KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 03
Quyển 04
Phẩm
Thấy Bảo Tháp Thứ Mười Một
Phẩm thứ mười một
gọi là Phẩm Thấy Bảo Tháp. Thấy là nhìn
thấy, thấy bảo tháp. Một số người dùng mắt
để thấy. Kỳ thật, những gì chúng ta thấy,
chẳng riêng gì dùng mắt để thấy, mà còn phải
dùng tâm để thấy; chẳng những tâm nhìn thấy
đặng, mà bổn tánh cũng nhìn thấy đặng. Vì Ða
Bảo Như Lai cũng ở trong bổn tánh của chúng
sinh. Hiện là hiện bổn tánh Như Lai, thấy là
thấy bổn tánh Như Lai, cũng đều là thấy bảo
tháp.
Ðạo lý tâm thấy và
tánh thấy, có người sẽ không tin. Vì một số
người chỉ biết dùng mắt mà chẳng biết con
mắt vốn chẳng thấy được. Nếu con mắt thấy
được, tại sao người chết rồi, con mắt vẫn
còn mà sao không thấy ? Do đó, có thể chứng
minh chẳng phải con mắt thấy, mà là tánh
thấy. Có người nói: ‘’Hiện tại khoa học phát
triển, có thể lấy con mắt của người nầy, gắn
vào con mắt của người khác, vẫn có thể nhìn
thấy mọi vật‘’. Ðó chẳng phải là mắt thấy,
mà là sự thấy của tánh thấy. Vì mắt có tánh
thấy, cho nên thấy được. Nếu chẳng có tánh
thấy, thì sẽ không thấy được. Vậy tánh thấy
là gì ? Bạn nhìn chẳng thấy được.
Trong Kinh Lăng
Nghiêm nói:
‘’Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập‘’.
Nghĩa là :
Thấy do lìa thấy, không thể thấy được.
Thấy cũng phải lìa sự thấy nầy, tại sao bạn
nhìn chẳng thấy ? Vì sự thấy là chẳng có.
Nếu chiếu theo đạo lý nầy mà nói, thì bạn
nhìn thấy mọi vật, cũng chẳng tồn tại. Có
người nói: ‘’Ðạo lý nầy tôi không tin‘’, vì
bạn không tin, nên chẳng hiểu đạo lý Kinh
Pháp Hoa. Kinh Pháp Hoa là phá tất cả mọi sự
chấp trước của bạn, sự thấy mọi vật chất của
bạn, là từ phần tướng của tám thức hiện ra,
kỳ thật cũng là giả, cái mà nhìn không thấy
mới là thật. Cái đó là gì ? Tức là tự tánh
của bạn, tròn trịa, sáng suốt, viên dung vô
ngại. Nếu buông xả được cái giả, thì biết
được cái thật.
Tóm lại, bạn nhìn
không thấy, thì đó mới là thật thấy; bạn
nhìn thấy được, đó là tướng phần của tám
thức, chẳng phải phần thấy. Ðạo lý nầy càng
nghiên cứu thì càng diệu, hôm nay nói về sự
thấy đến đây thì ngừng. Trong Kinh Kim Cang
nói:
‘’Phàm tất cả các tướng,
Ðều là hư vọng,
Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng,
Tức thấy Như Lai’’.
Bảo là thất bảo (bảy báo): Tức là vàng, bạc,
lưu ly, xa cừ, trân châu, mai khôi.
1. Vàng : Tính của vàng là tùy duyên bất biến,
bất biến tùy duyên, đại biểu cho trí huệ
kiên cố.
2. Màu của bạc sạch trắng, đại biểu cho hạnh
môn thanh tịnh.
3. Lưu ly là thể sáng suốt thấu triệt, biểu
thị cho trí huệ sáng suốt.
4. Xa cừ có tướng chuyển động, biểu thị cho
tâm ủy khúc, người tu đạo phải có tâm nhẫn
và nhường nhịn.
5. Mã não là tạp sắc, bên trong có màu đỏ, màu
vàng, màu trắng, vì có nhiều màu, biểu thị
cho trí huệ vạn hạnh, do đó có câu ‘’Vạn đức
trang nghiêm‘’.
6. Trân châu là tròn sáng, biểu thị cho trí
huệ viên dung vô ngại.
7. Mai khôi là ngọc thạch, có tính ôn nhuận,
biểu thị cho trí huệ ôn nhuận. Dùng bảy báu
nầy để tạo tháp, cho nên gọi là bảo tháp
(tháp báu) .
Tháp là phương mộ,
nơi cúng dường chân thân của Phật và Tổ Sư,
tức cũng là nơi thờ Phật xá lợi. Tháp có
hình bốn góc, hình sáu góc, hình tam giác,
và hình tròn. Có tháp làm bằng gạch, bằng
đá, bằng gỗ. Tháp cao nhất có mười ba từng,
thấp nhất là hai từng. Tám từng trở lên là
tháp Phật, bảy từng là tháp Bồ Tát, sáu từng
là tháp Bích Chi Phật, năm từng là tháp tứ
quả A
La Hán, bốn từng là tháp tam
quả A
La Hán, ba từng là tháp nhị
quả A
La Hán, hai từng là tháp sơ
quả A
La Hán. Tóm lại, phàm là nơi
đáng kỷ niệm, người sau đều xây tháp để biểu
thị tôn kính không quên. Giống như Ðức Phật
:
1. Nơi ra đời, ở
ngoài thành Ca Tì
La
Vệ, lập tháp tại vườn
Lâm Tì Ni.
2. Nơi thành đạo, xây tháp tại nước Ma Già Ðà,
phía nam dòng sông Ni Liên.
3. Nơi chuyển pháp luân, tạo tháp tại vườn nai
ngoài thành Ba
La
Nại nước Ca Thi.
4. Nơi hiện thần thông, xây tháp tại vườn Kỳ
Ðà phía đông nam thành Xá Vệ.
5. Nơi từ trên trời xuống, xây tháp tại thành
Khúc Nữ nước Tang Già Thi.
6. Nơi hóa độ phân biệt tăng, xây tháp tại
thành
Vương Xá.
7. Nơi suy niệm thọ lượng, xây tháp tại thành
Tì Gia Ly.
8. Nơi vào Niết Bàn, xây tháp tại thành Câu
Thi Na. Nay đều trở thành thánh địa lễ bái
của Phật giáo đồ.
Phẩm là phẩm loại, tụ lại nghĩa lý tương đồng
làm một đoạn. Kinh Pháp Hoa có bảy quyển
phân làm hai mươi tám phẩm. Mỗi phẩm thành
một đề mục, phẩm nầy là Phẩm Thấy Bảo Tháp.
Bảo tháp nầy được
tất cả chúng sinh xây dựng, sau khi Ða Bảo
Như Lai nhập diệt. Trước khi Ða Bảo Như Lai
chưa thành Phật, đã từng phát nguyện: ‘’Ta ở
đời vị lai, phàm là có Phật ra đời, khi muốn
nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì bảo tháp
của ta từ dưới đất sẽ vọt lên, hiện ra ở
trước, trụ trong hư không, khiến cho đại
chúng đều nhìn thấy được, chứng minh nói
cảnh giới của Kinh Pháp Hoa là không thể
nghĩ bàn‘’. Cho nên, có thể biết bảo tháp
hiện ra là có tác dụng chứng tín.
Do đó, khi Ðức Phật
muốn nói Kinh Pháp Hoa, thì nguyện lực của
đức Ða Bảo Như Lai xuất hiện ở trong hư
không. Do đó, đủ thấy Kinh Pháp Hoa rất là
quan trọng. Trong một đời của đức Phật,
trước hết nói Kinh
Hoa Nghiêm, cuối cùng nói
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Song, khi nói Kinh
Hoa Nghiêm thì hàng nhị thừa
chẳng tiếp thọ được. Phật từ bi đổi nói Kinh
A Hàm, kế tiếp nói Kinh Phương Ðẳng, rồi nói
Kinh Bát Nhã. Hàng đệ tử hồi tiểu hướng đại,
cơ duyên thành thục, mới khai quyền hiển
thật, nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy.
Mùa hè năm 1968, chúng ta thành lập ban giảng
tập, trước khi khai giảng Kinh Lăng Nghiêm,
năm sau ban giảng tập giảng Phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện, Kinh Pháp Bảo Ðàn, Kinh Kim
Cang .v.v. Năm nay giảng Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa, bây giờ giảng đến Phẩm Bảo Tháp. Ðại
chúng tại Giảng Ðường Phật Giáo, cùng nhau
nghiên cứu Phật pháp, đây chẳng phải là nhân
duyên nhỏ, có thể nói là cơ hội ngàn năm mới
gặp, bất quá bạn chưa được túc mạng thông,
nên chẳng thấu được nhân duyên nầy. Chưa
chứng được thiên nhãn thông, nên nhìn chẳng
thấy được cảnh giới nầy. Song, các bạn ở đây
được nghe Phẩm Thấy Bảo Tháp, mới là cảnh
giới hiện tiền không thể nghĩ bàn.
Bấy giờ, ở trước đức Phật, có tháp bảy báu
cao năm trăm do tuần, bề ngang rộng hai trăm
năm mươi do tuần, từ dưới đất vọt lên, trụ ở
trong hư không, đủ thứ các báu vật nghiêm
sức rất trang nghiêm. Có năm ngàn lan can,
ngàn vạn phòng ốc, vô số tràng phan, dùng để
nghiêm sức, chuỗi báu rũ xuống, hàng vạn ức
linh báu treo trên tháp, bốn mặt đều tỏa ra
hương thơm đa ma la bạt chiên đàn, xông khắp
thế giới.
Khi nói xong Phẩm Pháp Sư, thì ở trước đức
Phật Thích Ca có tháp bảy báu hiện ra. Tháp
bảy báu nầy cao năm trăm do tuần, bề ngang
rộng hai trăm năm mươi do tuần (đại do tuần
dài 80 dặm, trung do tuần dài 60 dặm, tiểu
do tuần dài 40 dặm). Tháp bảy báu nầy từ
dưới đất vọt lên từ từ thăng đi lên, cuối
cùng ngừng lại ở trong hư không. Trên tháp
báu có các thứ báu vật nghiêm sức, bốn mặt
tháp báu có năm nghìn lan can, ngàn vạn
phòng ốc và vô số tràng phang trang nghiêm.
Lại treo chuỗi báu rũ xuống, và linh báu
tòng ten có đến hàng vạn ức. Bốn mặt tháp
báu tỏa ra hương thơm đa ma la bạt (tính vô
cấu) chiên đàn. Thứ hương thơm nầy xông khắp
đại thiên thế giới.
Năm trăm do tuần,
biểu thị chúng sinh thọ khổ ở trong năm
đường luân hồi. Hiện tại làm cho năm đường
luân hồi dừng lại, khiến cho chúng sinh lìa
khổ được vui. Hai trăm năm mươi do tuần,
biểu thị cho hai trăm năm mươi giới điều.
Người tu hành phải chiếu theo giới luật mà
tu hành, mới thành tựu đạo nghiệp. Ði đứng
nằm ngồi bốn oai nghi, mỗi oai nghi có hai
trăm năm mươi giới điều, hợp lại là một
nghìn. Lại thêm quá khứ một nghìn, hiện tại
một nghìn, vị lai một nghìn, hợp lại thành
ba nghìn. Do đó, có câu: ‘’Ba nghìn oai
nghi, tám vạn tế hạnh‘’.
Dùng các thứ báu
vật nghiêm sức, là biểu thị đủ thứ hạnh môn,
trang nghiêm đạo nghiệp. Năm nghìn lan can,
nghìn vạn phòng khám, biểu thị một thứ công
đức của vạn điều lành. Vô số tràng phan,
biểu thị định huệ. Tràng biểu thị cho định,
phan biểu thị cho huệ. Ðịnh tức là tĩnh, huệ
tức là động. Ðịnh huệ đồng đều thì trí huệ
hiện tiền, đây là một thứ biểu pháp mà thôi.
Chuỗi là dùng bảy báu tạo thành đồ trang sức,
treo ở trước ngực, biểu thị trang nghiêm.
