KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 03
Quyển 05
Phẩm
An Lạc Hạnh thứ mười bốn
An lạc hạnh tức
cũng là Bồ Tát hạnh, thân tâm của Bồ Tát đều
ở nơi đạo bồ đề và thích hành Bồ Tát đạo. Ở
trước, Phẩm Pháp Sư, Phẩm Ðề Bà Ðạt Ða và
Phẩm Khuyên Trì đều rất quan trọng, song
phẩm nầy còn quan trọng hơn, làm sao để được
an lạc ? Phải ngồi tòa Như Lai, mặc y Như
Lai, vào nhà Như Lai. Tu an lạc hạnh là con
đường Bồ Tát phải đi qua.
Bấy giờ, đại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Pháp
Vương tử bạch Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Các
vị Bồ Tát đó rất khó có được, vì kính thuận
lời Phật dạy, mà phát thệ nguyện lớn, ở
trong đời ác hộ trì đọc tụng diễn nói Kinh
Pháp Hoa này.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi là tiếng Phạn, dịch là
‘’Diệu đức‘’ hoặc là ‘’Diệu cát‘’, vì Bồ Tát
nầy ra đời, thì có mười điều cát tường. Ngài
tu hạnh Bồ Tát thì : Chẳng nói dối, chẳng
giết hại, chẳng trộm cắp, giữ giới rất cẩn
thận. Lấy gì để chứng mình Ngài giữ giới
chẳng trộm cắp ? Một lần nọ, Ngài nói với
các vị Bồ Tát khác rằng : ‘’Từ khi tôi phát
tâm tu hành đến nay, tôi đều giữ giới trộm
cắp, cho nên bây giờ chẳng có ai ăn cắp của
tôi bất cứ những gì. Chẳng những chẳng có ai
lấy đồ của tôi, mà dù tôi để vật quý giá ở
giữa đường, cũng chẳng ai đến lấy‘’. Người
nghe thì không tin, phải đưa ra bằng chứng
thật tế, chứng minh Ngài Văn Thù nói có thật
chăng ? Ngài Văn Thù đem một hạt châu quý
giá, để ở giữa ngã tư đường kỳ hạn ba ngày,
để xem thử có ai đến lấy chăng ? Nơi đó kẻ
qua người lại tấp nập. Quả nhiên, ba ngày
sau hạt châu vẫn còn nguyên chỗ cũ. Các vị
Bồ Tát mới tin Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, thuở
xưa giữ giới trộm cắp thanh tịnh, cho nên
đời nay chẳng có ai ăn cắp đồ của Ngài.
Bồ Tát Văn Thù có
đại trí huệ, từ khi Ngài bắt đầu hành Bồ Tát
đạo đến nay, chuyên tu về Bát Nhã, văn tự
Bát nhã, quán chiếu Bát nhã, thật tướng Bát
nhã ba thứ Bát nhã, cho nên được đại trí
huệ. Thuở xưa, khi Ðức Phật Thích Ca chưa
thành Phật, cũng từng theo pháp sư Diệu
Quang học Phật. Pháp sư Diệu Quang tức cũng
là Bồ Tát Văn Thù. Do đó, người tu hành thọ
giới rồi phải giữ gìn giới luật, nếu không
giữ giới luật, thì tương lai thành đạo quả
cũng chẳng chân thật.
‘’Pháp Vương tử‘’, Phật là đấng Pháp Vương, là
vua của các pháp. Bồ Tát là con của đấng
Pháp Vương, tức là ‘’Pháp Vương tử‘’. Ðại Bồ
Tát Văn Thù nói với Phật rằng : ‘’Ðức Thế
Tôn ! Hiện tại các vị Bồ Tát đại thệ nguyện
ở trước mặt Ngài, rất khó có được. Các vị đó
đều kính trọng thuận theo lời của Phật dạy,
mà phát thệ nguyện lớn, ở trong đời ác thực
hành điều mà người khác làm không được, nhẫn
những gì người khác nhẫn không được, ở đời
sau hộ trì đọc tụng diễn nói bộ Kinh Pháp
Hoa nầy.’’
Hiện tại chúng ta
đang giảng Kinh Pháp Hoa, chắc chắn có vô số
Bồ Tát đến hộ trì đạo tràng, vì thuở xưa các
Ngài từng phát thệ nguyện, muốn hộ trì bộ
kinh nầy. Như Ðức Ða Bảo Như Lai từng phát
nguyện, phàm nơi nào có giảng nói Kinh Pháp
Hoa, thì Ngài sẽ đến làm chứng minh.
Ðức Thế Tôn ! Ðại Bồ Tát làm thế nào để
diễn nói được kinh này ? Ðức Phật bảo Bồ Tát
Văn Thù Sư Lợi : Nếu đại Bồ Tát ở trong đời
ác trược, muốn nói kinh này, thì phải an trụ
vào bốn pháp. Một là an trụ vào nơi thực
hành, và nơi gần gũi của Bồ Tát, thì có thể
vì chúng sinh diễn nói kinh này.
Ðức Thế Tôn ! Hết thảy đại Bồ Tát muốn hoằng
dương kinh nầy, trong đời vị lai đầy dẫy
những chuyện ác, ai ai cũng tranh giành,
người tranh với người, nhà nầy tranh với nhà
kia, nước nầy tranh với nước nọ, thế giới
nầy tranh với thế giới kia, thậm chí tinh
cầu tranh với tinh cầu. Cho nên, loài người
muốn di cư lên mặt trăng, người ở mặt trăng
lại muốn xuống trái đất. Như ở trong đời ác
nầy, làm sao có thể nói được Kinh Pháp Hoa ?
Phật bảo Bồ Tát Văn Thù rằng : ‘’Nếu có đại
Bồ Tát phát tâm hoằng dương kinh nầy, ở
trong đời ác muốn nói Kinh Pháp Hoa nầy, thì
phải an trụ vào bốn pháp : Một là an trụ vào
nơi Bồ Tát thực hành, an trụ vào sáu Ba la
mật, hoặc mười Ba la mật (Bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ,
phương tiện, nguyện, lực, trí, và thân cận
cảnh giới của Bồ Tát, thì mới diễn nói được
kinh nầy.
Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào gọi là nơi đại Bồ
Tát thực hành ? Nếu đại Bồ Tát trụ ở sức
nhẫn nhục, nhu hòa, khéo thuận chẳng thô
bạo, tâm cũng chẳng kinh sợ. Hơn nữa, nơi
các pháp vô sở hành, mà quán các pháp như
thật tướng, cũng chẳng hành, chẳng phân
biệt. Ðó gọi là nơi Bồ Tát thực hành. Thế
nào gọi là nơi đại Bồ Tát gần gũi ? Ðại Bồ
Tát chẳng gần gũi nhà vua, thái tử, đại
thần, quan lớn.
Văn Thù Sư Lợi ! Thế nào là nơi đại Bồ Tát
thực hành ? Nếu Bồ Tát tu hành pháp môn nhẫn
nhục, trụ ở sức nhẫn nhục, hay nhu hòa khéo
thuận, chẳng thô bạo.
Thuở xưa, khi Ðức
Phật Thích Ca làm Tiên Nhân nhẫn nhục, thì
bị vua Ca Lợi chặt đứt chân tay, song Ngài
chưa từng sinh một niệm sân hận, tức là thật
sự trụ ở sức nhẫn nhục.
Thực hành hạnh nhẫn
nhục phải làm đến cảnh giới ‘’Vô nhẫn‘’,
nhẫn mà chẳng chấp trước, làm đến có cũng
như không, thật cũng như hư, mới gọi là thật
nhẫn. Có người mắng bạn, nếu bạn chấp trước
nhẫn nhịn họ mắng bạn, nếu bạn chấp trước
nhẫn nhịn họ mắng chưởi, thì đó là có sự
chấp trước. Nếu không chấp trước, thì vốn
chẳng có tâm niệm bị người mắng chưởi, hoàn
toàn chẳng có việc gì hết, mới gọi là thật
nhẫn. Có người hỏi : Tức là nhẫn mà không
nhẫn, sao Phật Thích Ca lại nhớ, Ngài thuở
xưa làm tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục, thì bị
vua Ca Lợi chặt tứ chi ? Kỳ thật, Phật là
nhớ mà không nhớ.
Người bị người mắng
chưởi thì nổi lửa vô minh, lửa vô minh hay
thiêu hủy sạch rừng công đức. Ðại Bồ Tát tu
hạnh nhẫn nhục, phải nhu hòa khéo thuận
chẳng thô bạo, đầy đủ định lực chẳng có sự
kinh hãi. Ðại Bồ Tát nơi tất cả các pháp đều
chẳng chấp trước, hành mà chẳng hành, hành
sở vô sự, vì Ngài quán các pháp đều không.
Một số người nghe tất cả các pháp không, thì
chẳng tu hành. Bồ Tát biết tất cả pháp không
mà vào thật tướng, không hành không phân
biệt, ở trên là nơi thực hành của đại Bồ
Tát.
Thế nào là nơi gần
gũi của đại Bồ Tát ? Ðại Bồ Tát chẳng cầu
xin nơi nhà vua, thậm chí chẳng qua lại với
thái tử, đại thần, quan lớn.
Người tu hành chẳng chủ động phan duyên họ,
song nếu họ tự động đến chùa lễ Phật, thì
bạn theo như pháp mà nói pháp. Song không
thể bày cách dẫn dụ kẻ quyền quý đến chùa,
nếu không thì cũng là phan duyên. Lục Tổ Huệ
Năng nhiều lần được Võ Tắc Thiên thỉnh vào
cung cúng dường, song Ngài đều từ chối. Tứ
Tổ Ðạo Tín cũng nhiều lần được vua Ðường
Thái Tông thỉnh vào cung, nhưng Ngài đều cự
tuyệt, đủ thấy các Ngài giữ lời dạy bảo
trong Kinh Pháp Hoa, chẳng phan duyên với kẻ
quyền quý.
Chẳng gần gũi với các ngoại đạo, phạm chí,
ni kiền tử, và viết sách vở thế tục, đọc
ngâm nga sách ngoại đạo, cùng lộ già gia đà,
nghịch lộ già gia đà, cũng chẳng gần gũi
những kẻ hung ác, giễu cợt, đánh đập lẫn
nhau, và na la thảy, các thứ kịch biến hiện.
Lại chẳng gần gũi hạng chiên đà la, và kẻ
nuôi heo dê gà chó, săn bắn chài lưới, các
luật nghi ác. Những người như thế, hoặc khi
họ đến, thì vì họ nói pháp, đừng mong cầu gì
cả.
Lại nữa, đừng
gần gũi với những Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ, cầu quả vị Thanh Văn, cũng
chẳng thăm hỏi. Nếu ở trong phòng, hoặc đi
kinh hành, hoặc ở trong giảng đường, thì
không nên ở chung với họ. Nếu họ đến, thì
tùy nghi nói pháp, đừng mong cầu gì cả.
Ðại Bồ Tát tuyệt đối chẳng gần gũi với kẻ
ngoại đạo phám chí (người xuất gia ngoại
đạo), ni kiền tử (là một trong chín mươi sáu
phái ngoại đạo, dịch là "ly hệ", nghĩa là sẽ
được giải thoát, mà chưa được giải thoát),
viết sách vở thế tục (biên tiểu thuyết, hoặc
kịch hài thế tục, khiến cho người sinh tâm
dâm dục), ngâm nga sách ngoại đạo và lộ già
gia đà, dịch là "ác luận", luận dạy người
làm ác (như luận thầy phá trò, thường biểu
hiện mình có kiến giải đặc biệt, cao minh
hơn học trò), nghịch lộ già gia đà (luận
trái nghịch thường lý, lý luận đệ tử phản
thầy). Cũng chẳng gần gũi các kẻ hung ác,
giễu cợt (chẳng xem phim, hoặc kịch đầy dẫy
chuyện chém giết), đánh đập nhau, và na la
(đại lực sĩ) .v.v... các thứ kịch biến hiện
(biểu diễn ma thuật), lại chẳng gần gũi hạng
chiên đà la (một trong bốn giai cấp củ Ấn Ðộ
:
1. Bà la môn.
2. Sát đế lợi.
3. Phệ xá.
4. Chiên đà la.
Quan niệm giai cấp ở Ấn Ðộ rất nặng, chiên đà
la là người địa vị thấp hèn. Cũng chẳng gần
gũi kẻ nuôi heo dê gà, và kẻ săn bắn chài
lưới, các luật nghi ác (mặc trang phục kì dị
khiến cho người chú ý). Những người như thế,
hoặc họ đến thì vì họ nói pháp, đừng có ý
mong cầu, hoặc tâm phan duyên. Lại chẳng gần
gũi bốn chúng tiểu thừa, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ .v.v., chẳng thăm
hỏi họ vì hạnh môn và chí hướng khác nhau,
hoặc ở trong phòng, hoặc đi kinh hành, hoặc
ở trong giảng đường, thì đừng ở chung với
họ. Nếu có người đến, thì vì họ nói pháp,
chẳng mong cầu gì cả.
Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi ! Đại Bồ Tát đối
với người nữ, chẳng sinh ý niệm dâm dục, mà
vì họ nói pháp, cũng đừng thích thấy. Nếu
vào nhà người, thì chẳng nên nói chuyện cùng
với gái nhỏ, gái trinh, gái góa, cũng đừng
gần gũi với năm hạng người bất nam để kết
thân giao. Không nên một mình vào nhà người.
Nếu có nhân duyên phải một mình vào, thì
phải một lòng niệm Phật. Nếu vì người nữ nói
pháp, thì không được hở răng cười, chẳng để
ngực hở hang, cho đến vì pháp còn chẳng gần
gũi, hà huống là việc khác.
Ðức Phật nói với Bồ Tát Văn Thù : Ðại Bồ Tát
đối với người nữ, không nên sinh ý niệm dâm
dục, cũng đừng ưa thích thấy người nữ, vì
thân người nữ bất tịnh. Nếu :
‘’Mắt thấy sắc đẹp tâm chẳng động,
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng hay‘’
Có được định lực như thế thì miễn bàn. Nếu có
nhân duyên đặc biệt đi vào nhà người, thì
cũng đừng nói chuyện với gái nhỏ gái trinh
gái hóa ở một nơi. Cũng chẳng gần gũi với
năm hạng người bất nam :
1. Sinh : Tức là sinh ra chẳng có nam căn, đó
là quả báo thuở xưa đồng tính luyến ái, có
người tình mà chẳng có nam căn.
2. Kiện : Tức là có nam căn mà bị cắt đi, hoặc
bệnh lở lói cho đến thối nát chẳng còn nam
căn.
3. Ðố : Tức là thấy người nam sinh tâm đố kị,
không thể nhân đạo, thấy người nữ sinh tâm
đố kị, biến thành người nữ cũng không thể
nhân đạo.
