KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 03
Quyển 04
Phẩm
Đề Bà Đạt Đa thứ mười hai
Ðề Bà Ðạt Ða là anh
em chú bác với Ðức Phật, song ở đâu Ngài
cũng làm ngược lại với Ðức Phật. Có người
nói Ngài có cừu hận với Ðức Phật. Kỳ thật,
Ðức Phật thành đạo, Ngài thuộc về người
nghịch tăng thượng duyên trợ đạo, mà đời đời
kiếp kiếp Ðề Bà Ðạt Ða còn đến trợ giúp Phật
thành tựu đạo nghiệp. Do đó, Ngài dùng nhân
vật phản diện để giúp thành Phật đạo, đó là
người ‘’nghịch trợ giúp’’ vậy.
Ðề Bà Ðạt Ða là
tiếng Phạn, dịch là ‘’thiên nhiệt’’, vì khi
Ngài tại thế thì chuyên môn phản diện để trợ
giúp người, khiến cho người cảm thấy rất
nhiệt não, khí trời cũng biến thành nóng
bức, do nhân duyên đó mà được tên. Tại sao
Ngài phải phản diện để trợ giúp Ðức Phật
thành đạo ? Ðó cũng có một nhân duyên.
Vào thuở xa xưa về quá khứ, có một vị trưởng
giả giàu có tên là Tu Ðàn. Ông ta có hai
người con. Người con lớn tên là Tu Ma Ðề,
người con kế tên là Tu Tỳ Gia. Sau khi ông
ta qua đời, thì hai người con tính toán thừa
kế di sản của cha. Ông anh cả Tu Ma Ðề bèn
nghĩ : ‘’Nếu mình chia một nửa tài sản cho
Tu Tỳ Gia, thì chẳng phải là mình bớt đi một
nửa tài sản chăng ?’’ Do đó, anh ta hẹn với
người
em Tu Tỳ Gia, đến núi Linh
Thứu để du ngoạn. Khi đến tới đỉnh núi, thì
Tu Ma Ðề xô người em xuống hang núi, người
em tan thân nát xương qua đời, sau đó người
anh còn lấy đá đập thi thể, vì sợ người em
bị thương tích không chết. Một người anh
dùng phương pháp tàn ác để giết em mình, chỉ
vì đoạt lấy tài sản của cha để lại. Tu Ma Ðề
thuở đó, tức là tiền thân của Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni, còn Tu Tỳ Gia tức là tiền thân
của Ðề Bà Ðạt Ða, người cha Tu Ðàn tức là
Vua A Xà Kỳ. Mà phẩm nầy Phật nói nhân duyên
Ðề Bà Ðạt Ða, trợ giúp Phật thành tựu đạo
nghiệp.
Bấy giờ, Phật bảo các vị Bồ Tát và trời
người bốn chúng : Ta ở trong vô lượng kiếp
quá khứ, cầu Kinh Pháp Hoa chẳng khi nào
lười mỏi. Ở trong nhiều kiếp thường làm vua,
phát nguyện cầu vô thượng bồ đề, tâm chẳng
thối chuyển, vì muốn đầy đủ sáu Ba la mật,
tâm chẳng xan tham, nên siêng thực hành bố
thí : Voi ngựa bảy báu, đất nước vợ con, nô
tì tôi tớ, đầu mắt tủy não, thân thịt tay
chân, chẳng tiếc thân mạng.
Ðoạn văn nầy nói về Ðức Phật trong đời quá
khứ, vì cầu vô thượng bồ đề. Bố thí ngoại
tài, nội tài, hết thảy tất cả đều vì cấu
pháp mà bố thí. Sau khi nói xong phẩm Hiện
Bảo Tháp, thì Phật lại không hỏi mà nói, bảo
các vị Bồ Tát và trời, người, Tỳ Kheo, Tỳ
kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ : Ta ở trong vô
lượng kiếp quá khứ, vì cầu diệu lý Kinh Pháp
Hoa, mà luôn luôn chưa từng sinh một niệm
lười mỏi giải đãi. Ở trong nhiều kiếp ta
thường làm vua, ta phát nguyện cầu vô thượng
bồ đề, tâm chẳng thối chuyển, muốn đầy đủ
pháp môn sáu Ba la mật :
1. Bố thí : Siêng
tu pháp môn bố thí, thì tâm chẳng tham lam.
Phật đem hết thảy châu báu như : Ngựa báu,
vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, trân
châu, mã não, đất nước, thành ấp, thê thiếp,
con cái, nô tì, tôi tớ, những gì kẻ khác
cần, Phật đều bố thí hết. Ở trên là thuộc về
ngoại tài. Còn có nội tài bố thí tức là :
Ðầu, mắt, tủy, não, xương thịt, tay chân,
chẳng có tơ hào thương tiếc thân thể và tính
mạng của mình, vì cứu độ tất cả chúng sinh
thoát khỏi biển khổ mà hành bố thí .
Ðức Phật vì viên mãn sáu Ba la mật, cho nên y
báo, chánh báo đều cùng xả bỏ, không ngoài
mục đích cầu sớm chứng quả vị Phật, đó là
hành vi thực hành Bồ Tát đạo chân chánh.
2. Trì giới : Tức
là không làm ác ngừa điều quấy, tức cũng là
ba điều ác nơi thân : Sát hại, trộm cắp, tà
dâm. Bốn điều ác nơi miệng : Nói dối, nói
hai lưỡi, nói thêu dệt, chưởi mắng.
3. Nhẫn nhục : Khó
nhẫn mà nhãn được, dù bị người đánh đập,
mắng chưởi cũng nhẫn được.
4. Tinh tấn : Bất
cứ làm gì cũng đều có trước có sau, thân tâm
chẳng lười mới là tinh tấn.
5. Thiền định : Tứ
thiền bát định, tức là : Sơ thiền, nhị
thiền, tam thiền, tứ thiền. Ðến cảnh giới sơ
thiền, thì hơi thở chẳng còn. Cảnh giới nhị
thiền, thì các mạch máu ngưng lại. Cảnh giới
tam thiền, thì niệm cũng ngừng. Cảnh giới tứ
thiền, thì niệm đã dứt. Sơ thiền còn gọi là
Ly sinh hỷ lạc địa, cảnh giới lìa khỏi phiền
não mà sinh ra khoái lạc. Nhị thiền là Ðịnh
sinh hỷ lạc địa. Tam thiền là Ly hỷ diệu lạc
địa. Tứ thiền là Xả niệm thanh tịnh địa. Bát
định là ngoài tứ thiền ra, còn có: Không vô
biên định .v.v.
6. Bát nhã : Phát
ra trí huệ chân chánh của tự tánh, đoạn trừ
tham sân si ba độc, thì trí huệ sẽ hiện
tiền.
Nghĩa lý sáu Ba la mật rất nhiều. Không sát
sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không
nói dối, tức là một thứ bố thí Ba la mật.
Không nói hai lưỡi, là trì giới Ba la mật,
không chưởi mắng là nhẫn nhục Ba la mật,
không nói thêu dệt là tinh tấn Ba la mật,
không tham sân là thiền định Ba la mật,
không tà kiến là Bát Nhã Ba la mật.
Sáu ba la mật còn
có ba lối nói : A. Ðối trị. B. Tương sinh.
C. Quả báu.
A. Ðối trị :
1. Bố thí đối trị với xan tham.
2. Trì giới đối trị hủy phạm.
3. Nhẫn nhục đối trị sân hận.
4. Tinh tấn đối trị giải đãi.
5. Thiền định đối trị tán loạn.
6. Bát nhã đối trị ngu si.
B. Tương sinh : Trì giới thì gặp chuyện nhục
nhã, sẽ nhẫn được, nhẫn được sẽ tinh tấn
được, tinh tấn sẽ điều phục được năm căn :
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, năm căn điều phục
rồi, thì nhiếp được vào nơi pháp giới, nhiếp
được vào pháp giới, tức là Bát nhã.
C. Quả báo : Bố thí
sẽ được quả báo giàu sang, trì giới sẽ được
quả báo các căn đầy đủ, nhẫn nhục sẽ được
quả báo tướng mạo đoan chánh, tinh tấn sẽ
được quả báo thế lực lớn, thiền định sẽ được
quả báo sống lâu, Bát nhã sẽ được quả báo
biện tài vô ngại.
Mỗi thứ Ba
La
Mật lại có mười điều lợi
ích : Bố thí Ba la mật :
1. Hàng phục được phiền não xan tham.
2. Xả niệm tương tục, chân chánh hành bố thí.
3. Bình đẳng với tất cả chúng sinh, chẳng khởi
tâm phân biệt.
4. Sinh vào nhà giàu sang.
5. Ðời đời kiếp kiếp khởi tâm bố thí.
6. Bốn chúng kính mến.
7. Vào trong chúng không khiếp sợ, người thiện
ác chẳng sinh tâm sợ hãi.
8. Danh tốt đồn khắp.
9. Tay chân mềm mại.
10. Gặp được thiện tri thức chân chánh.
‘’Trì giới là không làm ác ngừa việc quấy‘’.
Không làm ác là không làm điều ác nào,
‘’ngừa việc quấy‘’ là làm các điều lành.