Giảng đến chuỗi, tôi bèn nhớ đến một câu
chuyện : Lúc Phật còn tại thế, vua thành
Vương Xá là Tần Bà Sa La, là
đệ tử của Phật, cũng là đại hộ Pháp. Con
trai của ông ta là vua A Xà Thế, nghe lời Ðề
Bà Ðạt Ða xúi giục, nhốt vua cha vào ngục tù
bảy lớp cửa, cấm không cho ai vào thăm, chỉ
có mẹ của ông ta được vào. Tại sao xảy ra sự
việc nầy ? Vì Ðề Ba Ðạt Ða muốn làm Phật
mới, tuyên truyền bên ngoài rằng Phật Thích
Ca là Phật cũ. Ðề Bà Ðạt Ða muốn khởi cách
mạng trong Phật giáo, nếu chẳng có ai trợ
giúp, thì sẽ không thành công. Cho nên liên
hợp với vua A Xà Thế, xúi vua A Xà Thế giết
vua cha đoạt ngôi, khẩu hiệu là ‘’Vua mới
Phật mới, cùng trị thiên hạ‘’. Ý niệm xấu
nầy, khiến cho vua A Xà Thế động tâm, muốn
làm vua mới, thì phải phế trừ vua già. Do
đó, bèn ra tay đoạt quyền lợi của vua cha,
tự lên làm vua mới. Hai con lang bái làm
bậy, đi khắp nơi tìm Phật nhiễu hại.
Mẹ của vua A Xà Thế
là bà Vi Ðề Hi, mỗi lần gặp vua già, thì lợi
dụng xâu chuỗi (trống không ở giữa) đổ đầy
nước nho, để cho vua già uống giữ gìn tánh
mạng. Hai người ở trong ngục than thở nói :
‘’Vì sao lại sinh ra đứa con ngỗ nghịch nầy,
chắc là nghiệp báo kiếp trước ? Ðức Phật có
thần thông, hãy đến cứu chúng con‘’! Bèn
hướng về núi Linh Sơn cầu : ‘’Ðức Thế Tôn !
Xin ngài phát lòng đại từ bi, cứu chúng con
khỏi biển khổ‘’! Lúc đó, tôn giả Mục Kiền
Liên và tôn giả A Nan từ hư không đến. Thân
của Ðức Phật phóng ra quang minh màu vàng
tía, ngồi trên trăm hoa sen báu vì họ nói
Kinh Thập Lục Quán .
Linh báu dùng để
làm cho chim sợ, cho nên nơi góc chùa tháp
đều treo các linh báu. Gió thổi vang ra
tiếng linh, có thể làm cho chim bay khỏi chỗ
nầy. Nếu có người phát tâm cúng dường linh
báu treo ở góc tháp, thì âm thanh đời sau
chắc chắn to hay, là có sự cảm ứng thù diệu
nầy.
Các phan lọng đều làm bằng vàng, bạc, lưu
ly, xa cừ, mã não, trân châu, mai khôi, bảy
báu, cao đến cung trời Tứ Thiên Vương. Trời
Ðao Lợi mưa xuống hoa trời mạn đà la, để
cúng dường bảo tháp.
Hết thảy tất cả phan báu và lọng báu, đều dùng
: Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân
châu, mai khôi, bảy báu, hợp thành, cao đến
cung trời Tứ Thiên Vương. Tứ Thiên Vương là
từng trời thứ nhất của sáu cõi trời dục
giới, nằm ở giữa núi Tu Di. Bốn hướng mỗi
hướng đều có một Thiên Vương trấn thủ.
Phương đông là Trì Quốc Thiên Vương, phương
nam là
Tăng Trưởng Thiên Vương,
phương tây là Quảng Mục Thiên Vương, phương
bắc là Ða Văn Thiên Vương. Mỗi vị Thiên
Vương có tám vị đại tướng, trấn thủ bốn phía
Trời Ðao Lợi, chống giữ binh A Tu La xâm
lược. Bồ Tát Vi Ðà là một trong ba mươi hai
vị đại tướng.
Trời Ðao Lợi (Trời
Tam Thập Tam) mưa hoa mạn đà la (màu trắng)
cúng dường tháp báu. Trời Ðao Lợi ở trên
đỉnh núi Tu Di, vì bốn phương mỗi phương có
tám trời, thêm một trời ở giữa, cộng thành
Trời Ba Mươi Ba (Trời Tam Thập Tam). Ðây là
địa cư thiên, tại mỗi trời có một vị Thiên
chủ quản lý, chúa trời ở giữa là trời Ðế
Thích. Ở trong đạo giáo gọi ông ta là Ngọc
Hoàng đại đế, ngoại đạo gọi ông ta là Thiên
Chúa, trong Phật giáo gọi ông ta là Thích Ðề
Hoàn Nhân.
Hôm nay (25/9/1970) nói về lai lịch của Thiên
Chúa trời Tam Thập Tam cho mọi người nghe,
khiến cho mọi người minh bạch chân tướng của
Thiên Chúa.
Ngoại đạo cho rằng Thiên Chúa là chủ tể tối
cao vô thượng, thật tế Chúa trên trời là hộ
pháp của Phật giáo. Ở trong Phật đường,
Thiên Chúa chẳng có tư cách ngồi, chỉ có thể
đứng, thậm chí phải đứng ở ngoài cửa. Vì sao
? Vì ông ta là hộ pháp.
Trong vô lượng kiếp
về trước, có ba mươi ba người nữ, cùng nhau
phát tâm tu sửa lại ngôi chùa và tượng Phật.
Trong đó có một vị lãnh tụ, lãnh đạo ba mươi
hai người nữ kia làm việc thiện. Vị lãnh tụ
nầy, vốn là người nữ rất nghèo, song có tâm
từ thiện. Một ngày nọ, đi ngang qua ngôi
chùa cổ, thấy tượng Phật bị gió thổi mưa
rơi, vàng dán tượng Phật đã tróc ra, lại
thấy nóc điện Phật đã lâu năm chẳng tu sửa
lại, ngói bễ rơi rớt. Cô ta mới phát tâm
trùng tu, song cô ta rất nghèo, do đó có câu
: ‘’Tâm thì dư mà sức không đủ‘’, bèn đi các
nơi hóa duyên. Trời cao không phụ lòng
người, tâm kiền thành của cô ta cảm động ba
mươi hai người nữ, phát tâm tùy hỷ công đức,
thành tựu tâm nguyện của
cô ta. Mọi người cùng nhau
làm, có tiền góp tiền, có sức góp sức. Do
đó, có câu : ‘’Người có chí, việc tất
thành‘’, chẳng lâu, điện Phật hư dột, vàng
dán tượng Phật tróc ra đều làm mới lại hết.
Công đức viên mãn rồi, đời người vô thường,
ba mươi ba người nữ lần lược qua đời, được
sinh lên Trời Ðao Lợi, làm Thiên Chúa Trời
Tam Thập Tam. Vì công đức sửa chùa mà được
quả báu đó.
Tôi nhớ lại, khi làm Chùa Tam Duyên tại Hợp
Nhĩ Tân, thì tôi đến hoá duyên ở nhà thí chủ
nọ. Khi vào cửa tôi bèn nói : ‘’Hôm nay tôi
đến nhà các vị, các vị nên sinh tâm hoan hỉ,
tôi là người mang phước đức đến, các vị nên
tạo cơ hội trồng phước đức. Hiện nay Chùa
Tam Duyên đang xây đại hùng bảo điện, nếu bố
thí vàng bạc, thì công đức không thể nghĩ
bàn, các vị đừng bỏ qua cơ hội gieo trồng
phước đức‘’. Tôi chẳng phải là người hay
nói, song tôi nói như thế, thì những người
đó đều phát tâm lạc quyên. Có người nói :
‘’Tôi để dành tiền được mười năm, đều đem ra
hết để làm chùa‘’.
Tụ cát thành tháp,
tôi vận động được rất nhiều tiền, đây là sự
hóa duyên của tôi đã trải qua.
Ngoài ra các trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát
bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu
la già, người, chẳng phải người, cả thảy
ngàn vạn ức chúng, đều đem tất cả hoa,
hương, anh lạc, phan lọng, âm nhạc, cúng
dường bảo tháp, cung kính tôn trọng khen
ngợi.
Ngoài ra tất cả trời rồng tám bộ chúng và
người chẳng phải người .v.v., có rất nhiều
hàng ngàn ức chúng. Họ đều dùng tất cả hoa
quý, hương quý, chuỗi, phan báu, lọng báu,
và các thứ âm nhạc để cúng dường Bảo Tháp,
còn cung kính, tôn trọng, khen ngợi Bảo
tháp.
Bây giờ giải thích về tám bộ chúng. Trời và
rồng thuộc về tâm thiện, ngoài ra sáu bộ
chúng kia thuộc về tâm ác. Song, vì được
Phật cảm hóa, nên đều biến thành thiện thần
hộ pháp. Phàm là nơi nào có giảng kinh
thuyết pháp, họ đều đến hộ trì đạo tràng.
1. Trời : Tức Tứ
Thiên Vương trời dục giới, họ chẳng những
trấn giữ thiên cung, mà còn bảo vệ nhân
gian. Bồ Tát Vi Ðà là một vị đại tướng trong
ba mươi hai đại tướng. Ngài được Phật ký
thác hộ trì an toàn cho người tu đạo, khiến
cho ma không thể nhiễu loạn thân tâm người
tu đạo.
2. Rồng : Rồng có
thần thông, biến hóa khó dò. Khi thuở xưa tu
đạo, thì do ‘’Thừa cấp giới hoãn’’ nên đọa
làm súc sinh, song có thần thông. Tóm lại,
rồng tu pháp đại thừa, dũng mãnh tinh tấn,
cho nên có thần thông. Song chẳng giữ giới
luật, do đó bị đọa làm thân rồng.
3. Dạ Xoa : Dịch là
"Tiệp tật quỷ". Có ba loại dạ xoa.
A. Ðịa hành Dạ xoa.
B. Không hành Dạ xoa.
C. Phi hành Dạ xoa.
Có loài Dạ xoa hút khí của người, uống máu
người, hoặc ăn tinh người, tác quái khắp
nơi, khiến cho người chẳng bình an.
4. Càn Thát Bà :
Dịch là "Hương thần", dùng hương làm thức
ăn, thân tỏa mùi thơm, là thần nhạc của
thượng đế. Khi Thượng đế muốn nghe âm nhạc,
đốt hương trầm thủy chiên đàn lên, thì chúng
ngửi hương mà đến Thiện Pháp Ðường của
Thượng đế, để diễn tấu âm nhạc, khiến cho
Thượng đế hoan hỉ.
5. A tu La : Dịch
là "Vô đoan chánh". Ngũ quan của nam A tu la
chẳng đoan chánh, song tướng mạo của nữ A tu
la rất đẹp (Thượng đế cưới con gái của vua A
tu la làm vợ). Lại dịch là "Vô tửu". A tu la
ở trên trời có phước trời, mà chẳng có quyền
lực trời, vì chẳng có rượu để uống, thường
phát sinh chiến tranh, muốn đoạt địa vị
Thiên Chúa.
6. Ca Lâu La : Dịch
là "Kim sí điểu", cánh của nó triển khai ra
dài ba trăm sáu mươi do tuần, có thể quạt
nước biển rẽ làm hai, bắt rồng nuốt vào
bụng, một ngày ăn rất nhiều rồng. Vua rồng
thấy loài rồng gần như tuyệt giống, tâm nghĩ
chỉ có Phật mới có biện pháp cứu rồng con
rồng cháu. Do đó, bèn đến chỗ Ðức Phật nhờ
Phật trợ giúp. Phật ban cho một tấm y cà sa,
bảo cứ lấy một sợi chỉ của tấm y nầy cột lên
mỗi con rồng, thì tính mạng của rồng sẽ được
an toàn, không còn bị kim sí điểu uy hiếp
nữa.
Kim sí điểu ăn rồng
chẳng được nữa, đói quá cũng đến chỗ Ðức
Phật nói : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng tôi lấy
rồng làm thức ăn, chẳng có rồng để ăn, chắt
phải chết đói, bây giờ Ngài tính sao đây‘’?
Phật nói : ‘’Các ngươi sẽ không chết đói, ta
sai đệ tử của ta, khi ăn cơm thì bố thí cho
các ngươi một phần cơm‘’.
Từ đó về sau, chư
Tăng trước khi dùng cơm, đều lấy bảy hạt cơm
cúng cho Ðại bàng kim sí điểu.