4. Biến : Tức là nam chẳng ra nam, mà nữ chẳng
ra nữ. Nam với nam phát sinh đồng tính luyến
ái, nữ với nữ phát sinh đồng tính luyến ái,
hoặc hành dâm dục với người nam, hoặc hành
dâm dục với người nữ, cho nên bị quả báo
không thể nhân đạo.
5. Bán : Tức là nửa nguyệt nửa nam (nửa nguyệt
là nữ). Năm hạng người nầy vì tư tưởng chẳng
chánh đáng, cho nên sáu căn chẳng đủ. Tuy
muốn xuất gia cũng không được thu nhận.
Người hành Bồ Tát đạo không nên kết thân với
năm hạng người nói ở trên. Vì tránh sự hiềm
nghi người ta thấy, nên người xuất gia không
thể vô cớ một mình đến nhà cư sĩ. Nếu có
nhân duyên đặc biệt đến nhà người ta, thì
phải một lòng niệm Phật, như niệm Nam Mô A
Di Ðà Phật, (tốt nhất là hai người cùng đi).
Nếu nói pháp cho
người nữ nghe, thì đừng hở răng cười để
tránh cho đối phương sinh tâm dâm dục, hoặc
khiến cho mình khởi ý niệm chẳng trong sạch.
Không hở ngực, cho đến vì người thuyết pháp
cũng không nên gần gũi, hà huống là làm việc
khác ? Do đó, người tu Bồ Tát đạo phải tự
mình kiểm điểm. Muốn được giới đức tròn
sáng, thì thân tâm tơ hào đừng ô nhiễm.
Không nên thích nuôi đệ tử nhỏ tuổi, Sa di
nhỏ bé, cũng không nên cùng thầy. Thường nên
ngồi thiền, ở nơi chỗ vắng nên tu nhiếp tâm
mình lại.
Văn Thù Sư Lợi ! Đó gọi là chỗ gần gũi ban
đầu.
‘’Không nên thích nuôi đệ tử nhỏ tuổi‘’. Không
thể thích thu nhận đệ tử nhỏ tuổi. Người tu
Bồ Tát đạo, không nên tham cầu đệ tử nhỏ
tuổi để sai khiến. Nếu gặp nhân duyên đặc
thù, thì mới có thể thu nhận đệ tử nhỏ tuổi.
Vì sao chẳng thu nhận đệ tử nhỏ tuổi ? Vì sợ
chúng còn thơ bé chẳng chịu nghe lời. Song
nếu gặp đệ tử nhỏ tuổi biết nghe lời, thì
mới có thể nhận làm đệ tử.
Trong số đệ tử của tôi, có mấy đứa cũng rất
còn nhỏ, đã mười hai, mười ba tuổi, song
chúng đều nghe lời dạy dỗ.
Lúc tôi ở tại Ðông Bắc bên
Trung Quốc, thì tôi nghe nói
có một cậu bé tên là Trịnh Ðức, mới năm tuổi
mà hằng ngày lạy cha mẹ. Tôi nghe rồi sinh
tâm hổ thẹn, tôi mười hai tuổi mới hằng ngày
lạy cha lạy mẹ. Cậu bé đó, mới năm tuổi mà
hiểu được lý lẽ, hằng ngày đảnh lễ cung kính
cha mẹ. Do đó, tôi muốn tìm cơ hội để gặp
cho được cậu bé đó. Ngày nọ, cơ duyên thành
thục, cậu bé ở tại huyện Ngũ Thường, cách
nhà tôi khoảng hơn một trăm dặm đường. Lúc
đó, Trịnh Ðức đã mười hai tuổi, do cậu ta
chí hiếu với cha mẹ mà danh đồn xa gần, rất
nhiều kẻ ngoại đạo muốn độ làm đệ tử, song
Trịnh Ðức thường nói với ngoại đạo rằng :
Cậu ta trước hết phải phụng dưỡng cha mẹ,
cha mẹ là Phật sống trong nhà, cậu ta không
thể bỏ gần cầu xa, muốn làm xong bổn phận
mới tu đạo. Ngoại đạo biện luận chẳng qua
được cậu ta, nên không thể được như nguyện.
Ngày nọ, tôi đến nhà cậu ta, cậu ta ở trong
cửa sổ nhìn thấy tôi, bèn nói với mẹ của cậu
ta rằng : ‘’Sư phụ của con đến rồi‘’ ! Mẹ
của cậu ta kinh ngạc hỏi : ‘’Sư phụ nào của
con đến‘’ ? Cậu ta đáp : ‘’Bây giờ con có sư
phụ rồi.’’ Lúc đó, tôi mang trên lưng một
túi vải đi vào cửa trước, cậu ta lập tức mời
tôi vào nhà. Vào trong nhà, tôi và Trịnh Ðức
trò chuyện, tôi hỏi cậu ta vì sao lạy cha mẹ
? Cậu ta nói chẳng biết lấy gì báo đáp ân
dưỡng dục của cha mẹ, chỉ biết lạy cha mẹ,
hy vọng cha mẹ vui lòng, để báo đáp phần nào
công ơn của cha mẹ. Tôi hỏi cậu ta sao mới
năm tuổi, mà đã hiểu việc hiếu thuận cha mẹ
như thế ? Trịnh Ðức đáp : ‘’Lấy sự hiếu
thuận cha mẹ làm việc vui.’’ Tôi hỏi cha mẹ
của cậu ta rằng, đứa con nầy có từng làm cho
ông bà buồn chăng ? Ông bà đáp : ‘’Vợ chồng
chúng tôi cũng chẳng có đức hạnh gì, có thể
tổ tiên có đạo đức, cho nên có được con hiếu
cháu hiền ! Từ lời nói đó, có thể thấy họ
cũng là người tu dưỡng, và chẳng tự kheo
khoang có đức hạnh, mà được người con hiếu
thuận nầy.
Lát sau, tôi đang
chuẩn bị đi về, thì Trịnh Ðức đem giầy của
tôi đi dấu, chẳng để tôi đi, muốn giữ tôi
lại dùng bữa cơm. Lúc đó, tôi chẳng có giầy
mang, đành yên lặng nhận lời. Ăn cơm xong,
tôi hỏi Trịnh Ðức : ‘’Ðáo để sư phụ phải
thuận theo đệ tử, hay là đệ tử thuận theo sư
phụ’’ ? Trịnh Ðức đáp : ‘’Ðương nhiên đệ tử
phải nghe theo lời của sư phụ‘’ ! Tôi bèn
dạy cậu ta : ‘’Sao con chưa được sự đồng ý
của thầy, thì đem đôi giầy của thầy đi giấu
? Mà ép giữ thầy lại ăn cơm ? Nếu con có ý
giữ thầy lại dùng cơm, thì nên cung kính
thỉnh mời chứ đừng dùng thủ đoạn cưỡng ép để
giữ thầy lại.’’ Trịnh Ðức nghe rồi lập tức
quỳ xuống sám hối.
Ðệ tử nhỏ tuổi mà hiểu biết sự lý như Trịnh
Ðức, thì có thể thu nhận làm đệ tử.
‘’Sa di nhỏ bé‘’, gọi là khu ô Sa di. Thời xưa
trong chùa làm lúa, có chim quạ đến ăn lúa
thóc, thì sai chú tiểu Sa di trách nhiệm
đuổi quạ, cho nên gọi là khu ô Sa di (chú
tiểu Sa di đuổi quạ), tuổi khoảng từ 8 đến
13 tuổi. Sa di là tiếng Phạn, dịch là "Tức
từ", tức là ngưng làm ác, từ là từ bi. Do
đó, có câu :
‘’Ðừng làm các điều ác,
Hãy làm các điều lành.’’
Người có tâm tham thì toàn làm chuyện ác;
người có tâm sân thì thường nóng giận; người
có tâm si thì cứ khởi vọng tưởng. Cho nên,
chẳng diệt trừ được tham sân si, thì giới
định huệ không thể hiện tiền.
Thọ giới cụ túc rồi, thì gọi là Sa môn, dịch
là "Cần tức", tức là siêng tu giới định huệ,
diệt trừ tham sân si. ‘’Giới‘’ đối trị lòng
tham, không thể tham mà mà không biết chán.
‘’Ðịnh‘’ đối trị tâm sân hận. ‘’Huệ‘’ đối
trị tâm ngu si. Nếu phan duyên tức là ngu
si, không phan duyên tức là có trí huệ. Tâm
người nào thanh tịnh, thì thân giống như ở
tại đạo tràng thuyết pháp của Ðức Phật, tức
là pháp hội Linh Sơn, cho nên nói :
‘’Một thời thanh tịnh, một thời Linh Sơn.
Thời thời thanh tịnh, thời thời Linh Sơn.’’
‘’Cũng đừng ưa thích cùng thầy‘’ : Cũng đừng
ưa thích với trẻ con cùng lạy một thầy. Nếu
đồng môn với trẻ con, thì bạn phải chịu
trách nhiệm chiếu cứ như tình huynh đệ, cho
nên đừng ưa thích cùng một thầy. Song, sư
phụ thu nhận trẻ con làm đệ tử thì miễn bàn
tới.
‘’Thường thích ngồi thiền’’? Ngồi thiền sẽ
sinh định, cho nên phải thường thích ngồi
thiền. Tuy nhiên nói ‘’ngồi thiền‘’, đến khi
công phu tương ưng, thì đi đứng nằm ngồi
chẳng lìa khỏi ‘’thiền‘’, như hình với bóng,
tức có định lực. Song, phải đừng chấp trước
thì sẽ sinh định lực. ‘’Thiền‘’ tức là thiền
na, dịch là "tư duy tu", cũng gọi là tĩnh
lự. Ngồi thiền hay sinh định, có định lực
thì trừ được vọng tưởng.
‘’Ở nơi chỗ vắng‘’ : Nếu công phu đến nhà, thì
dù ở đâu cũng có thể ngồi thiền, và đi đứng
nằm ngồi cũng chẳng lìa thiền. Như Chứng Đạo
Ca của Ngài Vĩnh Gia có nói rằng :
‘’Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền,
Nói năng động tĩnh thể an nhiên.
Trong mộng thấy rõ có sáu nẻo,
Giác rồi thảy đều không chẳng có gì‘’.
Nếu chưa có định lực thì nên ‘’ở nơi chỗ
vắng‘’ ngồi thiền, ở nơi A lan nhã tức là
nơi yên tĩnh.
‘’Tu nhiếp tâm‘’ : Chúng ta suốt ngày vọng
tưởng lăn xăn, hôm nay nghĩ muốn đến Châu
Âu, ngày mai nghĩ muốn đi Châu Á, ngày mốt
nghĩ muốn đi đến Châu Mỹ, cho rằng chẳng cần
mua vé máy bay, mà tâm đi du lịch thế giới,
là việc hết sức tiện nghi. Kỳ thật, tốn hao
xăng dầu trong tự tánh chẳng ít, tiêu hao
trí huệ Bát nhã không ít. Muốn tu nhiếp tâm
mình, thì trước hết phải khắc chế năm dục :
Sắc đẹp, âm thanh, hương thơm, vị ngon, ngủ
nhiều. Trừ khử năm cái : Tham dục, sân hận,
hôn trầm, trạo hối, hoài nghi.
Năm cái là gì ? Giải thích sơ lược như sau :
1. Tham dục : Nếu tham sắc, thanh, hương, vị,
xúc, hoặc tham : Tài, sắc, danh, thực, thùy,
thì không nên. Nếu tham: Giới, định, huệ,
tham ngồi thiền, tham thành Phật, thì tốt.
Tôi thường tham đệ tử hiếu thuận, nếu ai
tham cầu một vị thầy tốt để theo học Phật
pháp, thì đó cũng là tham, song tham học thì
được.
2. Sân hận : Tức là nổi giận, ngàn ngày nhặc
củi, một đốm lửa thiêu sạch, do đó có câu :
‘’Một đốm lửa nhỏ,
Đốt sạch rừng công đức‘’.
3. Hôn trầm : Nếu mệt mỏi thì ngủ, song đừng
có tham ngủ, ngủ quá nhiều thì đầu não hôn
trầm, sẽ biến thành ngu si.
4. Trạo hối : Sinh hoài nghi, đối với việc gì
cũng
sinh hoài nghi, chẳng tin.
Ðiều năm việc : Ăn, ngủ, thân, hơi thở, tâm.
a. Ðiều ăn : Đối với việc ăn uống phải hợp với
trung đạo.
b. Ðiều ngủ : Thời gian ngủ phải có hạn, chẳng
quá nhiều cũng chẳng quá ít.
c. Ðiều thân : Ðừng khiến cho thân thể quá
nhọc, song phải siêng năng làm việc phục vụ
xã hội.
d. Ðiều hơi thở : Hơi thở chẳng nhanh chẳng
chậm.
e. Ðiều tâm : Tâm phải đừng thâm trầm đừng cất
lên.
Lại nữa, đại Bồ Tát quán tất cả các pháp
không, như thật tướng, không điên đảo, không
lay động, không thối lùi, không chuyển, như
hư không, chẳng có tự tánh. Tất cả ngôn ngữ
đạo đoạn, không sanh, không xuất ly, không
khởi, không tên, không tướng, thảy đều
không, không lượng, không bờ, không ngại,
không chướng, chỉ nhờ nhân duyên mà có, từ
điên đảo mà sinh ra, cho nên nói. Thường
thích quán pháp tướng như thế, đó gọi là chỗ
gần gũi thứ hai của đại Bồ Tát.
Ðại Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo, quán tất cả
cảnh giới của mười pháp giới đều không, mười
pháp giới chẳng lìa một tâm niệm, một tâm
niệm sinh mười pháp giới. Mười pháp giới bao
quát bốn pháp giới của bậc Thánh và sáu pháp
giới của phàm phu :
1. Pháp giới của
Phật : Con người tự giác giác tha, giác hạnh
viên mãn thì thành Phật. Mình khai ngộ minh
bạch tất cả các pháp là tự giác, lại độ kẻ
khác giác ngộ là giác tha. Tự giác, giác
tha, giác hạnh viên mãn thì thành Phật, do
đó ‘’Ba giác tròn, vạn đức đầy‘’, Phật là
bậc đại giác ngộ, biết những gì mà người
không biết, ngộ những gì mà người không ngộ.
Tất cả người thế gian và xuất thế gian đều
tôn sùng Phật.
2. Pháp giới của Bồ
Tát : Bồ Tát phát nguyện tự lợi lợi tha, tự
giác giác tha, song giác hạnh chưa viên mãn,
tu hành sáu độ vạn hạnh.
3. Pháp giới của
Duyên Giác : Bậc Duyên Giác tu mười hai nhân
duyên mà ngộ đạo.
Mười hai nhân duyên
là:
Vô minh duyên hành,
Hành duyên thức,
Thức duyên danh sắc,
Danh sắc duyên lục nhập,
Lục nhập duyên xúc,
Xúc duyên thọ,
Thọ duyên ái,
Ái duyên thủ,
Thủ duyên hữu,
Hữu duyên sinh,
Sinh duyên lão tử.