Ðừng cho rằng việc lành nhỏ mà không làm,
đừng cho rằng điều ác nhỏ mà làm. Phải biết
việc lành to lớn, là do việc lành nhỏ tích
lũy mà thành. Do đó, trì giới thanh tịnh thì
được mười điều lợi ích :
1. Viên mãn nhất thiết trí.
2. Vào sở học của Phật lấy giới làm thầy, vì
kim cang quang minh bảo giới là bổn thể của
chư Phật.
3. Chẳng hủy báng bậc trí, chẳng những chẳng
huỷ báng người có trí huệ, mà còn khen ngợi,
trước hết đừng tranh đệ nhất, phải lão lạo
thật thật cung hành thực tiễn, tâm chân thì
việc thật, thì tự nhiên bạn sẽ đệ nhất.
4. Thệ nguyện chẳng thối lùi, phát tâm cầu
Phật đạo. Ðầu mắt tủy não, thân thịt tay
chân, cho đến tính mạng vĩnh viễn không thối
chuyển nơi bồ đề tâm.
5. An trụ chánh hạnh, chẳng sinh tâm phan
duyên, thường lợi ích kẻ khác.
6. Xả bỏ sanh tử : Xả bỏ tất cả để nhận chân
tu hành.
7. Mộ niệm Niết Bàn bốn đức.
8. Tâm chẳng hà tiện, tâm chẳng bị tham sân si
mạn nghi làm hại.
9. Ðược tam muội thù tháng.
10. Chẳng thiếu tín tài, có tín tâm là một thứ
tài báu, mới sinh ra tâm bồ đề.
Nhẫn nhục chẳng dễ gì làm được, cho nên trên
chữ nhẫn có cái đao cắm ở trên chữ tâm (忍),
mà đao lại nhọn, đao nhọn đè trên tim (tâm),
‘’nhẫn‘’ giống như đao đâm ở trong tim, đủ
thấy chẳng dễ gì nhẫn được. Nếu không dễ gì
nhẫn mà nhẫn được, thì phá được quan ải
nhẫn. Lúc đó, sẽ đắc được nhẫn nhục Ba la
mật. Từ bờ sinh tử qua dòng phiền não, đến
được bờ Niết Bàn bên kia. ‘’Nhẫn là báu vô
giá, mọi người xử không tốt, nếu hay nhẫn
nhục được, thì mọi việc đều tốt đẹp‘’. Bồ
Tát Di Lặc lại có một bài kệ rằng :
‘’Lão quê mặc áo vá
Cơm hẩm no đầy bụng
Áo vá che rét lạnh
Vạn sự hãy tùy duyên.
Có ai mắng lão quê
Lão quê chỉ nói tốt
Có ai đánh lão quê
Lão quê nằm lăn ra.
Khạc nhổ vào mặt lão
Ðể nó tự khô lấy
Ta cũng chẳng nhọc sức
Họ cũng chẳng phiền não.
Ðây là Ba la mật
Tức là báu trong diệu
Nếu làm được như thế
Lo gì đạo chẳng thành‘’.
Nhẫn nhục Ba la mật có mười điều lợi ích :
1. Lửa chẳng thiêu được, vì trong tâm chẳng có
lửa sân, lửa bên ngoài chẳng cách gì làm hại
được.
2. Ðao chẳng hại được, vì bên trong chẳng có
đao thương vũ khí, và tâm thương hại, nên
đao thương bên ngoài cũng không làm hại
được.
3. Ðộc không hại được, do đó có câu :
‘’Dù gặp đao nhọn vẫn ung dung,
Hoặc uống thuốc độc cũng an nhàn‘’.
Cho nên Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma bị ngoại đạo hạ độc
sáu lần, mà Ngài chẳng trúng độc, cũng không
chết. Vì trong vô lượng kiếp về trước, Ngài
tu hạnh nhẫn nhục viên mãn. Bên trong chẳng
có tâm độc, bên ngoài chẳng hại được.
4. Nước ngập chẳng chết.
5. Tất cả Thiên Long bát bộ, người, chẳng phải
người, đều ủng hộ. Thân tướng thanh tịnh
trang nghiêm, mọi người thấy, tâm đều sinh
kính mến.
7. Vĩnh viễn chẳng đọa vào ba đường ác.
8. Ðược sinh cõi Trời Phạm Thiên.
9. Ngày đêm an lạc.
10. Thân tâm thường sinh vui mừng.
Tinh tấn tức chẳng lười biếng giải đãi, ví như
khi nghe kinh thì ngủ, khởi vọng tưởng, hoặc
nói chuyện với người khác, đó đều là chẳng
tinh tấn. Vậy thế nào mới là tinh tấn ? Tức
là chẳng tham ngủ, chẳng khởi vọng tưởng,
chẳng nói chuyện với kẻ khác, tất cung tất
kính, chú ý nghe kinh, mới là tinh tấn. Hơn
nữa ngày đêm sáu thời chẳng có mệt mỏi, luôn
luôn niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, đó là
thân tâm tinh tấn. Tinh tấn có mười điều lợi
ích :
1. Họ không triết phục được, vì định lực kiên
cố, biện luận với bất cứ ai, chắc chắn sẽ
trăm chiến trăm thắng.
2. Ðược Phật nhiếp hộ.
3. Ðược phi nhân (chẳng phải người) hộ trì,
Thiên Long bát bộ, người, chẳng phải người,
đều đến hộ trì.
4. Nghe pháp không quên, một khi lọt qua tai
chẳng bao giờ quên.
5. Chưa nghe được nghe, chẳng có cơ hội được
nghe pháp thì có thể sẽ được nghe.
6. Tăng trưởng biện tài, đắc được biện tài vô
ngại, hay khiến cho người nghe pháp hỷ sung
mãn.
7. Ðược tánh tam muội.
8. Ít bệnh ít não.
9. Tâm được khinh an.
10.
Hoa Lộ Ưu Ba và
Hoa Ưu Ðàm Bát (những thứ hoa
nầy ba ngàn năm mới nở một lần), ngày ngày
tăng dần. Cho nên người tu phải dũng mãnh
tinh tấn, tinh tấn hóa trùng biến thành
rồng.
Thiền na Ba la mật. Thiền na là tiếng Phạn,
dịch là "Tư duy tu", tiếng tàu gọi tắc là
thiền. Thông thường tham câu ‘’Niệm Phật là
ai ?’’ Gọi là tham thiền, như dùng máy khoan
để khoan lỗ, lại như mèo rình chuột. Chuột
đại biểu cho vô minh của chúng ta. Tham
thiền là kéo chân tâm lại, lại như là rồng
giữ hạt châu, thời khắc luôn luôn tự tại tức
là quán tự tại, nếu không thể quán tự tại,
tức là đang khởi vọng tưởng. Do đó :
‘’Niệm dấy lên, trăm việc đều có,
Ý niệm ngừng, vạn sự đều không
Tâm ngừng niệm bặc, giàu sang thật
Lòng dục đoạn sạch, là ruộng phước‘’.
Tại sao con người bần cùng ? Vì trong tâm có
tham sân si, như hố không đáy, nếu buông bỏ
đặng, không phan duyên bên ngoài, không chấp
trước sắc trần, đó mới là một người giàu
sang thật sự.
Nếu đoạn sạch lòng tư dục, thì mới là phước
báo thật sự, tham thiền cũng có mười điều
lợi ích :
1. An trụ oai nghi : Tham thiền đến cảnh giới
:
"Trên chẳng biết có trời
Dưới chẳng biết có đất".
‘’Không người, không ta, quán tự tại,
Chẳng không, chẳng sắc, thấy Như Lai‘’.
2. Hành từ cảnh giới : Hay từ bi nhiếp thọ
giáo hoá tất cả chúng sinh.
3. Chẳng có phiền não.
4. Giữ gìn sáu căn, mắt chẳng chạy theo sắc
trần, tai chẳng chạy theo thanh trần, mũi
chẳng chạy theo hương trần, lưỡi chẳng chạy
theo vị trần, thân chẳng chạy theo xúc trần,
ý chẳng chạy theo pháp trần. Sáu căn phóng
quang chấn động trời đất, trí huệ quang minh
chiếu khắp ba nghìn đại thiên thế giới.
5. Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn.
Nghĩa là lấy niềm vui của thiền làm thức ăn,
niềm vui của pháp hỷ tràn trề.
6. Lìa khỏi ái dục, tại sao con người có sinh
tử ? Vì ái dục chưa đoạn, cho nên luân hồi ở
trong sáu nẻo. Nếu đoạn dục khử ái, thì cửa
địa ngục cũng đóng bít, chẳng đọa vào đường
ác nữa. Do đó, có câu:
‘’Nghiệp không nặng không sinh Ta Bà
Ái không dứt không sinh tịnh độ‘’.
7. Tu thiền bất không : Thời khắc luôn luôn
tham thiền, thì nhất định sẽ tăng trưởng huệ
mạng, khai mở đại trí huệ.
8. Giải thoát ma nghiệp : Ma chẳng cách gì
chướng ngại đạo nghiệp của bạn.
9. An trụ cảnh Phật, an trụ ở cảnh giới của
Phật.
10. Giải thoát thành thục, chẳng quái chẳng
ngại, được pháp thân thanh tịnh.
