ai nấy đều hướng về hai đức Thế Tôn,
đảnh lễ năm thể sát đất, thân tâm cung kính.
Lại đến dưới cây báu trước tòa sư tử, của
chư Phật đến từ mười phương cuối đầu đảnh
lễ. Nhiễu bên phải ba vòng, biểu thị cung
kính. Sau đó, chắp tay lại cung kính chiêm
ngưỡng tôn nhan của chư Phật, dùng những lời
khen ngợi của các Bồ Tát để khen ngợi :
‘’Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Thập phương thế giới diệc vô tỉ
Thế gian sở hữu ngã tận kiến
Nhất thiết vô hữu như Phật giả‘’.
Nghĩa là:
Trên trời nhân gian không ai bằng Phật
Mười phương thế giới không ai sánh bằng
Hết thảy thế gian ta thấy hết
Tất cả không ai như đức Phật.
Chúng ta mỗi ngày niệm :
‘’Phật A Di Ðà Phật thân sắc vàng
Tướng tốt chói sáng không ai bằng
Hào quang trắng chuyển động như Tu Di
Mắt Phật xanh biếc như nước bốn biển
Trong quang minh có vô số hoá Phật
Hóa Bồ Tát chúng cũng nhiều vô biên
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm sen vàng lên bờ giác‘’.
Ðó là pháp khen ngợi Phật. Những vị Bồ Tát đó,
sau khi đảnh lễ khen ngợi rồi, bèn lui về
một bên, chuyên tâm chiêm ngưỡng đức Ða Bảo
Như Lai và Phật Thích Ca, mắt chẳng tạm rời.
Các vị đại Bồ Tát từ khi mới vọt lên, dùng
đủ thứ pháp của các Bồ Tát, để khen ngợi
Phật, thời gian như thế trải qua năm mươi
tiểu kiếp.
Những vị đại Bồ Tát đó, bắt đầu từ dưới đất
vọt lên, bèn dùng đủ thứ pháp khen ngợi của
Bồ Tát, để khen ngợi đức Ða Bảo Như Lai, đức
Phật Thích Ca và các đức Phật từ mười phương
đến. Khen ngợi Phật như thế, trải qua thời
gian năm mươi tiểu kiếp.
Tiểu kiếp là gì ? Tuổi thọ của con người bắt
đầu từ mười tuổi, mỗi một trăm năm thì tăng
một tuổi, thân cao thêm một tất, tăng đến
tám vạn bốn ngàn tuổi thì ngừng (một tăng).
Sau đó lại giảm xuống, cũng mỗi một trăm năm
thì giảm một tuổi, thân cao cũng giảm xuống
một tấc, giảm xuống còn mười tuổi thì ngừng
(một giảm), do đó ‘’Một tăng một giảm là một
kiếp‘’.
Lúc đó, đức Phật Thích Ca Mâu Ni vẫn ngồi
yên lặng, bốn chúng cũng đều yên lặng. Thời
gian năm mươi tiểu kiếp rất dài, nhưng nhờ
thần lực của Phật, khiến cho đại chúng cảm
thấy như chỉ nửa ngày.
Lúc đó, Ðức Phật Thích Ca vẫn ngồi yên lặng
trong thời gian năm mươi tiểu kiếp, chưa
từng nói pháp gì. Trong hội này có người
hoài nghi : ‘’Ðức Phật Thích Ca thọ chỉ tám
mươi năm, nói pháp bốn mươi chín năm, giảng
kinh hơn ba trăm hội, cuối cùng nói Kinh
Pháp Hoa, từ khi bắt đầu cho đến cuối chỉ
nói tám năm. Tại sao ở trong kinh văn nói :
Ðức Phật Thích Ca diễn nói Kinh Pháp Hoa
trải qua năm mươi tiểu kiếp ? Chẳng có căn
cứ gì cả ! Thật khiến cho mọi người khó
tin.’’
Trong Kinh Duy Ma Cật có ghi rằng : ‘’Ông
Duy Ma Cật ở trong một căn
nhà nhỏ, diện tích chiều dài chiều rộng
chẳng quá một trượng. Song, có thể dung nạp
được ba vạn hai ngàn tòa sư tử. Mỗi tòa sư
tử cao khoảng tám vạn do tuần (một do tuần
khoảng bốn mươi dặm). Nhà một trượng vuông
làm sao có thể dung nạp được ba vạn hai
nghìn tòa sư tử cao lớn như thế ? Ðó là cảnh
giới trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ,
viên dung vô ngại. Chẳng qua phàm phu chẳng
minh bạch đạo lý này. Nếu minh bạch được,
thì năm mươi tiểu kiếp, bất quá chỉ một niệm
mà thôi. Nếu chẳng minh bạch thì tức là năm
mươi tiểu kiếp. Do đó :
‘’Năm mươi tiểu kiếp tức một niệm,
Một niệm tức năm mươi tiểu kiếp.’’
Năm mươi tiểu kiếp cũng chẳng phải là thời
gian dài, một niệm cũng chẳng phải là thời
gian ngắn. Tóm lại, đừng chấp trước, không
nên có tâm phân biệt.
Bây giờ tôi kể một câu chuyện để cho mọi người
nghe.
Cao Phong Diệu Thiền Sư khi
ngồi thiền, thì đến chỗ ven đỉnh núi mà ngồi
thiền. Tại sao lại ngồi thiền ở chỗ nguy
hiểm như thế ? Vì khi Ngài ngồi thiền, thì
luôn luôn nhập mộng, chướng ngại sự tu hành.
Cho nên, Ngài phát nguyện đến ven đỉnh núi
ngồi thiền. Nếu mà ngủ gục, thì sẽ rớt xuống
núi tan xương nát thịt, tức cũng là đề cao
cảnh giác cho đừng ham ngủ. Một ngày trôi
qua chẳng ngủ. Tại sao ? Vì chẳng dám ngủ,
nếu mà ngủ thì sẽ rớt xuống vực thẳm, kết
liễu tánh mạng. Vì sinh tồn cho nên không
dám ngủ. Song, đến ngày thứ tám thì chịu hết
nổi, mới ngủ trong lúc ngồi thiền, thân thể
bèn nghiêng về phía trước rớt xuống vực thẳm
ngàn trượng, trong tâm Ngài nghĩ lần này
chắc chắn chẳng còn tánh mạng. Do đó, bèn
buông bỏ thân tâm, chết thì chết ! Chẳng cần
lo, ngủ bao lâu thì cứ ngủ !
Thân thể Ngài
Cao Phong Diệu Thiền Sư rớt
đến nửa đường, thì Bồ Tát Vi Ðà đến hộ pháp,
Bồ Tát Vi Ðà đỡ Ngài ở trong hư không nâng
Ngài đi lên. Ngài cảm thấy thân thể của mình
lơ lửng thăng đi lên, cuối cùng đến được nơi
an toàn. Ngài mới hỏi ở trong hư không rằng
: ‘’Vị thiện Thần nào đó đến hộ pháp tôi ?‘’
- Bồ Tát Vi Ðà nói : ‘’Hộ Pháp Vi Ðà.’’
Ngài nghe tiếng của Bồ Tát Vi Ðà thì bèn sinh
tâm kiêu ngạo. Trong tâm nghĩ : - ‘’Ta
cảm ứng được Bồ Tát Vi Ðà đến hộ pháp, đại
khái người tinh tấn tu hành như ta trên thế
giới này chắc chắn chẳng bao nhiêu.’’ Do đó,
mới hỏi Bồ Tát Vi Ðà rằng :
- ‘’Bồ Tát Vi Ðà !
Trên thế giới này, người tu hành dũng mãnh
tinh tấn như ta có được bao nhiêu‘’?
- Bồ Tát Vi Ðà nói : ‘’Người tu hành như
thế nhiều như lông bò. Ông sinh tâm cống cao
ngã mạn như thế, trong tám vạn đại kiếp tới
ta cũng chẳng hộ pháp cho ông’’! Nói rồi bèn
bỏ đi.
Lúc đó, Ngài
Cao Phong Diệu Thiền Sư sinh
tâm hổ thẹn rơi lệ, bèn nghĩ : ‘’Bồ Tát vi
Ðà chẳng hộ pháp cho ta, ta cũng phải tham
thiền đả tọa, tu hành đạo nghiệp. Do đó,
phấn chấn tinh thần bắt đầu ngồi thiền. Ngồi
chẳng bao lâu, nhịn ngủ chẳng đặng lại ngủ
gục nữa. Do đó, lại rớt xuống vực thẳm nữa.
Ngài nghĩ : Lần này chẳng còn hy vọng nữa,
tính mạng cũng chấm dứt. Trong lúc đó lại có
hộ pháp Vi Ðà đến đỡ Ngài, nâng đem lên trên
núi. Ngài lại hỏi ở trong hư không rằng :
‘’Vị hộ pháp nào vậy’’?
- Bồ Tát vi Ðà nói : ‘’Hộ pháp Vi Ðà.’’
Ngài
Cao Phong Diệu Thiền Sư nghe
nói lại nổi giận nói : ‘’Lão Vi Ðà, ông nói
trong tám vạn đại kiếp chẳng hộ pháp tôi,
tại sao bây giờ lại đến cứu tôi ? Chẳng phải
ông đã phạm giới nói dối chăng‘’? Bồ Tát Vi
Ðà nói : ‘’Vì ông khóc sinh tâm sám hối rất
kiền thành, mà còn chân thật, cho nên vượt
hơn thời gian tám vạn đại kiếp. Tức đã vượt
quá thời gian thì tôi phải đến hộ pháp
ông.’’ Do đó có thể thấy, một niệm sám hối,
có thể vượt quá tám vạn đại kiếp. Cảnh giới
này thật là không thể nghĩ bàn.
Ðức Phật Thích Ca ở
trong năm mươi tiểu kiếp chẳng nói, bốn
chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ
nữ cũng chẳng nói. Thời gian năm mươi tiểu
kiếp đó tuy rất dài, song vì nhờ thần lực
của Phật nên khiến cho đại chúng cảm thấy
giống như chỉ thời gian nữa ngày. Tóm lại,
tuy trong nửa ngày có thể đã trải qua năm
mươi tiểu kiếp; tuy năm mươi tiểu kiếp, mà
giống như nửa ngày.
Bấy giờ, bốn chúng cũng nhờ thần lực của
đức Phật, cho nên thấy các vị Bồ Tát, của vô
lượng trăm ngàn vạn ức cõi nước, đầy khắp hư
không.
Lúc đó, bốn chúng cũng nhờ thần lực của Ðức
Phật, nên nhìn thấy các vị đại Bồ Tát từ
dưới đất vọt lên đầy khắp hư không của vô
lượng trăm ngàn vạn ức cõi nước. Cứu kính
đông nhiều bao nhiêu ? Chẳng ai biết được.