Duyên Giác có hai : Khi có Phật ra đời, tu
mười hai nhân duyên mà ngộ đạo gọi là Duyên
Giác, khi không có Phật ra đời, tu trong
rừng sâu núi thẳm, mùa xuân quán trăm hoa
nở, mùa thu quán lá vàng rơi, cảm ngộ vạn
vật vô thường mà chứng đạo quả, gọi là Ðộc
Giác.
Vô minh tức là phiền não, cũng là ái tình giữa
nam nữ. Có ái tình thì phát sinh hạnh bất
tịnh, có hành thì sinh hạt giống, tức là
thức. Có hạt giống thì thành thai, gọi là
danh sắc. Có thai rồi sau sinh ra mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý, tức là lục nhập. Có lục
nhập rồi thì sinh cảm giác, tức là xúc. Có
cảm giác tức có thọ dụng, tức là thọ. Có thọ
dụng thì sinh tâm thương, tức là ái. Vì ái
dục mà giữ làm của mình có, tức là hữu. Hữu
rồi sau đó có sinh ra đời sau, có sinh thì
có tử, đây là cửa lưu chuyển.
Bậc Duyên Giác quán
mười hai nhân duyên đạo lý đến chỗ cứu kính,
giác ngộ :
Vô minh diệt thì hành diệt
Hành diệt thì thức diệt
Thức diệt thì danh sắc diệt
Danh sắc diệt thì lục nhập diệt
Lục nhập diệt thì xúc diệt
Xúc diệt thì thọ diệt
Thọ diệt thì ái diệt
Ái diệt thì thủ diệt
Thủ diệt thì hữu diệt
Hữu diệt thì sinh diệt
Sinh diệt thì lão tử diệt.
Đây là cửa hoàn diệt. Duyên Giác Bồ Tát là ban
đầu phát tâm Bồ Tát.
4. Pháp giới của
Thanh Văn : Thanh Văn tu : Khổ, tập, diệt,
đạo, bốn đế mà ngộ đạo. Khổ có ba thứ khổ,
tám thứ khổ, vô lượng thứ khổ. Ba thứ khổ
là: Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Khổ khổ là
khổ trong sự khổ, tức là nghèo lại thêm khốn
khổ, đã nghèo sơ nghèo xát lại gặp đử thứ
hoạn nạn, khổ lại thêm khổ. Người giàu sang
chẳng có khổ khổ, song tránh không khỏi hoại
khổ, bị kẻ ác đốt nhà, hoặc tán gia bại sản,
đó là hoại khổ. Từ kẻ nghèo cho đến kẻ giàu,
cũng không tránh khỏi hành khổ. Hành khổ là
từ nhỏ lớn lên rồi già nua, niệm niệm thay
đổi, thân thể từ mạnh khoẻ đến lúc suy tàn.
Tám thứ khổ là :
Sinh, già, bệnh, chết, khổ về ái biệt ly,
khổ về oán tắng hội, khổ về cầu bất đắc, khổ
về năm ấm xí thạnh. Ðời người ở đời đã là
việc khổ, đến già, bệnh, chết lại càng khổ.
Ngoài ra còn có vô lượng thứ khổ.
Bậc Thanh Văn tu pháp bốn đế : Thứ nhất là
biết khổ, thứ hai là đoạn tập, tập tức là
các thứ phiền não. Thứ ba là mộ diệt, diệt
tức là tịch diệt, chứng được Niết Bàn. Thứ
tư là tu đạo. Ðạo thì phải tu. Lần đầu tiên
Ðức Phật chuyển bánh xe pháp nói về pháp Tứ
diệu đế, độ năm vị Tỳ Kheo khiến cho họ khai
ngộ như vừa nói ở trên.
Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, là bốn
pháp giới của bậc Thánh. Sáu pháp giới của
phàm phu là trời, người, A tu la, súc sinh,
ngạ quỷ, địa ngục.
5. Pháp giới của
trời : Trong sáu pháp giới của phàm phu, thì
trời là cao nhất, người không hiểu Phật pháp
thì lầm rằng, sinh về trời là cảnh giới
khoái lạc nhất, kỳ thật trời cũng thuộc về
pháp giới phàm phu mà thôi, chưa thể vượt ra
khỏi sáu nẻo luân hồi. Tuổi thọ của cõi trời
Phi Phi Tưởng Xứ là tám vạn đại kiếp, hết
tuổi thọ vẫn đọa vào nhân gian, nghiệp thiện
thành thục thì sinh vào đường lành, nghiệp
ác thành thục thì sinh vào đường ác.
6. Pháp giới A Tu
La : A tu la là tiếng Phạn, dịch là "vô đoan
chánh", còn gọi là "vô tửu", nam A tu la thì
xấu xí, còn nữ A tu la thì xinh đẹp. Phàm là
A tu la đều thích đấu tranh. Trời, người,
súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, đều có A tu la,
cho nên trời, người, A tu la gọi là ba đường
lành. Súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, là ba
đường ác.
7. Pháp giới của
loài người : Trong loài người có những tầng
lớp khác nhau, trên hoàng đế công hầu, dưới
đến dân nghèo ăn mày, phân ra sự giàu sang,
nghèo cùng, tốt xấu, đều là nhân quả luân
hồi chiêu cảm. Do đó, nhân thế nào thì quả
thế ấy, nhân quả báo ứng tơ hào chẳng sai.
8. Pháp giới súc
sinh : Vì ngu si, cho nên bị người chi phối.
9. Pháp giới ngạ
quỷ : Tâm sân quá nặng, thích nóng giận.
10. Pháp giới địa
ngục : Vì tâm tham, tham mà chẳng biết chán.
‘’Mười pháp giới chẳng lìa một tâm niệm‘’. Nếu
thường sinh tham, sân, si, thì sẽ đọa vào ba
đường ác. Nếu tu bốn diệu đế thì chuyển sinh
Thanh Văn. Tu mười hai pháp nhân duyên thì
chuyển sinh Duyên Giác. Phát bồ đề tâm tu
sáu độ vạn hạnh, thì tương lai sẽ thành
Phật. Trong Kinh
Hoa Nghiêm có câu rằng :
‘’Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Hãy quán tánh pháp giới
Hết thảy do tâm tạo‘’.
Tất cả đều do tâm sinh ra, chữ tâm (心)
còn có bài kệ rằng :
‘’Ba chấm bày như sao
Uống cong tợ trăng non
Đội lông từ đây ra
Làm Phật cũng do nó‘’.
Do đó, mười pháp giới chẳng lìa một tâm niệm
hiện tiền. Tâm ở tại Phật quả, thì tương lai
sẽ thành Phật, tâm hướng về địa ngục thì sẽ
đọa địa ngục, có thể thấy quả báo ứng nghiệm
chẳng sai.
Tất cả tướng vốn là
vô tướng. Bồ Tát quán mười pháp giới đều
không, từ trong chân không mà sinh diệu hữu.
Diệu hữu phi hữu, chẳng ngại chân không.
Chân không bất không, chẳng ngại diệu hữu.
Chân không là tên khác của thật tướng, thật
tướng là ngoài chẳng tham, trong vô sở cầu;
trong ngoài đều không, trong chẳng có sáu
căn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ngoài
chẳng có sáu trần : Sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, ở giữa chẳng có sáu thức : Nhãn
thức, nhĩ thức, thiệt thức, tỉ thức, thân
thức, ý thức. Quán sáu căn, sáu trần và sáu
thức đều không, mười hai xứ và mười tám giới
đều không. Vậy thì tất cả pháp không, phải
chăng một cũng chẳng có ? Chẳng phải, mà là
không vào thật tướng, cho nên diệu không thể
tả. Ai thường tham thiền đả tọa, thì sẽ vào
thật tướng, đến lúc bên trong chẳng có sáu
căn, bên ngoài chẳng có sáu trần, ở giữa
chẳng có sáu thức, mười tám giới đều không.
Chúng sinh luân hồi
ở trong sáu nẻo, một khi không cẩn thận mà
sai nhân quả thì dễ đọa lạc, thậm chí đọa
thành dòi trong phân, đừng cười chê dòi sống
ở trong phân là dơ dáy. Kỳ thật, ở trong
bụng người cũng đầy dẫy phân cứt, trong túi
da bao bọc vô lượng (tế bào) vi khuẩn mà
không biết. Cho nên nói : ‘’Chúng sinh vô
biên thệ nguyện độ‘’, trong thân thể chẳng
biết bao nhiêu là vi khuẩn vi sinh vật. Nếu
bạn độ chẳng được chúng thì chúng sẽ độ bạn.
Ðừng tự làm thông minh, cho rằng giết những vi
khuẩn đó là phạm giới. Tôi có một đệ tử,
trước khi thọ giới Bồ Tát bèn hỏi tôi : Mỗi
ngày anh ta lái xe đi đường cán chết trùng
kiến, có phạm giới không ? Khi lái xe có thể
niệm ‘’Nam Mô A Di Ðà Phật‘’, vì trong sự vô
ý hồi hướng cho trùng kiến bị cán chết, vô ý
sát sinh thì chẳng phạm giới.
Trước kia, có một
anh quân nhân, ban đầu gặp Phật pháp bèn quy
y Tam Bảo, về sau xuất gia hiệu là Hoằng
Khuê, thọ giới tại Chùa Nam Hoa, anh ta rất
lanh lợi. Về sau anh ta đến Hương Cảng, vì
sống quen ở trong quân đội, cho nên không
chịu được đời sống thanh khổ. Ở tại Hương
Cảng Tân Giới núi Ðạo Phong, có một tổ chức
của Cơ Ðốc Giáo, chuyên môn xúi người xuất
gia hoàn tục, và còn cho người xuất gia ăn ở
và tiền xài. Nếu người xuất gia muốn kết hôn
thì họ sẽ lo hết. Hoằng Khuê ở núi Ðạo Phong
làm nấu bếp, một tháng lãnh ba trăm đồng.
Khi làm bếp thì giết gà giết vịt, ông ta tự
mình an ủi, vừa giết vừa niệm ‘’Nam Mô A Di
Ðà Phật‘’, lâu dần anh ta loạn thần kinh. Về
sau dọn về ở tại Ðông Phổ Ðà, nhiều lần muốn
gặp tôi mà chẳng được, nửa năm sau ông ta tự
tử mà chết. Bạn nói, anh ta cứu kính là đại
Bồ Tát hóa thân, dùng thân phạm giới hiển
bày quả báo, để cảnh tỉnh người xuất gia
đừng sát sinh chăng ? Hay là tâm đạo xuất
gia chẳng kiên cố, mà sinh tâm thối chuyển
hoàn tục ? Ngoài tâm học Phật pháp kiên cố
ra, còn phải giữ cho lâu bền, lâu năm nhiều
tháng siêng học Phật pháp. Người không học
Phật pháp, đến khi lâm chung thì chẳng tự
chủ được, còn người tinh tấn học Phật pháp,
thì tự biết giờ đi, chẳng bệnh mà qua đời.
Tôi có một đệ tử tên là Lý Dụ Siêu, sau khi
quy y tôi rồi, phát nguyện hy vọng sẽ phát
tài, phát tài rồi xây dựng bệnh viện Phật
giáo. Lại thường nhờ tôi xem bói tướng mạng
cho
anh ta. Tôi nhiều lần từ
chối, anh ta vẫn không chừa. Một ngày nọ,
anh ta chuẩn bị đi Nữu Ước (New York), trước
khi đi lại đến nhờ tôi coi vận mạng, tôi ân
cần nói với anh ta : ‘’Lần nầy
anh đi Nữu Ước không thể nhờ
người xuất gia coi vận mạng. Coi tướng bói
quẻ là thuộc về một trong năm thứ tà mạng,
người tu đạo chân chánh không thể làm chuyện
đoán xăm bói quẻ, cho nên nếu anh nhờ người
xuất gia coi bói, tức là làm bẩn phẩm hạnh
của người xuất gia.’’ Từ đó về sau anh ta
không dám nhờ xem nữa. Anh ta lại hỏi sao
phát nguyện cầu tài, mà không được mãn
nguyện ? Tôi nói : ‘’Ði học cũng phải từ
tiểu học lên trung học, rồi lên đại học,
trải qua thời gian dài dụng công mới được
tốt nghiệp đại học. Vậy có lẽ nào không nhọc
sức mà được chăng ? Phát nguyện phải có tâm
lâu dài, tài bồi phước huệ, đời đời kiếp
kiếp tiếp tục nguyện lực của mình, không thể
hữu thủy vô chung.’’
Học tập Phật pháp còn phải có tâm thành, bất
cứ ai phá hoại, khêu chọc ly gián cũng phải
bền chí không đổi, dù xả thân mạng cũng phải
hộ trì. Thuở xưa, Ðức Phật bố thí xả bỏ một
nghìn thân mạng, vì thương xót chúng sinh,
chẳng tiếc xả thân cứu cọp đói, lóc thịt cho
chim ưng.
‘’Như thật tướng‘’,
‘’Không điên đảo‘’ tức là giữ trung đạo.
‘’Như‘’ tức là chẳng rơi vào không, chẳng
rơi vào có, ‘’Không‘’, ‘’Giả‘’, ‘’Trung‘’ ba
đế như một. Không tức giả, giả tức trung;
một giả thì tất cả đều giả, một không thì
tất cả đều không, một trung thì tất cả đều
trung. Ba đế như một là ‘’Như‘’. ‘’Thật‘’
tức chẳng phải bảy phương tiện. Bảy phương
tiện tức bảy hiền vị của tiểu thừa, vượt qua
quả vị của bảy phương tiện, tức là như thật
tướng.
‘’Không điên đảo‘’ :
Phàm phu có bốn thứ
đảo :
- Chẳng phải thường mà cho là thường.
- Chẳng phải vui mà cho là vui.
- Chẳng phải ngã mà cho là ngã.
- Chẳng phải tịnh mà cho là tịnh.
‘’Ðiên đảo‘’ của hàng nhị thừa : Thường cho là
vô thường, vui cho là khổ, ngã cho là chẳng
phải ngã, tịnh cho là chẳng phải tịnh; ở
trên là điên đảo của hàng nhị thừa. Bồ Tát
cũng có điên đảo, chỉ có Phật là bậc đại
giác. Cho nên, chín pháp giới chúng sinh đều
sinh tồn ở trong điên đảo, niệm niệm thay
đổi, có lúc cảm thấy tốt, có khi cảm thấy
chẳng tốt. Kỳ thật chẳng có phân chia tốt và
không tốt, tất cả đều từ nghĩ điên đảo mà
ra. Nếu hay giữ trung đạo thì chẳng điên
đảo. Học tập Phật pháp tức là muốn không
điên đảo, chẳng học tập Phật pháp thì điên
đảo. Giữ quy cụ thì chẳng điên đảo, không
giữ quy cụ là điên đảo. Chúng ta nên tự phản
tỉnh, nếu làm những chuyện điên đảo thì hãy
mau sửa đổi !