Bát Nhã Ba
La
Mật, ‘’Bát Nhã‘’ là tiếng
Phạn, dịch là "Trí huệ". Tại sao hai chữ
không đọc là ‘’Trí huệ‘’? Vì hai chữ ‘’Bát
Nhã‘’ nầy, hay hình dung trí huệ siêu nhiên
của Phật, khác với trí huệ mà phàm phu nói,
cho nên không dịch. ‘’Bát Nhã‘’ còn bao hàm
ba ý nghĩa:
A. Văn tự Bát nhã : Tất cả kinh điển của Phật
nói, đều thuộc về văn tự Bát nhã.
B. Quán chiếu Bát nhã : Do văn tự Bát nhã, mà
khởi quán chiếu Bát nhã, thâm nhập kinh điển
Phật giáo, sau đó sinh ra quán chiếu trí
huệ.
C. Do quán chiếu Bát nhã, mà đạt được thật
tướng Bát nhã. Thật tướng vốn là vô tướng,
song vô tướng bất tướng, nên gọi là thật
tướng, tức cũng là phi không phi hữu (chẳng
không chẳng có).
Văn tự bát nhã tức
là có, quán chiếu bát nhã tức là không, nếu
từ có mà đạt đến không, thì từ không đạt đến
phi không phi hữu, được như thế thì ngộ được
cảnh giới chân không diệu hữu, cho nên gọi
là thật tướng Bát nhã.
Ai có trí huệ tức là Bát nhã, ai không có trí
huệ thì ngu si. Nếu ai biết mình ngu si, thì
bắt đầu có trí huệ. Vì tự biết mình ngu si,
thì trí huệ quang minh tất nhiên hiện tiền.
Nếu mình tự cho rằng mình đúng, chẳng chịu
sửa đổi, thì đó chẳng có Bát nhã trí huệ.
Bát nhã tức cũng
chẳng chấp trước, do đó ‘’Trí quang thường
sáng‘’, nếu chúng ta tu trì Bát nhã, thì
chắc chắn cũng đắc được mười điều lợi ích
của Bát nhã:
1. Bố thí chẳng giữ
tướng bố thí, chẳng giữ lấy tướng thọ bố
thí, chẳng chấp trước, tức cũng là tam luân
thể không. Nghĩa là: Người thí, kẻ nhận, vật
bố thí, đều không. Nếu chẳng chấp trước về
người thí và kẻ nhận, thì gọi là chẳng thủ
lấy tướng bố thí. Chúng ta đừng học theo Vua
Lương Võ Ðế, ông ta từng hỏi
Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma : ‘’Tôi tạo dựng nhiều chùa,
làm nhiều cầu, bố thí cho nhiều tăng chúng,
vậy Ngài nói tôi có công đức nhiều bao nhiêu
?’’ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma vì chẳng thuận nhân
tình, nói thật với ông ta rằng : ‘’Chẳng có
công đức‘’. Kỳ thật, chẳng có công đức, tức
là chẳng có chấp trước, chẳng chấp trước tức
là công đức. Công đức như hư không, không
thể dò lường được.
2. Chẳng y vào giới
: Nếu có người cho rằng mình giữ gìn giới
luật là giỏi nhất, mà còn chấp trước thì đó
là sai. Vì còn chấp trước vào ngã tướng
(tướng ta). Nếu không chấp trước vào trì
giới, có thể không trì mà trì, trì mà vô
tâm, đó mới là chân chánh trì giới.
3. Không trụ vào
sức nhẫn : Chẳng chấp trước mình có sức nhẫn
nhục, mới là thật nhẫn. Thật nhẫn thì thì
chẳng có tâm hay nhẫn, hay nhẫn mà chẳng
nhẫn, căn bản chẳng cho rằng như thế. Nếu
nói ta đang nhẫn nhục, thì giống như đầu lại
thêm đầu. Cho nên chân chánh tu đạo nhẫn
nhục, thì phải minh bạch tướng không của các
pháp, đó mới là chân chánh tu đạo.
4. Chẳng lìa thân
tâm mà tinh tấn : Thân tâm đều tinh tấn,
song cũng đừng chấp trước mình suốt ngày
tinh tấn. Nếu có sự chấp trước, thì chẳng
phải là Bát Nhã tinh tấn. Bát nhã tinh tấn
là tinh tấn, mà chẳng chấp vào sự tinh tấn,
chẳng vì tinh tấn mà tinh tấn, quét tất cả
pháp, lìa tất cả tướng, hàng phục được tâm,
vẫn phải lìa tướng hàng phục.
5. Thiền vô sở trụ
: Tham thiền đến cảnh giới chẳng chấp trước
vào đâu, thì phá được ngã (cái ta), pháp hai
chấp, được đại giải thoát, cho nên gọi là
Bát nhã thiền.
6. Ma không thể
nhiễu loạn : Ma đến nhiễu loạn, song tâm
chẳng giao động, chẳng mất chánh tri chánh
kiến.
7. Lời bàn luận của
kẻ khác chẳng động tâm : Ví như người chẳng
có trí huệ, niệm ba ngày danh hiệu A Di Ðà
Phật, nghe người khác nói tu mật tông là tốt
nhất, y bèn chạy theo. Nếu tâm không định,
thì rất dễ chạy theo lời lẽ của kẻ khác. Tôi
xin kể một câu chuyện : Xưa kia, Ngài Ngưỡng
Sơn ở tại một túp lều tranh dột nát, túp lều
tranh dột nát không thể che gió che mưa
được. Lúc bấy giờ, tướng quốc Bùi Hưu nhìn
thấy vị tu hành nầy, ở trong một túp lều
tranh dột nát chẳng đành lòng. Do đó, bèn
phát tâm đại bồ đề, cúng dường ba trăm lạng
bạc, để tạo dựng một ngôi chùa mới. Tướng
quốc Bùi Hưu đem ba trăm lạng bạc để ở trên
đống cỏ ở trước cửa lều tranh rồi bỏ đi. Ba
năm sau, ông ta lại trở lại xem Ngài Ngưỡng
Sơn, thì phát giác Ngài Nhưỡng Sơn vẫn ở túp
lều tranh dột nát đó, ông ta nghĩ : ‘’Ðáo để
vị Hòa Thượng nầy dùng ba trăm lạng bạc để
làm gì ? Sao chẳng thấy chùa đâu cả?‘’ Do
đó, bèn hỏi Ngài : ‘’Lão Hoà Thượng ! Trước
kia tôi cúng cho Ngài ba trăm lạng bạc, Ngài
làm việc gì mà chẳng thấy đem ra làm chùa :
‘’Ngài Ngưỡng Sơn nói : ‘’Trước kia ông để
ba trăm lạng bạc ở đâu, thì đến đó tìm !
‘’Do đó, tướng quốc Bùi Hưu bèn đến đống cỏ
xem lại, thì quả nhiên ba trăm lạng bạc vẫn
còn nằm đó, mới biết lão hòa thượng nầy là
một vị chân tu, kính ngưỡng vô cùng, đích
thân thế Ngài làm chùa. Sau đó, đem con (Hàn
Lâm) cho vào chùa xuất gia, có pháp hiệu là
Pháp Hải thiền sư.
Còn có câu chuyện nữa : Thuở xưa, có hai vị sư
huynh đệ phát tâm cùng tu hành với nhau,
ngày ăn một bữa, chịu khổ chịu cực. Một ngày
nọ, hai người đến núi Ngũ Ðài, lúc đó trời
đổ tuyết lớn, nên hai vị tá túc trong một
túp lều dột nát. Vì chẳng có lương thực, cho
nên phải chịu đói ba ngày. Lúc đó, vị sư đệ
khởi vọng tưởng : ’’Sư huynh là người xuất
thân từ gia đình giàu có, chưa bao giờ chịu
nhịn đói, lần nầy chịu đói với mình ở đây đã
ba ngày, thật đáng thương ! Phải chi có ai
đến cúng dường một tô mì nóng, thì tốt biết
bao‘’. Vị đó khởi vọng tưởng như thế, thì
thần thổ địa biết được cũng lo lắng. Vì thấy
huynh đệ hai vị chân chánh tu hành nhịn đói
đã ba ngày, nếu không phát tâm đến trợ giúp,
thì hai vị có thể sẽ chết đói. Do đó, thần
thổ địa báo mộng cho một cặp vợ chồng ở sau
núi, kêu họ đến cúng dường hai vị tu hành.
Sáng sớm ngày thứ hai, thì cặp vợ chồng đó
đem hai tô mì lớn đến cúng cho hai vị. Vị sư
đệ gặp cặp vợ chồng đó đến, vui mừng cười
lớn tiếng. Lúc đó, vị sư huynh biết chắt là
vị sư đệ khởi vọng tưởng ăn mì, nên bèn mổi
giận nói : "Bây giờ đường ai nấy đi". Tu
đạo, nếu đầy đủ công phu, thì chẳng hướng
tâm bên ngoài phan duyên, mọi lời lẽ cũng
chẳng làm cho tâm giao động định lực, mà vị
sư huynh đó khống chế được vọng tâm hướng
cầu bên ngoài.