7. Khẩn Na La :
Dịch là "Nghi Thần". Vì tựa như người, song
có một cái sừng, khiến cho người thấy sinh
nghi. Khéo về âm nhạc, cũng là Thần nhạc của
Ngọc Ðế, chuyên tấu trang nghiêm pháp nhạc,
khi Ngọc Ðế cử hành yến tiệc, hoặc pháp hội,
thì dưới nách của chúng ra mồ hôi, bay thẳng
lên trên trời biểu diễn ca khúc trang nghiêm
và nhảy múa, khiến cho người thưởng thức
sinh tâm niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng.
8. Ma Hầu
La Già : Dịch là "Ðại phục
hành", tức là đại mãng xà. Chúng có tâm sân
hận, thường phun khí độc hại người. Nếu có
tâm sân hận, sau khi chết sẽ đọa làm mãng
xà. Vợ của Vua
Lương Võ Ðế, lúc sinh tiền đố
kị với các mỹ nữ, vào lúc ba mươi hai tuổi
thì chết, đọa làm đại mãn xà. Vua
Lương Võ Ðế mới thỉnh Thiền
Sư Bảo Chí, soạn một bộ
Lương Hoàng Bảo Sám, để siêu
độ bà vợ khỏi thân mãn sà được thăng lên
trời.
Bấy giờ, trong bảo tháp vang ra âm thanh
lớn khen rằng : Lành thay, lành thay ! Thích
Ca Mâu Ni Thế Tôn, hay dùng pháp đại trí huệ
bình đẳng, để giáo hóa Bồ Tát, được Phật hộ
niệm Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mà vì đại
chúng nói. Như thế, như thế ! Thích Ca Mâu
Ni Thế Tôn, như lời của Ngài nói, đều là
chân thật.
Sau khi trời rồng tám bộ chúng cúng dường rồi.
Lúc đó, bảo tháp ở trong hư không phát ra âm
thanh lớn, khen ngợi nói : ‘’Tốt lắm, tốt
lắm ! Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, hay dùng pháp
đại trí huệ bình đẳng, để giáo hoá Bồ Tát.
Mười phương chư Phật đều đến hộ niệm Ngài,
dùng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, vì đại chúng
giảng nói. Tức là như thế ! Như thế ! Pháp
của Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn nói, đều là diệu
pháp chân thật không hư‘’. Khi Phật nói bộ
kinh nầy, thì Ða Bảo Như Lai đến trước làm
chứng, khiến cho đại chúng tin mà chẳng sinh
tâm hoài nghi.
Thích Ca dịch là
"Năng nhân", Mâu Ni dịch là "Tịch mặc". Thế
Tôn là bậc tôn kính của thế và xuất thế.
Năng nhân là từ bi độ chúng sinh. Tịch mặc
là thanh tịnh tu thành đức. Năng nhân là
động, tịch mặc là tĩnh. Trong động có tĩnh,
trong tĩnh có động; động chẳng ngại tĩnh,
tĩnh chẳng ngại động, gọi là pháp môn không
hai.
Phật Thích Ca Mâu
Ni tuy nhiên ở trong tĩnh, song vẫn giáo hóa
chúng sinh. Tuy nhiên phổ hóa chúng sinh,
song vẫn ở trong định, cảnh giới nầy diệu
không thể tả. Bây giờ đưa ra ví dụ dễ hiểu
để thuyết minh, tức là khi ngủ và khi tỉnh
đều như nhau, khi tỉnh và khi ngủ cũng giống
nhau. Tức là đạo lý nầy, các bạn hiểu rõ chứ
!
Nếu các bạn cảm
thấy tỉnh tức là ngủ, vậy tức là không ngủ,
cũng không quan trọng. Vì bạn ngủ không cảm
thấy là tỉnh, cho nên phải ngủ. Ví dụ về sự
tỉnh tức là giác, ngủ tức là mê. Khi ngủ
tuyệt đối sẽ không biết sự việc làm lúc
tỉnh, cũng chẳng biết sự việc làm hôm qua,
hôm nay và ngày mai. Có người nói : ‘’Cảnh
giới mà tôi thấy ở trong mộng, ngày thứ hai
quả nhiên sự thật‘’. Ðây là linh cảm, chứ
chẳng phải thật biết, cũng có thể là Phật Bồ
Tát giúp bạn, báo cho bạn biết trước sự
việc.
Việc hôm qua làm,
việc ngày mai làm, ở trong mộng đều không
biết, huống chi biết được sự việc đời trước
và đời sau ? Mọi người đừng vì không thấy,
mà phủ nhận nhân quả tồn tại ba đời.
Bấy giờ, bốn chúng đều thấy bảo tháp lớn
trụ ở trong hư không, lại nghe trong tháp
vang ra âm thanh, thảy đều được pháp hỉ, lạ
chưa từng có, từ chỗ ngồi đứng dậy, cung
kính chắp tay, rồi đứng về một bên.
Lúc đó, bốn chúng đệ tử đều nhìn thấy bảo tháp
lớn trụ ở trong hư không. Giảng đến đây có
người sinh tâm hoài nghi : ‘’Bảo tháp chẳng
có đụng đất, làm sao có thể trụ ở trong hư
không được‘’? Vấn đề nầy rất dễ giải đáp,
bây giờ có chứng minh rất tốt. Mọi người đều
biết có trạm thái không (MIR), trụ ở trong
không gian để nối liền vệ tinh và nghỉ ngơi,
sau đó lại bay đến thế giới thứ hai.
Các bạn thử nghĩ,
sức người còn có thể làm được cảnh giới vi
diệu như thế, huống gì Phật pháp vi diệu hơn
không thể nghĩ bàn. Bảo tháp nầy dừng ở
trong hư không, giống như trạm thái không,
chẳng có gì kỳ lạ. Khoa học càng phát đạt,
thì chứng minh chân lý Phật pháp càng chánh
quyết, do đó có câu :
‘’Sự thật thắng hùng biện‘’.
Bảo tháp trụ ở trong hư không, đây là biểu
pháp, biểu thị vô sở trụ. Tuy bảo tháp trụ ở
trong hư không, song làm sao trụ ? Ðây là
khiến cho người đừng chấp trước. Nếu có sự
chấp ngã (cái ta), và chấp pháp, thì trở
thành đá buộc chân mà tu đạo.
Bốn chúng đệ tử lại
nghe âm thanh phát ra từ trong bảo tháp lớn,
đều đắc được pháp hỷ sung mãn, quên hẳn
phiền não, cảm thấy rất kỳ lạ. Chưa từng
thấy qua cảnh giới bảo tháp trụ ở trong hư
không. Do đó, bốn chúng đệ tử đều từ chỗ
ngồi đứng dậy, cung kính chắp tay lại, lui
về một bên, để chờ giải thích vấn đề nầy.
Bốn chúng đệ tử là: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ
nam, cư sĩ nữ.
A. Tỳ kheo : Dịch
là "Khất sĩ, bố ma, phá ác", ba ý nghĩa.
1. Khất sĩ : Tức là trên thì xin pháp của chư
Phật, để nuôi dưỡng pháp thân, dưới thì xin
cơm của đàn na tín thí, để nuôi dưỡng huệ
mạng. Người xin của thế gian chỉ xin cơm áo,
chẳng xin pháp, chẳng phải là khất sĩ. Khất
thực có gì tốt ? Khất thực là cho chúng sinh
có cơ hội trồng phước. Chúng sinh cúng dường
Tam Bảo, mới đắc được phước đức. Nếu chẳng
cúng dường Tam Bảo, thì phước đức sẽ cạn
mỏng đi. Một số người chẳng hiểu trồng phước
đức, cho nên Tỳ Kheo đi khất thực, khiến cho
họ trồng phước đức, sinh tâm bố thí cúng
dường, đây là đối với thí chủ mà nói. Ðối
với bổn thân Tỳ Kheo mà nói, thì có thể diệt
trừ tâm tham của mình. Mỗi ngày xin được gì
thì ăn cái đó, tuyệt đối chẳng có tâm phân
biệt. Khất thực phải thứ lớp mà khất, không
thể bỏ nghèo tìm giàu, càng không thể bỏ hèn
tìm sang, đều xem như nhau, bình đẳng để cho
chúng sinh đến gieo phước điền. Phật giáo
chủ trương bình đẳng, ai ai cũng đều có Phật
tánh, đều có thể thành Phật, đây là tinh
thần bình đẳng.
2. Bố ma : Có người
xuất gia tu đạo, thì thiên ma chẳng vui. Tại
sao ? Vì chúng bớt đi một quyến thuộc. Khi
vị Tỳ Kheo thọ giới cụ túc, thì có tam sư
thất chứng. Tam sư tức là Ðắc Giới Hòa
Thượng, Yết Ma Hòa Thượng, Giáo Thọ Hòa
Thượng. Thất chứng là bảy vị luật sư đến làm
chứng minh. Mười vị đại biểu cho mười phương
chư Phật, truyền thọ giới pháp của Phật.
- Lúc đó, Yết Ma
Hòa Thượng hỏi giới tử: ‘’Ông đã phát bồ đề
tâm chưa’’?
- Giới tử đáp: ‘’Ðã phát bồ đề tâm‘’.
- Lại hỏi: ‘’Có phải là đại trượng phu
không‘’?
- Ðáp: ‘’Là đại trượng phu‘’.
Sau khi vấn đáp, thì Ðịa hành dạ xoa truyền
báo cho Không hành dạ xoa, Không hành dạ xoa
đem tin nầy về báo cáo cho Ma Vương nói :
‘’Hiện tại ở nhân gian lại có một chúng sinh
xuất gia làm Tỳ Kheo‘’. Nói lời nầy xong,
thì cung điện của ma vương chấn động, ma
vương sinh tâm sợ hãi.
3. Phá ác : Tức là
phá trừ tất cả phiền não. Phá được phiền não
thì bồ đề mới hiện.
Vì Tỳ kheo có ba
nghĩa cho nên không dịch. Thời xưa dịch kinh
có năm quy định không phiên dịch :
1. Bí mật không dịch, như Chú ngữ.
2. Tôn trọng không dịch, như Bát nhã, bồ đề.
3. Thuận cổ không dịch, như A Nậu Ða
La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.
4. Ða hàm không dịch, như Tỳ kheo.
5. Thử phương vô bất dịch, như quả Án Ma La.
B. Tỳ kheo ni : Tức là người nữ xuất gia tu
đạo, người đã thọ giới cụ túc làm Tỳ kheo
ni, chưa thọ giới cụ túc là Sa di ni. Tỳ
kheo ni thọ ba trăm bốn mươi tám giới điều.
Sa di ni thọ mười giới điều. Dì của Ðức Phật
là Ba Xà Bà Ðề phu nhân, là vị Tỳ kheo ni
đầu tiên. Vợ của Ðức Phật là Gia Du Ðà La
phu nhân, cũng theo Ba Xà Bà Ðề phu nhân,
cùng xuất gia làm Tỳ kheo ni.
C. Cư sĩ nam : Tức là người nam gần gũi Tam
Bảo. Phàm là người tại gia tu đạo thọ Tam
quy ngũ giới, gọi là cư sĩ.
D. Cư sĩ nữ : Tức là người nữ gần gũi Tam bảo,
hộ trì tam bảo, cúng dường Tam Bảo, đây là
trách nhiệm của cư sĩ tại gia. Bốn thứ cần
dùng của người xuất gia là : Thức ăn uống, y
phục, giường mền chiếu gối, thuốc thang, đều
do cư sĩ cúng dường, đây là cơ sở gieo trồng
phước đức.
Bấy giờ, có đại Bồ Tát tên là Đại Nhạo
Thuyết, biết được chỗ nghi ngờ ở trong tâm
của tất cả thế gian, trời, người, A tu la,
bèn bạch đức Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Vì
nhân duyên gì, mà có bảo tháp này từ dưới
đất vọt lên, và ở trong đó lại phát ra âm
thanh ?
Lúc đó, có vị đại Bồ Tát, hiệu là Ðại Nhạo
Thuyết. Ngài có trí huệ tha tâm thông, biết
được chỗ nghi vấn ở trong tâm của chư Thiên,
loài người, và A tu la .v.v., mới đại biểu
bốn chúng đệ tử thỉnh pháp với Ðức Phật, bèn
nói rằng: ‘’Ðức Thế Tôn ! Ðây là nhân duyên
gì, mà có bảo tháp từ dưới đất vọt lên, hiện
ở trong hư không ? Lại từ ở trong bảo tháp
phát ra âm thanh lớn, đây là đạo lý gì ?