‘’Bất động‘’ là định, chẳng sợ gì; ngồi thiền
mà được như như bất động, thì chẳng bị cảnh
giới chuyển. Ngồi thiền thì dù gặp cọp cũng
chẳng sinh tâm sợ sệt, gát việc sinh tử ra
ngoài, xem sinh tử nhất như. Có người nói :
‘’Tôi chẳng sợ chết, cho nên chẳng cần học
Phật pháp để dứt sinh tử, mà tôi thì chẳng
sợ sinh tử, cho nên chẳng cần học Phật
pháp.’’ Bạn không sợ sinh tử, chẳng học Phật
pháp, sinh tử chẳng dứt, cho nên chẳng bao
giờ chấm dứt được. Khi ngồi thiền chẳng vì
sinh tử làm lay động, tức là định lực. Sinh
tử có hai thứ : Phần đoạn sinh tử và biến
dịch sinh tử. Phần đoạn sinh tử là chỉ cho
phàm phu mà nói. Phàm phu mỗi người đều có
phần thân và một đoạn mạng sống, cho nên gọi
là phần đoạn. Hàng nhị thừa chứng quả A la
hán rồi, thì chấm dứt phần đoạn sinh tử,
song vẫn còn biến dịch sinh tử, tức là vọng
tưởng niệm niệm vi tế khởi lên chưa đoạn
sạch. Phần đoạn là sinh tử trong ba cõi,
biến dịch là sinh tử ngoài ba cõi. A
la Hán đã dứt phần đoạn sinh
tử, Bồ Tát đã dứt biến dịch sinh tử.
‘’Không thối‘’, trí bi chẳng thối chuyển, thân
tâm tịch diệt chẳng có vọng tưởng, cho nên
có đại trí đại huệ. Tức cũng là liễu tính
bình đẳng, chẳng sinh thối lùi.
‘’Không chuyển‘’, chẳng thọ luân hồi sở
chuyển, chẳng lưu chuyển ở trong sinh tử của
phàm phu, cũng chẳng ở trong nhị thừa chuyển
phàm làm Thánh.
‘’Như hư không‘’, giống như hư không, Kinh
Hoa Nghiêm có nói :
‘’Nếu ai muốn biết cảnh giới của Phật,
Hãy tịnh ý mình như hư không‘’.
Chẳng có một vật gì tức là ‘’hư không‘’, hết
thảy mọi vật đều bị hư không bao hàm. ‘’Như
hư không’’ là đại biểu cho danh từ, tuy có
danh từ, song chẳng có tự tánh, đừng có đầu
lại thêm đầu, đi khắp nơi tìm hư không.
‘’Chẳng có tự tánh‘’, chẳng có tha tánh, chẳng
có cộng tánh, chẳng có nhân tánh cũng chẳng
có quả tánh, tất cả đều không, ngôn ngữ đạo
đoạn, tâm hành xứ diệt. Do đó, có câu :
‘’Miệng muốn nói mà lời đã hết
Tâm muốn duyên mà suy nghĩ chẳng cón nữa‘’.
Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Do đó :
‘’Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bọt bóng
Như sương cũng như điện
Hãy quán chiếu như thế.’’
Nếu hay ly ngôn tứ cú, tuyệt bách phi, thì vào
được cảnh không thể nghĩ bàn, diệu không thể
tả. Minh bạch chỗ diệu bên trong, tức là
minh bạch Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu chẳng
minh bạch chỗ diệu bên trong, thì đối với
chỗ diệu của kinh nầy, tâm không thể lãnh
hội được.
Trong số các vị có những người dụng công, có
những người cứ khởi vọng tưởng. Người khởi
vọng tưởng thì hãy thu nhiếp thân tâm, chế
tâm lại một chỗ. Mùa đông năm nay sẽ mở khóa
thiền một trăm ngày, mỗi ngày phải ngồi 21
tiếng, chạy hương, ngồi hương, chẳng nghỉ
ngơi, ai không sợ khổ thì hãy đăng ký ghi
tên cho sớm.
‘’Không sinh‘’, chẳng sinh vô minh, chẳng sinh
trí huệ, tức chẳng sinh vô minh, cũng chẳng
sinh trí huệ, tức là vào cảnh giới : ‘’Không
nghĩ thiện, không nghĩ ác.’’ Chẳng có vô
minh, chẳng có trí huệ, là bổn lai tự tánh
đại quang minh tạng, cho nên chẳng có chỗ
phá, cũng chẳng có chỗ năng phá, đó là lý
thể ‘’Không sinh‘’. Trong cảnh giới nầy :
Hành, vị, nhân, quả, thảy đều chẳng sinh.
‘’Không xuất‘’, tức là không nhập, chẳng xuất
chẳng nhập, chẳng ra chẳng vào. Bổn thể của
Như Lai tu là, đạt đến chỗ cứu kính, cho nên
chẳng xuất chẳng nhập, chẳng có vô minh cũng
chẳng có trí huệ đáng nói.
‘’Không khởi‘’, chứng được lý thể như thế, thì
khiến cho tất cả phương tiện quyền pháp đều
vắng lặng.
‘’Không tên‘’, chẳng có một tên gọi để đại
biểu đạo lý nầy. Từ không điên đảo, đến
không khởi, chẳng có một cái tên nào để gọi,
đó là tánh không.
‘’Không tướng‘’, chẳng có bất cứ tướng nào, có
thể làm cho nó biểu hiện ra. Từ điên đảo đến
chẳng khởi, chẳng có bất cứ hình tướng nào
có thể hình dung, đó là tướng không.
‘’Thảy đều chẳng có‘’, quán thể khen ngợi
trung đạo, chẳng rơi vào không, chẳng rơi
vào có, chẳng có một vật.
‘’Vô lượng‘’, tức là pháp vô số lượng. Pháp có
số lượng như là năm ấm : Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức; sáu căn, sáu trần, hợp lại gọi
là mười hai nhập (còn gọi là mười hai xứ),
thêm vào sáu thức là mười tám giới. Ở trên
đây đều là pháp có số mục. Quán trung đạo là
vô số lượng, tức là toàn số mục, là không
thiếu không thừa.
‘’Vô biên‘’, không bờ không bến. Tất cả các
pháp trong tiểu thừa đều có nhất định, cho
nên có biên tế. Chẳng có pháp nhất định mới
là vô bờ vô bến.
‘’Vô ngại‘’, trung đạo quán trí vào khắp tất
cả các pháp, mà chẳng có chướng ngại.
‘’Không chướng‘’, chẳng có một pháp nào, có
thể che đậy chướng ngại trung đạo quán trí.
‘’Quán tất cả pháp‘’ đến ‘’không chướng‘’,
đoạn văn gồm mười chín câu, ‘’quán tất cả
pháp‘’ là nêu lên tổng quát, mười tám câu
sau, là phân biệt giải thích thêm. Ðạo lý
bên trong là vô cùng vô tận, giảng kinh chỉ
là lược thuật đại khái mà thôi. ‘’Quán tất
cả pháp không‘’, mười tám câu kinh văn sau,
có thể y chiếu mười tám (cái) không của Kinh
Ðại Bát Nhã để giải thích; lại có thể dùng
tất cả pháp để giải thích. Tất cả pháp như
thật tướng, tất cả pháp không điên đảo, tất
cả pháp bất động, tất cả pháp không thối
lùi, tất cả pháp không chuyển, tất cả pháp
như hư không, tất cả pháp vô sở hữu, tất cả
pháp ngữ ngôn đạo đoạn, tất cả pháp không
sinh, tất cả pháp không xuất, tất cả pháp
không khởi, tất cả pháp không tên, tất cả
pháp không tướng, tất cả pháp thật vô sở
hữu, tất cả pháp vô lượng, tất cả pháp vô
biên, tất cả pháp không ngại, tất cả pháp
không chướng.
Dùng mười tám (cái) không để giải thích : Như
thật tướng là không thứ nhất, không điên đảo
là nội không. Nội không (bên trong) không có
sáu nhập : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đều
không, cho đến vô ngã. Không có ngã chấp là
bất động. Bất động là ngoại không; ngoại
không (bên ngoài) chẳng có sáu trần, không
bị sáu trần làm giao động. Không thối lùi là
nội ngoại không. Chẳng thối chuyển làm phàm
phu, chẳng thối chuyển làm hàng nhị thừa.
‘’Không chuyển‘’ là không không, không hay phá
tất cả pháp, tức chẳng có ngã chấp (chấp cái
ta), chẳng có pháp chấp, tức là pháp không,
quét tất cả pháp, lìa tất cả tướng, cho nên
không chuyển.
‘’Như hư không‘’, trong Kinh Bát Nhã chuyên
nói về lý không. Ngài Tu Bồ Ðề khéo nói về
không, trong hàng đệ tử của Ðức Phật, Ngài
là bậc nhất về giải không, cho nên Ngài tên
là ‘’Không sinh‘’. Tuy tên là không sinh,
song cũng chẳng không sinh, sao lại nói là
chẳng không sinh ? Có Tu Bồ Ðề rồi, cho nên
nói không sinh lại chẳng không sinh. Tu Bồ
Ðề là tiếng Phạn, dịch là "Không sinh", vì
sao được tên như vậy ? Ðó là vì, khi Ngài
sinh ra, thì kho của báu trong nhà vô duyên
vô cớ, đột nhiên biến thành không (biến mất
hết), cho nên cha mẹ của Ngài đặc tên cho
Ngài là Không Sinh. Cha mẹ của Ngài thấy kho
tàng châu báu trong nhà vô cớ mất đi, bèn đi
bói quẻ, thì nói rằng là điềm cát tường, nhà
sinh được quý tử, cho nên Ngài Tu Bồ Ðề còn
có tên là Thiện Cát. Bảy ngày sau, kho báu
trong nhà lại hiện ra như cũ, lại được tên
là Thiện Hiện. Tại sao ngày Ngài Tu Bồ Ðề ra
đời thì của báu trong nhà đều không (biến
mất hết) ? Vì Ngài đời đời kiếp kiếp nghiên
cứu về lý không, cho nên khi Ngài ra đời, là
biểu hiện Bát Nhã không. ‘’Như hư không‘’ là
thái không. ‘’Vô sở hửu tánh‘’ tức là tất
kính không, có bài kệ rằng :
‘’Như Lai thanh lương nguyệt
Thường du tất kính không
Chúng sinh tâm thủy tịnh
Bồ đề ảnh hiện trung‘’.
Nghĩa là:
Như Lai như mặt
trăng mát mẻ
Thường lơ lửng trên bầu trời
Tâm nước chúng sinh tịnh
Ảnh bồ đề hiện ra.
Các pháp bổn thể chẳng thiếu chẳng dư, cho nên
gọi là tất kính không. Nhờ tất kính không
cho nên ‘’chẳng có tự tánh‘’ vậy.
‘’Tất cả ngữ ngôn đạo đoạn‘’, tất cả đều
không, chẳng có ngôn ngữ để luận bàn.
‘’Không sinh‘’ là hữu vi không, pháp hữu vi do
nhân duyên hòa hợp mà sinh, không hòa hợp
thì không sinh, cho nên gọi là hữu vi không.
‘’Không xuất‘’ là vô vi không, ‘’vô vi vô khởi
diệt, chẳng thật như không hoa‘’, vô vi tức
là xuất ly, xuất ly tất cả pháp, xuất ly đã
không, cho nên ‘’không xuất‘’.
‘’Không khởi‘’ là vô thủy không, trong Kinh
Ðại Bát Nhã có đề cập đến vô thủy không, vì
‘’khai thủy‘’ bất khả đắc, cho nên gọi là vô
thủy không.
‘’Không tên‘’ là tánh không. ‘’Không tướng‘’
là tướng không. Không tên không tướng, cũng
có thể giải thích là thật vô sở hữu (chẳng
có gì cả).
‘’Thật vô sở hữu‘’ là chẳng thể được không.
‘’Vô lượng‘’ là có pháp không, có lượng tức có
pháp, có lượng không tức có pháp không.
‘’Vô biên‘’ là chẳng có pháp không, pháp là
biên, chẳng có pháp tức vô biên.
‘’Không ngại‘’ là hữu pháp vô pháp không, hữu
pháp không không, đều rõ bất khả đắc, cho
nên là vô ngại.
‘’Không chướng‘’, tức giáo không, phương ngại
giá chướng đều bất khả đắc, cho nên không
chướng.
Ở trên là mười tám (cái) không, Phật thường tu
mười tám (cái) không nầy. Trong Kinh Pháp
Hoa có đề cập đến mười tám câu, mới y chiếu
mười tám câu nầy mà nói. Ở trên nói về ‘’Tất
cả pháp không‘’ là tổng tướng, ‘’Như thật
tướng‘’ đến ‘’không chướng‘’ mười tám câu là
biệt tướng, tất cả tướng nhờ nhân duyên có,
từ điên đảo sinh, cho nên thường thích quán
các thứ pháp tướng ở trên, xem tất cả đều
không. Ðây là nơi gần gũi thứ hai của đại Bồ
Tát.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Nếu có Bồ Tát
Ở đời ác sau
Tâm chẳng sợ hãi
Muốn nói kinh này.
Nên vào hành xứ
Và thân cận xứ.
Lúc đó, Phật muốn thuật lại nghĩa nầy, bèn nói
ra bài kệ : Nếu có Bồ Tát phát tâm đại bồ
đề, ở trong đời ác tương lai chẳng có tâm sợ
hãi, muốn nói Kinh Pháp Hoa, thì nên vào nơi
an lạc sở hành của thân, và nơi thân cận.
Thường lìa quốc
vương
Và các vương tử.
Ðại thần quan lớn
Kẻ ác chế giễu
Và chiên đà
la
Ngoại đạo phạm chí.
Cũng chẳng gần gũi
Kẻ tăng thượng mạn
Tham trước tiểu thừa
Người học tam tạng.
Tỳ Kheo phá giới
Xưng là
La Hán
Và Tỳ Kheo ni
Kẻ thích giỡn cười.
Chấp sâu năm dục
Cầu được diệt độ
Các cư sĩ nữ
Ðều chớ gần gũi.
Người tu hành tu Bồ Tát đạo, nên xa lìa quốc
vương, vương tử, đại thần, quan lớn, kẻ hung
ác chế giễu, kẻ đồ tể heo bò và tất cả người
tu ngoại đạo và Bà la môn. Cũng đừng gần gũi
với kẻ tăng thượng mạn, tham trước tiểu thừa
chẳng phát tâm đại thừa, và học giả tu tam
tạng, Tỳ Kheo chẳng giữ giới luật, hoặc mạo
xưng là A la hán. Cũng đừng gần gũi Tỳ Kheo
phá giới, kẻ thích đùa giỡn nói cười, vì họ
đều chấp sâu vào sắc, thanh, hương, vị, xúc,
hoặc tài, sắc, danh, thực, thùy, năm dục.
Cầu hiện đời được diệt độ, hàng cư sĩ nữ
cũng chớ gần gũi.
Nếu những người đó
Dùng tâm cầu đạo
Ðến chỗ Bồ Tát
Vì nghe Phật đạo.