8. Vượt qua dòng
sinh tử : Ðạt đến cảnh giới Niết Bàn, lìa bờ
sinh tử bên nầy, mà chứng được thường lạc
ngã tịnh, bốn đức Niết Bàn bời bên kia.
9. Tăng trưởng tâm
từ bi.
10. Không ưa trụ ở
bậc nhị thừa : Chẳng ưa thích trụ ở quả vị
hàng nhị thừa, nguyện đi trên đường đại
thừa, hồi tiểu hướng đại, tu pháp đại thừa
Bát nhã.
Thuở đó, nhân dân sống lâu vô lượng. Vì cầu
pháp mà xả bỏ ngôi vua, giao phó lại cho
thái tử, đánh trống tuyên cáo, cầu pháp khắp
bốn phương rằng : Ai có thể vì ta nói pháp
đại thừa, thì ta sẽ suốt đời hầu hạ cung
phụng người đó.
Trong vô lượng kiếp về trước, Ðức Phật làm
vua, lúc ấy Ngài hay xả bỏ sinh mạng tu sáu
độ vạn hạnh. Thuở đó nhân dân sống rất lâu.
Vì vị vua đó muốn cầu pháp, cho nên xả bỏ
ngôi vua, giao phó ngôi vua lại cho thái tử.
Sau đó đánh trống tuyên bố với nhân dân :
‘’Ta muốn đi khắp bốn phương cầu pháp, vị
nào có đạo đức vì ta nói pháp đại thừa, thì
ta suốt đời đem thân nầy hầu hạ, phụng dưỡng
làm tôi tớ cho người đó‘’.
Bấy giờ, có vị tiên nhân đến bạch với vua
rằng : Ta có pháp đại thừa tên là Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa. Nếu không làm trái ý của ta,
thì ta sẽ vì nhà ngươi mà nói. Vua nghe vị
tiên nói rất vui mừng hớn hở, bèn đi theo vị
tiên nhân, cung phụng hái quả, gánh nước,
nhặt củi, nấu cơm cho đến dùng thân mà làm
giường tòa, thân tâm chẳng biết mệt mỏi,
phụng sự như thế trải qua một ngàn năm, vì
cầu pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ,
khiến cho vị thiên nhân chẳng thiếu thốn gì
cả.
Bấy giờ, đức Thế
Tôn muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ
rằng:
Lúc đó, có vị tiên nhân đến bạch với vua rằng
: ‘’Ta có bộ kinh đại thừa tên là Diệu Pháp
Liên Hoa, nếu nhà vua không trái lời ta dạy,
thì ta sẽ vì nhà vua mà nói.’’ Nhà vua nghe
vị tiên Trường Thọ nói rồi, tâm rất vui mừng
hớn hở, lập tức đi theo vị tiên nhân, cung
phụng những gì ông ta cần, lại đến núi hái
quả, gánh nước, nhặt củi, nấu cơm, cho đến
dùng thân thể của Ngài để làm giường tòa cho
vị tiên, làm như thế mà thân tâm chẳng sinh
chút mệt mỏi nào, cứ làm như vậy trải qua
suốt một ngàn năm. Vì kiên thành cầu pháp,
nên chẳng khi nào giải đãi, khiến cho vị
tiên nhân chẳng thiếu thốn gì ! Lúc bấy giờ,
Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa lý ở trên,
nên dùng kệ để nói.
Ta nhớ kiếp quá khứ
Vì cầu pháp đại thừa
Tuy làm vua trong đời
Chẳng tham vui năm dục.
Ðánh trống khắp bốn phương
Ai có pháp đại thừa
Nếu vì ta giải nói
Ta sẽ làm tôi tớ.
Bèn có tiên A Tư
Ðến bạch với đại vương:
Ta có pháp vi diệu
Hiếm có ở trong đời.
Nếu mà tu hành được
Ta sẽ vì ngươi nói.
Ta nhớ lại vô lượng kiếp trong quá khứ, vì cầu
pháp đại thừa, tuy làm vua của một nước lớn
trong thế gian, song chẳng tham luyến sự vui
của năm dục. Do đó, ta bèn đánh trống khắp
bốn phương tuyên bố rằng : ‘’Ai hiểu pháp
đại thừa, nếu vì ta giải thích nói, tuy ta
là ông vua, song ta nguyện làm tôi tớ cho
người đó. ‘’Vì Ngài cầu pháp vô thượng, lúc
đó có vị thiên A Tư (tiên trường thọ) đến
bạch với vua rằng : ‘’Ta có pháp vi diệu cao
thượng nhất, pháp nầy rất hiếm có trong đời,
nếu như Ngài muốn y pháp tu hành, chẳng trái
lời dạy của ta, thì ta sẽ vì ngươi nói diệu
pháp đó.’’
Khi vua nghe tiên nói
Trong tâm rất vui mừng.
Lập tức theo tiên nhân
Cung cấp thứ cần dùng
Nhặt củi và hái quả
Theo lời cung kính dâng.
Vì muốn cầu diệu pháp
Thân tâm chẳng mệt mỏi
Khắp vì các chúng sinh
Siêng cầu pháp đại thừa.
Cũng chẳng vì thân mình
Và cầu vui năm dục
Nên làm đại quốc
vương
Siêng cầu được pháp này.
Cuối cùng được thành Phật
Nên nay vì ông nói.
Lúc đó, ông vua nghe vị tiên nói, trong tấm
rất vui vẻ mừng rỡ, lập tức theo vị tiên
nhân, cung cấp những thứ cần dùng của vị
tiên, lên núi hái củi, hái trái cây, theo
thời mà cung kính hầu hạ vị tiên, tại sao
phải làm như thế ? Vì ông vua muốn cầu vô
thượng diệu pháp, cho nên thân tâm chẳng
giải đãi để hầu hạ vị tiên. Ðó chẳng phải vì
lợi ích cho chính mình, mà là vì muốn minh
bạch tất cả các pháp, sau đó phổ độ tất cả
chúng sinh. Cho nên ông vua rất tinh tấn để
cầu pháp đại thừa. Ông vua chẳng vì lợi ích
thân tâm của chính mình, hoặc cầu sự vui của
năm dục. Tuy là một ông vua lớn, song vì
siêng cầu pháp mà cuối cùng được diệu pháp
vô thượng, cho đến viên mãn vô thượng bồ đề.
Hiện tại ta đem nhân duyên hành Bồ Tát đạo
của ta trong quá khứ, nói ra cho các ông
nghe.
Phật bảo các Tỳ Kheo ! Ông vua thuở đó,
chính là thân ta, còn vị tiên đó, nay là Ðề
Bà Ðạt Ða vậy.
Sau khi Phật nói xong bài kệ, bảo đại chúng Tỳ
Kheo Tỳ kheo Ni, cư sĩ nam cư sĩ nữ rằng:
Ông vua xả bỏ ngôi vua trong vô lượng kiếp
quá khứ, để hầu hạ cung phụng vị tiên A Tư,
tức là tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni.
Vị tiên A Tư thuở đó, tức là tiền thân của
Ðề Bà Ðạt Ða. Ðề Bà Ðạt Ða là tiếng Phạn.
‘’Ðề Bà‘’ dịch là "Thiên", ‘’Ðạt Ða‘’ dịch
là ‘’Nhiệt‘’, tức là ‘’Thiện nhiệt‘’. Ðề Bà
Ðạt Ða là thiện tri thức của Ðức Phật trong
đời quá khứ, cũng từng làm thầy của Ðức
Phật. Ðức Phật từng làm tôi tớ cho Ðề Bà Ðạt
Ða, cuối cùng đắc được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Ðề Bà Ðạt Ða chuyên môn phản đối
Ðức Phật, phá hoại tăng đoàn, lập riêng ra
năm pháp:
1. Suốt đời đi khất thực.
2. Suốt đời mặc y phấn tảo.
3. Suốt đời ngồi ngoài trời.
4. Suốt đời không ăn muối.
5. Suốt đời không ăn cá thịt.
Chuyên môn làm ngược lại với Ðức Phật, muốn
cao hơn Ðức Phật một bậc. Có những Tỳ Kheo
tham danh háo lợi theo Ðề Bà Ðạt Ða học tập.
Ðề Bà Ðạt Ða cũng từng làm thân Phật chảy
máu. Một ngày nọ, Phật đi ngang qua núi Linh
Thứu, Ðề Bà Ðạt Ða ở trên đỉnh núi dùng một
tảng đá lớn lăn xuống núi. Lúc đó, thần hộ
pháp cấp tốc đứng dậy dùng bảo chùy đập nát
tảng đá, song có một mảnh đá nhỏ rớt trúng
chân Ðức Phật. Ðề Bà Ðạt Ða đã giết Tỳ Kheo
ni Liên
Hoa Sắc, một vị đã chứng quả
A
La Hán, ông ta dùng bàn tay
chưởng một cái làm cho Tỳ kheo ni Liên
Hoa Sắc phải qua đời. Ông ta
còn phá hòa hợp tăng, khiến cho chúng Tỳ
Kheo bất hòa. Lại xúi vua A Xà Thế giết cha
giết mẹ, cho nên ông ta phạm đủ năm tội
nặng. Tuy ông ta là một vị ác tri thức,
chuyên môn phá hoại Ðức Phật, song tương lai
ông ta cũng sẽ thành Phật. Trên thật tế thì,
ông ta đã thành Phật trong vô lượng kiếp.