Nguyện cầu đức Thế Tôn từ bi, vì chúng con
mà khai thị nhân duyên nầy‘’.
Bồ Tát là gì ? Nói
đủ là Bồ đề tát đỏa. Bồ đề dịch là "giác",
Tát đỏa dịch là "hữu tình", tức là "giác hữu
tình", giác ngộ tất cả hữu tình. Lại có thể
nói là hữu tình giác, trong hữu tình có kẻ
giác ngộ. Tóm lại, Ngài là bậc khai ngộ ở
trong chúng sinh. Chẳng những là bậc giác
ngộ, mà còn hay thực hành Bồ Tát đạo, chỉ
cần có ích lợi đối với chúng sinh, thì Ngài
đều đi làm, chẳng màng là mình như thế nào,
chỉ một lòng một dạ độ thoát chúng sinh.
Trong Kinh
Hoa Nghiêm có nói :
‘’Chẳng vì mình cầu an lạc,
Chỉ nguyện chúng sinh được lìa khổ‘’.
Ðây là tinh thần thật là vĩ đại. Ðức Phật
Thích Ca ở trong quá khứ hành Bồ Tát đạo,
từng xả bỏ thân mạng một nghìn lần, đại
thiên thế giới chẳng có chỗ nào, mà chẳng
phải là nơi xả bỏ thân mạng của Phật trong
quá khứ.
Hành Bồ Tát đạo chẳng phải là việc dễ dàng,
xem ra rất là giản đơn, song thực hành rất
là khó. Giống như Ngài Xá Lợi Phất, nghe
Phật khen ngợi Bồ Tát hành Bồ Tát đạo, bèn
phát tâm hành Bồ Tát đạo. Một ngày nọ, tôn
giả Xá Lợi Phất ra bên ngoài, trên đường đi
trong tâm nghĩ : ‘’Bất cứ gặp việc khó thực
hành đến đâu, nhất định phải làm cho thành
công, không thể giữa đường phế bỏ, mình phải
học tinh thần xả thân của Phật‘’.
Vọng tưởng đó vừa
sinh ra, thì có cảnh giới đến khảo nghiệm.
Tôn giả đang đi bên lề đường, gặp một người
nam khóc lóc, thấy rất thương tâm nghĩ rằng:
- ‘’Người nầy chắc
chắn có vấn đề khó khăn, không giải quyết
được, mình hành Bồ Tát đạo nên giúp đỡ mới
đúng‘’.
- Bèn hỏi : ‘’Anh bạn ! Tại sao anh khóc‘’ ?
- Anh ta đáp : ‘’Chuyện của tôi khó khăn lắm,
chẳng có ai có thể giúp đỡ giải quyết được
đâu.’’
- Tôn giả lại nói : ‘’Tôi có thể giúp đỡ anh,
xin anh hãy nói vấn đề của anh‘’.
- Anh ta nói : ‘’Tôi tin rằng Ngài giúp đỡ
không được đâu, nói ra cũng vô ích‘’.
- Tôn giả lại nói : ‘’Bất cứ việc khó đến đâu,
tôi cũng sẽ giúp đỡ anh hết mình, tuyệt đối
chẳng nói đùa‘’.
- Anh ta chuyển khóc thành cười nói : ‘’Thật
chăng ? Vì mẹ của tôi bệnh nặng, bác sĩ bảo
cần con mắt của người sống, bằng không chẳng
có cách gì chữa lành. Tôi đi các nơi mua con
mắt của người sống, song mua chẳng được, mà
tôi xả bỏ chẳng được con mắt của mình. Do
đó, bệnh của mẹ tôi không lành được, cho nên
tôi rất bi thương‘’.
Tôn giả Xá Lợi Phất
nghe nói, bèn nói với anh ta : ‘’Việc nầy
quá giản đơn, chẳng có gì khó, tôi tặng con
mắt của tôi, để anh đem về trị bệnh cho mẹ
anh‘’. Do đó, bèn dùng sức móc con mắt phải
ra đưa cho anh ta, anh ta cầm lấy xem, chẳng
khách sáo gì nói : ‘’Tôi cần con mắt trái,
đây là con mắt phải, chẳng dùng được’’. Nói
xong, lại ngửi con mắt rồi nói : ‘’Con mắt
nầy hôi quá, mùi rất khó chịu‘’. Bèn vứt con
mắt xuống đất, lấy chân chà đạp lên. Lúc đó,
tôn giả Xá Lợi Phất tâm ý thất vọng nghĩ :
‘’Bồ Tát đạo thật khó thực hành. Thôi, ta
chẳng hành Bồ Tát đạo nữa, vẫn tu pháp tiểu
thừa, làm tự liễu hán thôi‘’.
Tôn giả Xá Lợi Phất khởi vọng tưởng nầy xong,
thì người hóa duyên kia lập tức đằng thân
lên hư không, hiện ra thân người trời, vốn
đến để khảo nghiệm tôn giả Xá Lợi Phất, thực
hành Bồ Tát đạo là giả hay là thật ? Tôn giả
Xá Lợi Phất chẳng chịu đựng được sự khảo
nghiệm, sinh tâm thối chuyển, con mắt bên
phải của Ngài Xá Lợi Phất lại sinh ra, khôi
phục lại như cũ, khiến cho tôn giả lấy làm
kỳ diệu, rõ ràng là con mắt đã móc ra, sao
lại ở trong con mắt của mình. Do đó, có thể
biết người hành Bồ Tát đạo, tuyệt đối không
thể thối chuyển .
Tôn giả xá Lợi Phất
là người trí huệ bậc nhất trong hàng Thanh
Văn, song hành Bồ Tát đạo chẳng xong. Do đó,
có thể thấy Bồ Tát đạo rất khó thực hành.
Bấy giờ, đức Phật bảo Bồ Tát Đại Nhạo
Thuyết : Trong bảo tháp này, có toàn thân
của Như Lai, thuở quá khứ về phương đông,
qua vô lượng ngàn vạn ức A tăng kỳ thế giới,
có cõi nước tên là Bảo Tịnh. Trong cõi nước
đó, có đức Phật hiệu là Đa Bảo. Đức Phật đó,
khi hành Bồ Tát đạo, có phát thệ nguyện lớn
rằng : Nếu ta thành Phật, sau khi diệt độ,
trong cõi nước mười phương, nơi nào có nói
Kinh Pháp Hoa, thì tháp miếu của ta vì nghe
kinh này, mà vọt lên hiện ra ở trước, để làm
chứng minh, khen ngợi nói : Lành thay !
Lúc đó, đức Phật Thích Ca bảo Bồ Tát Ðại Nhạo
Thuyết : ‘’Ðại Nhạo thuyết ! Trong bảo tháp
nầy, có toàn thân xá lợi của Như Lai. Vị Như
Lai nầy, ở trong đời quá khứ, cách đây về
phương đông trải qua vô lượng ngàn vạn ức A
Tăng kỳ thế giới, có thế giới dùng bảy báu
tạo thành, thanh tịnh chẳng dơ bẩn, cho nên
gọi là thế giới Bảo Tịnh. Trong thế giới đó
có một vị Phật, hiệu là Ða Bảo Như Lai. Khi
vị Phật đó tại nhân địa hành Bồ Tát đạo, thì
đã từng phát thệ nguyện lớn : ‘’Nếu tôi
thành Phật, sau khi diệt độ, ở trong cõi
nước chư Phật mười phương, chỉ cần nơi nào
có Phật diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, vì
nghe bộ kinh nầy, mà tháp miếu của ta từ
dưới đất vọt lên, hiện ở trước đạo tràng của
chư Phật mười phương, làm chứng minh vị Phật
đó nói Kinh Pháp Hoa‘’, lại khen ngợi nói :
‘’Lành thay‘’.
Đức Phật đó thành đạo rồi, khi diệt độ, ở
trong đại chúng trời người, bảo các Tỳ Kheo
rằng : Sau khi ta diệt độ, ai muốn cúng
dường toàn thân của ta, thì nên xây một ngôi
tháp lớn. Phật sẽ dùng thần thông nguyện
lực, khắp nơi trong mười phương thế giới,
nếu chỗ nào có nói Kinh Pháp Hoa, thì bảo
tháp đó đều vọt lên ở trước. Toàn thân ở
trong bảo tháp khen ngợi nói : Lành thay,
lành thay !
Ðức Phật Thích Ca lại bảo Bồ Tát Ðại Nhạo
Thuyết : ‘’Ðức Ða Bảo Như Lai đó, sau khi
thành Phật, khi muốn vào Niết Bàn, thì ở
trong chúng trời người, nói với tất cả hàng
Tỳ Kheo rằng : ‘’Sau khi ta diệt độ, nếu có
đệ tử cúng dường toàn thân của ta, thì nên
xây dựng một ngôi tháp lớn. Ðức Ða Bảo Như
Lai dùng thần thông và nguyện lực không thể
nghĩ bàn của Ngài, khắp trong mười phương
thế giới, nếu nơi nào có Phật ra đời nói
Kinh Pháp Hoa, thì bảo tháp của Ðức Đa Bảo
Như Lai, sẽ từ dưới đất vọt lên, hiện ra ở
trước vị Phật đó. Ðức Ða Bảo Như Lai tuy đã
diệt độ rất lâu, song toàn thân của Ngài vẫn
còn ở trong bảo tháp, thọ trời người cúng
dường. Lại ở trong tháp phát ra âm thanh
lớn, khen ngợi vị Phật đang nói Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa rằng : ‘’Tốt lắm, Tốt lắm‘’ !
Đại Nhạo Thuyết ! Nay tháp của đức Đa Bảo
Như Lai, vì nghe nói Kinh Pháp Hoa, nên từ
dưới đất vọt lên, khen ngợi nói : Lành thay,
lành thay !
Ðức Phật Thích Ca lại nói : ‘’Ðại Nhạo Thuyết
! Hiện tại tháp của đức Ða Bảo Như Lai, vì
nghe Kinh Pháp Hoa, nên từ dưới đất vọt lên,
phát ra âm thanh lớn để khen ngợi : ‘’Hay
thay, hay thay‘’ !
Bấy giờ, Bồ Tát Đại Nhạo Thuyết nhờ thần
lực của Như Lai, nên bạch đức Phật rằng :
Đức Thế Tôn ! Chúng con xin muốn được thấy
thân của đức Phật đó.
Lúc đó, Bồ Tát Ðại Nhạo Thuyết đại biểu cho
đại chúng thỉnh pháp với Ðức Phật. Vì nhờ
thần lực của Như Lai gia trì, cho nên mới có
trí huệ như thế để thưa hỏi. Bồ Tát Ðại Nhạo
Thuyết nghe trong bảo tháp khen ngợi đức
Phật Thích Ca, chỉ nghe tiếng chứ chưa thấy
người, bèn sinh tâm háo kỳ, nói với Phật :
‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con đại chúng, đều
mong muốn được chiêm ngưỡng ba mươi hai
tướng tốt, và tám mươi vẻ đẹp của đức Ða Bảo
Như Lai, cứu kính trang nghiêm như thế nào‘’
?
Đức Phật bảo đại Bồ Tát Đại Nhạo Thuyết :
Đức Phật Đa Bảo đó, có nguyện sâu nặng rằng
: Nếu bảo tháp của ta, vì nghe Kinh Pháp
Hoa, mà hiện ra ở trước các đức Phật. Nếu có
bốn chúng muốn thấy thân của ta, thì đức
Phật đó, phân thân các đức Phật thuyết pháp
trong mười phương thế giới, phải tụ hết lại
một chỗ, sau đó thân của ta mới xuất hiện
vậy.
Ðức Phật Thích Ca bảo đại Bồ Tát Ðại Nhạo
Thuyết : ‘’Vị Ða Bảo Như Lai đó, thuở xưa
trước khi chưa thành Phật, có phát một lời
nguyện sâu nặng rằng : ‘’Nếu như bảo tháp
của ta vì nghe Kinh Pháp Hoa, xuất hiện ở
trước các đức Phật. Nếu bốn chúng muốn thấy
thân của ta, thì vị Phật nói Kinh Pháp Hoa
đó, phải tụ hết lại một chỗ, tất cả phân
thân của Phật thuyết pháp trong mười phương
(đây là cảnh giới một gốc tán làm vạn thù,
vạn thụ lại trở về một gốc). Khi nào phân
thân các vị Phật của vị Phật đó, tụ hết lại
một chỗ, thì sau đó toàn thân của ta mới
hiện ra trước bốn chúng‘’.