Bây giờ nói về thời gian. Trong kinh nói :
‘’Một ngày một đêm ở cõi trời Tứ Thiên
Vương, là năm mươi năm ở tại nhân gian. Một
ngày một đêm ở cõi trời Ðao Lợi, là một trăm
năm ở tại nhân gian.
Một ngày một đêm ở
cõi trời Dạ Ma, là hai trăm năm ở tại nhân
gian. Mỗi từng trời cao hơn, thì thời gian
gấp bội lên. Tuổi thọ của chư thiên ở cõi
trời Tứ Thiên Vương là năm trăm tuổi, ở cõi
trời Ðao Lợi là một ngàn tuổi, ở cõi trời Dạ
Ma là hai ngàn tuổi. Mỗi từng trời cao hơn
thì tuổi thọ gấp bội lên.
Khi Ðức Phật còn tại thế, thì có một vị ngoại
đạo hỏi tôn giả Ca chiên Diên rằng : ‘’Tôi
không tin có đời sau, nếu có đời sau, thì
tại sao con người sau khi chết, chẳng về báo
cáo sự chịu khổ như thế nào‘’?
- Tôn giả đáp : ‘’Giống như người phạm tội, bị
nhốt vào tù thì làm sao mà trở về‘’?
- Ngoại đạo lại hỏi : ‘’Người sinh về cõi
trời, tại sao chẳng trở về báo cáo sự hưởng
thụ như thế nào‘’?
- Tôn giả đáp : ‘’Ngày đầu tiên họ sinh về cõi
trời, phải sắp xếp chỗ ở, ngày thứ hai lại
phải nghỉ ngơi, ngày thứ ba trở về báo tin,
thì ở nhân gian đã quá mấy trăm năm, làm sao
mà bạn thấy được’’? Lúc đó ngoại đạo chẳng
có lời lẽ gì để nói, cáo từ đi về.
Trong chúng Bồ Tát đó, có bốn vị đạo sư,
một tên là Thượng Hạnh, hai tên là Vô Biên
Hạnh, ba tên là Tịnh Hạnh, bốn tên là An Lập
Hạnh. Bốn vị Bồ Tát này là thượng thủ, là
thầy xướng đạo ở trong chúng.
Ở trong vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng đại Bồ
Tát, có bốn vị đại đạo sư. Vị đạo sư thứ
nhất tên là Thượng Hạnh, vị đạo sư thứ hai
tên là Vô Biên Hạnh, vị đạo sư thứ ba tên là
Tịnh Hạnh, vị đạo sư thứ tư tên là An Lập
Hạnh. Vì các Ngài tu hạnh môn cao thượng
nhất, vô biên nhất, thanh tịnh nhất, an ổn
nhất. Bốn vị đạo sư này là thủ lãnh ở trong
những vị đại Bồ Tát đó, là thầy xướng đạo
của họ.
Ở trước đại chúng, ai nấy đều chắp tay nhìn
đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà hỏi thăm rằng :
Ðức Thế Tôn ít bệnh, ít phiền não, an lạc
hạnh chăng ! Những người đáng độ có dễ giáo
hóa chăng ! Không khiến cho đức Thế Tôn mệt
nhọc chăng !
Bốn vị đạo sư Bồ Tát đó, ở trước đại chúng ai
nấy đều chắp tay lại, nhìn tôn nhan của đức
Phật Thích Ca mà hỏi thăm rằng : ‘’Ðức Thế
Tôn ! Hiện tại Ngài khỏe chăng ? Chẳng có
phiền não chăng ? Ðối với bốn hạnh an lạc
(thân an lạc hạnh, khẩu an lạc hạnh, ý an
lạc hạnh, nguyện an lạc hạnh) được an lạc
chăng ! Những chúng sinh đáng hóa độ, có dễ
giáo hóa chăng ? Chẳng có chướng ngại gì
chăng ! Chẳng khiến cho đức Thế Tôn mệt nhọc
chăng‘’!
Thân an lạc hạnh :
Tức là thân phải xa lìa mười việc sau đây :
1). Giàu sang quyền thế.
2). Thần nhân tà pháp.
3). Hung hiểm giỡn cười.
4). Kẻ chiên đà la.
5). Chúng nhị thừa.
6). Dục niệm.
7). Năm thứ người bất nam.
8). Nơi nguy hại.
9). Việc chê bai nghi ngờ.
10). Nuôi dưỡng Sa di nhỏ tuổi.
Khẩu an lạc hạnh : Tức là miệng nên xa lìa bốn
thứ lời nói :
1). Không nên nói lỗi của người và kinh điển.
2). Không khinh mạn kẻ khác.
3). Không khen ngợi kẻ khác, cũng chẳng hủy
báng kẻ khác.
4). Chẳng sinh tâm bi hận.
Ý an lạc hạnh : Tức là ý nên xa lìa bốn thứ
lỗi :
1). Ðố kỵ xiểm nịnh.
2). Khinh khi mắng chưởi.
3). Dùng đại hạnh mắng chưởi người tiểu hạnh.
4). Cạnh tranh.
Nguyện an lạc hạnh : Là đối với chúng sinh
chẳng nghe, chẳng biết, chẳng hay Kinh Pháp
Hoa, thì khởi tâm từ bi. Ta muốn được Vô
thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, dùng sức thần
thông và trí huệ, để dẫn dắt chúng sinh vào
trong pháp này.
Bấy giờ, bốn vị đại Bồ Tát bèn nói bài kệ
rằng :
Thế Tôn an lạc
Ít bệnh ít não
Giáo hóa chúng sinh
Ðược chẳng mệt nhọc.
Và các chúng sinh
Thọ hóa dễ chăng
Chẳng khiến Thế
Tôn
Sinh mỏi nhọc chăng !
Lúc đó, Bồ Tát Thượng Hạnh, Bồ Tát Vô Biên
Hạnh, Bồ Tát Tịnh Hạnh, Bồ Tát An Lập Hạnh,
bốn vị Bồ Tát này, dùng kệ để hỏi thăm tình
trạng của Ðức Phật Thích Ca, tức cũng là vấn
an.
Ðức Thế Tôn ! Ngài an lạc chăng ! Cũng chẳng
có bệnh tật, cũng chẳng có phiền não. Giáo
hóa chúng sinh chắc chắn rất an nhàn, chẳng
có cảm giác mệt mỏi ! Lại nữa, tất cả chúng
sinh dễ thọ sự giáo hóa chăng ! Chẳng có khó
khăn gì chăng ? Họ chẳng khiến cho đức Thế
Tôn sinh mỏi nhọc chăng ?
Bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong chúng đại Bồ
Tát, nói như vầy : Như thế, như thế ! Các
thiện nam tử, Như Lai an lạc, ít bệnh, ít
phiền não, hết thảy các chúng sinh dễ hóa
độ, chẳng có mệt nhọc. Tại sao ? Vì các
chúng sinh đó, đời đời kiếp kiếp đến nay,
luôn luôn thọ sự giáo hóa của ta, ở trong
quá khứ, họ cũng cung kính tôn trọng các đức
Phật, gieo trồng các căn lành.
Lúc đó, đức Phật Thích Ca ở trong vô lượng đại
chúng Bồ Tát nói như vầy : ‘’Là như thế ! Là
như thế ! Các vị thiện nam tử ! Như Lai rất
an lạc, cũng chẳng có bệnh tật, cũng chẳng
có phiền não. Hết thảy tất cả chúng sinh,
đều rất dễ dàng giáo hóa độ thoát. Vì họ nỗ
lực tu hành, tinh tấn dũng mãnh, cho nên ta
chẳng cảm thấy mệt nhọc. Ðây là nguyên nhân
gì ? Vì hết thảy chúng sinh ở trong quá khứ,
đời đời kiếp kiếp cho đến hiện tại, luôn
luôn thọ sự giáo hóa của ta, họ cũng cung
kính chư Phật, tôn trọng chư Phật, gieo
trồng vô lượng vô biên căn lành.
Những chúng sinh đó, từ khi thấy thân ta,
nghe lời của ta nói, thì đều tin nhận vào
trí huệ của Như Lai. Những người trước kia
tu tập tiểu thừa, nay ta cũng khiến cho họ
được nghe kinh này, mà vào trí huệ của Phật.
Ðức Phật Thích Ca lại nói : ‘’Hiện tại những
chúng sinh mà ta đã giáo hóa, từ khi họ thấy
thân ta, nghe tạng giáo, thông giáo, biệt
giáo, viên giáo của ta nói rồi, thì họ lập
tức sinh niềm tin, thọ giáo phụng hành, cho
nên họ đã chứng quả A
La Hán, đã chứng quả vị Duyên
Giác, đã chứng quả vị Bồ Tát. (A
La Hán phân ra: Sơ quả, nhị
quả, tam quả, tứ quả. Bồ Tát phân ra: Thập
tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng,
Thập địa, Ðẳng giác, năm mươi mốt quả vị).
Chứng được năm mươi mốt quả vị pháp thân đại
sĩ, sau đó vào trí huệ của Phật, chứng được
quả vị Diệu Giác’’.
‘’Vào trí huệ của Như Lai, trừ những người
trước kia tu tập tiểu thừa, không ở trong
đó. Hiện tại những người học pháp nhị thừa
(tứ đế, mười hai nhân duyên), nay ta cũng
khiến cho họ được nghe Kinh Pháp Hoa này,
khiến cho họ hồi tiểu hướng đại, phát bồ đề
tâm, hành Bồ Tát đạo, cũng được trí huệ của
Như Lai‘’.
Kinh Pháp Hoa là con đường tắc tu hành thành
Phật, cho nên phải nỗ lực nghiên cứu, đọc
tụng, biên chép, ấn tống, cúng dường, hộ trì
kinh này, y theo pháp mà tu hành, thì công
đức vô lượng.
Bấy giờ, các vị đại Bồ Tát bèn nói bài kệ
rằng :
Lành thay lành
thay !
Ðại hùng Thế
Tôn
Hết thảy chúng sinh
Dễ dàng hóa độ.
Nghe được chư Phật
Trí huệ sâu xa
Nghe rồi tin hành
Chúng con tùy hỉ.
Lúc đó, các vị đại Bồ Tát lại dùng kệ để khen
ngợi đức Phật Thích Ca: Tốt lắm ! Tốt lắm !
Phật là đại Thánh Hùng của thế và xuất thế
gian, bậc tôn quý nhất của thế và xuất thế
gian. Hết thảy chúng sinh rất dễ tiếp thọ
Phật hóa độ. Họ đều nghe được trí huệ sâu xa
của chư Phật, sau khi nghe rồi thì tin nhận
tu hành. Chúng con hết thảy Bồ Tát cũng tùy
hỉ công đức đó, cũng nguyện y theo pháp của
Phật dạy mà tu hành.
Khi ấy, đức Thế Tôn khen ngợi các vị đại Bồ
Tát thượng thủ rằng : Lành thay, lành thay !