Bồ Tát bèn dùng
Tâm không sợ hãi
Chẳng mong cầu gì
Vì họ nói pháp.
Nếu những người đó, dùng tâm cầu đạo đến chỗ
Bồ Tát tu đạo, muốn cầu Phật pháp. Bồ Tát
nầy bèn dùng tâm không sợ hãi, chẳng ôm lòng
mong cầu gì hết, chẳng tham xí đồ cúng dường
mà vì họ nói pháp.
Gái góa gái trinh
Và người bất nam
Ðều chớ gần gũi
Ðể kết thân giao.
Cũng đừng gần gũi
Ðồ tể hàng thịt
Thợ săn chài lưới
Vì lợi giết hại
Bán thịt tự sống
Hoặc buôn gái đẹp
Những người như thế
Chớ nên gần gũi.
‘’Gái góa‘’, tức là đàn bà đã mất chồng, ‘’gái
trinh‘’, là gái chưa lấy chồng. ‘’Bất nam‘’
là sinh, kiện, kị, biến, bán, năm loại bất
nam. Những người như thế, đều chớ nên gần
gũi kết thân với họ. Cũng đừng gần gũi người
đồ tể giết heo bò và kẻ bán thịt, thợ săn,
chài lưới, vì kiếm lợi mà giết hại chúng
sinh, người mua bán các loại thịt để sống,
hoặc người mưu sinh buôn gái đẹp. Những
người như thế đều chớ nên gần gũi.
Hung ác đánh nhau
Ðủ thứ đùa giỡn
Các dâm nữ thảy
Ðều chớ gần gũi.
Ðừng ở chỗ vắng
Vì nữ nói pháp
Nếu khi nói pháp
Không được giỡn cười.
Vào xóm khất thực
Dắt một Tỳ Kheo
Nếu không Tỳ Kheo
Một lòng niệm Phật.
Ðó tức gọi là
Hành xứ cận xứ
Dùng hai nơi này
An vui nói pháp.
‘’Hung ác đánh đập‘’, tức là người học tập võ
thuật. Ðủ thứ sự đùa giỡn và người mua bán
sắc đẹp, đều chớ gần gũi. Chớ ở nơi đơn độc
vắng vẻ vì người nữ nói pháp. Nếu muốn nói
pháp, thì không được cười giỡn. Vào trong
xóm khất thực, phải dắt theo một thầy Tỳ
Kheo cùng đi. Nếu không có Tỳ Kheo cùng đi,
thì hãy đoan nhiên cung kính một lòng niệm
Phật, như ‘’Nam Mô A Di Ðà Phật‘’ hoặc ‘’Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật‘’. Ở trên là
nơi thực hành và nơi gần gũi của người tu
hành Bồ Tát đạo, nhờ hai nơi nầy mà an vui,
vì đại chúng nói pháp.
Lại nữa chẳng tu
Pháp thượng trung hạ
Hữu vi vô vi
Pháp thật chẳng thật.
Cũng chẳng phân biệt
Người nam người nữ
Chẳng đắc các pháp
Chẳng biết chẳng thấy.
Ðó tức gọi là
Chỗ Bồ Tát tu
Tất cả các pháp
Hết thảy đều không.
Chẳng có thường trụ
Cũng chẳng khởi diệt
Ðó gọi bậc trí
Chỗ nên gần gũi.
Ðiên đảo phân biệt
Các pháp có không
Là thật chẳng thật
Là sinh chẳng sinh.
Ở nơi chỗ vắng
Tu nhiếp tâm mình
An trụ chẳng động
Như núi Tu Di.
Quán tất cả pháp
Hết thảy đều không
Giống như hư không
Nên chẳng kiên cố.
Không sinh không xuất
Không động không lùi
Thường trụ một tướng
Ðó gọi cận xứ.
Người tu hành Bồ Tát đạo, chẳng tu hành pháp
thượng trung hạ (pháp thượng là Bồ Tát thừa,
trung pháp là Duyên Giác thừa, hạ pháp là
Thanh Văn thừa), pháp hữu vi và pháp vô vi,
pháp thật, pháp chẳng thật, đều không thể tu
hành, cũng chẳng phân biệt là nam hay nữ.
Nam tức huệ, nữ tức là định. ‘’Ðịnh‘’
‘’huệ‘’ như một, cho nên đừng có phân biệt.
Vì vô trí cũng vô đắc, cho nên ‘’chẳng đắc
các pháp‘’, càng ‘’không biết không thấy‘’
tất cả các pháp, đó gọi là chỗ thực hành của
Bồ Tát. Tất cả các pháp, hết thảy đều không,
chẳng có thường trụ, tức không thường trụ,
tức chẳng chấp trước, không chấp trước thì
được giải thoát. Quán tất cả các pháp không
sinh không diệt, ‘’Ðó gọi bậc trí‘’, chỗ nên
gần gũi.
Ðừng điên đảo, thêm vào sự phân biệt có không
của các pháp, đây là pháp thật, kia là pháp
giả, đây là có sinh, kia là chẳng sinh. Nên
ở chỗ vắng vẻ tu nhiếp tâm mình, an trụ bất
động, đứng vững bất động như núi Tu Di. Yên
lặng quán tất cả các pháp đều chẳng có,
giống như hư không, chẳng có tự thể, cho nên
chẳng kiên cố. ‘’Không sinh không xuất‘’,
‘’không động không lùi‘’, ‘’thường trụ một
tướng‘’, thường trụ ở tướng chẳng có chẳng
không, đó gọi là chỗ tu hành của Bồ Tát.
Nếu có Tỳ Kheo
Sau ta diệt độ
Vào hành xứ này
Khi nói kinh này.
Chẳng có sợ hãi
Bồ Tát có khi
Vào nơi yên tĩnh
Nhớ nghĩ chân chánh.
Theo nghĩa quán pháp
Từ thiền định dậy
Vì các quốc
vương
Vương tử thần dân.
Bà la môn thảy
Khai thị diễn nói
Kinh Pháp Hoa này
Trong tâm an ổn.
Chẳng có sợ hãi
Văn Thù Sư Lợi !
Ðó gọi Bồ Tát
An trụ sơ pháp.
Hay ở đời sau
Nói Kinh Pháp Hoa.
Nếu có Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ, vào chỗ tu
hành của Bồ Tát như thế, và chỗ gần gũi của
Bồ Tát, khi diễn nói Kinh Pháp Hoa thì chẳng
sợ hãi, cũng chẳng mong cầu gì cả, ‘’Ðến chỗ
vô cầu thì chẳng lo‘’. Có khi Bồ Tát vào chỗ
vắng vẻ, nghĩ nhớ đạo lý Phật pháp chân
chánh. Trước khi giảng kinh, ngồi yên một
tiếng đồng hồ, để cho lắng đọng vọng tưởng
tạp loạn, ở trong sự tĩnh lự ngộ ra đạo lý
để giảng kinh thuyết pháp. Sau khi xuất định
thì vì các quốc vương, vương tử, đại thần,
nhân dân, hoặc Bà la môn thảy, khai thị diễn
nói diệu lý vô thượng trong Kinh Pháp Hoa,
trong tâm bình ổn an lạc, chẳng có sợ hãi.
Văn Thù Sư Lợi ! Ông nên biết, Bồ Tát nầy an
trụ vào pháp môn sơ bộ, tu hành như thế thì
tương lai vào thời mạc pháp, sẽ có thể diễn
nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi ! Sau khi Như Lai
diệt độ, ở trong đời mạc pháp, muốn nói kinh
này, thì nên trụ vào an lạc hạnh. Nếu miệng
diễn nói, hoặc đọc tụng kinh này, thì đừng
nên nói lỗi của người, và lỗi của kinh điển,
cũng đừng khinh mạn các pháp sư khác, đừng
nói tốt xấu thị phi của kẻ khác, đối với
hàng Thanh Văn cũng đừng gọi tên của họ, nói
lỗi lầm của họ, cũng đừng gọi tên khen ngợi
tốt, cũng đừng sinh tâm oán hận, vì khéo tu
tâm an lạc như thế. Các người đến nghe pháp
chẳng nghịch ý của họ. Nếu họ có vấn nạn,
thì đừng dùng pháp tiểu thừa mà đáp, chỉ
dùng pháp đại thừa để giải thích, khiến cho
họ đắc được Nhất thiết chủng trí.
Ðức Phật lại gọi : Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ! Sau
khi Như Lai diệt độ, ở đời mạc pháp muốn nói
kinh nầy, thì nên trụ vào an lạc hạnh, nếu
miệng tuyên nói, hoặc đọc tụng kinh nầy, thì
đừng nói lỗi lầm của kẻ khác, hoặc lỗi lầm
của kinh điển, cũng đừng khinh mạn kinh
điển, hoặc pháp sư khác, như đối với pháp
của pháp sư nói khởi tâm phân biệt, đây như
thế nầy, kia như thế nọ, cũng đừng nói thị
phi về kẻ khác. Ðối với hàng Thanh Văn cũng
đừng gọi thẳng tên của họ. Người Mỹ chẳng có
phân biệt lớn nhỏ tôn ti, con mà cứ gọi
thẳng tên của cha, đó là cử chỉ chẳng cung
kính. Người tại gia không nên gọi thẳng pháp
danh của người xuất gia, gọi pháp hiệu thì
được. Như trong Vạn Phật Thành, pháp danh
của người xuất gia là Quả ...., pháp hiệu là
Hằng ...., người tại gia có thể gọi pháp
hiệu, như thầy Hằng..... Ðồi với người xuất
gia còn chưa có thể gọi thẳng tên, hà huống
đối với sư phụ càng không nên gọi thẳng tên
của thầy. Nếu đệ tử gọi thẳng tôi là Ðộ Luân
pháp sư, hoặc Tuyên Hóa pháp sư, thì đó là
cử chỉ bất kính. Nếu như gọi thẳng là Ðộ
Luân, hoặc Tuyên Hóa, thì là hành vi khi
thầy diệt tổ. Giữa người xuất gia với người
xuất gia, cũng không thể gọi thẳng pháp danh
họ, có thể gọi pháp hiệu với nhau, chỉ có sư
phụ được gọi pháp danh của đệ tử.
Ðối với pháp sư tiểu thừa, đừng gọi tên nói
lỗi của họ, cũng đừng khen ngợi họ. Nếu pháp
sư chân chánh có đức hạnh, thì khen ngợi
cũng chẳng sao, chỉ đừng gọi tên của họ. Lại
đừng sinh tâm oán hận hiềm khích, nếu như
bạn chẳng có các thứ mao bệnh ở trên, thì
trong tâm chẳng có tham sân si, thì tự nhiên
sẽ được an lạc. Ðối với tất cả người đến
nghe pháp, chẳng nghịch ý của họ mà quán căn
cơ thí giáo. Nếu họ có vấn nạn thì chớ dùng
pháp tiểu thừa để giải nói, khiến cho họ đắc
được Nhất thiết chủng trí.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Bồ Tát thường thích
An ổn nói pháp
Ở chỗ thanh tịnh
Mà thí giường tòa.
Dùng dầu thoa thân
Tắm rửa bụi bặm
Mặc y mới sạch
Trong ngoài đều sạch.
Ngồi yên pháp tòa
Tùy hỏi mà nói
Nếu có Tỳ Kheo
Và Tỳ Kheo ni.
Các cư sĩ nam
Và cư sĩ nữ
Quốc vương vương tử
Quần thần sĩ dân.
Dùng nghĩa vi diệu
Vui vẻ mà nói
Nếu có vấn nạn
Theo nghĩa mà đáp.
Nhân duyên ví dụ
Phân biệt diễn nói
Nhờ phương tiện đó
Khiến họ phát tâm.
Dần dần tăng ích
Vào trong Phật đạo
Trừ tâm lười biếng
Và tưởng giải đãi.
Lìa các ưu não
Từ tâm nói pháp.
Lúc đó, Ðức Phật muốn thuật lại nghĩa ở trên
vừa nói, bèn dùng kệ để nói. Bồ Tát tu Bồ
Tát đạo, thường muốn khiến cho chúng sinh an
ổn đạo và an ổn quả, mà vì họ nói pháp, tức
là vào nhà Như Lai. Ở nơi thanh tịnh thì
giường tòa tức là tòa Như Lai. Dùng dầu thơm
thoa thân, tức là mặc y Như Lai. Rửa sạch
tất cả bụi bặm, ‘’mặc y mới sạch‘’, tức là
mặc y Như Lai, trong ngoài đều thanh tịnh,
bên trong chẳng có vọng tưởng, bên ngoài
chẳng có bụi bặm. Ngồi yên trên tòa Như Lai,
tùy theo sự vấn nạn mà nói pháp. Nếu gặp Tỳ
kheo và Tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ,
quốc vương, vương tử, đại thần và nhân dân,
nên dùng nghĩa lý không thể nghĩ bàn, vui vẻ
mà vì họ nói pháp. Nếu có sự vấn nạn thì tùy
nghĩa lý đại thừa để trả lời, dùng các thứ
nhân duyên và ví dụ để phân biệt diễn nói.
Dùng pháp phương tiện khiến cho họ phát tâm
bồ đề và ngày càng tăng ích, thành tựu Phật
đạo. Trừ khử đi tâm lười biến, và mọi tư
tưởng giải đãi, lìa tất cả ưu sầu phiền não,
tâm từ bi vì chúng sinh nói pháp.
Ngày đêm thường nói
Đạo lý vô thượng.
Dùng các nhân duyên
Vô lượng ví dụ
Khai thị chúng sinh
Khiến cho hoan hỉ.
Y phục ngọa cụ
Ẩm thực thuốc thang
Hết thảy các thứ
Chẳng mong cầu gì.
Chỉ một lòng nhớ
Nhân duyên nói pháp
Nguyện thành Phật đạo
Khiến họ cũng thế.
Đó là lợi lớn
An vui cúng dường.
Ngày đêm sáu thời vì chúng sinh nói pháp, dùng
tâm từ bi giáo hóa chúng sinh, diễn nói đạo
lý vô thượng trong Phật giáo, chỉ sợ chúng
sinh chẳng hiểu diệu lý, cho nên dùng đủ thứ
nhân duyên, vô lượng ví dụ để khai thị,
khiến cho đại chúng đều hoan hỉ. Ðối với y
phục, ngọa cụ, ẩm thực, thuốc men, các thứ
vật chất, chẳng mong cầu gì hết, chỉ một
lòng nhớ vì chúng sinh tùy căn cơ nói pháp,
nguyện thành Phật đạo, cũng khiến cho chúng
sinh thành tựu Phật đạo. Nghĩ như thế mới là
lợi lớn cho tất cả chúng sinh, cúng dường an
lạc cho chúng sinh.
Sau ta diệt độ
Nếu có Tỳ Kheo.
Thường hay diễn nói
Kinh Pháp Hoa này
Tâm chẳng sân hận
Các não chướng ngại.