Đại Nhạo Thuyết ! Phân thân các đức Phật
của ta, đang thuyết pháp trong mười phương
thế giới, nay sẽ tụ lại hết.
Ðức Phật Thích Ca lại nói : ‘’Ðại Nhạo Thuyết
! Phân thân các đức Phật của ta đang thuyết
pháp, giáo hóa chúng sinh trong mười phương
thế giới, hiện nay sẽ tụ tập lại, để cùng
chiêm ngưỡng thân của đức Ða Bảo Như Lai.
Như thế thì Ða Bảo Như Lai mới hiện toàn
thân‘’.
Đại Nhạo Thuyết bạch đức Phật rằng : ‘’Ðức
Thế Tôn ! Chúng con cũng muốn thấy, phân
thân các đức Phật của đức Thế Tôn, để lễ lạy
cúng dường.
Bồ Tát Ðại Nhạo Thuyết bạch với đức Phật Thích
Ca Mâu Ni rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con
chẳng những muốn thấy toàn thân của đức Ða
Bảo Như Lai, mà còn muốn thấy phân thân các
đức Phật của đức Thế Tôn, để thừa cơ hội nầy
lễ lạy các đức Phật, cúng dường các Ðức
Phật‘’.
Có người nói :
‘’Lạy Phật là mê tín, tượng Phật làm bằng
gỗ, đất, đá, hoặc dùng vàng, bạc, đồng,
thiết, để tạo, lạy Ngài có ích gì ? Ðó chẳng
phải là mê tín chăng‘’ ? Ðây chẳng phải là
mê tín, lạy Phật có công dụng trị liệu bằng
tâm lý, hay tiêu trừ tâm cống cao ngã mạn,
hay sinh tâm nhu hòa, sinh tâm cung kính,
cải biến tính cang cường thành tính hòa mục.
Lạy Phật còn có công dụng trị bệnh sinh lý,
lại hay khiến cho bụng nhỏ lại, khiến cho
người chẳng có chứng huyết áp cao.
Trước kia, Phật
chưa thành Phật, cũng lễ lạy các vị Phật
khác. Cho nên, sau khi thành Phật, thì có
người lạy Ngài lại. Như đức Phật trong quá
khứ làm Bồ Tát Thường Bất Khinh, thấy người
thì lễ lạy, còn nói : ‘’Tôi không dám khinh
các vị, các vị đều sẽ thành Phật‘’. Do đó,
sau khi đức Phật thành Phật, thì có rất
nhiều người lễ lạy Ngài. Trừ khi có người
chẳng muốn thành Phật, đó thì chẳng cần nói
đến. Nếu muốn làm Phật, thì nhất định phải
lạy Phật, đo đó có câu :
"Phật tiền đảnh lễ, tội diệt hà sa".
Nghĩa là :
‘’Ðảnh lễ ở trước
Phật,
Diệt được vô lượng tội‘’.
Lạy Phật sẽ tiêu diệt được tội nghiệp vô lượng
kiếp, công đức lễ Phật tiêu diệt được trọng
tội sinh tử. Lạy Phật là lạy tự tánh Phật,
tương lai sẽ thành Phật, cũng thành tự tánh
Phật.
Cúng dường là gì ?
Phật giáo quang trọng nhất là cúng dường,
cúng dường Tam Bảo, dùng hương, hoa, quả,
đèn, để cúng dường Phật; dùng sự khen ngợi,
cung kính, thọ trì, tu hành, để cúng dường
pháp; dùng ẩm thực, y phục, giường nệm,
thuốc men, để cúng dường Tăng. Tại sao phải
cúng dường Tam Bảo ? Vì cầu cát tường, mọi
sự thuận lợi. Tại sao bạn chẳng có y phục
tốt mặc ? Chẳng có nhà tốt để ở ? Chẳng có
vật ngon ăn ? Ðều vì trong quá khứ bạn chẳng
cúng dường Tam Bảo. Bạn thấy người thế gian
giàu sang, vì họ đã từng cúng dường Tam Bảo,
cho nên đời nầy được phước báu lớn. Bài văn
khuyên đời nhân quả ba đời có nói rất rõ là
:
‘’Ðời nầy giàu sang là nhân gì ?
- Ðời trước bỏ tiền làm tượng Phật vàng.
Đời nầy nghèo khổ là nhân gì ?
- Kiếp trước chẳng chịu giúp người nghèo.
Đời nầy sống lâu là nhân gì ?
- Ðời trước giữ giới sát, thường phóng sinh.
Ðời nầy chết yểu là nhân gì ?
- Ðời trước giết hại chúng sinh linh.
Ðời nầy xinh đẹp là nhân gì ?
- Kiếp trước mua hương hoa đèn cúng Phật.
Ðời nầy xấu xí là nhân gì ?
- Kiếp trước làm nhơ uế thân Phật‘’.
Tam Bảo là ruộng phước tốt của thế gian, tức
cũng là ruộng trồng phước, chẳng cúng dường
Tam Bảo, thì chẳng có cơ hội trồng phước
điền, đời sau cũng chẳng đắc được phước báu.
Bấy giờ, đức Phật phóng luồng hào quang
trắng chiếu phương đông, năm trăm vạn ức Na
do tha Hằng hà sa cõi nước chư Phật, các cõi
nước đó, đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y
báu, dùng để trang nghiêm. Có vô số ngàn vạn
ức Bồ Tát đầy khắp trong cõi nước đó, màng
báu lưới báu giăng che khắp ở phía trên.
Lúc đó, ở giữa chặng mày của Ðức Phật Thích
Ca, phóng ra một luồng hào quang trắng
(Tướng hào quang trắng biểu thị một thừa
trung đạo), lập tức chiếu thấy phương đông
năm trăm vạn ức Na do tha Hằng hà sa số cõi
nước chư Phật, các cõi nước đó, đều dùng pha
lê làm đất, chẳng giống như thế giới Ta Bà,
dùng ngói đá làm đất. Ðức Phật dùng sức thần
thông ba lần biến thế giới Ta Bà dùng pha lê
làm đất. Pha lê biểu thị cho trí huệ quang
minh.
Ta Bà dịch là "kham
nhẫn". Chúng sinh ở thế giới nầy, hay kham
thọ nhẫn nại mọi sự khổ, lấy khổ làm vui,
chẳng biết thoát khỏi biển khổ.
Lại có cây báu, và
y báu, để làm trang sức. Cây báu hay khiến
cho chúng sinh đắc được mát mẻ, lìa khỏi
nóng bứt. Y báu hay khiến cho chúng sinh
tính tình ôn nhu, chẳng có lửa vô minh. Lại
có vô số ngàn vạn ức Bồ Tát, đầy dẫy trong
cõi nước đó, màn báu và lưới báu giăng che
khắp ở trên, dùng để trang nghiêm.
Các đức Phật cõi nước đó, dùng âm thanh lớn
vi diệu để nói các pháp, và thấy vô lượng
ngàn vạn ức Bồ Tát, đầy khắp các cõi nước,
vì chúng sinh mà nói pháp.
Phương nam tây bắc tứ duy thượng hạ, chỗ nào
tướng hào quang trắng chiếu đến, cũng lại
như thế.
Chư Phật các cõi nước phương đông, dùng âm
thanh lớn vi diệu, để nói pháp thật tướng.
Và còn thấy vô lượng nghìn vạn ức Bồ Tát,
đầy khắp tất cả các cõi nước vì chúng sinh
mà thuyết pháp. Chẳng những phương đông như
thế, mà chín phương kia cũng giống như thế.
Phàm là nơi nào, luồng hào quang trắng của
đức Phật Thích Ca chiếu đến, đều như thế.
Cảnh giới không thể nghĩ bàn đó, chẳng phải
một số phàm phu tưởng tượng đến được.
Ðức Phật phóng
luồng hào quang trắng, tại sao trước hết
chiếu phương đông ? Vì phương đông là phương
bắt đầu tất cả, phương đông là Giáp ất mộc,
là bắt đầu của Thiên can, phương đông thuộc
về mùa xuân, là bắt đầu của bốn mùa, mặt
trời mọc phương đông, là bắt đầu của một
ngày, cho nên luồng hào quang trắng trước
hết chiếu phương đông, sau đó mới chiếu chín
phương kia.
Bấy giờ, mười phương chư Phật đều nói với
chúng Bồ Tát rằng : Thiện nam tử ! Hôm nay
ta đến thế giới Ta Bà, chỗ của đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, và cúng dường bảo tháp của
đức Đa Bảo Như Lai.
Lúc đó, mười phương chư Phật (Phân thân hóa
Phật của Phật Thích Ca), đều đối với Bồ Tát
nước của mình rằng : ‘’Thiện nam tử ! Bây
giờ ta đến thế giới Ta Bà, đến đạo tràng của
Phật Thích Ca, và cúng dường Bảo Tháp xá lợi
của đức Ða Bảo Như Lai‘’.
Bấy giờ, thế giới Ta Bà lập tức biến thành
thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang
nghiêm, dây bằng vàng giăng bày tám ngã
đường, chẳng có các tụ lạc thôn xóm, thành
ấp biển cả sông ngòi núi rừng ao đầm. Ðốt
hương báu lớn, dùng hoa mạn đà la rải khắp
trên mặt đất, lại dùng lưới báu và màn lụa
giăng che, phía trên treo các linh báu, chỉ
vang ra ở trong chúng hội. Dời các trời
người để ở cõi khác.
Lúc đó, Ðức Phật Thích Ca dùng sức đại thần
thông khiến cho đời ác năm trược (kiếp
trược, kiến trược, phiền não trược, chúng
sinh trược, mạng trược), biến thành thế giới
thanh tịnh. Dùng lưu ly làm đất, cây báu
trang nghiêm, dùng vàng ròng làm dây giăng
chia tám đường, đại biểu cho bát chánh đạo.
Chẳng có biển cả, sông ngòi, núi rừng ao
đầm, đất bằng phẳng như lòng bàn tay, thanh
tịnh như tấm gương. Lại đốt hương báu lớn
(hương công đức). Dùng hoa mạn đà la rải
khắp trên mặt đất (làm thảm, đại biểu cho sự
cung kính). Lại dùng lưới báu và màn lụa báu
giăng che phía trên. Lại treo các thứ linh
báu, đại biểu cho âm nhạc, gió thổi linh báu
thì vang ra âm nhạc hoan nghênh, chỉ vang ra
ở trong đại chúng hội Pháp Hoa. Chư Thiên và
loài người đều rời đi đến nước khác.
Ðây là lần đầu biến
cảnh giới đất đai. Tại sao phải như thế ? Vì
hoan nghênh phân thân các hóa Phật của Phật
Thích Ca và Ðức Phật Ða Bảo, cho nên phải
trang nghiêm. Bây giờ xin đưa ra một ví dụ
dễ hiểu, giống như có người thỉnh mời khách
quý, thì chắc chắn đồ không sạch sẽ ở trong
nhà phải dọn đi, quét dọn sạch sẽ, sau đó
rưới nước hoa, khiến cho phòng ốc phảng phất
hương thơm, làm cho khách quý thoải mái vui
vẻ.
Bấy giờ, các đức Phật, mỗi vị đều đem theo
một vị đại Bồ Tát, dùng làm thị giả, đến thế
giới Ta Bà, đều đến dưới cây báu. Mỗi cây
báu cao năm trăm do tuần, cành lá hoa quả
thứ lớp trang nghiêm. Dưới các cây báu, đều
có toà sư tử cao năm do tuần, cũng dùng các
thứ báu để nghiêm sức.
Lúc đó, các phân thân hóa Phật của đức Phật
Thích Ca, mỗi vị Phật đều mang theo một vị
đại Bồ Tát để làm thị giả, cùng nhau đến thế
giới Ta Bà, ai nấy đều đến dưới cội bồ đề.
Mỗi cây bồ đề cao khoảng năm trăm do tuần,
cành lá và hoa quả của cây bồ đề rất sum sê,
thứ lớp trang nghiêm, trông nhìn rất đẹp .
Dưới mỗi cây bồ đề
đều có tòa sư tử, cao khoảng năm do tuần,
dùng bảy báu để nghiêm sức, đó là biểu thị
sự thành tâm hoan nghênh khách quý.
