| ||||||
|
|
KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA -o0o- TẬP 03 Quyển 04 Phẩm Khuyên Trì thứ mười ba Khuyên trì là gì ? Khuyên là khuyên nói, trì là phụng trì. Tức là bạn có thể dùng đủ thứ lời lẽ khuyên nói người khác, hoan hỉ đọc tụng bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, hoặc là hoan hỉ phụng trì bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, thì chắc chắn sẽ có công đức không thể nghĩ bàn. Nếu không tin thì đừng ngại hãy thử xem ! Một khi đọc kinh nầy, thì cảm thấy diệu không thể tả. Muốn không đọc tụng cũng không thể ngưng được. Do đó, hằng ngày đọc tụng kinh nầy, hằng ngày phụng trì kinh nầy, thì có vô lượng công đức.
Các vị hằng ngày
nghe Kinh Pháp Hoa càng có vô lượng công
đức. Kinh Pháp Hoa là vua trong các kinh, là
kinh thành Phật. Cho nên, chư Phật, Bồ Tát,
A
Trong quá khứ Bồ Tát Dược Vương tên là Tinh Tú Quang. Lúc ấy, có Tỳ Kheo Nhật Tạng tuyên dương truyền bá chánh pháp. Ông ta đem các thứ thuốc A lê lặc dâng lên Tỳ Kheo Nhật Tạng, và đại chúng phát nguyện đời sau, hay trị lành hai bệnh thân, tâm của chúng sinh, đời đời làm lương y, khéo trị bệnh, có thuốc đến thì bệnh tiêu trừ. Ông ta biết rành tính thuốc thảo, mộc, kim, thạch, bốn thứ. Như cam thảo thì ngọt, hoàng liên thì đắng. Tính lạnh trị được bệnh nhiệt, tính nóng trị được bệnh lạnh. Ðại Nhạo Thuyết Bồ Tát có đủ bốn vô ngại biện : 1. Pháp vô ngại biện : Nói được pháp thế gian và xuất thế gian, đối với tất cả các danh tướng, chẳng có gì mà không biết. Tuy biết tất cả các pháp, song chẳng chấp trước các pháp. 2. Nghĩa vô ngại biện : Nói phân biệt được nghĩa của các pháp, thông đạt vô ngại. Tuy biết nghĩa lý của các pháp, song chẳng chấp trước. 3. Từ vô ngại biện : Trong một lời bao hàm vô lượng nghĩa. Ðối với từng lời lẽ thông đạt tự tại, viên dung vô ngại.
4. Lạc thuyết vô
ngại biện : Tùy thuận sự vui thích của chúng
sinh, mà thiện xảo phương tiện nói Phật
pháp, cho nên gọi là Bồ Tát Ðại Nhạo Thuyết. Thứ người đó chẳng biết hổ thẹn, đối với kinh điển của Phật nói, y chẳng hiểu một bộ kinh nào hết, vậy mà chẳng biết hổ thẹn nói mình là Phật. Thứ người đó tương lai chắt chắn sẽ đọa vào địa ngục vô gián. Tại sao tự nói mình là Phật ? Ðó là vì tham đồ lợi ích, tham đồ cúng dường. Như thế thì tăng thêm căn chẳng lành, vĩnh viễn xa lìa đạo giải thoát. Giải thoát là gì ? Nói đơn giản là chẳng chấp trước những thứ gì, đắc được cảnh giới vô câu vô thúc, thân tâm tự tại. Người tăng thượng mạn tuy khó giáo hóa, song chúng con đại chúng dùng sức đại nhẫn nhục để giáo hóa, độ thoát họ. Dùng phương pháp gì để độ ? Hoặc là đọc tụng Kinh Pháp Hoa, hoặc là thuyết giảng Kinh Pháp Hoa, hoặc là biên chép ấn tống Kinh Pháp Hoa, thậm chí chẳng tiếc thân mạng để cúng dường Kinh Pháp Hoa. Thuở xưa, có vị Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỉ Kiến (tiền thân của Bồ Tát Dược Vương), Ngài phát tâm đốt thân cúng dường Phật và Kinh Pháp Hoa. Chư Phật cùng khen ngợi rằng : ‘’Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử ! Là chân tinh tấn, gọi là chân pháp cúng dường Như Lai‘’. Trí Giả đại sư đọc kinh đến chỗ nầy, đột nhiên nhập định. Ở trong định thấy pháp hội trên núi Linh Thứu chưa tan. Ðức Phật Thích Ca vẫn vì các đại Bồ Tát và hàng Thanh Văn diễn nói Kinh Pháp Hoa. Cảnh giới đó thật là không thể nghĩ bàn. Nhân tạo ra đời ác trược là do tâm trược mà ra. Nếu ai ai cũng thanh tâm quả dục, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng lợi mình, chẳng nói dối, thì tâm tự nhiên thanh tịnh, trở thành cõi tịnh độ nhân gian. Năm trược là gì ? Tức là : 1. Kiếp trược : Tuổi thọ con người vốn là tám vạn bốn ngàn tuổi, song vì phước cạn mỏng, dần dần giảm bớt mà đi vào kiếp trược. Kiếp trược vốn chẳng có thể, lấy bốn trược làm thể. 2. Kiến trược : Vì kiến giải của chúng sinh chẳng chân chánh, mê hoặc chánh kiến, trở thành kiến hoặc, tức cũng là năm lợi sử : Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cẩm thủ kiến). 3. Phiền não trược : Sáu căn đối với sáu trần, bèn sinh năm độn sử (tham, sân, si, mạn, nghi) mà có đủ thứ phiền não sinh ra. 4. Chúng sinh trược : Vì ảnh hưởng thọ kiến trược và phièn mão trược, nên phước báo của chúng sinh càng tổn giảm, còn khổ báo thì dần dần tăng lên, cho nên gặp nhiều tai họa.