Thiện nam tử, các ông ở trước Như Lai phát
tâm tùy hỉ.
Khi các vị đại Bồ Tát khen ngợi đức Phật Thích
Ca rồi, thì đức Phật cũng khen ngợi các vị
đại Bồ Tát, đó là cùng nhau khen ngợi. Tuy
nhiên, Bồ Tát có thể tùy hỉ khen ngợi đức
Phật, song Phật không thể tùy tiện khen ngợi
Bồ Tát.
Ðức Phật nói : ‘’Lành thay ! Lành thay ! Các
vị thiện nam tử ! Các ông ở trước Như Lai
phát tâm tùy hỉ, khen ngợi Phật nói Kinh
Pháp Hoa, công đức vô lượng, lại đến núi
Linh Thứu pháp hội Linh Sơn nghe Kinh Pháp
Hoa‘’.
Bấy giờ, Bồ Tát Di Lặc và tám ngàn chúng Bồ
Tát, nhiều như số cát sông Hằng, đều nghĩ
như vầy : Chúng ta từ xưa đến nay, chẳng
thấy chẳng nghe các chúng đại Bồ Tát như
thế, từ dưới đất vọt lên, ở trước đức Thế
Tôn chắp tay cúng dường, thăm hỏi đức Như
Lai.
Lúc đó, Bồ Tát Di Lặc và chúng đại Bồ Tát
nhiều như số cát tám ngàn sông Hằng, đều
nghĩ như vầy : ‘’Chúng ta từ xưa đến nay,
chưa từng thấy qua nhiều vị đại Bồ Tát như
thế, rất là kỳ lạ; cũng chưa từng nghe qua
có nhiều vị đại Bồ Tát như thế, ở trong tâm
của các Ngài có chỗ chưa minh bạch. Cứu kính
những vị đại Bồ Tát này từ đâu đến ? Sao
chúng ta lại chẳng biết ?
Khi ấy, đại Bồ Tát Di Lặc biết tâm niệm của
các vị Bồ Tát, nhiều như số cát tám ngàn
sông Hằng, cũng muốn tự mình hiểu rõ điều
nghi này, bèn chắp tay hướng về đức Phật,
dùng kệ hỏi rằng :
Lúc đó, đại Bồ Tát Di Lặc biết trong tâm của
các vị Bồ Tát, nhiều như số cát tám ngàn
sông Hằng có chỗ nghi vấn, và chính Ngài
cũng muốn minh bạch điều nghi vấn này. Do
đó, Ngài bèn chắp tay đi đến trước Phật,
hướng về Phật thỉnh pháp, dùng kệ để hỏi
rằng.
Vô lượng ngàn vạn ức
Các đại chúng Bồ Tát
Xưa kia chưa từng thấy
Nguyện đức Thế Tôn nói.
Họ từ nơi nào đến
Do bởi nhân duyên gì ?
Thân lớn đại thần thông
Trí huệ không nghĩ bàn.
Chí niệm rất kiên cố
Có sức nhẫn nhục lớn
Chỗ chúng sinh ưa thấy
Từ xứ nào mà đến ?
Vô lượng đại Bồ Tát từ dưới đất vọt lên, có
hơn ngàn vạn ức. Các đại chúng Bồ Tát tại
pháp hội, thuở xưa chưa từng thấy cũng chẳng
nghe qua. Chúng con xin nguyện đức Thế Tôn,
vì chúng con nói nhân duyên này.
Vô lượng vị đại Bồ Tát này từ đâu đến đây ?
Các Ngài tụ tập tại pháp hội, cứu kính có
nhân duyên gì ? Các Ngài đều hiện thân lớn,
có sức thần thông lớn. Trí huệ của các Ngài
không thể nghĩ bàn.
Vô lượng đại Bồ Tát này chí nguyện, niệm lực
chắc chắn rất kiên cố. Giới định huệ ba học
của các Ngài chắc chắn kiên cố chẳng hoại.
Các Ngài có sức đại bố thí, sức đại nhẫn
nhục, sức đại trì giới, sức đại tinh tấn,
sức đại thiền định, sức đại trí huệ. Chúng
sinh đều hoan hỉ thấy các Ngài, nghe các
Ngài nói pháp. Song, chúng con đại chúng
chẳng biết các Ngài từ đâu đến ? Xin đức Thế
Tôn từ bi khai thị cho đại chúng rõ.
Mỗi mỗi vị Bồ Tát
Ðem theo các quyến thuộc
Số đông nhiều vô lượng
Như số cát sông Hằng.
Hoặc có đại Bồ Tát
Ðem sáu vạn Hằng sa
Các đại chúng như thế
Một lòng cầu Phật đạo.
Các đại sư đó thảy
Sáu vạn Hằng hà sa
Ðều đến cúng dường Phật
Và hộ trì kinh này.
Mỗi vị đại Bồ Tát mang theo quyến thuộc số
nhiều vô lượng, nhiều như số cát sông Hằng.
Hoặc có vị đại Bồ Tát mang theo đệ tử, nhiều
như số cát sáu vạn sông Hằng. Cả đại chúng
này đều một lòng một dạ cầu Phật đạo, tức
cũng là cầu chứng Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. A
La Hán chỉ chứng được quả vị
Chánh giác, Bồ Tát chứng được quả vị Chánh
đẳng, chỉ có Phật mới chứng được quả vị Vô
thượng.
Các vị đại Bồ Tát đại pháp sư này, cùng nhau
đến trước Phật, cúng dường Phật. Lại phát
thệ nguyện hộ trì Kinh Pháp Hoa, suốt thuở
vi lai cũng chẳng nghỉ ngơi, quán triệt thủy
chung, chẳng bao giờ thay đổi.
Ðem năm vạn Hằng sa
Hoặc số lượng trội hơn
Bốn vạn và ba vạn
Hai vạn đến một vạn.
Một ngàn một trăm thảy
Cho đến một Hằng sa
Nửa và ba bốn phần
Hoặc một phần ức vạn.
Ngàn vạn na do tha
Vạn ức các đệ tử
Cho đến số nửa ức
Số lượng lại hơn trên.
Trăm vạn đến một vạn
Một ngàn và một trăm
Năm mươi và một mươi
Cho đến ba hai một.
Hoặc có vị đại Bồ Tát mang theo quyến thuộc,
nhiều như số cát năm vạn sông Hằng, hoặc có
vị đại Bồ Tát mang theo quyến thuộc nhiều
hơn năm vạn, hoặc có vị đại Bồ Tát mang theo
ít hơn năm vạn quyến thuộc, hoặc là mang
theo quyến thuộc nhiều như số cát bốn vạn
sông Hằng, hoặc mang theo quyến thuộc nhiều
như số cát ba vạn sông Hằng, hoặc quyến
thuộc nhiều như số cát hai vạn sông Hằng,
hoặc mang theo quyến thuộc nhiều như số cát
một vạn sông Hằng, hoặc mang theo quyến
thuộc nhiều như số cát một ngàn sông Hằng,
hoặc mang theo quyến thuộc nhiều như số cát
một trăm sông Hằng, cho đến quyến thuộc
nhiều như số cát nửa sông Hằng, hoặc quyến
thuộc nhiều như số cát một phần ba sông
Hằng, hoặc quyến thuộc nhiều như số cát một
phần tư sông Hằng. Hoặc có vị đại Bồ Tát
mang theo ngàn vạn na do tha quyến thuộc,
hoặc mang theo vạn ức quyến thuộc, cho đến
nửa ức quyến thuộc, hoặc nhiều hơn, hoặc ít
hơn một chút, chẳng có số lượng nhất định.
Hoặc có vị đại Bồ Tát mang theo một trăm vạn
quyến thuộc, hoặc một vạn quyến thuộc, hoặc
một ngàn quyến thuộc, hoặc một trăm quyến
thuộc, hoặc năm mươi quyến thuộc, hoặc mười
quyến thuộc, hoặc ba quyến thuộc, hoặc hai
quyến thuộc, hoặc một quyến thuộc.
Đơn độc chẳng quyến thuộc
Ưa thích tu một mình
Đều đến chỗ đức Phật
Số đó lại hơn trên.
Các đại chúng như thế
Nếu ai muốn tính đếm
Trải qua Hằng sa kiếp
Không thể biết hết được.
Có vị đại Bồ Tát chỉ đến một mình, chẳng mang
theo quyến thuộc. Tại sao ? Vì thích tu hành
một mình, chẳng muốn thu nhận đệ tử. Hiện
tại đều đã đến trong pháp hội đạo tràng của
đức Phật Thích Ca.
Ðại chúng đông như thế, nếu như có ai dùng
toán số để tính đếm, thì dù trải qua số kiếp
nhiều như số cát sông Hằng, cũng không thể
biết được số mục chính xác là bao nhiêu.
Các đại uy đức đó
Chúng Bồ Tát tinh tấn
Ai vì họ nói pháp
Giáo hóa mà thành tựu ?
Từ ai sơ phát tâm
Xưng
dương Phật pháp nào
Thọ trì hành kinh gì
Tu tập Phật đạo nào ?
Các Bồ Tát như thế
Thần thông đại trí lực
Bốn phương đất rúng nứt
Ðều từ đất vọt lên.
Có những chúng Bồ Tát có đại uy đức, có chúng
Bồ Tát tinh tấn tu hành, trước nhứt ai vì họ
nói pháp ? Ai giáo hóa họ thành tựu đạo
nghiệp Bồ Tát ?
Những vị Bồ Tát này, trước hết theo vị pháp sư
nào phát tâm nghiên cứu Phật pháp ? Theo vị
pháp sư nào xuất gia tu đạo ? Theo vị pháp
sư nào tu hành lục độ vạn hạnh ? Các Ngài
xưng
dương Phật pháp nào ? Các
Ngài thọ trì kinh điển gì ? Các Ngài từ tông
nào nhập môn ? Các Ngài tu Phật đạo nào ?
Những vị đại Bồ Tát này, do sức thần thông
rộng lớn, sức trí huệ cũng lớn, cho nên đại
địa bốn phương đều rúng nứt. Các Ngài đều từ
dưới đất vọt lên, giống như nước vọt lên,
cảnh giới này diệu không thể tả.
Thế Tôn con xưa nay
Chưa từng thấy việc này
Xin nói chỗ họ đến
Tên cõi nước họ ở.
Con thường đi các cõi
Chưa từng thấy chúng này
Con ở trong chúng này
Chẳng quen biết một người.
Ðột nhiên từ đất lên
Xin nói rõ nhân duyên.