Cũng chẳng sầu lo
Và người chưởi mắng
Lại chẳng sợ hãi
Thêm đao gậy thảy.
Cũng chẳng đuổi ra
Vì nhờ nhẫn nhục
Bậc trí như thế
Khéo tu tâm mình.
Thường trụ an lạc
Như ta nói trên
Công đức người đó
Ngàn vạn ức kiếp.
Toán số ví dụ
Nói chẳng hết được.
Sau khi Ðức Phật diệt độ, nếu có Tỳ kheo tức
là người xuất gia hành Bồ Tát đạo, thường
hay diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Diễn
nói pháp của Kinh Pháp Hoa, ‘’Tâm chẳng sân
hận đố kị‘’, học Phật pháp tức là vì tìm
kiếm chân tâm. Tâm chẳng có đố kị sân hận,
tức là lìa các phiền não, cũng chẳng chướng
ngại. Chẳng những mình chẳng có chướng ngại,
mà đối với người khác cũng chẳng có chướng
ngại. Nếu bạn trong ngoài đều chẳng có
chướng ngại, thì dù người khác chướng ngại
bạn, thì chướng ngại đó cũng chẳng làm gì
được. Cũng chẳng có ‘’kẻ mắng chưởi‘’, vì
sao có người mắng chưởi bạn ? Vì bạn thường
trách mắng kẻ khác, cho nên kẻ khác cũng
mắng chưởi bạn. Bạn không trách mắng kẻ
khác, thì chẳng có ai trách mắng bạn. ‘’Lại
chẳng sợ hãi, thường ung dung, dù ép độc
dược vẫn an nhàn‘’. Nhị tổ Thần Quang, Ngài
bị người ta chém đầu, song Ngài vẫn an nhiên
bất động, lúc đó nước (máu) trắng chảy ra,
hoàng đế mới biết là giết lầm bậc Thánh
nhân, bèn xây dựng tháp thờ Ngài để kỷ niệm,
để tỏ lòng ăn năng hối cải.
‘’Cũng chẳng đuổi ra‘’: Mọi người cùng tụ lại
một chỗ để tu hành, nên dung hợp lại cùng
một chỗ, bằng không thì phân tán, cuối cùng
sẽ đuổi đi. Nếu cùng nhau nhẫn nhục hòa hợp
vui vẻ, thì chẳng chướng ngại kẻ khác, dù
người khác nổi giận gây sự, bạn cũng chẳng
chấp trước, nhẫn được nhường nhịn được,
‘’cũng chẳng đuổi ra, vì nhờ nhẫn nhục‘’.
‘’Bậc trí như thế‘’ : Bậc có trí huệ sẽ không
chấp trước việc nhỏ mà nóng giận. Họ ‘’khéo
tu tâm mình‘’: Trụ vào hạnh an lạc, như đạo
lý ở trên đã nói tu hành Bồ Tát đạo, công
đức của người đó, trải qua ‘’ngàn vạn ức
kiếp, toán số ví dụ, nói không kết được.’’
Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi ! Đại Bồ Tát, ở đời
mạc pháp sau này, khi pháp muốn diệt, thì
người thọ trì đọc tụng kinh này, đừng ôm
lòng đố kị siểm nịnh, cũng đừng khinh khi
mắng chưởi người học Phật đạo, đừng nói thị
phi. Nếu Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư
sĩ nữ, người cầu Thanh Văn, người cầu Bích
Chi Phật, người cầu Bồ Tát đạo, đừng làm cho
họ sinh phiền não, khiến cho họ nghi ngờ,
nói với họ rằng : Các ngươi cách đạo rất xa,
không khi nào đắc được Nhất thiết chủng trí.
Vì sao ? Vì các ngươi là những người phóng
dật, tu đạo thì giải đãi, lại cũng không nên
hí luận các pháp, có sự tranh luận. Nên khởi
tâm đại bi đối với tất cả chúng sinh, với
các đức Như Lai khởi nghĩ như Ðại sư, với
các vị đại Bồ Tát trong mười phương, luôn
thành tâm cung kính lễ lạy.
Lại nữa, Bồ Tát Văn Thù và hết thảy đại Bồ Tát
tu hành Bồ Tát đạo, vào thời mạc pháp khi
pháp muốn đoạn diệt, thọ mạng của con người
đến lúc hai mươi tuổi, hoặc ba mươi tuổi,
thì người hay thọ trì đọc tụng Kinh Pháp
Hoa, tâm đừng đố kị siểm nịnh, đừng hiềm
nghèo trọng giàu, cũng đừng tùy ý trách mắng
người tu Phật đạo, đừng nói thị phi kẻ khác.
Nếu Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ
nữ, người cầu Thanh Văn, người cầu Bích Chi
Phật, người cầu Bồ Tát, không thể đắc tội
với họ, khiến cho họ sinh phiền não, cho đến
sinh tâm nghi ngờ và thối chuyển. Ví như nói
với họ rằng : ‘’Các người cách đạo rất xa,
chẳng khi nào đắc được Nhất thiết chủng trí
(Nhất thiết chủng trí là tục đế, chủng trí
là chân đế, chẳng tục chẳng chân là trung
đế). Vì sao ? Vì ngươi là người phóng dật,
tu đạo thì giải đãi. Không thể khinh mạn đối
với người mà nói ra lời như thế, lại không
thể ở trong Phật pháp sinh hí luận, có sự
tranh luận. Nên khởi tâm thương xót đối với
chúng sinh, với tất cả chư Phật khởi nghĩ
như cha lành, với các vị Bồ Tát khởi nghĩ
như thầy tốt, với mười phương các vị Bồ Tát
thường thành tâm cung kính lễ lạy.
Đối với tất cả chúng sinh, nên bình đẳng mà
nói pháp, bởi do thuận pháp, không nên nói
nhiều, không nên nói ít, cho đến người ái
mến pháp thâm sâu, cũng không vì họ mà nói
nhiều.
Văn Thù Sư Lợi !
Đại Bồ Tát đó, ở đời mạc pháp sau này, lúc
pháp muốn diệt, người thành tựu an lạc hạnh
thứ ba, khi nói kinh này, thì không ai có
thể não loạn, được người đồng học tốt, cùng
nhau đọc tụng kinh này, cũng được đại chúng
đến nghe nhận, nghe rồi hay trì, trì rồi hay
tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi thì sẽ biên
chép, hoặc khiến cho người biên chép cúng
dường kinh quyển, cung kính tôn trọng khen
ngợi.
Ðối với tất cả chúng sinh, nên từ bi bình đẳng
nói pháp, bởi do tùy thuận pháp, không nên
vì chúng sinh nào đó cung kính, thì nói pháp
nhiều đối với chúng sinh đó, còn chúng sinh
nào đó chưa thể cung kính, thì nói pháp ít
đối với chúng sinh đó. Cho đến người ưa mến
pháp thâm sâu, thì chẳng vì họ nói pháp
nhiều.
Văn Thù Sư Lợi ! Ông nên biết đại Bồ Tát tu
hành Bồ Tát đạo, ở đời sau khi chánh pháp
diệt, có thể thành tựu an lạc hạnh thứ ba,
khi nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì tất cả
Thiên Long bát bộ đều đến hộ pháp. Hơn nữa,
vì trong đời quá khứ, bạn chẳng gieo trồng
nhân não loạn, cho nên hiện tại chẳng có
chúng sinh đến làm não loạn. Ðược bạn đồng
học tốt, cùng nhau đọc tụng kinh nầy, còn
được đại chúng đồng đến nghe nhận, nghe kinh
rồi lại hay thọ trì, rồi có thể học thuộc
lòng, rồi diễn nói biên chép kinh nầy.
Nếu thỉnh người
khác biên chép ấn tống kinh nầy, cúng dường
lễ bái kinh nầy, phải cung kính tôn trọng
khen ngợi chư Phật Như Lai, đều đến chứng
minh Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu sinh một
phần tâm cung kính thì có một phần cảm ứng;
nếu sinh mười phần tâm cung kính thì có mười
phần cảm ứng. Nên biết, kinh nầy trải qua
trăm ngàn vạn kiếp mới gặp được, nếu chẳng
có căn lành lớn, thì khó gặp nhân duyên thù
thắng nầy, để học tập Phật pháp.
Tín chúng đến Phật Giáo Giảng Đường nghe kinh
ngày càng đông, bây giờ e rằng Phật Giáo
Giảng Đường nầy chẳng đủ để xử dụng, chúng
ta hy vọng sớm có một giảng đường khác có
thể dung chứa bốn, năm trăm người, mọi người
đều thành tâm đến tụng trì Chú Đại Bi, tin
rằng sẽ có cảm ứng không thể nghĩ bàn. Giống
như Chùa Phổ Tế ở Núi Phổ Ðà, đại hùng bảo
điện xem có vẻ chẳng lớn mấy, song có khoảng
một ngàn người vào trong đại diện cũng dung
nạp được, thậm chí có một vạn người, thì đại
điện nầy cũng dung nạp được, dù mười vạn
người, điện nầy cũng có thể dung nạp, có thể
nói là một ‘’Bảo điện‘’ không thể nghĩ bàn.
Lần nầy chúng ta thành tâm niệm Chú, thì sẽ
thành tựu một ‘’Bảo đường‘’, bảo đường nầy,
có thể nhỏ cũng có thể lớn.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Nếu muốn nói kinh này
Nên bỏ đố sân mạn
Tâm siểm nịnh tà ngụy
Thường tu hạnh chất trực.
Chẳng khinh khi kẻ khác
Cũng chẳng hí luận pháp
Chẳng khiến họ nghi ngờ
Rằng ông không thành Phật.
Bồ Tát đó nói pháp
Thường nhu hòa nhẫn nhục
Từ bi với tất cả
Chẳng sinh tâm giải đãi.
Mười phương đại Bồ Tát
Thương chúng nên hành đạo
Nên sinh tâm cung kính
Ðó là thầy của ta.
Với chư Phật Thế
Tôn
Nghĩ là cha vô thượng
Phá được tâm kiêu mạn
Nói pháp chẳng chướng ngại.
Pháp thứ ba như thế
Bậc trí nên một lòng
Thủ hộ an lạc hạnh
Vô lượng chúng cung kính.
Lúc bấy giờ, Phật Thích Ca muốn thuật lại
nghĩa nầy mà nói kệ rằng : Ðại Bồ tát tu
hành Bồ Tát đạo, nếu muốn diễn nói Kinh Pháp
Hoa, thì nên xả bỏ tâm đố kị, sân hận, kiêu
mạn, siểm nịnh, khi dối, tà ngụy. Thường tu
hạnh chất trực, do đó có câu : ‘’Trực tâm
thị đạo tràng‘’. Không khinh khi kẻ khác,
cũng chẳng hí luận pháp. Ðừng khiến cho kẻ
khác sinh tâm nghi ngờ đối với Phật đạo,
không thể nói : ‘’Ngươi tu hành giải đãi như
vậy, không khi nào có thể được thành Phật.’’
Ðại Bồ Tát nói pháp thường nhu hòa nhẫn
nhục, tức là mặc y Như Lai; từ bi đối với
tất cả chúng sinh, tức là vào nhà Như Lai,
siêng năng nói pháp, chẳng sinh tâm khinh
mạn giải đãi. Mười phương đại Bồ Tát, vì
thương xót chúng sinh nên hành Bồ Tát đạo.
Chúng ta nên sinh tâm cung kính đối với đại
Bồ Tát trong mười phương, xem các Ngài như
là thầy tốt của mình. Ðối với chư Phật Thế
Tôn nên sinh ý nghĩ là cha từ bi vô thượng.
Phá trừ được tâm kiêu ngạo ngã mạn, thì nói
pháp chẳng có chướng ngại, đây là an lạc
hạnh thứ ba.
Bậc có trí huệ, thì nên y theo pháp nầy mà tu
hành, một lòng thủ hộ an lạc hạnh nầy. Vô
lượng chúng sinh đều cung kính như đại Bồ
Tát tu hành nầy.
Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi ! Ðại Bồ Tát vào
đời sau này, khi pháp sắp diệt, có người nào
trì Kinh Pháp Hoa này, đối với người tại
gia, hoặc xuất gia, đều nên sinh tâm đại bi,
đối với những người chẳng phải Bồ Tát, cũng
nên sinh tâm đại bi, nên nghĩ như vầy :
Người như thế tổn thất rất lớn, đức Như Lai
phương tiện tùy nghi nói pháp, mà chẳng
nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng hỏi,
chẳng tin, chẳng hiểu.
Ðức Phật lại gọi một tiếng Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát ! Ðại Bồ Tát tu hành Bồ Tát hạnh, trong
tương lai vào thời mạc pháp, khi pháp muốn
diệt, có Bồ Tát thọ trì đọc tụng Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, đối với những người tại gia,
hoặc xuất gia, nên sinh tâm đại từ bi, muốn
khiến cho tất cả chúng sinh vui vẻ. Ðối với
những người không tin Phật pháp, thậm chí
người hủy báng Phật pháp, đều nên sinh tâm
đại bi. Bi hay cứu khổ, cứu những chúng sinh
tạo tội, nên nghĩ như vầy : Người như thế,
tổn thất đi rất lớn, đức Như Lai phương tiện
tùy nghi, quán căn cơ thí giáo vì họ nói
pháp, gặp người đại thừa thì nói pháp đại
thừa, gặp người tiểu thừa thì nói pháp tiểu
thừa, do đó có câu :
‘’Phật dùng một âm diễn nói pháp
Chúng sinh theo loài đều hiểu rõ.’’
Những người đó tạo tội chẳng tin Phật pháp,
chẳng nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng
hiểu Phật pháp, cũng chẳng hỏi, chẳng sinh
niềm tin, lại chẳng cầu cứu kính giải thoát,
cho nên hạng người nầy tổn thất rất lớn.
Người đó tuy chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng
hiểu kinh này, khi ta được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, bất cứ ở đâu, ta cũng dùng
thần thông và trí huệ dẫn dắt họ, khiến cho
họ được trụ ở trong pháp này.
Văn Thù Sư Lợi ! Ðại Bồ Tát đó, sau khi Như
Lai diệt độ, có ai thành tựu pháp thứ tư
này, khi nói pháp này, thì chẳng có lỗi lầm,
thường được Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ, quốc vương, vương tử, đại thần,
nhân dân, Bà la môn, cư sĩ thảy, cung kính
cúng đường, tôn trọng khen ngợi. Chư thiên
vì nghe pháp, nên cũng thường theo hầu vị Bồ
Tát đó. Nếu ở trong xóm làng, thành ấp, rừng
vắng, có người đến muốn vấn nạn, thì chư
Thiên ngày đêm thường vì pháp mà hộ vệ,
khiến cho người nghe đều được hoan hỉ. Tại
sao ? Vì kinh này nhờ thần lực của tất cả
chư Phật, quá khứ hiện tại vị lai ủng hộ
vậy.