5. Mạng trược :
Chúng sinh vì phiền não sinh, nên thân tâm
ốm gầy, cho nên mạng sống ngắn ngủi.
Sơ quả A
Chúng sinh ở thế
giới Ta Bà hay kham nhẫn mọi sự khổ, lấy khổ
làm vui, chẳng biết tu pháp lìa khổ được
vui, suốt ngày dụng công trên sự danh lợi,
bạn tranh thì tôi giành, chẳng ngừng nghỉ.
Vì khởi hoặc, tạo nghiệp, cho nên thọ quả
báo. Nếu hồi quang phản chiếu, vạn duyên
buông bỏ, thì tự nhiên thoát khỏi luân hồi,
do đó :
Tỳ Kheo ni Ma Ha Ba
Xà Ba Ðề, là em gái của Ma Gia phu nhân. Sau
theo Phật xuất gia trở thành Tỳ Kheo ni bậc
nhất, tức là người lãnh đạo các Tỳ Kheo ni.
Ðương thời họ muốn xuất gia tu đạo, Phật vốn
chẳng cho phép, sau tôn giả A Nan ba lần
thỉnh cầu Ðức Phật, cuối cùng Phật miễn
cưỡng đáp ứng.
Ðại pháp sư có mười
đức : Như Lai : Thừa đạo như thật, lai thành chánh giác. Ứng Cúng : Xứng đáng thọ lãnh sự cúng dường của chín pháp giới. Chánh Biến Tri : Trí của Phật chiếu soi tất cả các pháp, vừa chánh lại vừa biến. Minh Hạnh Túc : Ba minh thuộc về huệ, Năm hạnh thuộc về phước, phước huệ đều đầy đủ. Thiện Thệ : Tu chánh đạo, vào Niết Bàn. Thế Gian Giải : Thế và xuất thế tất cả các tướng đều thấu rõ. Vô Thượng Sĩ : Tu đến địa vị vô tu vô chứng. Ðiều Ngự Trượng Phu : Hóa đạo chúng sinh, điều phục chúng sinh. Thiên Nhân Sư : Làm đại đạo sư của trời người. Phật: Bậc giác ngộ.
Thế Tôn : Người tôn
quý nhất của thế và xuất thế. Ðầy đủ mười
danh hiệu mới xưng là Thế Tôn.
1. Bố thí : Gồm có
ba thứ. Thứ nhất là tài thí : Dùng của cải
tiền bạc cứu tế người nghèo. Bồ Tát xả bỏ
được nội tài (Ðầu mắt tủy não), và ngoại tài
(Ðất nước vợ con), chẳng có gì mà xả bỏ
chẳng đặng. Thứ hai là pháp thí : Tức là
giảng kinh thuyết pháp, đem pháp lành mà
mình biết, khiến cho mọi người cũng biết, do
đó có câu : 2. Trì giới : Giới là điều răn cấm, ngưng làm ác ngừa việc quấy. Cho nên người tại gia phải giữ năm giới hoặc tám giới. Sa di phải giữ mười giới, Tỳ Kheo giữ hai trăm năm mươi giới, Tỳ Kheo ni giữ ba trăm bốn tám giới. Dù tại gia hoặc xuất gia, sau khi thọ giới Bồ Tát, phải hành Bồ Tát đạo, vì người chẳng vì mình. 3. Nhẫn nhục : Người tu đạo nhất định phải tu nhẫn nhục, nhẫn những gì người khác không nhẫn được, chịu đựng những điều người khác chịu không được, như thế mới có thể chứng được vô sinh pháp nhẫn. 4. Tinh tấn : Tức là dũng mãnh hướng về trước, chẳng giải đãi, chẳng phóng dật, tuyệt đối không lùi bước. Không thể một ngày nóng mười ngày lạnh, không thể có trước chẳng có sau. Tóm lại, phải có ý chí khiên nhẫn không lùi bước, mới có sở thành tựu. 5. Thiền định : Tức là tĩnh lự. Nghĩa là ngưng bặc hết mọi tạp niệm lăn xăn, một niệm không sinh thì trí huệ hiện tiền.