Do thiện tri thức Ðề Bà Ðạt Ða, mà khiến
cho ta đầy đủ sáu Ba la mật, từ bi hỉ xả, ba
mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, được thân
màu vàng tía, mười lực, bốn vô sở úy, bốn
pháp nhiếp, mười tám pháp bất cộng, thần
thông, thành Ðẳng chánh giác, rộng độ chúng
sinh, đều do thiện tri thức Ðề Bà Ðạt Ða
vậy.
Ðức Phật nói : ‘’Do thiện tri thức Ðề Bà Ðạt
Ða đến dạy tôi, cho nên khiến cho tôi viên
mãn sáu Ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ). Bây
giờ giải thích về sáu Ba la mật :
Bố thí Ba la mật :
1. Tu bố thí Ba la mật thì giải trừ san tham
của mình.
2. Trang nghiêm tự tính bồ đề.
3. Tự lợi lợi tha.
4. Ðời sau được quả lớn, tôn quý giàu có.
Trì giới Ba la mật :
1. Tu các việc thiện, diệt các nghiệp ác.
2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh.
3. Thân tâm an lạc.
4. Ðời sau hưởng sự vui Niết Bàn.
Nhẫn nhục Ba la mật :
1. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh.
2. Ðó đây lìa sợ hãi.
3. Ðời sau chẳng có tâm sân hận, được quyến
thuộc hòa thuận, chẳng thọ phiền não, được
vui Niết Bàn.
Tinh tấn Ba la mật :
1. Phá được tâm giải đãi.
2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh.
3. Tăng trưởng pháp lành nên lợi mình, chẳng
não hại người nên lợi người.
4. Dùng đại lực, được bồ đề.
Thiền định Ba la mật :
1. Trừ tâm tán loạn.
2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh.
3. Thân tâm tịch tĩnh nên lợi mình, chẳng não
hại chúng sinh nên lợi người.
4. An ổn đắc được rốt ráo Niết bàn.
Bát nhã Ba la mật :
1. Phá vô minh.
2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh.
3. Có trí huệ, nên lợi mình. Lại hay giáo hóa
chúng sinh nên lợi người.
4. Ðược chân chánh đại trí huệ, trừ trí huệ
chướng ngại.
Ðức Phật viên mãn
sáu Ba la mật, lại được từ bi hỷ xả, bốn tâm
vô lượng. Từ hay ban vui cho chúng sinh, bi
hay cứu khổ chúng sinh, hỷ khiến cho chúng
sinh sinh vui mừng. Xả, khó xả bỏ mà xả bỏ
đặng. Phật dùng bốn tâm vô lượng viên mãn bồ
đề. Thành Phật rồi lại dùng bốn tâm vô lượng
để giáo hóa chúng sinh. Phật lại được ba
mươi hai tướng đại trượng phu. Tạng giáo nói
rằng do tu giữ giới mà được ba mươi hai
tướng, thông giáo nói rằng do tu bố thí nhẫn
nhục mà được ba mươi hai tướng, biệt giáo
nói rằng do tu các pháp không mà thành tựu
ba mươi hai tướng, viên giáo nói rằng do thọ
ký mà thành tựu ba mươi hai tướng.
Ở trên là do tạng,
thông, biệt, viên giáo, nói về ba mươi hai
tướng. Phật lại được tám mươi vẻ đẹp. Viên
mãn báo thân của Phật hiện ra một thứ màu
sắc vàng tía rất thù thắng. Phật có mười
lực, bốn vô sở úy. Khi Phật thuyết pháp thì
như tiếng hống của sư tử, chẳng sợ hãi.
Lại có bốn vô sở úy
của Bồ Tát :
1. Tổng trì chẳng quên : Nhớ rất rõ ràng hết
thảy các pháp, cho nên được khéo thuyết pháp
yếu vô sở úy.
2. Biết hết các pháp : Biết thuốc nào chữa
bệnh gì của chúng sinh.
3. Hỏi đáp về pháp vô sở úy.
4. Giải được sự nghi ngờ của chúng sinh,
thuyết pháp vô sở úy.
Phật lại dùng bốn nhiếp pháp để nhiếp thọ
chúng sinh :
1. Bố thí.
2. Ái ngữ.
3. Lợi hành: Thân
khẩu ý làm việc lành.
4. Ðồng sự : Cùng
với chúng sinh làm cùng một việc.
Phật lại đắc được mười tám pháp bất cộng :
1. Thân chẳng lỗi : Từ vô lượng khiếp đến nay,
đời đời kiếp kiếp Phật đều giữ gìn pháp thân
huệ mạng, chẳng có lỗi lầm, thân chẳng phạm
giới giết hại, trộm cắp, tà dâm.
2. Miệng chẳng lỗi : Những gì miệng nói ra đều
là diệu pháp thâm sâu vô thượng.
3. Không quên : Gọi là niệm không lỗi.
4. Chẳng có nghĩ tưởng khác : Chỉ có Phật đời
đời kiếp kiếp cầu vô thượng giác đạo, chẳng
có vọng tưởng và dục niệm khác.
5. Vô bất định tâm : Phật chẳng những chẳng có
vọng tưởng khác, mà đời đời kiếp kiếp còn tu
thiền định, cho nên có diệu định thâm sâu,
tâm chẳng tán loạn.
6. Vô bất tri kỷ xả tâm : Phật biết hết thảy
tất cả các pháp, song chẳng chấp trước đối
với tất cả các pháp, xả bỏ tất cả các pháp,
cho nên bất khả đắc.
7. Ý chẳng giảm : Phật đời đời kiếp kiếp
nguyện giáo hóa chúng sinh, tiếp dẫn hữu
tình, tâm chẳng thối chuyển.
8. Tinh tấn chẳng giảm : Chỉ có tinh tấn,
chẳng khi nào thối lùi.
9. Niệm chẳng giảm : Nhớ pháp của tất cả chư
Phật tu ba đời mà chẳng gián đoạn, luôn luôn
chẳng giảm thiểu.
10. Huệ chẳng giảm : Trí huệ càng ngày càng
tăng thêm.
11. Giải thoát chẳng giảm : Dần dần đắc được
giải thoát, càng ngày càng tự tại.
12. Giải thoát tri kiến chẳng giảm.
13. Tất cả thân nghiệp tùy trí huệ hành.
14. Tất cả khẩu nghiệp tùy trí huệ hành.
15. Tất cả ý nghiệp tùy trí huệ hành.
16. Trí huệ quá khứ vô chướng.
17. Trí huệ vị lai vô chướng.
18. Trí huệ hiện tại vô chướng.
Mười tám pháp nầy chỉ có Phật mới có. Bồ Tát,
Duyên Giác, Thanh Văn ba thừa, chẳng có cùng
mười tám pháp nầy, nên gọi là mười tám pháp
bất cộng.
Ðức Phật lại bảo bốn chúng : Ðề Bà Ðạt Ða
qua vô lượng kiếp sau này, sẽ được thành
Phật, hiệu là Thiên
Vương Như Lai, ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thế giới
tên là Thiên Ðạo. Phật Thiên Vương đó sống
lâu ở đời hai mươi trung kiếp. Rộng vì chúng
sinh diễn nói diệu pháp. Chúng sinh nhiều
như số cát sông Hằng, đều đắc được quả A la
hán. Vô lượng chúng sinh phát tâm Duyên
Giác, nhiều chúng sinh như số cát sông Hằng,
phát tâm vô thượng đạo, được vô sinh nhẫn,
cho đến bất thối chuyển.
Ðức Phật lại bảo bốn chúng rằng : Ðề Bà Ðạt Ða
từ nay cho đến vô lượng kiếp vị lai, sẽ được
thành Phật, danh hiệu là Thiên
Vương Như Lai, ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thế giới
Ngài thành Phật tên là Thiên Ðạo. Phật Thiên
Vương đó, trụ ở đời hai mươi trung kiếp. Thế
giới của chúng ta một lần tăng một lần giảm
là một kiếp. Tuổi thọ của con người cứ một
trăm năm giảm xuống một tấc. Từ tuổi thọ con
người tám vạn bốn ngàn tuổi, dần dần giảm
xuống còn mười tuổi. Từ mười tuổi lại dần
dần tăng lên đến tám vạn bốn ngàn tuổi. Một
tăng một giảm là một kiếp. Hai mươi tiểu
kiếp làm một trung kiếp, bốn trung kiếp làm
một đại kiếp.
Trong hai mươi
trung kiếp, Phật Thiên Vương vì hết thảy
chúng sinh rộng nói bộ Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa nầy. Lúc đó, có chúng sinh nhiều như số
cát sông Hằng chứng được quả vị A
la Hán, vô lượng vô biên
chúng sinh phát tâm Duyên Giác thừa, có
chúng sinh nhiều như số cát sông Hằng, phát
đạo tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Họ
đều đắc được vô sinh nhẫn, đến cảnh giới bất
thối chuyển.