Bồ Tát Di Lặc lại xưng một tiếng Ðức Thế
Tôn ! con từ xưa đến nay chưa từng thấy qua
cảnh giới này. Con xin đức Thế Tôn từ bi nói
rõ, những vị đại Bồ Tát từ dưới đất vọt lên,
các Ngài từ đâu đến ? Cõi nước của các Ngài
tu tên là gì ? Bồ Tát Di Lặc lại nói : Tuy
nhiên con thường du hành khắp các cõi nước,
song con chẳng bao giờ thấy những vị đại Bồ
Tát này, ở trong những vị đại Bồ Tát này,
con chẳng quen biết một người nào cả. Các
Ngài đột nhiên từ dưới đất vọt lên, khiến
cho mọi người kinh ngạc, xin đức Thế Tôn vì
đại chúng nói rõ nhân duyên này.
Nay trong đại hội này
Vô lượng trăm ngàn ức.
Các Bồ Tát này thảy
Ðều muốn biết việc này
Nhân duyên và gốc ngọn
Các chúng Bồ Tát đó.
Vô lượng đức Thế
Tôn
Xin nguyện giải chúng nghi.
Hiện tại ở trong đại hội này, có vô lượng trăm
ngàn ức vị Bồ Tát đều muốn biết việc này.
Những vị đại Bồ Tát từ dưới đất vọt lên,
nhân duyên cứu kính như thế nào ? Hy vọng vô
lượng đức Thế Tôn, xin nguyện các Ngài vì
đại chúng mà giải quyết sự nghi vấn này.
Bấy giờ, các phân thân của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni, đến từ vô lượng ngàn vạn ức cõi
nước phương khác, ở dưới các cây báu trong
tám phương, đều ngồi kiết già trên tòa sư
tử. Thị giả của các đức Phật đó, đều thấy
đại chúng Bồ Tát đó, trong ba ngàn đại thiên
thế giới bốn phương, từ dưới đất vọt lên trụ
ở trong hư không. Các vị thị giả đều bạch
với Phật của mình rằng : Ðức Thế Tôn ! Vô
lượng vô biên A tăng kỳ đại chúng Bồ Tát đó,
từ đâu đến đây ?
Lúc ấy, vô số vô lượng phân thân hóa Phật
Thích Ca Mâu Ni, từ vô lượng ngàn vạn ức cõi
nước khác đến, đều ngồi kiết già trên tòa sư
tử dưới các cây báu. Ngồi kiết già là pháp
ngồi tôn quý nhất của Phật Giáo, có thể hàng
ma, có thể nhiếp tâm. Mỗi vị thị giả của
Phật, thấy vô lượng chúng đại Bồ Tát đó, từ
bốn phương ba ngàn đại thiên thế giới, từ
dưới đất vọt lên, trụ ở trong hư không, cảm
thấy rất kỳ lạ, do đó mỗi vị thị giả đều hỏi
với mỗi vị Phật của mình rằng : ‘’Thế Tôn !
Vô lượng vô biên A tăng kỳ chúng đại Bồ Tát
đó, từ nơi nào đến đây ?‘’ Chẳng những Bồ
Tát Di Lặc và đại chúng trong pháp hội khởi
nghi vấn, mà thị giả của Phật, cũng khởi tâm
hoài nghi, cho nên mới hỏi như thế.
Bấy giờ, các đức Phật đều bảo thị giả rằng
: Các thiện nam tử ! Hãy đợi giây lát, có
đại Bồ Tát tên là Di Lặc, được đức Phật
Thích Ca thọ ký sau này sẽ thành Phật, đã
hỏi việc đó. Ðức Phật sẽ trả lời, các ông sẽ
nhờ đó mà được nghe.
Lúc đó, các hóa Phật phân thân của Phật Thích
Ca Mâu Ni, đều bảo thị giả của mình rằng :
‘’Các thiện nam tử !Dừng gấp vội, hãy đợi
một chút nữa, có vị đại Bồ Tát Di Lặc. Ðức
Phật Thích Ca đã thọ ký cho Ngài tương lai
sẽ hạ sinh xuống thành Phật hiệu là Di Lặc.
Ngài cũng đã hỏi Phật về việc này, Phật
Thích Ca sẽ đáp. Các ông sẽ minh bạch về
việc này.’’
Bấy giờ, đức Phật Thích Ca bảo Bồ Tát Di
Lặc : Lành thay ! Lành thay ! A Dật Ða mới
có thể hỏi Phật việc lớn như thế. Các ông
nên cùng một lòng mặc áo giáp tinh tấn, phát
tâm kiên cố, nay Như Lai muốn hiển phát,
diễn nói mở bày trí tuệ của chư Phật, sức
thần thông tự tại của chư Phật, sức sư tử
phấn tấn của chư Phật, sức oai mãnh đại thế
của chư Phật.
Lúc ấy, đức Phật Thích Ca bảo Bồ Tát Di Lặc
nói : ‘’Lành thay (trên khế với ý của Phật)
! Lành thay (dưới hợp với tâm chúng sinh) !
A Dật Ða (Vô Năng Thắng là tên của Bồ Tát Di
Lặc) ! Phật gọi một tiếng A Dật Ða ! Ông có
thể hỏi Phật việc lớn như thế, các ông mọi
người nên cùng đồng một lòng, mặc giáp tinh
tấn, đừng giải đãi tán loạn, phải phát tâm
kiên cố, đừng thối chuyển.’’
Sao lại nói là việc lớn ? Vì đây là pháp môn
khai cận hiển viễn (mở gần hiểu xa). Thời
Hoa Nghiêm chẳng nói về pháp
môn này, thời A Hàm, thời Phương Ðẳng, thời
Bát Nhã, cũng chẳng nói về pháp môn này. Chỉ
duy nhất thời Pháp Hoa, mới nói pháp môn
khai quyền hiển thật (mở bày phương tiện để
hiển lộ chân thật). Ðây là pháp môn vi diệu
không thể nghĩ bàn, cho nên nói là việc lớn.
Ðức Phật Thích Ca lại nói : ‘’Hôm nay Như Lai
muốn hiển phát diễn nói mở bày trí huệ của
chư Phật.’’ Gì là trí huệ của chư Phật, tức
là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Hôm nay Như Lai
muốn hiển phát, diễn nói mở bày sức thần
thông tự tại của chư Phật, sức sư tử phấn
tấn của chư Phật, sức oai mãnh đại thế của
chư Phật. Trí huệ là ngã đức, thần thông là
lạc đức, sư tử phấn tấn là tịnh đức, oai
mãnh đại thế là thường đức. Vì bốn đức Niết
Bàn viên mãn, cho nên ở trong đời quá khứ,
đời hiện tại, đời vị lai, đều có lợi ích đối
với tất cả chúng sinh, cho nên gọi là lực.
Sức thần thông tự
tại là vào nhà từ bi cứu kính, sức sư tử
phấn tấn là ngồi tòa pháp vương cứu kính;
sức oai mãnh đại thế là mặc y nhẫn nhục cứu
kính. Ðây là cảnh giới vào nhà Như Lai, ngồi
tòa Như Lai, mặc y Như Lai.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Hãy một lòng tinh tấn
Ta muốn nói việc đó
Chớ đừng có nghi hối
Trí Phật không nghĩ bàn.
Nay ông sinh đức tin
Trụ ở trong nhẫn nhục
Pháp chỗ xưa chưa nghe
Nay đều sẽ được nghe.
Lúc đó, Phật Thích Ca nói xong trường hàng
rồi, e rằng đại chúng ở trong pháp hội có
chỗ chưa minh bạch, cho nên không ngại nói
lại rõ ràng đạo lý này, bèn dùng kệ để nói
lại.
Ðức Phật Thích Ca
nói : ‘’Ðại chúng ở trong pháp hội và đại
chúng đến từ mười phương ! Các ông mọi người
hãy dũng mãnh tinh tấn, chuyên tâm nhất ý.
Ta sẽ nói việc đó.’’ Việc gì ? Là đại nhân
duyên ta thị hiện ra đời, do đó các ông đại
chúng đừng sinh tâm hoài nghi. Trí huệ của
ta và mười phương chư Phật đều không thể
nghĩ bàn. Hàng phàm phu tục tử không thể
tưởng tượng được trí huệ của Phật. Trí huệ
của Phật chẳng có gì mà không biết, chẳng có
gì mà không rõ. Trí huệ là gì ? Tức là thông
suốt các pháp là trí, đoạn hoặc chứng lý là
huệ; cũng có thể nói thông đạt sự tướng hữu
vi là trí, thông đạt lý không vô vi là huệ.
Bây giờ, các ông phải đem tín tâm và sức lực
ra, trụ ở trong nhẫn nhục Ba la mật, tu hành
việc lành :
‘’Ðừng làm các việc ác,
Hãy làm các việc lành.’’
Diệu pháp của Kinh Pháp Hoa trước kia các ông
chưa nghe qua, chỉ có bây giờ mới được nghe.
Pháp mà ta nói trước kia, đều là pháp môn
thiện xảo phương tiện. Pháp mà hôm nay nói
mới là pháp chân thật. Diệu pháp này: ‘’Có
thể tị hung hóa cát, có thể lìa khổ được
vui.’’
Nay ta an ủi ông
Chớ đừng hoài nghi sợ
Lời Phật nói chẳng sai
Trí huệ không thể lường.
Ðắc được pháp bậc nhất
Thâm sâu không phân biệt
Như vậy nay sẽ nói
Các ông một lòng nghe.
Bây giờ, ta an ủi các ông, đừng sinh tâm hoài
nghi sợ sệt. Pháp của ta nói chân thật không
hư. Bây giờ nói về pháp khai quyền hiển
thật, khai cận hiển viễn. Các ông phải sinh
tín tâm:
‘’Tín là nguồn đạo mẹ công đức,
Nuôi lớn tất cả các pháp lành.’’
Phật nói lời chân thật, chẳng nói lời hư dối.
Trí huệ của Phật không thể nghĩ bàn. Phật
đắc được diệu pháp bậc nhất, như biển cả,
sâu không thể dò. Bây giờ là lúc nên nói,
các ông phải tụ tinh hội thần, chuyên tâm
nhất ý để nghe.
Bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ rồi, bảo Bồ Tát
Di Lặc : Hôm nay ta ở trong chúng này nói
với các ông : A Dật Ða ! Các chúng đại Bồ
Tát đó, vô lượng vô số A tăng kỳ từ dưới đất
vọt lên. Thuở xưa các ông chưa từng thấy, ta
ở tại thế giới Ta Bà này, chứng được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác rồi, bèn giáo
hóa chỉ đạo cho các Bồ Tát đó, điều phục tâm
của họ, khiến cho họ phát đạo tâm. Những vị
Bồ Tát đó, đều ở dưới thế giới Ta Bà này,
trụ ở trong hư không. Nơi các kinh điển, họ
đều đọc tụng thông thuộc, suy gẫm phân biệt,
nghĩ nhớ chân chánh.