Có người hỏi :
‘’Tạo sao gọi là tòa sư tử‘’? Vì đó là tòa
thuyét pháp của chư Phật. Vì chư Phật thuyết
pháp có uy đức giống như sư tử hống, khiến
cho thiên ma ngoại đạo kinh hãi, chẳng dám
nổi gió nổi sóng, có tác dụng điều phục. Sư
tử là vua các loài thú, khi nó hống thì các
loài thú nghe đều sợ hãi. Ngài Vĩnh Gia từng
nói :
‘’Sư tử hống, vô úy thuyết.
Bách thú văn chi giai não liệt,
Hương tượng bôn ba thất cước uy,
Thiên long tịch thính sinh hân duyệt’’.
Nghĩa là:
Thuyết pháp không
sợ hãi như sư tử hống
Trăm thú nghe tiếng đều kinh sợ
Voi lớn bỏ chạy mất oai nghi
Trời rồng nghe được sinh vui mừng.
Vì quan hệ như vậy cho nên gọi là tòa sư tử.
Bấy giờ, các đức Phật đều ngồi kiết già
trên tòa sư tử đó, triển chuyển như thế đầy
khắp ba ngàn đại thiên thế giới, mà phân
thân của đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong một
phương, vẫn còn chưa hết.
Lúc đó, mười phương chư Phật đều ngồi kiết già
trên tòa sư tử. Từng vị Phật, từng vị Phật,
ngồi từng hàng từng hàng, đã đầy khắp ba
ngàn đại thiên thế giới, song phân thân hóa
Phật ở phương đông, vẫn chưa ngồi lên tòa
hết, huống chi các đức Phật ở chín phương
kia ?
Có người hỏi :
‘’Ngồi kiết già là gì‘’? Bạn hãy xem tư thế
ngồi của Phật, trước hết đem chân trái để
lên đùi chân phải, rồi đem chân phải để lên
đùi chân trái, đó gọi là ngồi kiết già. Còn
có ngồi bán già, tức là tùy ý đem chân phải
để lên đùi chân trái. Ngồi kiết già gọi là
kim cang toạ, đây là tư thế ngồi hàng ma.
Người ngồi thiền nên ngồi kiết già, dễ nhập
định. Ngồi như thế hay hàng phục được tâm,
khiến cho chẳng tán loạn, tinh thần tập
trung, chẳng sinh vọng tưởng.
Tại sao chúng ta
không khai ngộ ? Vì vọng tưởng lăn xăn, tâm
viên ý mã chẳng buộc được, theo đuổi bên
ngoài. Khi đức Phật chứng đạo dưới cội bồ
đề, thì Ngài nói câu đầu tiên rằng : ‘’Lành
thay ! Lành thay ! Lành thay ! Chúng sinh
trong đại địa, ai cũng đều có đủ đức tướng
của Như Lai, song vì vọng tưởng chấp trước,
nên không chứng đắc‘’. Tham thiền tức là
khắc kỳ cầu chứng, tham thoại đầu là khống
chế vọng tưởng, do đó đủ biết, vọng tưởng là
đá cột chân của sự tu đạo.
Phật giáo
trung Quốc có câu rằng :
‘’Kim Sơn thối tử,
Cao Mân hương‘’.
Người ngồi thiền ở Trấn Giang Kim Sơn Tự chẳng
được đổi chân, bất cứ chân đau như thế nào,
vẫn cắn răng chịu đựng, nếu nhúc nhích thì
sẽ bị đánh hương bản. Lâu dần thì chân sẽ
hết đau, do đó có câu :
‘’Kim Sơn thiền hòa tử,
Thối tối thủ quy cụ‘’.
Nghĩa là :
Người ngồi thiền ở chùa Kim Sơn
Giữ quy cụ bậc nhất về chân.
Người ngồi thiền ở Chùa
Cao Mân tại
Dương Châu, thì giữ quy cụ
bậc nhất về thời gian. Dùng cây nhang làm
quy định thời gian ngồi, khi nào chỉ tĩnh
thì chỉ tĩnh, khi nào khai tĩnh thì khai
tĩnh, một giây cũng không sai, cho nên gọi
là "Cao
Mân hương". Phàm là người
đã từng tham thiền, đả tọa ở hai chùa trên,
thì đều đã trải qua lò đúc luyện ra kim
cang. Hòa Thượng Hư Vân tham thiền ở Chùa
Cao Mân mà khai ngộ.
Công đức ngồi kiết
già hay sinh giới lực, định lực và huệ lực,
đầy đủ ba lực. Hết thảy Thần Kim Cang hộ
pháp đều đến bảo hộ bạn, tất cả thiên ma
biết đều lìa xa bạn. Hết thảy ác ma hướng về
bạn mà đảnh lễ. Nay xin kể câu chuyện.
Xưa kia có vị hòa thượng, chuyên đi tụng kinh
đám ma, để duy trì sự sống, cho nên gọi là
Cản Kinh Sám (sống nhờ kinh sám). Một ngày
nọ, sau khi độ đám xong thì vào lúc nửa đêm,
vị hòa thượng trở về chùa, đi đến bờ sông
thì trời đổ mưa, ông ta núp dưới cầu. Trong
khi đợi tạnh mưa thì ngồi kiết già. Lúc đó,
có hai con quỷ đến, thấy ông ta là tháp
vàng, vì trong tháp có an trí Phật xá lợi
mới đảnh lễ lạy, chẳng bao lâu, vị hòa
thượng cảm thấy chân đau, mới bỏ chân xuống
ngồi bán già. Hai con quỷ ngước đầu nhìn,
thì thấy tháp vàng biến thành tháp bạc, song
hai con quỷ vẫn lạy. Chưa được bao lâu thì
vị hòa thượng cảm thấy chân quá đau, chịu
hết nổi, bèn đổi thành ngồi theo ý muốn
(duỗi chân ra). Hai con quỷ nhìn lên thì
thấy tháp bạc đã biến thành đống bùn. Hai
con quỷ nổi giận muốn đá đống bùn. Vị Hòa
Thượng thấy như vậy, lập tức ngồi lại kiết
già. Hai con quỷ nhìn lên lại thấy tháp
vàng, bèn lạy cho đến gà gáy rồi bỏ đi. Từ
đó về sau, Hòa Thượng bỏ việc tụng kinh đám,
chuyên tâm tu thiền, chẳng bao lâu được khai
ngộ, tự xưng là ‘’Quỷ Bức Thiền Sư‘’.
Khi tôi ở tại Ðông
Bắc bên Tàu, có vị ngoại đạo tên là Quan
Trung Hỉ. Lúc đó, anh ta có
hơn ba ngàn đệ tử theo anh ta học đạo. Học
đạo gì ? Chỉ cần dùng tiền mua bảo bối của
anh ta, khi đến lúc gặp đại nạn thì có thể
chuyển hung hóa cát. Mọi người đều tin anh
ta chẳng hoài nghi gì cả, ngoại đạo có thứ
pháp thuật gạt người như thế.
Kỳ thật, anh ta
chẳng có bảo bối gì hết, chỉ là trò chơi
đùa, song những kẻ ngu tin cho là thật, rất
sùng bái
anh ta. Anh ta nói với đệ tử
: ‘’Bây giờ thời cơ chưa đến, không thể đem
bảo bối đưa cho các con, đến khi nào thế
giới đại loạn, thì mới đưa bảo bối cho các
con sử dụng, có thể sẽ không chết, qua khỏi
tai nạn‘’.
Về sau, anh ta cảm
thấy thời kỳ chết sắp đến, không thể gạt
người được nữa, bèn dẫn người cháu bỏ đi tìm
thầy học đạo. Trải qua ba năm cũng chẳng tìm
được thiện tri thức, cũng chẳng học được
chân đạo. Do đó, hằng ngày lo buồn rũ rượi,
chẳng biết thế nào là tốt.
Một ngày nọ, tôi đến nhà của anh ta (lúc đó
tôi còn là Sa di). Người cháu khi nhìn thấy
tôi, thì bèn nói với anh ta rằng : Thúc thúc
! Vị Hoà thượng nầy, con đã gặp qua ở trong
mộng, vị nầy lột da heo ở trên thân của con
xuống, làm cho con sợ mà tỉnh dậy. Nguyên
lai là một giấc mộng‘’. Anh ta nói với người
cháu : ‘’Vị đó là người có đức hạnh, hôm nay
đạo đã vào cửa, chúng ta không thể bỏ qua‘’.
Do đó, chú cháu hai người thương lượng rồi
lập tức quỳ xuống trước mặt tôi cầu đạo. Lúc
đó, tôi nói với họ : ‘’Tôi chẳng có đạo để
truyền cho các vị. Nếu các vị thật tâm cầu
đạo, thì tôi giới thiệu vị thiện tri thức và
tôi đưa các vị đi‘’.
Trải qua hai năm,
đi học hỏi mấy vị thiện tri thức đều chẳng
lý tưởng. Do đó, hai người trở về lạy tôi
làm thầy, tôi thấy họ thành tâm mà cảm động,
đáp ứng truyền thọ tư thế ngồi kiết già,
song chẳng nhận làm đệ tử.
Chú cháu hai người
tinh tấn tập ngồi kiết già. Người cháu trẻ
tuổi tập rất mau, song người chú lớn tuổi
xương cứng phải một phen khổ công phu. Bảy
mươi ngày sau, tôi lại đến nhà anh ta, thấy
đầu gối của anh ta sưng to lên, đi đứng bất
tiện, mới khuyên anh ta bỏ ngồi kiết gia đi.
Anh ta kiên quyết nói : ‘’Con sắp chết đến
nơi, nếu không luyện, đến khi chết, tay chân
loạn sạ thì làm sao ? Con nhất định quyết
tâm, trừ khi chết đi thi thôi, chỉ cần không
chết thì nhất định luyện ngồi kiết già‘’.
Thành tâm cầu đạo như thế, khiến cho người
bội phục.
Trăm ngày sau, tôi lại đến anh ta, thấy anh ta
đi đứng như thường, tôi lấy làm lạ hỏi :
‘’Anh không luyện ngồi kiết già chăng‘’? Anh
ta đáp : ‘’Mỗi ngày đều ngồi, chẳng những
sáng sớm ngồi, mà tối cũng ngồi, bất luận là
ngồi bao lâu cũng chẳng cảm thấy đau chân.’’
Do đó:
‘’Người có chí, việc sẽ thành‘’.
Vài ngày trước khi anh ta qua đời, bèn nói với
mọi người : ‘’Vào ngày đó, giờ đó, tôi phải
đi, tất cả mọi việc trong nhà chẳng quái
ngại. Chỉ có một điều là không thể gặp được
pháp sư An Từ (pháp danh của hoà thượng
Tuyên Hoá), rất đáng tiếc‘’.
Ðến ngày anh ta ra
đi, anh ta tắm rửa sạch sẽ, ngồi kiết già,
chẳng bệnh tật gì mà qua đời. Ngày anh ta
chết, nhiều người trong thôn nằm mộng, thấy
anh ta theo hai vị đồng tử mặc y màu xanh đi
về hướng tây, về sau cháu của anh ta theo
tôi học đạo, là đệ tử đầu tiên của tôi.
Bấy giờ, đức Phật Thích Ca vì muốn dung
chứa hết thảy phân thân các hóa Phật, nên
tám phương kia, mỗi phương đều biến ra hai
trăm vạn ức Na do tha cõi nước, thảy đều
thanh tịnh, chẳng có địa ngục ngã quỷ súc
sinh và A tu la, lại dời các trời người để ở
cõi khác.
Lúc đó, đức Phật Thích Ca thấy chư Phật đã
ngồi đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới,
mà phân thân hóa Phật ở phương đông chẳng
còn tòa để ngồi. Vì dung chứa phân thân hóa
Phật ở tám phương kia đều có tòa ngồi, nên
mới vận dụng sức đại thần thông, tám phương
mỗi phương biến ra hai trăm vạn ức Na do tha
cõi nước, đều khiến cho thanh tịnh, trong
các cõi nước đó, chẳng có địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh và A tu la. Và dời các hàng trời
người để ở cõi khác .
Ðây cũng giống như
mời khách dự yến tiệc, sau khi trong nhà
ngoài nhà thu dọn sạch sẽ rồi, lại đem chó
mèo .v.v., gia súc để vào một phòng, tránh
sự phá hoại phiền toái. Ý nghĩa cũng gần
giống nhau.