Sau khi Phật Thiên Vương đó vào Niết Bàn,
chánh pháp lưu lại ở đời hai mươi trung
kiếp. Toàn thân xá lợi được tạo dựng tháp
bằng bảy báu, cao sáu mươi do tuần, bề ngang
rộng bốn mươi do tuần. Chư thiên nhân dân
đều dùng các thứ hoa, hương bột, hương đốt,
hương xoa, y phục, anh lạc, tràng phan, lọng
báu, âm nhạc, ca xướng, lễ bái cúng dường
tháp báu. Vô lượng chúng sinh được quả A la
hán, vô lượng chúng sinh ngộ Bích Chi Phật,
có nhiều chúng sinh không thể nghĩ bàn phát
bồ đề tâm, đến quả vị bất thối chuyển.
Lúc đó, vị Phật Thiên Vương giáo hóa xong
chúng sinh đáng được giáo hóa, cũng độ xong
chúng sinh đáng được độ, viên mãn thệ nguyện
của Phật đã phát, cho nên vào Niết Bàn. Khi
Phật tại thế, thì chánh pháp trụ thế hai
mươi trung kiếp. Sau khi Phật diệt độ, thì
đem toàn thân xá lợi của Phật an trí vào
trong tháp bảy báu. Tháp cao sáu mươi do
tuần (biểu thị cho sáu độ), bề ngang rộng
bốn mươi do tuần (biểu thị cho bốn niệm xứ).
Tất cả chư Thiên, nhân dân, đều dùng các thứ
hoa, hương bột, hương đốt, hương xoa, y
phục, anh lạc, tràng phan, lọng báu, âm
nhạc, ca xướng, cung kính lễ bái, cung kính
cúng dường tháp bảy báu.
Sau khi Phật Thiên Vương vào Niết Bàn, vẫn có
vô lượng chúng sinh chứng được quả A
La Hán. Vô lượng chúng sinh
được quả Bích Chi Phật. Có nhiều chúng sinh
không thể nghĩ bàn, phát bồ đề tâm đến quả
vị bất thối chuyển.
Ðức Phật bảo các Tỳ Kheo ! Trong đời vị
lai, nếu có người thiện nam, người thiện nữ
nào, nghe Kinh Pháp
Hoa Phẩm Ðề Bà Ðạt Ða, mà tâm
tin kính thanh tịnh, chẳng sinh tâm nghi
hoặc, thì chẳng đọa vào địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, được sinh ở trước mười phương chư
Phật, chỗ được sinh về thường nghe Kinh này.
Nếu sinh trong loài người, trên trời, thì
được hưởng sự vui thù thắng vi diệu. Nếu
sinh ở trước chư Phật, thì được hoa sen hóa
sinh.
Ðức Phật lại bảo các Tỳ Kheo rằng : Trong đời
vị lai, nếu có người thiện nam người thiện
nữ, tu năm giới làm mười điều lành, nghe
được Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa Phẩm Ðề Bà Ðạt Ða, mà
trong tâm chẳng có pháp ô nhiễm, tâm tin
kinh thanh tịnh chẳng hoài nghi. Nếu có ai
phê bình Ðề Bà Ðạt Ða là người ác, đó là sai
lầm. Kỳ thật, Ngài thật là một vị đại Bồ
Tát, chỉ bất quá Ngài hiện tướng tôn giả
phản diện để giúp Phật độ người. Phải tin
rằng người mà đời đời kiếp kiếp đến phản đối
bạn, hoặc là người nhiễu loạn bạn, đều là
đang trợ giúp bạn thành Phật. Ðó cũng giống
như ở trong lò đúc rèn luyện, rèn luyện đến
lúc, một chút tập khí mao bệnh đều chẳng
còn, tâm tính nhu hòa. Nếu được như thế thì
mới là ‘’Thật tin‘’. Nên coi những oán hận
sân khuể phiền não, sẽ thành chân chánh
thiện tri thức của mình, chân chánh hay sinh
tâm cung kính thiện tri thức. Ví như chuông
cần phải dùng dùi bằng gỗ để đánh nó, thì
mới phát ra âm thanh. Vàng thật phải dùng
lửa để nung mới thành vàng ròng. Hoa mai
phải trải qua một phen rét lạnh mới tỏa
hương thơm ngào ngạt, do đó có câu :
‘’Không trải qua một phen lạnh thấu xương
Sao được hoa mai thơm ngát mũi.’’
Tuy nhiên Ðề Bà Ðạt Ða làm những điều ác, song
nếu chúng ta đối với phẩm nầy, mà chẳng sinh
tâm phân biệt, chẳng sinh hoài nghi, tức là
chứng minh chúng ta có : Văn, tư, tu, huệ
chân chánh, vĩnh viễn chẳng đọa vào ba đường
ác. Luôn luôn hay cúng dường chư Phật, lại
hay gần gũi Tam Bảo, được nghe diệu pháp vô
thượng, và còn được sinh về cõi Phật trong
mười phương, được nghe Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, tức là hoa sen hóa sinh ra, chín phẩm
hoa sen là cha mẹ. Nếu sinh về cõi trời thì
cũng được hưởng sự vui thù thắng vi diệu.
Lúc đó, phương dưới đức Ða Bảo Thế Tôn, có
vị Bồ Tát đi theo tên là Trí Tích, bạch đức
Phật Ða Bảo để trở về bổn quốc, thì đức Phật
Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Trí Tích rằng :
Thiện nam tử ! Hãy đợi chốc lát, sẽ có Bồ
Tát tên là Văn Thù Sư Lợi, có thể gặp nhau
luận bàn về diệu pháp, rồi hãy trở về bổn
quốc.
Lúc đó, phương dưới Phật Ða Bảo có vị thị giả
đi theo Ngài, là một vị Bồ Tát tên là Trí
Tích. Ngài nói với Phật Ða Bảo : ‘’Bây giờ
con có thể về được chăng ?’’ Lúc ấy, Phật
Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Trí Tích rằng :
‘’Thiện nam tử ! Ông nên đợi một chút nữa,
trong pháp hội nầy, sẽ có một vị Bồ Tát tên
là Văn Thù Sư Lợi, sẽ gặp ông cùng nhau đàm
luận về đạo lý Kinh Kiệu Pháp Liên Hoa, sau
đó hãy trở về !
Lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ngồi trên hoa
sen báu ngàn cánh, lớn như bánh xe, những Bồ
Tát cùng đến, cũng ngồi trên hoa sen báu, từ
biển Long cung Ta Kiệt La, tự nhiên vọt ra
trụ ở trong hư không, đi thẳng đến núi Linh
Thứu. Từ hoa sen bước xuống, đến ở trước
Phật, đầu mặt kính lễ dưới chân hai vị Thế
Tôn, làm lễ xong rồi, đến chỗ Bồ Tát Trí
Tích cùng nhau thăm hỏi, bèn ngồi qua một
bên. Bồ Tát Trí Tích hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư
Lợi rằng : Ngài đến Long cung giáo hóa chúng
sinh, số được bao nhiêu ? Bồ Tát Văn Thù Sư
Lợi nói : Số nhiều vô lượng, không thể tính
kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải
tâm đo lường được, hãy đợi chốc lát tự nhiên
sẽ biết.
Lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ngồi trên hoa
sen báu ngàn cánh, hoa sen lớn như bánh xe.
Những vị Bồ Tát theo Ngài cùng đến pháp hộI,
cũng đều ngồi trên hoa sen báu, từ biển Long
cung Ta Kiệt La tự nhiên vọt ra, trụ ở trong
hư không đến thẳng núi Linh Thứu, nơi Phật
đang nói pháp, rồi từ hoa sen bước xuống đến
ở trước Phật, năm thể sát đất, cung kính lễ
lạy Phật Thích Ca và Phật Ða Bảo. Lễ lạy
xong, lại đến chỗ của Bồ Tát Trí Tích ngồi
cùng nhau hỏi thăm, rồi ngồi qua một bên. Bồ
Tát Trí Tích hỏi Bồ Tát văn Thù : ‘’Thưa
Ngài ! Ngài đến cung rồng giáo hóa được bao
nhiêu rồng‘’? Bồ Tát Văn Thù đáp : ‘’Rồng
được độ, không thể nào tính kể được, chẳng
phải miệng nói ra được, cũng chẳng phải tâm
có thể dò lường được, Ngài hãy đợi một chút
thì sẽ biết rõ.’’
Nói chưa dứt lời, thì có vô số Bồ Tát ngồi
trên hoa sen báu, từ dưới biển vọt lên, đến
núi Linh Thứu, trụ ở trong hư không. Các vị
Bồ Tát đó, đều do Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hóa
độ, đủ hạnh Bồ Tát, đều cùng đàm luận nói
sáu Ba la mật. Họ vốn là hàng Thanh Văn, ở
trong hư không nói hạnh Thanh Văn, nay đều
tu hành nghĩa không của đại thừa. Bồ Tát Văn
Thù Sư Lợi nói với Bồ Tát Trí Tích rằng:
Việc giáo hóa ở trong biển là như thế.
Bấy giờ, Bồ Tát
Trí Tích nói bài kệ, để khen ngợi rằng:
Ðại trí đức dũng mãnh
Hóa độ vô lượng chúng
Nay trong đại hội này
Ta đều đã thấy hết.
Diễn nói nghĩa thật tướng
Mở bày pháp một thừa
Rộng độ các chúng sinh
Khiến mau thành bồ đề.