Ta ở tại thế giới Ta Bà này, chứng được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác rồi, ta bèn đến
giáo hóa chỉ đạo những vị đại Bồ Tát đó,
điều phục tâm của họ, khiến cho họ chẳng còn
phiền não, chẳng còn vô minh, chẳng còn kiến
tư hoặc, chẳng còn trần sa hoặc, chẳng còn
tập khí, chẳng còn nóng giận, khiến cho họ
đều phát bồ đề tâm, tu Bồ Tát đạo, đó là sở
thành tựu của ta trong quá khứ, họ đều là đệ
tử của ta ở trong quá khứ.
Những vị Bồ Tát đó,
từ dưới đất vọt lên, họ đều ở dưới cõi Ta
Bà, tức cũng là cõi phương dưới, ở trong hư
không cõi nước đó. Cảnh giới này, phàm phu
tục tử chẳng cách chi biết được. Nếu người
đắc được ngũ nhãn lục thông, thì nhìn thấy ở
trong hư không có đủ thứ cung điện, đủ thứ
lầu các, đều dùng bảy báu tạo thành. Mỗi tòa
cung điện, mỗi tòa lầu các, đều trở thành
đạo tràng thuyết pháp của chư Phật, có các
vị đại Bồ Tát ở tại đó nghe pháp, tu hành,
cho nên gọi là pháp giới.
Ðầy khắp hư không
đều là nơi đầy dẫy Phật pháp. Ở dưới cõi Ta
Bà cách mười sáu vạn tám ngàn do tuần, là
nơi chốn trụ xứ của các vị đại Bồ Tát đó ở.
Ðối với tất cả kinh điển, họ đều đọc tụng
thông thuộc, chẳng có gì chướng ngại, dù một
câu một chữ, cũng không thiếu sót được, hoặc
quên mất, còn có thể suy gẫm và phân biệt
diệu nghĩa của kinh văn.
A Dật Ða ! Hết thảy các vị thiện nam tử đó,
chẳng ưa thích ở nơi chúng nói nhiều, thường
thích ở chỗ yên tĩnh, siêng hành tinh tấn,
chưa từng nghỉ ngơi, cũng chẳng ở tại nhân
gian, cũng chẳng ở trên trời, thường thích
trí huệ thâm sâu, chẳng có chướng ngại, cũng
thường ưa thích pháp của chư Phật, một lòng
tinh tấn cầu trí huệ vô thượng.
Ðức Phật Thích Ca lại gọi một tiếng A Dật Ða !
Những vị thiện nam tử đó thảy, họ chẳng hoan
hỷ ở trong chúng (tam giới). Có năm ấm tức
là ở tại chúng. Bồ Tát chiếu thấy năm uẩn
đều không, tức là chẳng thích ở tại chúng.
Tuy nhiên họ vượt ra ngoài tam giới, thấu rõ
các pháp, song vẫn nói nhiều. Họ thích ở chỗ
thanh tịnh, tức cũng là đệ nhất nghĩa đế. Họ
đối với pháp đệ nhất nghĩa đế không nói
không lời, rất siêng hành tinh tấn, thời
khắc đều tu hành, một chút cũng chẳng giải
đãi. Họ nghiên cứu Phật pháp, tu trì Phật
pháp, chẳng khi nào nghỉ ngơi ; ‘’Vì pháp
quên mình,’’ vì Phật pháp mà quên hết tất
cả, đó mới là bản sắc học Phật pháp.
Họ cũng chẳng ở tại
nhân gian, cũng chẳng ở trên trời, mà ở
trong hư không. Họ thích trí huệ thâm sâu,
chẳng có gì chướng ngại, cũng luôn luôn
thích tu hành pháp của chư Phật nói, đối với
Phật pháp một lòng tinh tấn, chẳng có hai
niệm, chuyên tâm cầu trí huệ vô thượng của
Phật.
Tại sao chúng ta
gặp sự việc thì nhìn chẳng thấu, buông chẳng
đặng ? Vì có sự chướng ngại. Chướng ngại có
phiền não chướng và sở tri chướng.
Phiền não chướng là gì ? Chấp trước năm uẩn là
ta, do vọng kiến ngã chấp này, dẫn đến sinh
ra tất cả phiền não, hay chướng ngại chứng
Niết Bàn.
Sở tri chướng là gì ? Chấp trước vào năm uẩn
là thật có, sự vọng kiến chấp pháp này, hay
che đậy chướng ngại sự hiểu biết, khiến cho
con người chẳng biết, làm chướng ngại chứng
bồ đề.
Lại có bốn thứ
chướng :
1). Hoặc chướng : Tham dục, sân hận, ngu si,
đó là tư hoặc.
2). Nghiệp chướng : Nghiệp ác tạo ra bởi thân
khẩu ý.
3). Báo chướng : Khổ báo, điạ ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, ba đường ác.
4). Kiến chướng : Các tà tri tà kiến chướng
ngại chánh đạo.
Sáu thứ chướng ở trên, thì sở tri chướng là
lợi hại nhất. Nếu không biết thì chẳng có
chướng ngại; nếu biết nhiều thì ngược lại
sinh ra chướng ngại, sinh ra tư tưởng cống
cao ngã mạn. Giống như trước kia chưa học
Phật pháp, thì chẳng có chướng ngại, sau khi
học Phật pháp được mấy năm, thì cảm thấy
rằng mình hiểu nhiều hơn bất cứ ai, đó là bị
sự hiểu biết làm chướng ngại. Mục đích học
Phật pháp là học vô chướng ngại, song ngược
lại học ra sự chướng ngại. Có chướng ngại
thì không thể chứng nhập bồ đề chánh đạo. Vì
tự tánh chân như bị che đậy. Người có đại
trí huệ thì chẳng có chướng ngại gì cả. Bất
cứ như thế nào cũng đều hoan hỷ.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Lúc đó, đức Phật từ bi, sợ đại chúng chẳng
minh bạch đạo lý này, cho nên dùng kệ để
thuật lại.
A Dật Ða nên biết !
Các đại Bồ Tát đó
Từ số kiếp đến nay
Tu tập trí của Phật.
Ðều do ta giáo hóa
Khiến phát đại đạo tâm
Họ đều là con ta
Nương trụ thế giới đó.
Thường tu hạnh đầu đà
Ý thích nơi chỗ vắng
Bỏ đại chúng ồn náo
Chẳng ưa thích nói nhiều.
Ðức Phật thuật lại nghĩa lý kinh trường hàng ở
trên, gọi một tiếng A Dật Ða ! Các ông nên
biết, các đại Bồ Tát từ dưới đất vọt lên, họ
từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp,
đều tu học trí huệ của Phật, dũng mãnh tinh
tấn, chẳng khi nào giải đãi.
Các đại Bồ Tát đó,
từ ban đầu phát tâm cho đến bây giờ thành
đại Bồ Tát, đều do ta giáo hóa, khiến cho họ
phát tâm tu Phật đạo vô thượng. Ðó đều là
những đệ tử thuở xưa ta giáo hóa, hiện tại
họ nương trụ trong hư không, ở dưới cõi Ta
Bà. Hiện tại từ dưới đất vọt lên, đến pháp
hội làm ảnh hưởng chúng, ảnh hưởng đại chúng
phát bồ đề tâm, tức cũng là trên cầu Phật
đạo, dưới độ chúng sinh.
Những vị đại Bồ Tát đó, đều tu hạnh đầu đà,
tức là tu khổ hạnh. Chí nguyện của họ thích
nơi vắng lặng, xa lìa đại chúng ồn náo, tức
cũng là xả bỏ phiền não. Tóm lại, đều bỏ lìa
phiền não kiến tư (thấy nghĩ), phiền não
trần sa, phiền não vô minh, họ chẳng thích
nói nhiều, giữ sự yên lặng.
Hạnh đầu đà có quy
định mười hai hạnh :
1). Y phấn tảo : Lượm vải cũ rách mà người ta
bỏ ở đống rác, giặt sạch rồi may thành y.
2). Chỉ có ba y : Tức là tổ y (25 điều), y bảy
điều, y năm điều. Ngoài ba y này ra, chẳng
dùng y nào khác nữa. Hai điều trên là quy
định thuộc về y phục.
3). Thường đi khất thực : Không nhận người
khác thỉnh mời, chẳng ăn đồ vật của Tăng
đoàn. Ôm bát đi khất thực, khiến cho chúng
sinh gieo trồng vào ruộng phước.
4). Khất thực có thứ tự : Theo thứ tự từng nhà
mà khất thực, chẳng lựa giàu nghèo, giới hạn
là bảy nhà, chẳng khất thực nhiều hơn nữa.
5). Ngày ăn một bữa : Mỗi ngày chỉ dùng một
bữa, quá giờ ngọ không ăn.
6). Ăn uống có tiết lượng : Chỉ ăn một bát
cơm, chẳng ăn quá no. Ăn ít thì dục niệm ít,
duy trì được sinh mạng là được.
7). Quá ngọ không uống nước có chất bổ : Tuyệt
đối không uống sữa bò và mật đường
.v.v...tức là nước trái cây và cà phê cũng
cấm luôn. Năm thứ ở trên là thuộc về sự ăn
uống.
8). Ở chỗ A lan nhã : Tức là ở trong thâm sơn
cùng cốc, xa lìa sự náo nhiệt, khiến cho
thân tâm thanh tịnh, an tâm mà tu đạo.
9). Ở nghĩa địa : Ở ngoài nghĩa địa, tu quán
xương trắng, xa lìa năm dục, chẳng sinh tâm
tham dục.
10). Ở dưới gốc cây : Ðêm ngủ ở dưới gốc cây,
song chẳng quá ba đêm, quá ba đêm thì dọn đi
đến nơi khác, để tránh sanh tâm phan duyên.
11). Ở ngoài trời : Ở dưới gốc cây còn có sự
che đậy. Nay vì trừ khử tâm tham nên ở ngoài
trời.
12). Thường ngồi không nằm : Bất cứ ở đâu cũng
đều ngồi thiền tư thế kiết già, lưng không
đụng chiếu. Năm điều ở trên là thuộc về chỗ
ở.
Người tu khổ hạnh
thì giữ gìn mười hai điều quy định này, bằng
không thì sẽ sinh tâm tham đối với ăn mặc và
chỗ ở, sẽ chướng ngại sự tu đạo. Song, pháp
chẳng nhất định, trước hết phải giữ điều nào
trong mười hai điều để tu hành, song phải
triệt để, có trước có sau, từ từ tập quán sẽ
thành tự nhiên, sẽ hoàn thành quy tắc hạnh
đầu đà.
Các con như vậy thảy
Tu học đạo pháp ta
Ngày đêm thường tinh tấn
Chỉ vì cầu Phật đạo.
Trụ ở trong hư không
Phương dưới cõi Ta Bà
Sức chí niệm kiên cố
Thường siêng cầu trí huệ.
Nói đủ thứ diệu pháp
Tâm họ chẳng sợ sệt.
Những vị đệ tử này, y giáo phụng hành tu học
Phật đạo và Phật pháp do ta giáo hóa. Họ chỉ
vì cầu Phật đạo, cho nên ngày đêm sáu thời
dũng mãnh dụng công, chẳng giải đãi.