Những cõi nước biến hóa ra, cũng dùng lưu
ly làm đất, cây báu trang nghiêm. Cây cao
năm trăm do tuần, cành lá hoa quả, thứ lớp
trang nghiêm, dưới cây đều có tòa báu sư tử,
cao năm do tuần, đủ các thứ báu dùng làm
nghiêm sức.
Những cõi nước biến hóa ra, cũng dùng lưu ly
làm đất, và có cây bồ đề để trang nghiêm cõi
nước. Cây cao khoảng năm trăm do tuần, cành
lá hoa quả đều thứ lớp trang nghiêm. Dưới
cội bồ đề có tòa báu sư tử, cao năm do tuần,
đều dùng bảy báu để trang sức tòa báu, khiến
cho đẹp đẽ.
Cũng không có biển cả sông ngòi, và núi Mục
chân lân đà, núi Ðại mục chân lân đà, núi
Thiết vi, núi Ðại thiết vi, núi Tu di, các
núi chúa .v.v... thảy đều làm một cõi nước
Phật, đất báu bằng phẳng, các báu xen nhau
làm màn giăng che khắp ở phía trên, lại treo
các phan lọng, đốt hương báu lớn. Các hoa
báu cõi trời rải khắp trên mặt đất.
Những cõi nước biến hóa ra cũng chẳng có biển
cả, sông ngòi, núi đá, núi đá lớn, núi thiết
vi (núi chu vi bốn đại châu), núi đại thiết
vi (núi chu vi đại thiên thế giới), núi tu
di (núi diệu cao), các núi chúa .v.v. Những
sự biến hóa trong cõi nước, đều làm thành
một cõi Phật, đất báu bằng phẳng, các thứ
báu xen nhau làm thành màn giăng che phủ
khắp ở phía trên. Lại treo các phan báu và
lọng báu. Ðốt hương báu lớn, chư Thiên rải
các thứ hoa báu đầy khắp mặt đất, rất trang
nghiêm đẹp đẽ, đây là cảnh giới kế tiếp biến
cõi nước.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vì các đức Phật
phân thân có chỗ ngồi, nên tám phương kia,
mỗi phương lại biến ra hai trăm vạn ức Na do
tha cõi nước, thảy đều khiến cho thanh tịnh,
chẳng có địa ngục ngạ quỷ súc sinh và A tu
la. Lại dời các trời người để ở cõi khác.
Ðức Phật Thích Ca Mau Ni, vì khiến cho phân
thân hóa Phật trong mười phương có chỗ ngồi,
nên tám phương kia, mỗi phương lại biến ra
hai trăm vạn ức Na do tha cõi nước, thảy đều
khiến cho thanh tịnh. Chẳng có các địa ngục
ngạ quỷ súc sinh, càng chẳng có A tu la. A
tu la thích đấu tranh, khiến cho thế giới
chẳng bình an, giống như ngựa hại bầy, nhiễu
loạn khắp nơi.
Lại dời các người
trên trời và người ở nhân gian đến cõi nước
khác. Tại sao ? Vì biến cõi đời ác năm trược
thành cõi nước thanh tịnh, do đó chuyển họ
đến cõi nước khác.
Những cõi nước biến hóa ra, cũng dùng lưu
ly làm đất, cây báu trang nghiêm. Cây cao
năm trăm do tuần, cành lá hoa quả thứ lớp
trang nghiêm. Dưới cây đều có tòa báu sư tử,
cao năm do tuần, cũng dùng các thứ báu
nghiêm sức tốt đẹp.
Những cõi nước biến hóa ra, cũng dùng lưu ly
làm đất, lại có cây báu trang nghiêm, cây bồ
đề cao năm trăm do tuần, cành lá hoa quả rất
sum sê, đều thứ lớp trang nghiêm đẹp đẽ.
Dưới mỗi cây báu, đều có tòa báu sư tử, tòa
cao cũng năm do tuần, đều dùng các thứ báu
nghiêm sức rất đẹp đẽ.
Cũng không có biển cả sông ngòi, và núi Mục
chân lân đà, núi Ðại mục chân lân đà, núi
Thiết vi, núi Ðại thiết vi, núi Tu di, các
núi chúa thảy, thông làm một cõi nước Phật.
Ðất báu bằng phẳng, các thứ báu xen nhau làm
thành màn, giăng che phủ khắp ở phía trên,
lại treo các phan lọng, đốt hương báu lớn,
các thứ hoa báu cõi trời rải đầy khắp mặt
đất.
Những cõi nước biến hóa ra cũng chẳng có biển
cả, sông ngòi, núi đá, núi đá lớn, núi thiết
vi, núi thiết vi lớn, núi tu di, các núi
chúa thảy. Cõi nước biến hóa ra thông làm
thành một cõi nước Phật. Ðất báu rất bằng
phẳng, chẳng có chỗ lồi lõm. Các thứ báu xen
nhau thành màn báu, giăng che khắp ở phía
trên. Lại treo các phan báu và lọng báu, đốt
hương báu lớn, xa gần đều ngửi được mùi thơm
đó. Các thứ hoa quý cõi trời rải khắp trên
mặt đất. Cảnh giới như thế diệu không thể
tả, đây là cảnh giới biến cõi nước lần thứ
ba.
Phẩm nầy nói về ba lần biến hóa cõi nước, rốt
ráo là ý nghĩa gì ? Ðức Phật Thích Ca dùng
thần thông biến cõi ô uế thành cõi thanh
tịnh. Ban đầu biến thế giới Ta Bà, thứ nhì
biến tám phương kia, mỗi phương làm thành
hai trăm vạn ức Na do tha cõi nước, lần thứ
ba lại biến tám phương, mỗi phương làm hai
trăm vạn ức Na do tha cõi nước, đều khiến
cho thanh tịnh, thành cõi tịnh độ. Tại sao
phải như thế ? Vì đón tiếp đức Ða Bảo Như
Lai, và các phân thân hóa Phật của Phật
Thích Ca trong mười phương, cho nên đại sự
đều trang nghiêm, biểu thị sự nhiệt liệt
hoan nghênh.
Ba lần biến cõi
nước lại có ý nghĩa gì ? Lần đầu biến cõi
nước là biểu thị đoạn trừ kiến tư (thấy,
nghĩ) hai hoặc. Kiến hoặc là gì ? Tức là
kiến giải mê hoặc, rất là lợi hại, hại người
không ít, vì nó mà không được giải thoát,
đời đời kiếp kiếp lưu chuyển ở trong luân
hồi sinh tử. Học Phật pháp tức là học pháp
đoạn hoặc, tóm lại tức là học trí huệ. Trí
huệ hướng về đâu để cầu ? Có câu rằng:
‘’Thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải‘’.
Nghiên cứu kinh điển là pháp môn tu của
người học Phật pháp.
Tư hoặc là gì ? Tức
là tư tưởng mê hoặc. Nói tỉ mỉ thì kiến hoặc
là đối cảnh khởi tham ái, thấy tiền tài thì
sinh tâm tham, thấy sắc thì khởi thương yêu.
Nếu đoạn được kiến hoặc, thì bất cứ gặp cảnh
giới gì, cũng chẳng động tâm. Tư hoặc là mê
lý khởi phân biệt, đối với đạo lý chẳng minh
bạch, khởi lên tâm phân biệt.
Lần thứ hai biến
cõi nước, là biểu thị đoạn trừ trần sa hoặc.
Trần là vi trần (hạt bụi), sa là cát sông
Hằng. Trong ruộng tám thức có nhiều trần sa
hoặc. Nếu không đoạn hết, thì vẫn bị chuyển
ở trong sự có và không. Trần sa hoặc tuy
nhiên rất nhiều, song chính mình chẳng biết.
Ví như trong phòng sạch sẽ, trước mắt nhìn
thấy giống như chẳng có bụi bặm gì, song ánh
sáng mặt trời chiếu vào phòng, thì phát hiện
có vô số hạt bụi bay đi bay lại ở trong hư
không, lúc lên lúc xuống. Có ánh sáng mặt
trời mới thấy được hạt bụi, chẳng có ánh
sáng mặt trời, thì chẳng thấy hạt bụi. Ánh
sáng mặt trời tức là trí huệ, hạt bụi tức là
vọng tưởng. Có trí huệ thì mới phát hiện
mình có vọng tưởng.
A
La Hán đã đoạn sạch kiến, tư
hai hoặc, vẫn chưa đoạn sạch trần sa hoặc.
Bồ Tát đã đoạn trần sa hoặc, nhưng vẫn chưa
đoạn sạch vô minh hoặc. Kiến tư hoặc là thô
hoặc, trần sa hoặc là tế hoặc. Thô hoặc dễ
đoạn, tế hoặc chẳng dễ gì đoạn sạch. Do đó,
có câu : ‘’Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo‘’.
Lần thứ ba biến cõi nước là biểu thị đoạn trừ
vô minh hoặc, do đó: ‘’Phá vô minh thấy pháp
tánh‘’. Vô minh tức là chẳng minh bạch.
Chẳng minh bạch Phật pháp, chẳng rõ sự lý,
tức là vô minh. Có vô minh thì có sinh tử,
đoạn vô minh thì dứt sinh tử. Chứng đến bậc
Ðẳng Giác Bồ Tát, vẫn còn một phần sinh
tướng vô minh chưa phá (biến dịch sinh tử).
Nếu phá được một phần vô minh cuối cùng, thì
chứng quả vị Phật.
Kiến, tư hoặc tức
là trần sa hoặc, trợ giúp nó chẳng minh
bạch. Trần sa hoặc là vô minh trợ giúp nó
sinh ra, còn vô minh ai giúp nó sinh ra ?
Tức là ngu si. Vô minh hoặc là vi tế hoặc,
khó đoạn sạch nhất.
Ðại ý Ðức Phật Thích Ca ba lần biến cõi nước,
là khiến cho chúng ta đoạn trừ ba hoặc. Có
ba hoặc thì không thể chứng quả vị Phật,
đoạn sạch ba hoặc liền chứng quả vị Phật.
Ðạo lý nầy rất giản đơn, ai ai cũng đều rõ,
song chẳng ai thực hành, Phật cũng chẳng
biết làm gì hơn ! Than thở nói : ‘’Chúng
sinh khó độ, chẳng biết hồi đầu‘’. Ở trong
Phật giáo thường nói :
‘’Biển khổ mênh mông,
Quay đầu thì thấy bờ ‘’.
Chỉ cần quay đầu lại, thì đến bờ bên kia Niết
Bàn, đắc được thường lạc ngã tịnh vui sướng
thật sự. Song đáng tiếc cho chúng sinh, nhận
giả làm thật, tham vui năm dục, chẳng biết
đó là năm sợi dây thừng, trói buộc chẳng có
ngày ra khỏi.
Ba lần biến cõi
nước còn có ý nghĩa dùng tám lìa bỏ (tám
giải thoát), tám thắng sứ, mười nhất thiết
xứ, ba pháp, làm thiền định xa lìa tham ái
ba cõi. Còn gọi là tam muội, còn gọi là ba
cửa ải tham thiền.
Tám lìa bỏ là gì ?
Lìa là xa lìa, bỏ là vứt bỏ. Xa lìa cảnh
giới sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp). Xả bỏ hưởng thụ năm dục (tài, sắc,
danh, thực, thùy). Tám giải thoát là :
1. Bên trong có sắc
tưởng, quán sắc bên ngoài giải thoát : Bên
trong có sắc tưởng về ái tình, bên ngoài
thấy sắc đẹp thì mê hoặc. Nếu tâm chẳng có
thứ tư tưởng nầy, thì bên ngoài bất cứ có
sắc đẹp gì, cũng không thể bị ảnh hưởng, tâm
chẳng bị cảnh giới lay chuyển. Gặp con trai
đẹp, hoặc con gái xinh, phải quán bất tịnh
thì tư nhiên được giải thoát.
2. Bên trong không
có sắc tưởng, quán sắc bên ngoài giải thoát
: Trong tâm chẳng có sắc tưởng, quán sát sắc
tướng bên ngoài, thảy đều là vật không sạch,
đều là vô thường, khổ, không, vô ngã. Thường
quán tưởng như thế, chẳng điên đảo, chẳng
chấp trước, thì sẽ đắc được giải thoát.