Người đó, tuy chẳng hỏi, lại chẳng tin, cũng
chẳng hiểu, diệu lý của Kinh Pháp Hoa. Ðại
Bồ Tát tu hành Bồ Tát đạo nói : Ta phát
nguyện, khi ta chứng được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, bất cứ ở đâu, ta đều dùng
thần thông và trí huệ, để tiếp dẫn người
chẳng hỏi chẳng tin chẳng hiểu, khiến cho họ
trụ ở trong diệu pháp.
Văn Thù Sư Lợi ! Vị
Ðại Bồ Tát đó, sau khi Phật diệt độ, thành
tựu an lạc hạnh thứ tư, thì khi nói pháp
chẳng có lỗi lầm, thường được Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, quốc vương,
vương tử, đại thần, nhân dân, Bà la môn, và
cư sĩ thảy, cúng dường cung kính và tôn
trọng khen ngợi. Chư thiên đều vì nghe pháp,
cho nên thường theo hầu vị Bồ Tát đó. Nếu ở
trong xóm làng thành ấp, rừng vắng, có ai
đến muốn thưa hỏi, thì chư thiên hộ pháp
thiện thần, vì bảo hộ Bồ Tát. Bồ Tát đó dùng
diệu nghĩa đại thừa trả lời người hỏi, khiến
cho tất cả người nghe đều được hoan hỉ. Vì
sao ? Vì kinh nầy nhờ thần lực của tất cả
chư Phật, quá khứ hiện tại và vị lai ủng hộ,
cho nên tất cả khó khăn đều tiêu trừ.
Văn Thù Sư Lợi ! Kinh Pháp Hoa này, ở trong
vô lượng cõi nước, cho đến tên kinh còn
không thể nghe được, hà huống là được thấy
thọ trì đọc tụng.
Văn Thù Sư Lợi ! Ví như Chuyển luân thánh
vương có sức mạnh, muốn dùng uy thế để hàng
phục các nước, song các ông vua nhỏ chẳng
thuận theo mệnh lệnh. Vua chuyển luân bèn
đem các thứ binh đi chinh phục. Vua thấy
binh chúng ai chiến đấu có công thì rất hoan
hỉ, tùy theo công lao mà ban thưởng, hoặc
ban cho ruộng đất, nhà cửa, xóm làng, thành
ấp, hoặc ban cho quần áo, đồ nghiêm thân,
hoặc ban cho các thứ châu báu, vàng bạc, lưu
ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, voi
ngựa, xe cộ, nô tì, nhân dân.
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ! Có rất nhiều người
trong vô lượng kiếp, chẳng bao giờ được nghe
tên Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hiện nay có
phái Nhật Liên (Nhật Bản) chỉ tụng ‘’Nam Mô
Diệu Pháp Liên
Hoa Kinh‘’, song họ chẳng
biết kinh văn, hà huống người được thấy thọ
trì đọc tụng kinh nầy càng ít có.
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ! Ví như vua Chuyển Luân
Thánh Vương, sức mạnh muốn dùng oai đức thế
lực hàng phục các nước, mà các ông vua nhỏ
chẳng thuận theo mệnh lệnh, bấy giờ vua
Chuyển Luân Thánh Vương bèn đem các thứ binh
để đi chinh phục. Vua Chuyển Luân Thánh
Vương thấy binh chúng ai chiến đấu có công,
thì sinh đại hoan hỉ, tùy theo công lao mà
ban thưởng, hoặc dùng đất đai, nhà cửa, xóm
làng, thành ấp, hoặc ban cho y phục, đồ
nghiêm thân, hoặc ban cho các thứ châu báu,
vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, xan hô, hổ
phách, voi, ngựa, xe cộ, nô tì, và nhân dân,
để ban thưởng.
Vua Chuyển Luân
Thánh Vương ban thưởng cho binh chúng ai có
công, hoặc ban cho đất đai nhà cửa. ‘’Ðất
đai‘’ dụ cho tam muội, tức là định. ‘’Nhà
cửa‘’ dụ cho trí huệ. ‘’Xóm làng‘’ dụ cho
quả vị sơ quả và nhị quả. ‘’Thành‘’ dụ cho
quả vị tam quả. ‘’Ấp‘’ dụ cho quả vị tứ quả.
‘’Y phục‘’ dụ cho nhẫn nhục. Bảy báu : Vàng,
bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, xan hô, hổ
phách, dụ cho bảy giác chi, còn gọi là bảy
cảnh giới phần. ‘’Voi, ngựa, xe cộ‘’ đều là
biểu thị cho nhị thừa. ‘’Nô tì‘’ biểu thị
cho công dụng của thần thông. ‘’Nhân dân‘’
dụ cho thiện pháp.
Chỉ có hạt minh châu trong búi tóc là không
cho thôi. Tại sao ? Vì chỉ có trên đỉnh của
vua mới có hạt minh châu này. Nếu lấy đem
cho, thì các quyến thuộc của vua rất kinh
ngạc.
Văn Thù Sư Lợi !
Như Lai cũng lại như thế, nhờ sức thiền định
trí huệ, mà được cõi nước pháp, là vua trong
ba cõi, mà các ma vương chẳng chịu thuận
phục.
Các hiền Thánh
của Như Lai cùng chiến đấu với ma, ai có
công thì tâm cũng hoan hỉ. Phật cũng hoan hỉ
vì bốn chúng mà nói các kinh, khiến cho họ
được vui mừng, ban cho thiền định giải
thoát, căn lực vô lậu các pháp tài, còn ban
cho thành Niết Bàn, nói được diệt độ, dẫn
đạo tâm ý, khiến cho chúng sinh đều hoan hỉ,
mà chẳng vì họ nói Kinh Pháp Hoa này.
Trong búi tóc của vua Chuyển Luân Thánh Vương
có hạt minh châu quý giá, song không thể đem
hạt minh châu ban thưởng cho tướng quân có
công. Vì sao ? Vì chỉ có trong búi tóc của
vua Chuyển Luân Thánh Vương mới có bảo châu
nầy. Nếu đem bảo châu thưởng cho tướng quân,
thì quyến thuộc của vua sẽ kinh ngạc.
Ðức Phật lại gọi một tiếng Văn Thù Sư Lợi !
Nói : ‘’Như Lai cũng lại như thế, nhờ thiền
định tam muội trí huệ không thể nghĩ bàn,
được cõi nước vô thượng pháp, làm Pháp vương
trong ba cõi, cõi dục, cõi sắc, và cõi vô
sắc. Chỉ có các ma vương chẳng chịu thuận
phục, Như Lai bèn sai các tướng hiền Thánh
chiến đấu với ma, ai chiến đấu thắng lợi có
công, thì tâm bèn sinh hoan hỉ. Phật cũng
hoan hỉ vì bốn chúng, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni,
cư sĩ nam, cư sĩ nữ, nói tất cả kinh điển,
hoặc nói tam tạng giáo lý Bát nhã, tức cũng
là : Tạng, thông, biệt, viên, đốn, tiệm,
mật, bất định, tám thứ giáo. Vì đại chúng
nói tất cả các kinh, khiến cho chúng sinh
hoan hỉ, hoặc ban cho thiền định giải thoát
căn lực vô lậu, ‘’căn‘’ tức là năm căn :
Tín, tấn, niệm, định, huệ, khiến cho năm căn
tăng trưởng gọi là năm lực.
‘’Còn ban cho thành Niết Bàn‘’ : ‘’Thành‘’
dùng để bảo vệ kẻ địch, ‘’thành Niết Bàn‘’
hay kháng cụ ma vương phá hoại Niết Bàn. Nói
được diệt độ, dẫn đạo tâm ý, khiến cho tất
cả chúng sinh đều hoan hỉ. Giữ gìn Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, kinh nầy chính như hạt bảo
châu quý giá trong búi tóc của vua Chuyển
Luân Thánh Vương, không thể tùy tiện vì
người khác nói.
Văn Thù Sư Lợi ! Như vua chuyển luân thấy
các binh chúng, ai có công lớn thì tâm rất
hoan hỉ, bèn đem hạt châu khó tin này, từ
lâu để trong búi tóc chẳng tùy tiện cho
người, mà nay đem cho. Như lai cũng lại như
thế, là đại Pháp Vương ở trong ba cõi, đem
pháp giáo hóa tất cả chúng sinh, thấy quân
hiền Thánh với ma năm ấm, ma phiền não, ma
chết, đánh nhau. Có công lao lớn diệt trừ ba
độc, ra khỏi ba cõi, phá tan lưới ma.
Bấy giờ, Như Lai
cũng rất hoan hỉ. Kinh Pháp Hoa này, hay
khiến cho chúng sinh đến Nhất thiết trí. Tất
cả thế gian nhiều oán khó tin kinh này,
trước kia chưa từng nói mà nay nói ra.
Ðức Phật lại gọi một tiếng Văn Thù Sư Lợi !
Như vua Chuyển Luân Thánh Vương, thấy binh
chúng trong quân đội ai lập công lớn, thì
tâm rất hoan hỉ, bèn đem hạt bảo châu khó
tin nầy, từ lâu cất giấu ở trong búi tóc lấy
đem cho. Ðức Như Lai cũng lại như thế, làm
đại Pháp vương ở trong ba cõi, đem diệu pháp
vô thượng giáo hóa tất cả chúng sinh.
‘’Thấy quân Hiền Thánh‘’ : Thấy sơ quả, nhị
quả, tam quả và tứ quả A
La Hán, hoặc nhị thừa Duyên
Giác quân hiền Thánh đánh với ‘’ma năm ấm‘’
: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mỗi người
cùng đánh với ma năm ấm, ma phiền não, ma
chết; đánh thắng những thứ ma nầy, trừ được
tham sân si ba độc, thì vượt ra khỏi dục
giới, sắc giới, vô sắc giới, phá được lưới
ma. Lúc đó, Như Lại thấy người tu nhị thừa
hoặc đại thừa có sở thành tựu, thì rất hoan
hỉ. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, hay khiến
cho chúng sinh đạt đến bậc Nhất thiết chủng
trí. Tất cả người thế gian nhiều oán khó tin
kinh nầy. Hơn bốn mươi năm trước kia, Như
Lai chưa từng nói diệu pháp nầy, nay vì đại
chúng nói diệu pháp thâm sâu vô thượng nầy.
Văn Thù Sư Lợi ! Kinh Pháp Hoa này, là lời
nói bậc nhất của các đức Như Lai. Ở trong
các kinh, thì kinh này là thâm sâu nhất,
chưa từng ban cho. Như vua chuyển luân sức
mạnh kia, từ lâu giữ hạt minh châu, nay mới
đem ra cho.
Văn Thù Sư Lợi !
Kinh Pháp Hoa này, là tạng bí mật của chư
Phật Như Lai. Ở trong các kinh, thì kinh này
là trên hơn hết, giữ gìn từ lâu chưa hề
tuyên nói, cho đến hôm nay, mới nói ra cho
các ông nghe.
Ðức Phật lại nói với Bồ Tát Văn Thù : ‘’Kinh
Pháp Hoa nầy, là lời nói bậc nhấc của chư
Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai, là
diệu pháp thâm sâu vô thượng ở trong tất cả
các kinh điển. Cuối cùng ban cho tất cả
chúng sinh, như vua Chuyển Luân Thánh Vương
sức mạnh giữ gìn minh châu ở trong búi tóc,
do người nầy lập được công lớn nên mới đem
ra cho.
Văn Thù Sư Lợi ! Kinh Pháp Hoa nầy, mới là
pháp bất truyền của tất cả chư Phật mười
phương ba đời, đứng đầu ở trong các kinh, từ
lâu bảo hộ giữ gìn không thể tùy tiện nói
với mọi người. Do đó, hôm nay mới vì đại
chúng diễn nói kinh nầy, cho nên phải trân
tiếc Kinh Pháp Hoa nầy, đừng bao giờ xem
thường‘’.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Thường thật hành
nhẫn nhục
Thương xót hết tất cả
Mới nên nói kinh này
Kinh này được Phật khen.
Ai trì tụng kinh này
Ðối với tại, xuất gia
Và chẳng phải Bồ Tát
Nên sinh lòng từ bi.
Những người nào chẳng nghe
Cũng chẳng tin kinh này
Tức tổn thất rất lớn
Khi ta được Phật đạo.
Sẽ dùng các phương tiện
Vì họ nói pháp này
Khiến họ trụ pháp này.
Sau khi Ðức Phật nói xong kinh trường hàng,
bèn dùng kệ để nói rõ nghĩa lý bên trong. Bồ
Tát tu hành lục độ vạn hạnh, thì nên luôn
luôn thực hành hạnh nhẫn nhục, nhẫn nhịn
những việc mà người khác không nhịn được,
thương xót tất cả chúng sinh mới có thể diễn
nói kinh nầy. Kinh nầy là kinh được tất cả
mười phương chư Phật ba đời khen ngợi. Vào
thời mạc pháp sau nầy, ai trì tụng kinh nầy,
thì bất luận đối với người tại gia, xuất gia
và chẳng phải Bồ Tát, đều nên sinh tâm từ
bi, khiến cho họ lìa khổ được vui. Những ai
chẳng nghe, chẳng tin Kinh Pháp Hoa nầy,
thật là tổn thất rất lớn, vì chẳng tin kinh
nầy thì không thể thành Phật. Tương lai khi
ta được thành Phật đạo, thì sẽ dùng sức
thiền định, sức trí huệ và các thứ phương
tiện, để vì họ nói kinh nầy, khiến cho tất
cả chúng sinh được đượm nhuần pháp vũ, trụ ở
trong pháp nầy.
Ví như vua chuyển luân
Có sức lực mạnh mẽ
Thấy lính đánh có công
Ban thưởng các báu vật.
Voi ngựa các xe cộ
Và đồ dùng nghiêm thân
Cùng đất đai nhà cửa
Xóm làng và thành ấp.
Hoặc ban cho y phục
Ðủ thứ đồ quý báu
Nô tì và của cải
Ðều hoan hỉ ban cho.
Như có tướng tài giỏi
Làm được các việc khó
Vua lấy hạt minh châu
Trong búi tóc đem tặng.
Ví như có vua Chuyển Luân Thánh Vương có uy
đức lớn. Trên thế gian có Kim Luân Vương,
Ngân Luân Vương, Ðồng Luân Vương, và Thiết
Luân Vương. Kim Luân Vương cai trị bốn đại
bộ châu (Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ
Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu).
Ngân Luân Vương cai trị ba đại bộ châu (Ðông
Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu
Hóa châu). Ðồng Luân Vương cai trị hai châu
(Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu).
Thiết Luân Vương chỉ cai trị một châu. Vua
Chuyển Luân Thánh Vương có bảy báu hiếm có ở
trong thế gian. Binh lính chiến đấu có công
được ban thưởng.
‘’Voi ngựa xe cộ‘’: Dụ cho nhị thừa. ‘’Ðồ
nghiêm thân‘’ : Dụ cho pháp môn tu thân.