Chúng sinh đều có
xí đồ cầu tài sắc danh thực thùy năm dục.
Cầu chẳng được thì sinh phiền não, nên dùng
ngũ đình tâm quán để khống chế. Ðối với
chúng sinh nhiều tham, thì khiến cho họ tu
quán bất tịnh. Quán sát thân này là túi da
hôi thối, chín lỗ thường bài tiết đồ bất
tịnh, chẳng có chỗ nào thanh tịnh. Ðối với
chúng sinh nhiều sân hận, thì dạy họ tu quán
từ bi. Người có tâm từ bi thì đối với bất cứ
ai cũng chẳng nóng giận. Xem tất cả chúng
sinh như con cái, quán như thế thì sẽ sinh
tâm từ bi. Ðối với chúng sinh nhiều si mê,
thì dạy họ tu quán nhân duyên. Quán mười hai
nhân duyên thì sẽ ngộ lý sinh tử lưu chuyển.
Ðối với chúng sinh nhiều chướng, thì dạy họ
tu quán niệm Phật, đừng tu pháp môn quán
không, quán giả, quán trung, chỉ cần niệm
danh hiệu ‘’Nam Mô A Di Ðà Phật‘’ thì có thể
sẽ vãng sinh thế giới Cực Lạc. Ðối với chúng
sinh tán loan, thì dạy họ tu quán sổ tức,
đếm hơi thở, lâu dần thì sẽ khống chế được
vọng tưởng tâm viên ý mã, hết tâm tán loạn.
Ðây là quá trình người tu đạo phải tu trì.
Các vị đại Bồ Tát đó, trụ ở phương dưới của
cõi Ta Bà, trụ ở trong hư không. Sức chí
niệm của họ rất kiên cố, tuyệt đối chẳng
thối chuyển. Tinh thần tập trung, mặc giáp
tinh tấn, cầm kiếm trí huệ, dũng mãnh hướng
về trước. Luôn siêng cầu trí huệ của Phật,
nói đủ thứ các diệu pháp không thể nghĩ bàn.
Họ thường hiện sư tử hống, khi nói pháp thì
tâm chẳng sợ hãi.
Ta ở thành Già Gia
Ngồi dưới cội bồ đề
Ðắc được tối chánh giác
Chuyển pháp luân vô thượng.
Giáo hóa các Bồ Tát
Khiến họ sơ phát tâm
Nay đều trụ bất thối
Ðều sẽ được thành Phật.
Nay ta nói lời thật
Các ông một lòng tin
Ta từ lâu đến nay
Giáo hóa đại chúng đó.
Ðức Phật Thích Ca nói : ‘’Ta ở nước Ma Kiệt Ðề
ngoài thành Già Gia, bên bờ sông Ni Liên,
ngồi dưới cội bồ đề, khi bắt đầu thì ta phát
nguyện : "Nếu ta không khai ngộ, thì vĩnh
viễn chẳng đứng dậy khỏi chỗ này". Ngồi đến
đêm thứ bốn mươi chín, thì thấy sao mai mọc
ở hướng đông mà ngộ đạo, chứng được quả vị
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, tức cũng là
thành tựu Phật đạo.’’
Ðức Phật thấy ngôi
sao mai mọc mà ngộ đạo, bèn nói rằng :
‘’Lành thay ! Lành thay ! Lành Thay ! Hết
thảy chúng sinh đều có trí huệ đức tướng của
Như Lai, song vì vọng tưởng chấp trước nên
không thể chứng đắc.’’ Tại sao chúng ta
chẳng thành Phật ? Vì có vọng tưởng. Tại sao
chúng ta chẳng thành Phật ? Vì có sự chấp
trước. Vọng tưởng chấp trước này, che đậy
chúng sinh làm cho chẳng đặng thành Phật.
Làm thế nào mà Ðức Phật được thành Phật ? Vì
Ngài buông xả vọng tưởng chấp trước. Ngài
vốn là Thái tử, ở trong cung hưởng thụ vinh
hoa phú quý, tương lai sẽ làm chuyển luân
thánh vương, thống trị bốn thiên hạ, song
Ngài bỏ ngôi vua, mà còn bỏ vợ đẹp con xinh.
Ngài cảm thấy sinh già bệnh chết quá khổ,
cho nên xuất gia tu đạo, tìm cầu pháp chấm
dứt sinh tử.
Sau khi Phật chứng
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi,
trong thời gian hai mươi mốt ngày ở trong
định, Ngài vì pháp thân Ðại sĩ mà nói bộ
Kinh
Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng
Phật. Ðáng tiếc, hàng tiểu thừa căn lành
chẳng đủ, chẳng minh bạch đạo lý nhất chân
pháp giới, do đó : ‘’Có mắt chẳng thấy Lô Xá
Na, có tai chẳng nghe giáo viên đốn.’’ Phật
vì lòng từ bi đến vườn Lộc Uyển, vì năm vị
Tỳ Kheo nói pháp tứ diệu đế, về sau lại nói
pháp mười hai nhân duyên, sau đó nói pháp
lục độ vạn hạnh.
Ban đầu nói Kinh
Hoa Nghiêm, song một số người
chẳng tiếp thọ được. Phật lại nói Kinh A
Hàm, rồi nói Kinh Phương Ðẳng, rồi nói Kinh
Bát Nhã, cuối cùng nói Kinh Pháp Hoa. Kinh
Pháp Hoa là bổn hoài của Phật, vốn muốn bắt
đầu nói Kinh Pháp Hoa, nhưng vì quán sát căn
cơ của chúng sinh chưa được chín mùi, cho
nên trước hết nói về quyền giáo (pháp phương
tiện), sau đó nói pháp thật giáo. Hiện tại
căn cơ đã thành thục cho nên nói diệu pháp
vô thượng.
Ðương lúc đó, ta giáo hóa vô lượng vị đại Bồ
Tát này, khiến cho họ sơ phát bồ đề đạo tâm.
Bây giờ, họ đều trụ ở vị bất thối, hạnh bất
thối, niệm bất thối, họ hoàn toàn sẽ chứng
được quả vị Phật.
Trước kia, ta nói
pháp phương tiện. Bây giờ ta nói pháp chân
thật. Các ông đại chúng nên chuyên tâm nhất
chí để tin nhận pháp của ta nói. Trong vô
lượng kiếp về trước ta đã thành Phật đạo, do
đó :
‘’Chẳng sinh mà thị hiện sinh,
Chẳng diệt mà thị hiện diệt.’’
Vốn chẳng sinh mà thị hiện sinh ra, vốn chẳng
diệt mà thị hiện diệt độ. Trong Kinh Phạm
Võng có nói : ‘’Ta đến thế giới Ta Bà đã tám
nghìn lần.’’ Những vị Bồ Tát này, đầy khắp
ba ngàn đại thiên thế giới, đều do ta giáo
hóa khi ta thành Phật trong quá khứ.
A Dật Ða ! Ông hỏi những vị Bồ Tát này từ dưới
đất vọt lên, họ phát tâm với vị Phật nào ?
Ai giáo hóa họ ? Họ tu trì pháp gì ? Họ đọc
tụng kinh gì ? Họ tu pháp môn Pháp Hoa, họ
tụng Kinh Pháp Hoa, họ đến hộ trì Kinh Pháp
Hoa, họ đến cúng dường Kinh Pháp Hoa.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Di Lặc và vô số các vị
Bồ Tát khác, đều sinh tâm nghi hoặc, lạ chưa
từng có, bèn nghĩ như vầy : Sao đức Thế Tôn
ở trong thời gian ngắn, mà có thể giáo hóa
vô lượng vô biên A tăng kỳ các đại Bồ Tát
như thế, khiến cho họ trụ Vô thượng chánh
đẳng chánh giác ? Bèn bạch đức Phật rằng :
Lúc đó, đại Bồ Tát Di Lặc và vô số vô lượng
các Bồ Tát, thảy đều sinh tâm nghi hoặc, tại
sao lại có việc như thế ? Vì việc này rất là
kỳ lạ, chưa từng thấy qua việc như vầy. Các
Ngài đều nghĩ rằng : ‘’Sao lại có chuyện như
vậy ? Ðức Thế Tôn trẻ như thế, còn các vị Bồ
Tát từ dưới đất vọt lên đều già nua, sao có
thể ở trong thời gian ngắn mà giáo hóa nhiều
vị Bồ Tát như thế, khiến cho họ đều trụ quả
vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác.’’ Ðây là
nghe việc lạ chưa từng nghe, do đó mới hướng
về đức Phật xin khai thị, bèn bạch Phật nói.
Ðức Thế Tôn ! Khi Như Lai làm thái tử, ra
khỏi cung dòng họ Thích, cách thành Già Gia
chẳng bao xa, ngồi nơi Ðạo tràng, đắc được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, từ đó đến
nay mới hơn bốn mươi năm.
Di Lặc Bồ Tát hỏi Ðức Phật : Ðức Thế Tôn ! Như
Lai trước kia làm thái tử, vì cầu đạo giải
thoát mới ra khỏi hoàng cung, đến thành Già
Gia chẳng bao xa, ngồi dưới cội bồ đề, chứng
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Từ khi
Ngài thành Phật đến nay, bất quá chỉ hơn bốn
mươi năm mà thôi.
Ðức Phật mười chín tuổi xuất gia tu đạo. Sáu
năm đầu tiên đi khắp nơi tìm thiện tri thức
(ngoại đạo đương thời), chẳng được pháp giải
thoát sinh tử. Ðến núi Tuyết tu khổ hạnh sáu
năm, tự tìm pháp giải thoát, mỗi ngày chỉ ăn
một hạt mè để duy trì mạng sống. Lúc đó,
cùng tu với Ngài có năm người, bà con phía
mẹ của Ngài hai người, bà con bên phía cha
của Ngài ba người. Trong đó, có ba người
chịu không nổi sự tu khổ hạnh, mới bỏ Ðức
Phật ra đi, đến vườn Lộc Uyển tu hành. Vườn
này là Thánh địa của ngoại đạo tu hành đương
thời. Còn lại hai người phát tâm cùng tu khổ
hạnh với thái tử ở tại núi Tuyết, cho rằng
tu hành thì phải chịu khổ, do đó :
‘’Thọ khổ thì hết khổ,
Hưởng phước thì hết phước.’’
Ôm chặt lấy tông chỉ, chẳng nghĩ gì khác.
Chuyên tâm nhất chí để cầu giải thoát. Giải
hoặc nghiệp trói buộc, thoát quả khổ ba cõi.
Sáu năm sau, thân thể của Phật gầy như cây
củi. Một ngày nọ, thiên nữ dâng cúng bát
sữa, Ðức Phật thọ cúng dường. Hai vị đồng tu
này bèn sinh tâm nghi, cho rằng Ðức Phật đã
sinh tâm thối chuyển, do đó hai người cũng
bỏ Phật ra đi đến vườn Lộc Uyển.