Khi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi chưa nói chưa dứt
lời, thì đột nhiên có vô số Bồ Tát đại thừa,
ngồi trên hoa sen báu từ dưới biển vọt lên,
đến núi Linh Thứu chỗ của Phật Thích Ca đang
nói pháp, hiện ra đủ thứ thần thông diệu
dụng, trụ ở trong hư không. Những vị Bồ Tát
đó, đều do Bồ Tát Văn Thù giáo hóa ở trong
biển, ai cũng đầy đủ hạnh Bồ Tát, cùng nhau
thảo luận sáu pháp Ba la mật. Các Ngài vốn
chứng quả vị Thanh Văn, song các Ngài đã hồi
tiểu hướng đại, hành Bồ Tát đạo. Cho nên,
các Ngài ở trong hư không trước hết nói pháp
Thanh Văn thừa, vì các Ngài chưa vào sâu
pháp đại thừa. Như nay tất cả hàng Thanh Văn
thừa và Bồ Tát thừa, đều cùng nhau phát tâm
tu hành nghĩa không của đại thừa, tức là tu
hành pháp môn thật tướng của đại thừa. Bồ
Tát Văn Thù nói với Bồ Tát Trí Tích : ‘’Ngài
hỏi tôi việc giáo hóa bao nhiêu chúng sinh ở
trong biển, thì việc đó như thế .’’
Bấy giờ Bồ Tát Trí
Tích nhìn thấy chúng sinh của Bồ Tát Văn Thù
hóa độ, hiện nay đều tu nghĩa không đại thừa
của đại Bồ Tát. Cho nên dùng một bài kệ để
khen ngợi Bồ Tát Văn Thù.
‘’Ngài là một vị tôn giả đầy đủ đại trí huệ,
đại công đức, đại dũng mãnh, đại thù thắng,
cho nên giáo hóa được vô lượng vô biên chúng
sinh hành Bồ Tát đạo. Hiện tại tất cả chúng
sinh ở trong pháp hội nầy, đề đã nhìn thấy
hết. Ngài hay diễn nói tất cả diệu pháp,
khiến cho hết thảy chúng sinh minh bạch
nghĩa lý thật tướng của đại thừa. Ngài lại
hay mở bày diệu pháp một thừa, rộng giáo hóa
chúng sinh, khiến cho họ mau thành tựu diệu
quả Vô thượng bồ đề, là bậc chúng ta đáng
kính tin phụng.
Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói : Tôi ở trong
biển chỉ thường nói Kinh Pháp Hoa. Bồ Tát
Trí Tích hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi : Kinh
này thâm sâu vi diệu, là báu trong các kinh,
ít có ở trong đời. Nếu có chúng sinh siêng
năng tinh tấn tu hành kinh này, thì mau được
thành Phật chăng ? Bồ Tát Văn Thù đáp : Có
con gái của Long
Vương Ta Kiệt La, mới tám
tuổi mà trí huệ lanh lợi, khéo biết các căn
hành nghiệp của chúng sinh, được Ðà la ni,
hay thọ trì pháp bí tàng thâm sâu của các
đức Phật nói, vào sâu thiền định, thấu hiểu
thông đạt các pháp, trong khoảng sát na phát
tâm bồ đề, được chẳng thối chuyển, biện tài
vô ngại, thương nhớ chúng sinh như con đỏ,
công đức đầy đủ, trong tâm nhớ pháp, miệng
diễn nói pháp vi diệu rộng lớn, từ bi đối
với tất cả chúng sinh, ý chí nhu hòa, đến
được bồ đề.
Bồ Tát Văn Thù nói : ‘’Tôi ở trong biển, luôn
một lòng diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa’’.
Bồ Tát Trí Tích nghe rồi tâm sinh hoài nghi
bèn hỏi : ‘’Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một
bộ kinh thâm sâu vi diệu không thể nghĩ bàn,
cho nên gọi là bảo bối trong các kinh, rất
ít có ở trong thế gian. Nếu có chúng sinh
nghe được kinh nầy, và siêng năng tinh tấn
tu hành kinh nầy, thì người đó chẳng phải
sớm có thể thành Phật chăng‘’ ? Bồ Tát Văn
Thù đáp : ‘’Ở trong biển có một Long cung,
Long Vương của long cung có một người con
gái mới tám tuổi, tuy tuổi nhỏ mà trí huệ
rất lanh lợi. Cô ta biết tiền nhân hậu quả
của chúng sinh, cô ta đắc được mười pháp Ðà
la ni. (Ðà la ni dịch là "tổng trì". ‘’Tổng
tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa.’’ Tức cũng
là tổng trì thân khẩu ý thanh tịnh, thân
khẩu ý chẳng phạm nghiệp ác. Pháp của Phật
nói cô ta đều minh bạch). Do đó, tạng bí mật
là bí pháp vì đây nói mà kia chẳng biết, vì
kia nói mà đây chẳng biết, đồng nói một pháp
nhưng đắc được nghĩa lý chẳng giống nhau,
cho nên gọi là bí tàng. Song Long Nữ tám
tuổi hay thọ trì đọc tụng và đều hiểu rõ
tạng bí mật thâm sâu của chư Phật nói. Cô ta
lại vào được thiền định thâm sâu, mà còn
thấu rõ thông đạt các pháp, trong khoảng một
sát na phát đại bồ đề tâm, được vĩnh viễn
chẳng thối chuyển, được biện tài vô ngại.
Song cô ta thương nhớ tất cả chúng sinh, xem
tất cả chúng sinh như con đỏ, cô ta công đức
viên mãn, trong tâm nhớ pháp, miệng diễn nói
pháp vi diệu xâu xa. Cô ta có tâm từ hay ban
vui, tâm bi hay cứu khổ, mà còn khiêm nhường
ái hộ tất cả chúng sinh. Chí khí và ý niệm
của cô ta đều rất nhu hòa, sớm thành tựu bồ
đề.’’
Bồ Tát Trí Tích nói : Tôi thấy đức Thích Ca
Như Lai trong vô lượng kiếp, làm những việc
khó làm, tích lũy công đức, cầu đạo bồ đề
chưa từng nghỉ ngơi. Tôi quán ba ngàn đại
thiên thế giới, cho đến chẳng có nơi nào nhỏ
như hạt cải, mà chẳng phải là nơi Bồ Tát vì
chúng sinh xả bỏ thân mạng của, rồi sau đó
mới thành tựu đạo bồ đề, tôi không tin
cô Long Nữ này, trong chốc
lát mà được thành Chánh giác.
Bồ Tát Văn Thù nói ra việc Long Nữ sớm thành
bồ đề, thì Bồ Tát Trí Tích bèn sinh nghi
hoặc, liền hỏi : ‘’Tôi thấy Phật Thích Ca
thành Phật, chẳng phải là việc dễ dàng.
Trong vô lượng kiếp về trước, Ngài làm những
việc khó làm, tích lũy công đức nhỏ như hạt
cát, như hạt bụi, như sợi lông. Vì cầu bồ đề
mà chưa từng nghỉ ngơi. Hiện tại tôi quán
khắp ba ngàn thế giới, chẳng có nơi nào nhỏ
như hạt cải, như hạt bụi, mà chẳng phải là
chỗ xả bỏ thân mạng của Bồ Tát, vì cứu độ
tất cả chúng sinh. Sau đó, độ chúng hết rồi
mới thành Phật đạo. Tôi không tin
cô Long Nữ nầy trong khoảng
chốc lát, mà lập tức thành Phật.
Nói chưa xong thì Long Nữ đột nhiên hiện ra
ở trước, đầu mặt lễ kính đức Phật, rồi đứng
qua một bên, bèn nói bài kệ khen ngợi rằng:
Thông đạt tướng tội phước
Chiếu khắp mười phương cõi
Pháp thân tịnh vi diệu
Ðủ ba mươi hai tướng.
Và tám mươi vẻ đẹp
Dùng trang nghiêm pháp thân
Chỗ trời người kính ngưỡng
Rồng thần đều cung kính.
Hết thảy loài chúng sinh
Chẳng ai không sùng bái
Lại nghe thành bồ đề
Chỉ Phật chứng biết được.
Con nói pháp đại thừa
Ðộ thoát chúng sinh khổ.
Tong lúc Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Trí Tích đàm
luận chưa xong, thì Long Nữ đột nhiên hiện
thân ở trong pháp hội, cung kính đảnh lễ chư
Phật Bồ Tát, rồi lui ngồi về một bên. Sau
đó, dùng bài kệ khen ngợi đức Ða Bảo Như Lai
: ‘’Phật thông đạt minh bạch được quả báu
tội nghiệp và tướng phước thiện ác, cho nên
tu phước tu huệ, mới đắc được tướng siêu
nhiên thành Phật. Vì thân tâm thanh tịnh,
nên trí huệ quang minh chiếu khắp mười
phương thế giới vô cùng vô tận. Pháp thân
thanh tịnh vi diệu không thể nghĩ bàn đó,
tức được ba mươi hai tướng đại nhân, đó là
vì Phật đã đầy đủ viên mãn sáu độ Ba la mật.