‘’Ðất đai nhà cửa‘’ : ‘’Ðất đai‘’ : Dụ cho
sức tam muội, ‘’nhà cửa‘’ dụ cho sức trí
huệ. ‘’Xóm làng‘’ : Dụ cho tam quả và tứ quả
A
La Hán. ‘’Y phục‘’ : Dụ cho
pháp môn nhẫn nhục. ‘’Các thứ đồ quý báu‘’ :
Tức là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san
hô, hổ phách. ‘’Nô tì‘’ : Dụ cho thần thông,
trong Phật pháp ai vận dụng thần thông, thì
như là nô tì. Những vật ở trên đều hoan hỉ
ban cho. ‘’Như có tướng tài giỏi, làm được
việc khó làm‘’ : Nếu như có vị tướng tài
giỏi, anh dũng đối địch, đánh đâu thắng đó,
làm được việc khó mà người khác không làm
được, thì lúc đó vua Chuyển Luân Thánh Vương
mới lấy hạt bảo châu ở trong búi tóc, đem ra
tặng cho tướng quân tài giỏi.
Phật vốn chẳng nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy, bây
giờ thời cơ chín mùi, cho nên mới nói bộ
kinh nầy.
Như Lai cũng như thế
Là vua của các pháp
Có sức nhẫn nhục lớn
Và bảo tàng trí huệ.
Dùng sức đại từ bi
Theo pháp giáo hóa đời
Thấy tất cả mọi người
Chịu các sự khổ não.
Muốn cầu được giải thoát
Chiến đấu với lũ ma
Vì những chúng sinh đó
Nói ra đủ thứ pháp.
Dùng sức đại phương tiện
Diễn nói các kinh này
Khi đã biết chúng sinh
Ðắc được các lực rồi.
Cuối cùng mới vì nói
Kinh Diệu Pháp Hoa này
Như vua mở búi tóc
Ban tặng hạt minh châu.
Kinh này rất tôn quí
Trên hết trong các kinh
Ta thường luôn giữ gìn
Chẳng tùy tiện nói ra.
Nay đúng là phải thời
Vì các ông mà nói.
Ðức Phật cũng như vua Chuyển Luân Thánh Vương.
Phật là vua của các pháp, là đấng Pháp
Vương, đắc được pháp diệu dụng tự tại vô
ngại. ‘’Có sức nhẫn nhục lớn‘’ : Có uy đức
lớn, có bảo tạng đại trí huệ. ‘’Dùng sức đại
từ bi‘’ : Từ hay ban vui, bi hay cứu khổ.
‘’Theo pháp giáo hóa đời‘’ : Y theo pháp
giáo hóa tất cả chúng sinh, quán căn cơ mà
thí giáo, đáng dùng thân Phật độ được, thì
hiện thân Phật mà vì họ nói pháp, đáng dùng
thân Bồ Tát được độ, thì hiện thân Bồ Tát mà
vì họ thuyết pháp. Phật là vì người nói
pháp, theo bệnh cho thuốc. Ví như người
thích ăn ngon thì nói về ăn, song những gì
nói ra là thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung
mãn. Người xuất gia ngày ăn một bữa, đều lấy
pháp làm món ăn. ‘’Thấy tất cả mọi người‘’ :
Ðối với tài, sắc, danh, thực, thùy, năm dục
có sự chấp trước, thì lo được lo mất. ‘’Chịu
các sự khổ não, muốn cầu được giải thoát.’’:
Chịu tất cả sự khổ não muốn cầu giải thoát,
thì phải chiến đấu với lũ ma, nào là ma
phiền não, ma ngũ ấm, ma nghiệp chướng, ma
ngu si, ma tâm tham, ma tâm sân, ma tâm si,
ma tâm kiêu mạn, ma tâm nghi ngờ tác chiến,
điều phục các ma chướng. Phật vì chúng sinh
chấp trước ma, mà nói các thứ pháp, dùng đại
phương tiện. Như Bồ Tát Ðịa Tạng, vì độ
chúng sinh mà vào địa ngục, để vì chúng sinh
nói pháp. Ngài nói : ‘’Ta chẳng vào địa ngục
thì ai vào địa ngục.’’ Tinh thần như vậy
thật là vĩ đại. ‘’Nói ra các kinh nầy.’’ Nói
Kinh Phương Ðẳng, Kinh Bát Nhã .v.v. ‘’Khi
đã biết chúng sinh, đắc được các lực rồi.’’
Cuối cùng mới vì nói Kinh Pháp Hoa. Ðây cũng
giống như vua Chuyển Luân Thánh Vương, mở
búi tóc lấy hạt minh câu ra, ban tặng cho
tướng quân có công lớn. ‘’Kinh nầy rất tôn
quý‘’ : Kinh nầy là kinh chí tôn chí quý,
đứng đầu trong các kinh, là ‘’Vua trong các
kinh‘’. ‘’Ta thường giữ gìn luôn‘’ : Phật
luôn luôn giữ gìn kinh nầy. ‘’Chẳng tùy tiện
nói ra, nay đúng là phải thời, vì các ông mà
nói‘’ : Bây giờ nên vì đại chúng mà nói ra
kinh nầy.
Hiện tại cũng có người nói Kinh Lăng Nghiêm là
kinh giả tạo, chẳng phải Phật nói ra. Nếu ai
nhận lầm mắt cá là hạt chậu, thì chẳng biết
thật giả, lấy thật làm giả, cuối cùng chẳng
thể được chỗ diệu ở trong kinh. Hội Phật
Giáo chúng ta trước hết giảng về Kinh Lăng
Nghiêm, sau đó giảng Kinh Pháp Hoa, kế tiếp
sẽ giảng Kinh
Hoa Nghiêm, ba bộ kinh nầy ai
ai cũng phải đọc tụng. Tất cả do tâm tạo,
nghe kinh nghe pháp, mà có sự bổ ích tức là
chân kinh. Kinh điển mà chúng ta giảng, đều
là kinh điển thượng thừa chân thật.
Sau khi ta diệt độ
Ai mong cầu Phật đạo.
Muốn được sự an ổn
Nên diễn nói kinh này
Và phải nên gần gũi
Bốn pháp như đã nói.
Ai đọc tụng kinh này
Thường chẳng có ưu não
Nhan sắc rất tươi thắm
Chẳng sinh nhà bần cùng.
Chẳng làm kẻ nô tì
Chúng sinh đều ưa thấy
Như kính mộ hiền Thánh
Chư thiên các đồng tử.
Cũng nghe sự sai khiến
Ðao gậy chẳng hại được
Ðộc cũng không thể hại
Nếu người ác mắng chưởi.
Thì miệng chẳng mở đặng
Du hành chẳng sợ sệt
Như loài sư tử chúa
Trí huệ quang chiếu sáng
Như mặt trời chiếu khắp.
Sau khi Phật vào Niết Bàn, Bồ Tát tu hành Bồ
Tát đạo, muốn được an ổn thì giải nói kinh
nầy, nên thực hành thân an lạc hạnh, khẩu an
lạc hạnh, ý an lạc hạnh, nguyện an lạc hạnh,
bốn pháp. Người đọc tụng kinh nầy, thì
thường chẳng có ưu não, chẳng có các bệnh
khổ, cho nên người đó sắc mặt tươi sáng.
Thấy người đó hồng quang đầy mặt, thì sẽ
biết họ trí huệ sung mãn, cho nên hiện khí
cát tường. Chẳng sinh nhà bần cùng, chẳng
làm nô tì ti tiện, bị người sai khiến, còn
tướng mạo thì tròn trịa, chúng sinh ưa thấy,
như kính mộ hiền Thánh, cho đến các đồng tử
trên trời cũng nghe bạn sai khiến. Ðao gậy
cũng chẳng hại được thân họ, độc dược cũng
chẳng hại đặng. Nếu ai muốn mắng chưởi bạn,
thì miệng người đó chẳng mở ra được. Du hành
thì chẳng sợ hãi gì cả, như chúa loài sư tử.
Trí huệ quang chiếu khắp pháp giới, như mặt
trời chiếu soi.
Nếu như ở trong mộng
Chỉ thấy những việc tốt
Thấy các đức Như Lai
Ngồi trên tòa sư tử.
Các đại chúng Tỳ Kheo
Vây quanh diễn nói pháp
Lại thấy các rồng thần
Và A tu la thảy.
Nhiều như cát sông Hằng
Ðều cung kính chắp tay
Tự thấy chính thân mình
Vì chúng sinh nói pháp.
Lại thấy các đức Phật
Thân tướng sắc vàng tía
Phóng vô lượng quang minh
Chiếu khắp hết tất cả.
Dùng phạm âm thanh tịnh
Diễn nói thảy các pháp
Phật lại vì bốn chúng
Nói diệu pháp vô lượng.
Thảy đều thấy thân mình
Chắp tay khen ngợi Phật
Nghe pháp đều hoan hỉ
Mà dùng để cúng dường.
Ðắc được Ðà la ni
Chứng được trí bất thối
Phật biết tâm người ấy
Vào sâu nơi Phật đạo.
Tức là được thọ ký
Thành Chánh đẳng chánh giác
Các ông thiện nam tử !
Sẽ ở đời vị lai.
Ðược vô lượng trí huệ
Ðược thành tựu Phật đạo
Cõi nước rất nghiêm tịnh
Rộng lớn chẳng sánh được.
Cũng có đủ bốn chúng
Ðều chắp tay nghe pháp
Lại thấy chính thân mình
Ở trong nơi núi rừng.
Tu tập các pháp lành
Chứng được các thật tướng
Vào sâu nơi thiền định
Thấy chư Phật mười phương.
Nếu ở trong giấc mộng, cũng thấy cảnh giới cát
tường, thấy chư Phật ngồi trên tòa sư tử nói
pháp. Lại thấy trời, rồng, A tu la, thảy tám
bộ, nhiều như số cát sông Hằng đều cung kính
chắp tay. Tự thấy thân mình vì tất cả chúng
sinh nói pháp. Lại thấy chư Phật thân hiện
màu vàng tía, phóng ra vô lượng quang minh
chiếu khắp tất cả, dùng phạm âm thanh tịnh
diễn nói các pháp. Âm thanh của người nói
pháp cũng rất quan trọng, phải thanh tịnh rõ
ràng, đó là do quả báo thuở xưa tu vô thượng
căn mà đắc được quả báo. Phật vì bốn chúng
mà nói các pháp vô thượng. Người đều thấy
thân mình chắp tay khen ngợi Phật nói pháp.
Người nhiều căn lành thì đều nằm mộng như
thế. Nghe pháp hoan hỉ để cúng dường Phật.
Ðắc được pháp môn tổng trì, tổng tất cả các
pháp, trì vô lượng nghĩa, chứng được trí huệ
bất thối. Phật biết tâm của người ấy vào sâu
trong Phật đạo, tức là thọ ký thành Chánh
đẳng chánh giác. Các ông thiện nam tử, ở
trong đời vị lai sau nầy, sẽ được vô lượng
trí huệ, được thành Phật đạo, cõi nước
nghiêm tịnh, rộng lớn chẳng gì sánh bằng.
Cũng có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư
sĩ nữ, bốn chúng chắp tay để nghe pháp. Lại
thấy thân mình ở trong núi rừng thanh vắng,
tu tập thiền định chứng được cảnh giới thật
tướng diệu hữu, tức là cảnh giới ‘’Hành thâm
Bát nhã ba la mật đa thời‘’. Ở trong thiền
định thấy mười phương chư Phật, nghe kinh
nghe pháp.
Chư Phật thân sắc vàng
Tướng trăm phước trang
nghiêm
Nghe pháp vì người nói
Thường có mộng tốt đó.
Lại mộng làm Pháp
vương
Bỏ cung điện quyến thuộc
Và năm dục thượng diệu
Ði thẳng đến Ðạo tràng.
Ở dưới cội bồ đề
Ngồi trên tòa sư tử
Cầu đạo quá bảy ngày
Ðắc được trí chư Phật.
Thành vô thượng đạo rồi
Bèn chuyển bánh xe pháp
Vì bốn chúng nói pháp
Qua ngàn vạn ức kiếp.
Nói diệu pháp vô lậu
Ðộ vô lượng chúng sinh
Sau sẽ vào Niết Bàn
Như củi hết lửa tắt.
Nếu đời ác sau này
Nói pháp bậc nhất này
Người đó được lợi lớn
Như công đức ở trên.
Người đó ở trong mộng thấy Phật phóng kim
quang, ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp
vi diệu thanh tịnh trang nghiêm. Ở trước chư
Phật nghe pháp và vì người nói pháp, thường
được những giấc mộng tốt như thế. Lại mộng
thấy mình làm vua, xả bỏ tam cung lục viện
thê thiếp; tài, sắc, danh, thực, thùy, và
sắc, thanh, hương, vị, xúc. Ði đến Ðạo tràng
ngồi trên tòa sư tử dưới cội bồ đề, cầu đạo
quá bảy ngày, thì được trí của chư Phật,
thành vô thượng đạo. Tám tướng thành đạo,
chuyển đại pháp luân, vì Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, bốn chúng mà nói
pháp. Trong mộng qua ngàn vạn ức kiếp, nói
diệu pháp vô lậu, độ vô lượng chúng sinh,
sau sẽ vào Niết Bàn, như củi hết lửa tắc.
Nếu trong đời ác tương lai, ai nói Kinh Pháp
Hoa nầy, thì người đó sẽ được lợi ích rất
lớn.
Hết tập 3
Hồi hướng công đức
Trong các sự bố
thí, thì bố thí pháp là cao thượng nhất. Vì
ấn tống kinh điển bố thí cho mọi người đọc,
khiến cho họ hiểu rõ những lời đức Phật dạy,
phát tâm tu học, thực hành hạnh Bồ Tát, tự
lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác ta,
tích tụ căn lành công đức, hồi hướng về quả
Vô thượng bồ đề, cuối cùng sẽ chứng ngộ quả
vị Phật. Nhờ giáo lý Pháp bảo mà chúng ta
tin, hiểu, thực hành, và chứng ngộ.
Xin hồi hướng công đức pháp thí cao thượng
nầy, đến các bậc Thầy Tổ, và toàn thể tất cả
Phật tử đã phát tâm hùn phước ấn tống, hữu
danh hoặc vô danh, và thân bằng quyến thuộc
của tất cả quý vị còn sống hoặc đã quá vãng,
cùng pháp giới chúng sinh, thảy đều được lợi
lạc, căn lành tăng trưởng, tâm bồ đề kiên
cố, luôn luôn an trụ ở trong chánh pháp, tu
hành chánh pháp, rốt ráo được thoát khỏi
sinh tử luân hồi, đến được bờ giác ngộ bên
kia.
Nam Mô Hộ Pháp Vi Ðà
Tôn Thiên Bồ Tát
Kệ hồi hướng công đức
Nguyện đem công đức
nầy
Trang Nghiêm cõi Phật tịnh
Trên đền bốn ân nặng
Dưới cứu ba đường khổ
Nếu có ai thấy nghe
Liền phát tâm bồ đề
Khi bỏ báo thân nầy
Sinh về cõi Cực Lạc.