Lúc đó, sau khi Ðức
Phật uống bát sữa xong, thì thân thể khôi
phục khoẻ mạnh, mới xuống giòng sông Ni Liên
tắm rửa. Sau đó, đến dưới gốc cây bồ đề tĩnh
tọa bốn mươi chín ngày. Vào ngày mồng tám
tháng mười hai, khi sao mai vừa mọc, thì
Ngài ngộ đạo, lúc đó Phật vừa đúng ba mươi
tuổi.
Sau khi Phật thành
đạo, Ngài bèn quán sát nhân duyên, trước hết
đến vườn Lộc Uyển độ năm người cùng tu, tức
là năm
anh em Kiều Trần Như. Ngài
nói pháp tứ diệu đế, sau khi nghe xong họ
lập tức chứng quả A
La Hán. Có bài thơ rằng :
‘’Thập cửu du thành lục khổ hạnh,
Ngũ tuế du lịch tam thập thành,
Thuyết pháp độ sinh ngũ thập tuế,
Thị bát cộng thọ bát thập niên.’’
Nghĩa là :
Mười chín tuổi xuất gia sáu năm khổ hạnh,
Năm năm tầm đạo ba mươi tuổi thành đạo,
Năm mươi năm thuyết pháp độ sinh,
Cả thảy công lại tám mươi năm.
Ðức Thế Tôn ! Sao trong thời gian ngắn mà
làm đại Phật sự, dùng thế lực của Phật, dùng
công đức của Phật, để giáo hóa vô lượng đại
Bồ Tát như thế, sẽ thành Vô thượng chánh
đẳng chánh giác ?
Bồ Tát Di Lặc lại gọi một tiếng Ðức Thế Tôn !
Ngài thành Phật đến bây giờ, bất quá chỉ hơn
bốn mươi năm, trong thời gian ngắn sao có
thể làm đại Phật sự ? Ðộ rất nhiều Bồ Tát
như thế ? Nhờ thế lực của Phật, nhờ công đức
của Phật, mà giáo hóa đại Bồ Tát như thế, họ
đều sẽ thành Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Ðó là đại giáo khai cận hiển viễn (chỉ
gần để hiển xa). Ðạo lý này chẳng phải là
cảnh giới của phàm phu thấu hiểu được.
Ðức Phật nói pháp
khoảng năm mươi năm, có bài kệ nói rằng :
‘’Hoa
Nghiêm tối sơ tam thất
nhật,
A Hàm thập nhị Phương Ðẳng bát,
Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm,
Pháp Hoa, Niết Bàn cộng bát niên.’’
Nghĩa là:
Trước nói
Hoa Nghiêm hăm mốt ngày
A Hàm mười hai Phương Ðẳng tám
Hai mươi hai năm nói Bát Nhã
Pháp
Hoa Niết Bàn chỉ tám năm.
Ban đầu khi Phật chứng quả dưới cội bồ đề,
trong hai mươi mốt ngày, nói bộ Kinh
Hoa Nghiêm. Khi Phật ba mươi
mốt tuổi, thì nói Kinh A Hàm khoảng mười hai
năm. Bốn mươi ba tuổi thì bắt đầu nói Kinh
Phương Ðẳng, trong vòng tám năm. Khi Phật
năm mươi mốt tuổi, thì bắt đầu nói Kinh Bát
Nhã khoảng hai mươi hai năm. Lúc Phật bảy
mươi hai tuổi, thì bắt đầu nói Kinh Pháp
Hoa. Lúc Phật tám mươi tuổi vào ngày rằm
tháng hai, trong một ngày một đêm nói bộ
Kinh Ðại Bát Niết Bàn.
Ðức Thế Tôn ! Chúng đại Bồ Tát đó, nếu như
có người ở trong ngàn vạn ức kiếp tính đếm,
cũng chẳng hết được, chẳng biết được bờ mé.
Những vị Bồ Tát đó, từ lâu xa đến nay, ở
trong vô lượng vô biên chỗ chư Phật, gieo
trồng các căn lành, thành tựu đạo bồ đề,
thường tu phạm hạnh.
Bồ Tát Di Lặc lại gọi một tiếng Ðức Thế Tôn !
Nếu như có người ở trong ngàn vạn ức kiếp,
tính đếm số Bồ Tát từ dưới đất vọt lên, cũng
chẳng biết được cứu kính có bao nhiêu vị Bồ
Tát. Những vị đại Bồ Tát đó, từ lâu xa đến
nay, ở chỗ vô lượng vô biên các Ðức Phật,
gieo trồng rất nhiều căn lành, cho nên thành
tựu Bồ Tát đạo. Các vị đó thường tu phạm
hạnh, tức cũng là thanh tịnh hạnh.
Ðức Thế Tôn ! Việc như thế, người thế gian
khó tin. Ví như có người sắc đẹp tóc đen,
mới hai mươi lăm tuổi, mà chỉ người trăm
tuổi, nói đó là con ta, người trăm tuổi cũng
chỉ người trẻ tuổi đó, nói là cha ta, sinh
đẻ nuôi dưỡng chúng ta, việc đó khó tin.
Ðại Bồ Tát lại gọi một tiếng Ðức Thế Tôn !
Việc như thế, người thế gian không thể tin
được. Ví như người mặt mũi xinh đẹp tóc đen,
tuổi khoảng hai mươi lăm, chỉ người già trăm
tuổi nói : Người này là con của ta sinh ra.
Người già trăm tuổi đó nhận là sự thật, bèn
chỉ người trẻ đó nói : Người này là cha sinh
ra ta, việc như thế làm sao khiến cho người
tin ? Thật là khó tin.
Ðức Phật cũng như thế, từ khi đắc đạo đến
nay chưa được bao lâu, mà các đại chúng Bồ
Tát đó, đã ở trong vô lượng ngàn vạn ức
kiếp, vì Phật đạo mà siêng tu hành tinh tấn,
khéo nhập, xuất, trụ, ở trong vô lượng trăm
ngàn vạn ức tam muội, được đại thần thông,
từ lâu tu phạm hạnh, khéo tu tập các pháp
lành theo thứ tự, khéo về vấn đáp, là báu
trong loài người, tất cả thế gian rất là ít
có.
Ðức Phật cũng như thế, giống như người thanh
niên chỉ người già. Từ khi Phật thành đạo
đến nay, chưa quá hơn bốn mươi năm, những vị
đại Bồ Tát đó, đã ở trong vô lượng ngàn vạn
ức kiếp về trước, vì cầu Phật đạo mà siêng
tu hành dũng mãnh tinh tấn, thân cũng tinh
tấn, tâm cũng tinh tấn, chẳng giải đãi. Các
Ngài khéo nhập định, khéo xuất định, khéo
trụ định. Có thể nhập chín thứ lớp định, tức
bốn thiền định, bốn không định và diệt thọ
tưởng định. Có thể xuất sư tử phấn tấn tam
muội, có thể trụ siêu việt tam muội. Ðó là
nói theo giáo lý của tạng giáo và thông
giáo. Nếu nói theo giáo lý của biệt giáo,
thì từ sơ địa đến thập địa gọi là khéo nhập.
Từ thập địa trở lại bằng con thuyền từ bi,
nhập vào tu việc của hàng phàm phu thì đây
gọi là khéo xuất. Từ diệu giác viên mãn thì
gọi là khéo trụ. Nếu nói theo giáo lý viên
giáo thì nhập pháp tánh tam muội gọi là khéo
xuất. Vô duyên tam muội gọi là khéo trụ. Ðó
là chiếu theo tạng, thông, biệt, viên, bốn
giáo mà nói về tam muội. Kỳ thật, tam muội
có rất nhiều hàng trăm, nghìn, vạn, ức.
Những vị đại Bồ Tát
này, đều đắc được đại thần thông, nhậm vận
tự tại. Thần thông có lớn nhỏ khác nhau. Ðại
thần thông là thần thông của Bồ Tát, tiểu
thần thông là thần thông của A
La Hán, chỉ có mười tám thứ
biến hóa. Trên thân ra lửa, dưới thân ra
nước, hoặc trên thân ra nước, dưới thân ra
lửa, hoặc vào đất như vào nước, vào nước như
vào đất, có thể đi đứng nằm ngồi ở trong hư
không biến hóa mà thôi.
Những vị đại Bồ Tát này, từ lâu xa về trước tu
hành pháp môn thanh tịnh hạnh, khéo tu tất
cả pháp lành từ cạn vào sâu. Lại khéo léo
trả lời những vấn đề. Ðó là Bồ Tát ở trong
người tôn quý nhất, rất ít có ở trong tất cả
thế gian.
Hôm nay, đức Thế Tôn mới nói, khi đắc được
Phật đạo, thì đầu tiên khiến cho các Bồ Tát
đó phát tâm, giáo hóa chỉ bày, khiến cho họ
hướng về Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Hiện tại Ðức Thế Tôn mới nói, khi chứng được
Phật đạo, thì trước hết khiến cho những vị
Bồ Tát đó phát bồ đề tâm, giáo hóa chỉ bày
dẫn đạo, khiến cho họ đều hướng về Vô thượng
chánh đẳng chánh giác bồ đề đại đạo.
Ðức Thế Tôn thành Phật chưa bao lâu, mà có
thể làm được việc công đức lớn. Tuy chúng
con tin đức Phật tùy nghi nói pháp, những
lời Phật nói ra chưa từng hư vọng. Những gì
Phật biết thảy đều thông đạt, nhưng những vị
mới phát tâm Bồ Tát, sau khi Phật diệt độ,
nếu họ nghe lời này thì họ chẳng tin nhận,
mà khởi tâm hủy báng pháp tạo tội nghiệp.
Ðức Thế Tôn ! Ngài thành Phật chưa được bao
lâu mà có thể làm được việc công đức lớn đó.
Chúng con mọi người tuy nhiên tin pháp của
Phật nói, là tùy thuận tâm của chúng sinh mà
nói tất cả các pháp. Do đó :
‘’Phật nói tất cả pháp
Vì độ tất cả tâm
Nếu chẳng có tất cả tâm
Ðâu dùng tất cả pháp.’’
Lời của Phật nói ra chẳng bao giờ hư vọng.
Những gì Phật biết, những gì Phật giác ngộ,
đều thông đạt vô ngại. Song chúng con e
rằng, tương lai hàng Bồ Tát mới phát tâm,
sau khi Phật diệt độ, nếu họ nghe đạo lý này
thì họ sẽ chẳng tin. Tại sao ? Vì Bồ Tát mới
phát tâm cho rằng, Ðức Phật tuổi trẻ không
thể độ được Bồ Tát tuổi già. Họ sẽ không tin
việc này, bèn sinh tâm hủy báng pháp, tạo
tội nghiệp, tương lai sẽ đọa vào ba đường
ác, do đó : ‘’Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ
báo.’’