Ðức Phật lại dùng tám mươi vẻ đẹp để trang
nghiêm pháp thân. Là chỗ kính ngưỡng của
trời người, hết thảy rồng thần đều cung
kính, hết thảy chúng sinh chẳng có ai mà
chẳng sùng bái kính ngưỡng Phật. Tôi lại
nghe cảnh giới thành Phật, chỉ có Phật mới
chứng minh được, cho nên hiện tại con xiển
dương giáo lý đại thừa, muốn độ thoát tất cả
chúng sinh lìa khỏi biển khổ sinh tử.
Bấy giờ, Xá Lợi Phất nói với Long Nữ rằng :
Cô nói chẳng bao lâu cô đắc được vô thượng
đạo, đó là việc khó tin. Vì sao ? Vì thân
người nữ dơ bẩn, chẳng phải pháp khí, sao
lại có thể đắc được Vô thượng bồ đề ? Phật
đạo lâu xa, phải trải qua vô lượng kiếp tinh
tấn siêng tu khổ hạnh, tu đủ các Ba la mật,
sau đó mới thành. Hơn nữa, thân người nữ có
năm điều chướng ngại : Thứ nhất chẳng được
làm Phạm Thiên Vương, thứ hai chẳng được làm
Ðế Thích, thứ ba chẳng được làm ma vương,
thứ tư chẳng được làm Chuyển luân thánh
vương, thứ năm không thể thành Phật. Sao
thân nữ lại mau được thành Phật ?
Khi Long Nữ nói xong bài kệ rồi, thì Ngài Xá
Lợi Phất bèn nói với Long nữ rằng : ‘’Cô nói
việc sớm được thành Phật, thật là khiến cho
người khó tin được. Tại sao chúng tôi không
tin ? Vì cô là thân người nữ, mà thân người
nữ chẳng thanh tịnh, có sự nhơ uế, chẳng
phải pháp khí thành Phật. Tại sao có thể nói
cô sớm đắc được bồ đề ? Con đường thành Phật
rất là xa vời, do đó đức Phật Thích Ca ba
đại A tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp gieo
trồng tướng tốt, chẳng biết trải qua bao
nhiêu vô lượng đại kiếp, tinh tấn siêng tu
khổ hạnh, mới được thành tựu Phật đạo. Hà
huống thân người nữ có năm điều chướng ngại.
1. Không thể làm vua Ðại Phạm Thiên, vì thân
người nữ chẳng thanh tịnh.
2. Không thể làm Ðế Thích.
3. Không thể làm ma vương.
4. Không thể làm Chuyển Luân Thánh Vương.
5. Không thể thành Phật.
Thân người nữ có năm điều chướng ngại như thế,
sao lại có thể thành Phật ? Sao lại có thể
nói thân người nữ cũng có thể thành Phật ?
Bấy giờ, Long Nữ có một hạt bảo châu, giá
trị ba ngàn đại thiên thế giới, cầm dâng lên
đức Phật, đức Phật bèn thọ nhận. Long Nữ bảo
Bồ Tát Trí Tích và tôn giả Xá Lợi Phất rằng
: Tôi cúng hạt bảo châu, đức Thế Tôn thọ
nhận, việc đó có mau chăng ?
- Ðáp rằng : Rất
mau.
- Long nữ nói : Dùng thần lực của các Ngài để
quán sát tôi thành Phật, còn mau hơn việc
đó.
Lúc đó, trong
chúng hội đều thấy Long nữ đột nhiên biến
thành thân nam, đầy đủ hạnh Bồ Tát, bèn đi
qua phương nam thế giới Vô Cấu, ngồi trên
hoa sen báu thành Ðẳng chánh giác, đủ ba
mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, khắp vì
hết thảy chúng sinh trong mười phương, mà
diễn nói diệu pháp.
Kỳ thật, tôn giả Xá Lợi Phất ở trong Kinh Duy
Ma Cật, đã biết chẳng có tướng nam nữ khả
đắc. Song, tại sao Ngài lại ở trong pháp hội
Diệu Pháp Liên Hoa hoài nghi việc Long nữ
thành Phật ? Ðó là vì Ngài muốn vì tất cả
chúng sinh mà thưa hỏi pháp đó, sợ rằng
chúng sinh sinh tâm hoài nghi đối với việc
đó, chẳng tin đây là bộ Kinh Pháp Hoa, cho
nên Ngài đại biểu chúng sinh thỉnh pháp.
Thật ra, tôn giả Xá Lợi Phất và Bồ Tát Trí
Tích, đều biết rõ chẳng có tướng nam nữ khả
đắc, song một số phàm phu thấy thì có tướng
nam nữ phân biệt. Cho nên, tôn giả Xá Lợi
Phất cố ý biện luận với Long nữ, vì tất cả
chúng sinh khai quyền hiển thật.
Lúc đó, Long nữ có
một hạt bảo châu, giá trị quý hơn ba ngàn
đại thiên thế giới, cô ta tay cầm hạt châu
báu cúng dường đức Phật, Phật liền thọ nhận.
Long nữ nói với Bồ Tát Trí Tích và tôn giả
Xá Lợi Phất rằng :
- ‘’Tôi dâng cúng
hạt bảo châu lên đức Phật, Phật đã thọ nhận,
các Ngài nói việc đó phát sinh có mau
chăng‘’?
- Các Ngài nói :
‘’Rất mau‘’!
- Long nữ nói :
‘’Dùng oai thần lực hai Ngài để quán sát tôi
thành Phật, còn mau hơn so với việc tôi mới
cúng dường đức Thế Tôn’’.
Lập tức, ở trong
pháp hội đều thấy Long nữ trong khoảng sát
na hiện thân người nam, viên mãn hạnh môn Bồ
Tát, lập tức đi về phương nam thế giới Vô
Cấu, ngồi trên tòa hoa sen báu hóa thân
thành Phật.
Nếu ai muốn được
hoa sen hóa thân, thì chẳng phải là việc dễ
dàng, phải đầy đủ tám nhân duyên :
1. Thậm chí xả bỏ thân mạng cũng đừng nói lỗi
lầm và thị phi của kẻ khác.
2. Người biến hóa quy y Tam Bảo, mà còn hóa ra
tất cả súc sinh đến quy y Tam Bảo, hành Bồ
Tát đạo.
3. Tất cả việc lành đều để ở trong bồ đề tâm.
4. Tu phạm hạnh thanh tịnh, không tham, không
sân, không si để tinh tấn tu phạm hạnh.
5. Tạo hình tượng Phật để trên tòa sen.
6. Hay trừ ái não của chúng sinh.
7. Ðối với kẻ cống cao nên khiêm nhường.
8. Không làm cho kẻ khác sinh phiền não.
Chánh giác tức là chẳng có vọng tưởng. Lúc đó,
Long nữ lập tức thành Phật, đủ ba mươi hai
tướng, tám mươi vẻ đẹp, khắp vì tất cả chúng
sinh trong mười phương, diễn nói diệu pháp
vô thượng.
Bấy giờ, ở thế giới Ta Bà, hàng Bồ Tát
Thanh Văn, Thiên Long bát bộ, người, chẳng
phải người, đều thấy Long Nữ thành Phật,
khắp vì chúng hội trời người ở cõi đó nói
pháp, tâm đều hoan hỉ, đều kính lễ Long Nữ.
Vô lượng chúng sinh nghe pháp hiểu rõ tỏ
ngộ, được không thối chuyển, vô lượng chúng
sinh được thọ ký thành Phật. Thế giới Vô Cấu
có sáu thứ chấn động. Thế giới Ta Bà có ba
ngàn chúng sinh được bất thối chuyển, ba
ngàn chúng sinh phát tâm bồ đề, mà được thọ
ký. Bồ Tát Trí Tích và Xá Lợi Phất, tất cả
chúng hội đều yên lặng tin nhận.
Long Nữ đến thế giới Vô Cấu diễn nói diệu
pháp, thì ở thế giới Ta Bà rất nhiều vị Bồ
Tát, Thanh Văn, Thiên Long bát bộ, người,
chẳng phải người, đều nhìn thấy Long Nữ
thành Phật. Khắp vì trời người của pháp hội
đó nói pháp. Hết thảy tất cả chúng sinh đều
sinh tâm hoan hỉ, pháp hỉ sung mãn, mọi
người đều kính lễ Long Nữ. Vô lượng vô biên
chúng sinh nghe Phật pháp, thấu triệt hiểu
rõ tất cả các pháp, được quả vị bất thối
chuyển, còn có vô lượng chúng sinh được thọ
ký thành Phật. Ở thế giới Vô Cấu có sáu thứ
chấn động : Chấn, hống, kích, dũng, động,
khởi. Chấn hống kích thuộc về tiếng; động
dũng khởi thuộc về hình. Người tu đạo, tu
đến trình độ nào đó, thì sẽ cảm thấy sáu căn
có sáu thứ chấn động nầy. Mỗi sáu thứ chấn
động phân ra làm ba, cho nên có mười tám
giới. Tức là phân làm sáu trần, sáu căn, sáu
thức. Lúc đó, ở thế giới Ta Bà có ba ngàn
chúng sinh được quả vị bất thối chuyển, đều
phát tâm đại bồ đề, còn được Phật thọ ký. Bồ
Tát Trí Tích và Xá Lợi Phật, tất cả pháp hội
đại chúng yên lặng tin nhận thánh nghĩa.