6. Bát nhã : Dịch
là "trí huệ". Có trí huệ thì rõ thiện ác,
thị phi, trắng đen, chánh tà, chẳng làm
nghiệp ác. Trí huệ từ đâu mà có ? Có hai
phương pháp : Một là tham thiền, phải tham
đến khi sơn cùng thủy tận (Núi mòn nước
cạn), thì sẽ có cảnh giới "liễu ám hoa
minh". Thứ hai là tụng kinh, do đó có câu :
‘’Thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải‘’.
(Vào sâu tạng kinh, trí huệ như biển).
A
Ðức Thế Tôn ! Ngài
là đại Đạo sư của trời người, Ngài hay khiến
cho trời người được an ổn, được an lạc.
Chúng con hàng Tỳ Kheo ni, nghe đức Thế Tôn
thọ ký cho chúng con, ai nấy trong tâm đều
an ủi chẳng cách gì hình dung được.
Các vị Bồ Tát đó
lại nghĩ như vầy : ‘’Tuy chúng ta cùng nhau
phát tâm nguyện như vậy, song Phật nay lại
yên lặng chẳng nói, chẳng thấy Phật dạy bảo
chúng ta. Bây giờ chúng ta phải làm thế nào
? Phát nguyện hoằng
Xin nguyện Phật
đừng lo
Chúng con đại
chúng, xin nguyện Ðức Thế Tôn phóng tâm,
đừng lo lắng chẳng có ai hoằng
Nếu như có người chẳng có trí huệ, làm những hành vi thô bạo, mắng chưởi hoặc dùng đao gậy đánh người, chúng con sẽ tiếp nhận sự ngược đãi của họ, chúng con tu pháp môn nhẫn nhục sẽ nhẫn nhịn. Nếu có người mắng bạn, mà bạn chẳng tiếp nhận (chẳng đếm xỉa gì đến họ), thì sự mắng chưởi đó sẽ trở về người đó. Giống như có người mang quà tặng đến cho người nọ, song người nọ chẳng tiếp nhận, thì quà tặng đó trở về người tặng quà, cũng đồng lý ấy. Lại như có người, ngửa mặt lên trời phun nước miếng, muốn làm dơ trời, cuối cùng nước miếng rơi vào mặt người đó, tự thọ lấy hậu quả. Công phu nhẫn nhục của Bồ Tát Di Lặc tu đã đến nhà, có người nhổ nước miếng lên mặt của Ngài, song Ngài chẳng phản ứng, cũng chẳng dùng tay lau chùi, để cho nó khô tự nhiên. Nếu ai ai cũng có công phu hàm dưỡng như vậy, thì trên thế gian chẳng có sự việc tranh giành phát sinh.
Người thông minh
đều có sự tu dưỡng, bị người chưởi mắng thì
xem như là họ ca hát, được như thế thì mọi
sự đều thành công, do đó có câu : Tâm tánh của họ siểm khúc. Siểm là siểm nịnh, thấy người có tiền có thế, thì sinh tâm phan duyên, nói những lời ngọt ngào, khiến cho họ sinh tâm hoan hỉ. Tại sao ? Ðó là vì tham đồ danh văn lợi dưỡng. Khúc là quanh co, chẳng nói lời ngay thẳng với người, nói lời giả dối. Ðó là hành vi của kẻ tiểu nhân, chẳng phải là tác phong của quân tử. Có những người tu đạo, chẳng đắc đạo mà nói với mọi người rằng mình đã chứng đạo, chẳng chứng quả mà nói đã chứng quả, đó là chưa được nói đã được, chưa chứng nói đã chứng. Phạm đại vọng ngữ thì tương lai chắc chắn phải đọa vào địa ngục cắt lưỡi.
Người phạm mao bệnh
cống cao ngã mạn, chẳng xem ai ra gì cả, ngã
mạn đầy dẫy trong tâm, nói mình là Phật, nói
mình khai ngộ, tự mình tuyên truyền quảng
cáo khắp nơi. Tại sao ? Vì tâm phan duyên
đang tác quái, hy vọng có người đến cúng
dường.