Tuy vậy, xin đức Thế Tôn hãy giải thích
nói, để trừ nghi hoặc của chúng con, và các
thiện nam tử ở đời vị lai, nghe việc này
rồi, cũng không còn nghi hoặc nữa.
Bởi nhân duyên đó, chúng con đại chúng thỉnh
cầu Ðức Thế Tôn, xin hãy giải thích nói, để
giải trừ sự nghi hoặc của đại chúng trong
pháp hội. Chẳng những giải trừ sự nghi hoặc
của chúng con đại chúng, mà cũng giải trừ sự
nghi hoặc của thiện nam tín nữ ở đời vị lai.
Họ nghe được việc này rồi, thì họ không còn
sinh tâm nghi hoặc nữa.
Bấy giờ, Bồ Tát Di Lặc muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Lúc đó, Bồ Tát Di Lặc muốn tường thuật lại đạo
lý này, bèn dùng kệ để nói lại.
Xưa Phật từ dòng thích
Xuất gia gần Già Gia
Ngồi dưới cội bồ đề
Ðến nay chẳng bao lâu.
Các Phật tử đó thảy
Số đông không thể lường
Lâu đã tu Phật đạo
Trụ nơi sức thần thông.
Khéo học Bồ Tát đạo
Chẳng nhiễm pháp thế gian
Như hoa sen trong nước
Từ dưới đất mọc lên.
Bồ Tát Di Lặc nói : Ðức Phật Thích Ca sinh ra
từ dòng dõi Thích Ca, sau đó xuất gia, ngồi
dưới cội bồ đề gần thành Già Gia. Ban đêm
thấy sao mai mọc mà ngộ đạo thành Phật. Từ
khi Ðức Thế Tôn thành Phật đến nay, thời
gian rất ngắn, không quá hơn bốn mươi năm.
Vô lượng vị Bồ Tát
đó, từ dưới đất vọt lên, đều là con của
Phật, số đông vô lượng, không thể nào dò
lường được. Dù trí huệ của Bồ Tát, cũng
chẳng cách chi thấu triệt được cứu kính có
bao nhiêu ? Các Ngài từ thuở xa xưa đã tu
hành Phật đạo, cho nên có đại thần thông,
biến hóa vô cùng.
Các vị Bồ Tát đó,
khéo tu tập lục độ vạn hạnh Bồ Tát đạo,
chẳng ô nhiễm pháp thế gian. Các vị đó tu
pháp thanh tịnh xuất thế, giống như hoa sen
ở dưới nước thanh tịnh, ra khỏi bùn mà chẳng
nhiễm. Hiện tại, các vị Bồ Tát từ dưới đất
vọt lên, đến pháp hội Linh Sơn, nghe Phật
diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đây là cơ
hội ngàn vạn ức kiếp khó gặp được.
Ðều khởi tâm cung kính
Trụ ở trước Thế
Tôn
Việc đó khó nghĩ bàn
Làm sao khiến người tin ?
Phật đắc đạo gần đây
Mà thành tựu rất nhiều
Xin vì trừ chúng nghi
Như thật phân biệt nói.
Các vị Bồ Tát từ dưới đất vọt lên, thảy đều
sinh tâm cung kính đối với Phật, trụ ở trước
Phật. Việc này thật là không thể nghĩ bàn,
làm sao có thể khiến cho người tin ?
Vì sao khiến cho người không tin ? Vì thời
gian Phật đắc được đạo rất gần đây, mà thành
tựu lại nhiều như thế, giáo hóa vô lượng vô
biên chúng Bồ Tát. Hy vọng Ðức Thế Tôn từ
bi, vì chúng con đại chúng giải thích nói để
trừ tâm nghi hoặc của đại chúng. Khẩn cầu
Ðức Thế Tôn thật thà phân biệt nói rõ cho
chúng con biết.
Ví như người thiếu niên
Tuổi mới hai mươi lăm
Chỉ người già là con
Tóc bạc và mặt nhăn.
Nói họ là ta sinh
Con cũng nói người đó
Chính là cha của ta
Cha trẻ mà con già
Khiến đời không thể tin.
Ví như người thiếu niên, mới khoảng hai mươi
lăm tuổi, song lại chỉ người trăm tuổi nói
họ là con. Người già đó, tóc thì bạc mặt thì
nhăn nhó.
Người thiếu niên đó nói : Người già này là
con, do ta sinh ra; người già đó cũng nói :
Người thiếu niên này là cha đẻ của ta. Việc
cha trẻ mà con già, khiến cho tất cả mọi
người thế gian không thể tin được.
Thế Tôn cũng như thế
Ðắc đạo chẳng bao lâu
Các Bồ Tát đó thảy
Chí bền chẳng suy nhược.
Vô lượng kiếp đến nay
Luôn hành Bồ Tát đạo
Khéo về nạn vấn đáp
Tâm họ chẳng sợ hãi.
Ðức Thế Tôn cũng như thế, từ khi thành Phật
đến nay, thời gian chẳng bao lâu, mà có thể
giáo hóa Bồ Tát, chí hướng rất vững bền như
kim cang, phát thệ nguyện rất rộng lớn như
biển cả. Tâm các vị đó chẳng có chút sợ hãi,
ý chẳng suy nhược.
Các vị Bồ Tát đó từ
vô lượng kiếp đến nay, phát tâm Bồ Tát, hành
Bồ Tát đạo, khéo về giải đáp vấn nạn, biện
tài vô ngại. Tâm của các vị đó chẳng sợ hãi,
chẳng thọ uy hiếp, đều thành tựu bốn vô sở
uý, đó là :
1). Tổng trì vô úy.
2). Tri căn vô úy.
3). Quyết nghi vô úy.
4). Ðáp nạn vô úy.
Tâm nhẫn nhục quyết định
Ðoan chánh có uy đức
Ðược mười phương Phật khen
Khéo hay phân biệt nói.
Chẳng thích ở trong chúng
Thường thích nhập thiền định
Do vì cầu Phật đạo
Trụ hư không phương dưới.
Các Ngài dùng tâm nhẫn nhục để quyết định,
dung mạo của các Ngài rất đoan chánh, đầy đủ
ba mươi hai tướng. Uy đức của các Ngài rất
trang nghiêm, khiến cho người cung kính.
Mười phương chư Phật cũng khen ngợi công đức
của các Ngài. Các Ngài khéo phân biệt nói
tất cả Phật pháp.
Các vị học Phật pháp, phải dùng Phật pháp mới
đắc được lợi ích của pháp. Nếu không, khi
cảnh giới đến khảo nghiệm thì hồ đồ. Nếu
không nhận thức được cảnh giới, thì sẽ bị
cảnh giới chuyển. Do đó có câu :
‘’Tất cả là khảo nghiệm,
Xem bạn làm thế nào ?
Trước mắt chẳng nhận ra,
Phải luyện lại từ đầu.’’
Bất cứ là cảnh giới thuận, hoặc cảnh giới
nghịch, bạn không cần chấp trước nó. Nếu tâm
không động thì có công phu, đã đến trình độ
hỏa hầu.
Cảnh giới thuận là gì ? Tức là có người khen
ngợi bạn rằng: Vị pháp sư này giữ gìn giới
luật, ngày ăn một bữa, ngủ ngồi, lại chẳng
giữ tiền bạc, ngoài ba y bình bát ra, chẳng
có vật gì khác. Bạn nghe những lời khen như
thế, trong tâm rất hân hoan, còn ngọt hơn là
ăn mật, đó là bị cảnh giới chuyển.
Cảnh giới nghịch là
gì ? Tức là có người phỉ báng bạn rằng: Vị
pháp sư này ham ăn lười làm chẳng tu hành,
ngủ suốt ngày chẳng làm việc, nói một cách
khác là nương Phật ăn bám, nương Phật mặc y
áo để qua ngày tháng. Bạn nghe rồi, trong
tâm rất khó chịu, còn đắng hơn là ăn hoàng
liên, đó là bị cảnh giới chuyển.
Chướng ngại lớn nhất của việc tu đạo là chẳng
nhận thức được cảnh giới, chẳng có định lực,
rất dễ bị cảnh giới chuyển, làm mất đi đạo
nghiệp.
Vô lượng đại Bồ Tát từ dưới đất vọt lên chẳng
thích ở chỗ náo nhiệt, thích ở nơi yên tĩnh.
Các Ngài luôn luôn ở trong thiền định, đắc
được cảnh giới khinh an, thiền duyệt vi
thực, pháp hỷ sung mãn. Vì cầu Phật đạo, cho
nên trụ ở phương dưới ở trong hư không.
Chúng con từ Phật nghe
Việc này nên hết nghi
Xin Phật vì vị lai
Diễn nói khiến họ hiểu.
Nếu ở nơi kinh này
Có người nghi không tin
Tức sẽ đọa đường ác
Nay xin Phật giải nói.
Vô lượng Bồ Tát đó
Sao trong thời gian ngắn
Giáo hóa khiến phát tâm
Trụ vào bậc bất thối ?
Bồ Tát Di Lặc lại nói : Chúng con đại chúng
nghe Phật nói diệu pháp Kinh Pháp Hoa, lại
thấy những vị đại Bồ Tát từ dưới đất vọt
lên. Vì được thấy được nghe, cho nên đối với
việc này chẳng còn hoài nghi nữa. Xin Ðức
Phật vì Bồ Tát sơ phát tâm ở đời vị lai, mà
diễn nói đạo lý này. Vì tín căn của họ chẳng
kiên cố, căn lành chẳng sâu dày.
Nếu như có người
đối với Kinh Pháp Hoa không hiểu, mà sinh
tâm hoài nghi, chẳng sinh tâm tín ngưỡng,
thì tương lai sẽ đọa vào ba đường ác. Xin
nguyện Ðức Thế Tôn từ bi thương xót chúng
sinh ở đời vị lai, mà giải thích nói nhân
duyên này.
Vô lượng vô biên Bồ Tát đó, sao trong thời
gian ngắn, mà giáo hóa họ phát tâm bồ đề,
trụ vào bậc bất thối, hạnh bất thối, niệm
bất thối.
Vị bất thối : Tức
là bậc tu đạo chẳng thối thất, tức cũng là
nhập bậc Bồ Tát, chẳng thối lùi về bậc nhị
thừa. Nhập vào bậc thập trụ thì chẳng còn
thối lùi bậc sinh tử.
Hạnh bất thối : Ðối
với hạnh pháp tu chẳng thối thất. Tu sáu
pháp Ba la mật, chẳng thối lùi về pháp tứ
đế. Nhập vào sơ địa thì hạnh bất thối lợi
tha.
Niệm bất thối : Ðối
với chánh niệm chẳng thối thất. Từ bát địa
trở đi được vô công dụng trí, niệm niệm nhập
vào biển tánh chân như.