Hoặc có Tỳ Kheo ở
nơi A lan nhã (nơi vắng lặng), mặc y phấn
tảo mà tu ở nơi vắng lặng. Tự nói mình đang
tu chân đạo : ‘’Ta là Tăng tu khổ hạnh, ta
là
A lan nhã là nơi
chẳng có tiếng ồn ào, là nơi người tu khổ
hạnh ở, tức cũng là nơi cách xa thành thị
huyên náo, nơi tĩnh tâm tu hành. Ban đêm họ
ngồi thiền dưới gốc cây chẳng ngủ. Y phấn
tảo là y vá, cũng là y phục của người xuất
gia mặc. Người xuất gia phải trừ tâm tham,
cho nên chẳng mặc y phục tốt, thứ y phục nầy
dùng vải cũ may thành, rất dễ rách nát. Do
đó, chỗ nào rách thì vá chỗ đó, do đó có câu
: ‘’Thiên châm vạn tuyến bổ nạp y‘’. Nghĩa
là ‘’Ngàn đường kim vạn sợi tơ vá y rách‘’.
Nạp y còn biểu thị năm tuổi tu đạo. Còn gọi
là y phấn tảo, là y lượm ở trong đống rác,
dùng nước giặc sạch rồi may thành y.
Tỳ Kheo ác tính
thường ôm lòng ác độc, ác ý hủy báng pháp sư
giảng nói Kinh Pháp Hoa, song ông ta luôn
luôn nghĩ nhớ đến việc thế tục, làm thế nào
mới có thể thành tựu danh lợi ? Làm thế nào
mới có người cúng dường ? Cho nên phan duyên
khắp nơi, hóa duyên các nơi. Họ mượn danh
nghĩa giả, ở chỗ vắng vẻ. Kỳ thật, họ tham
đồ danh văn lợi dưỡng mà thôi. Họ tự cho
rằng họ là thanh cao, mà chuyên môn nói lỗi
của người thuyết pháp, đó là hành vi của vi
trùng ở trong thân của sư tử.
Ngoại đạo : Tức là
người tu hành, cầu pháp bên ngoài tâm. Lúc
Ðức Phật còn tại thế, ở Ấn Ðộ có sáu thứ
ngoại đạo, học thuyết của họ không ngoài nói
về đoạn về thường, bác vô nhân quả, tự nhiên
thành tựu. Cho nên hình thành hai chủ nghĩa
lớn : Một là phái hưởng thụ, hai là phái khổ
hạnh, song đều chẳng cứu kính. Chúng sinh vào thời mạc pháp, chẳng có mắt lựa chọn pháp, bạn nói với họ pháp thật, thì họ cho là giả. Nếu bạn nói pháp giả, thì họ cho là pháp thật, đó tức là điên đảo. Chẳng phân biệt được rõ ràng thật giả, thiện ác, chánh tà, trắng đen.
Bà la môn là một
trong bốn dòng dõi của Ấn Ðộ, thờ phụng trời
Phạm Thiên, tu hạnh thanh tịnh. Khi nhi đồng
đến bảy tuổi, thì ở nhà học tập kinh điển,
đến mười lăm tuổi, thì có thể ra ngoài học
giáo lý Bà la môn, đi cầu học các nơi. Bốn
mươi tuổi thì trở về nhà kết hôn, sinh con
nối dòng, ‘’Truyền tông tiếp đại‘’, năm mươi
tuổi thì vào núi tu đạo. Trước kia, tôi có gặp một cô gái bị quỷ nhập. Cô ta nói cô ta là Bồ Tát, tôi nói với cô ta : ‘’Bồ Tát cái gì cũng biết, sao cô chẳng biết gì hết’’? Cô ta chẳng có lời nào để nói bèn bỏ đi. Bây giờ rất dễ mạo xưng là thánh nhân, đi khắp nơi tuyên truyền mình là Phật, là Bồ Tát. Kỳ thật, đó là quỷ trong thân mình, mà mình chẳng biết mà thôi. Những người tà đó, đi khắp nơi vì chúng sinh nói pháp giảng đạo, giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh lầm vào đường tà.
Quỷ ở trong thân ác
Tỳ Kheo, chuyên môn mắng chưởi hủy nhục
chúng con, nói pháp sư giảng Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa là ngoại đạo. Chúng con đại chúng
vì cung kính Phật, tín ngưỡng Phật, cho nên
thường mặc áo giáp nhẫn nhục, để bảo hộ huệ
mạng của chúng con. Vì hoằng
Con là sứ giả của
Phật, phàm là việc của Phật, con đều đi làm.
Ở trong đại chúng đạo tràng, vì nói Kinh
Pháp Hoa nên con chẳng có sợ hãi. Con sẽ
khéo nói pháp, phân biệt tất cả nghĩa lý
thật tướng của các pháp. Xin nguyện Phật hãy
yên lòng, đừng lo lắng việc hoằng
Chúng con ở trước
đức Thế Tôn, ở trước mười phương chư Phật
phát thệ nguyện như thế, chắc chắn Phật sẽ
biết tâm nguyện của con. Tâm nguyện của con
là bảo hộ thọ trì Kinh Pháp Hoa, hoằng
|
|
| ||||||