3. Tịnh giải thoát
thân tác chứng cụ túc trụ : Ở trong định
quán tưởng diệu sắc quang minh, được như như
bất động, liễu liễu thường minh, ở trong
thân đầy đủ viên mãn mà trụ ở trong không.
Ðó là tịnh quán, ở trên là quán bất tịnh.
4. Không vô biên xứ
giải thoát : Nhàm chán sắc thân mà tu quán
không, đắc được không định, song không cũng
phải giải thoát, nếu không thì vẫn có chướng
ngại về không, không thể giải thoát.
5. Thức vô biên xứ
giải thoát : Lúc đó, cho đến không cũng nhàm
lìa, lưu lại thức A lại gia, tiêu diệt hết
sáu thức trước, chẳng khởi tác dụng. Chỉ có
thức thứ bảy phan duyên vi tế, song chẳng
khởi đại tác dụng, cho nên thức cũng phải
giải thoát .
6. Vô sở hữu xứ
giải thoát : Hàng phục được thức thứ bảy
rồi, chỉ còn lại thức thứ tám, chẳng khởi
hiện hành. Lúc đó, không cũng chẳng có, thức
cũng chẳng có, cái ta (ngã) cũng chẳng có.
Song, trong tâm vẫn còn pháp tưởng vô sở
hữu, cho nên cũng phải giải thoát.
7. Phi tưởng phi
phi tưởng xứ giải thoát : Dùng định lực
khống chế thức thứ tám, giống như đã hết,
cho nên là phi tưởng. Ðịnh lực sảo di, thức
thứ tám tựa như còn, cho nên là phi phi
tưởng. Tưởng thô phải giải thoát, tưởng tế
cũng phải giải thoát, đó mới là thật giải
thoát.
8. Diệt thọ tưởng
định, thân tác chứng cụ túc trụ giải thoát :
Tức là khiến cho tâm sở thọ và tâm sở tưởng,
hai pháp đều diệt mà chẳng khởi, đây đã diệt
thọ tưởng định. Nếu có diệt thọ tưởng thì
vẫn không giải thoát, vẫn còn chướng ngại.
Nếu có sự chấp trước, thì không thể giải
thoát được. Tóm lại, tri kiến đều phải giải
thoát, nếu không thì chẳng được giải thoát.
Tám thắng xứ là gì ? Thắng là thắng tri thắng
kiến.
- Thắng tri : Phàm là sự biết đều chánh quyết.
- Thắng kiến : Phàm là sự thấy đều là đúng.
Thắng tri thắng kiến nầy, với tri kiến của
thế gian chẳng giống nhau. Nếu minh bạch
được đạo lý tám giải thoát, và tám thắng xứ,
thì chẳng bị cảnh giới bên ngoài làm mê
hoặc, không làm việc điên đảo. Tám thắng xứ
nầy, là quán sát tử thi người chết, có các
hiện tượng bất đồng, sau đó mới chứng nhập
được cảnh giới thù thắng.
Tám thắng xứ là:
1. Bên trong có các sắc tưởng, quán sắc bên
ngoài ít thắng xứ.
2. Bên trong có sắc tưởng, quán sắc bên ngoài
nhiều thắng xứ.
3. Bên trong chẳng có sắc tưởng, quán sắc bên
ngoài ít thắng xứ.
4. Bên trong chẳng có sắc tưởng, quán sắc bên
ngoài nhiều thắng xứ. Ý nghĩa những thắng xứ
và tám giải thoát gần giống nhau. Vì chẳng
có định lực mà quán nhiều, thì e rằng định
lực tán, cho nên phải quán ít thắng xứ. Khi
nào có định lực thì hãy quán nhiều thắng xứ.
Quán cái gì ? Phải tu chín quán tưởng.
Chín quán tưởng là
gì ?
A. Tưởng sình : Tử thi sình lên.
B. Tưởng xanh ứ : Tử thi bị nắng gió biến
thành màu xanh ứ.
C. Tưởng hoại : Tử thi tan rã.
D. Tưởng máu chảy : Sau khi thi thể tan rã,
thì máu chảy về đất.
E. Tưởng mủ : Thối nát thành mủ.
F. Tưởng ăn : Thi thể bị chim thú ăn.
G. Tưởng phân tán : Sau khi chim thú ăn xong,
thì toàn thể xương cốt phân tán rã rời.
H. Tưởng xương cốt : Còn lại đống xương.
I. Tưởng thiêu đốt : Xương cốt bị lửa thiêu
đốt trở thành tro đất.
Người tu thiền, phải quán chín quán tưởng nầy,
bằng không thì chấp trước có cái ta sẽ không
thành công.
5. Xanh thắng xứ.
6. Vàng tháng xứ.
7. Ðỏ thắng sứ.
8. Trắng thắng xứ.
Quán xong bất tịnh
mới quán phóng quang. Màu xanh phóng ra
quang minh màu xanh, màu vàng phóng ra quanh
minh màu vàng, màu trắng phóng ra quang minh
màu trắng, hiện ra một thứ quanh minh. Lúc
đó, đừng chấp trước, giống như chẳng có việc
đó, được như vậy thì mới được xứ sự thù
thắng.
Mười nhất thiết xứ là gì ? Tức là mười thứ
khắp nhất thiết xứ, tức cũng là bốn màu sắc
và thêm sáu đại. Nếu có thắng tri, thắng
kiến, thì sẽ thành tựu công năng khắp nhất
thiết xứ.
1. Xanh khắp nhất thiết xứ.
2. Vàng khắp nhất thiết xứ.
3. Ðỏ nhất thiết xứ.
4. Trắng nhất thiết xứ.
5. Ðịa nhất thiết xứ.
6. Nước nhất thiết xứ.
7. Lửa nhất thiết xứ.
8. Gió nhất thiết xứ.
9. Không nhất thiết xứ.
10. Thức nhất thiết xứ.
Mười pháp nầy, người tham thiền phải minh bạch
cảnh giới nầy, sau đó mới phá được sự tham
thoại đầu, tức cũng là khai ngộ.
Hoà Thượng Hư Vân lúc khai ngộ nói :
‘’Nãng trước thủ, đả toái bôi
Gia phá nhân vong ngữ nan khai
Xuân đáo hoa hương xứ xứ tú
Sơn hà đại địa thị Như Lai‘’.
Nghĩa là :
‘’Tay bị nóng, đập
nát ly,
Nhà tan người mất khó nói nên lời.
Xuân đến hoa thơm đâu đâu cũng đẹp,
Sông núi đất đai đều là Như Lai.’’
Tức là cảnh giới nầy, hết thảy đều không.
Ba lần biến cõi
nước, lần thứ nhất biểu thị tám xả lìa, lần
thứ hai biểu thị tám thắng xứ, lần thứ ba
biểu thị mười nhất thiết xứ. Nghĩa lý của
kinh văn thâm áo vô cùng, phải quán thông
kinh nghĩa, mới có hữu dụng, bằng không thì
nuốt trựng, ăn mà chẳng biết mùi vị. Ðọc
kinh văn mà không cầu hiểu rõ, không biết
tông chỉ của kinh, suốt ngày ngủ với vô
minh, ăn cơm với phiền não, làm bạn với ba
hoặc, như thế thì làm sao có sự thành tựu ?
Tóm lại, hiểu biết thì lìa khỏi chúng, chẳng
hiểu biết thì bị chúng làm mê.
Người học Phật
pháp, vừa học vừa thực hành mới có hiệu quả.
Học mà không hành, dù học bao nhiêu cũng
chẳng ích gì. Tức là học một câu mà áp dụng,
thì sẽ đắc được vô lượng lợi ích. Bệnh lớn
nhất của người học Phật pháp là, nói được mà
làm chẳng được, đó là khẩu đầu thiền.
Bấy giờ, các đức Phật phân thân của Phật
Thích Ca Mâu Ni ở phương đông, trong trăm
vạn ức Na do tha cõi nước, mỗi vị đang
thuyết pháp ở cõi đó, đều tụ tập lại. Như
thế lần lược các đức Phật trong mười phương,
cũng đều tụ tập lại ngồi ở tại tám phương.
Lúc đó, các hóa Phật phân thân của Phật Thích
Ca Mâu Ni ở trong trăm ức Na do tha Hằng hà
sa cõi nước, đều đang ở cõi đó thuyết pháp
giáo hóa chúng sinh, vì đức Ða Bảo Như Lai
đến pháp hội Linh Sơn làm chứng minh, cho
nên các Ngài đều từ biệt đại chúng, để tụ
tập về núi Linh Sơn.
Tại sao đức Ða Bảo
Như Lai đến hội Pháp Hoa núi Linh Thứu thế
giới Ta Bà để làm chứng ? Vì thuở xưa Ngài
đã từng phát nguyện : ‘’Phàm là có đạo tràng
diễn nói Kinh Pháp Hoa, thì ta nhất định đến
trước làm chứng minh‘’.
Lần lược như thế,
từ phương đông bắt đầu; mười phương chư Phật
đều đến tụ tập tại pháp hội Linh Sơn, ngồi ở
tám phương của bảo tháp.
Bấy giờ, tại mỗi phương đều có bốn trăm vạn
ức Na do tha cõi nước, các đức Phật Như Lai
đều đầy khắp trong đó.
Lúc đó, ở tại mỗi phương đều có bốn trăm vạn
ức Na do tha cõi nước, cõi nước biến hóa ra,
rất thanh tịnh trang nghiêm. Các đức Phật
phân thân của Phật Thích Ca đều đầy khắp
trong đó.
Bấy giờ, các đức Phật đều ngồi trên tòa sư
tử dưới cây báu, rồi sai thị giả đến thưa
hỏi đức Phật Thích Ca, và đều đưa cho một bó
hoa báu, mà dặn dò rằng : Thiện nam tử !
Ngươi hãy đến núi Kỳ Xà Quật, chỗ của Phật
Thích Ca Mâu Ni, theo như lời của ta nói
rằng : Ðức Thế Tôn ít bệnh, ít khổ não, sức
khỏe an vui chăng ! Các chúng Bồ Tát Thanh
Văn đều an ổn chăng !
Lúc đó, phân thân chư Phật mười phương đều
ngồi trên tòa sư tử dưới cội bồ đề, rồi phái
thị giả đến đạo tràng của đức Phật Thích Ca
để thăm hỏi. Chư Phật tay cầm bó hoa báu đưa
cho thị giả, dặn dò thị giả rằng : ‘’Thiện
nam tử ! Ông đến núi Linh Thứu đạo tràng của
Phật Thích Ca, thế ta nói thế nầy : Ðức Thế
Tôn ! Ngài có khỏe chăng ? Chẳng có bệnh
tật, chẳng có khổ não chứ ! Thân tâm an lạc
chứ ! Hàng Bồ Tát và Thanh Văn đều an ổn
chăng ! Thăm hỏi xong rồi, thì dâng hoa báu
cúng dường đức Phật‘’.
Dùng hoa báu này rải lên cúng dường đức
Phật, rồi bạch rằng : Ðức Phật đó cùng muốn
mở bảo tháp này, các đức Phật sai sứ đến
cũng lại như thế.
Chư Phật lại dặn dò thị giả nói : ‘’Ðem hoa
báu nầy rải lên cúng dường đức Phật Thích
Ca, sau đó nói với đức Phật rằng : Ðức Phật
đó muốn mở Bảo Tháp của đức Ða Bảo Như Lai,
để chiêm ngưỡng đức tướng của đức Ða Bảo Như
Lai.’’ Chẳng những một vị Phật sai thị giả
đến tham hỏi đức Phật, cúng dường đức Phật,
mà mười phương chư Phật, đều thăm hỏi và
cúng dường như thế.
Bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni thấy tất
cả chư Phật phân thân, đều đã tụ lại, đều
ngồi trên tòa sư tử, đều nghe các đức Phật
cùng muốn mở bảo tháp. Bèn từ tòa đứng dậy,
trụ ở trong hư không, tất cả bốn chúng đều
đứng dậy, chắp tay một lòng nhìn Phật.
Lúc đó, đức Phật Thích Ca Mâu Ni thấy chư Phật
phân thân của mình, đã tụ tập lại hết trên
núi Linh Thứu. Mỗi vị Phật đều ngồi trên tòa
báu sư tử. Lại nghe mười phương chư Phật
muốn mở bảo tháp, lập tức từ tòa báu đứng
dậy, trụ ở trong hư không. Lúc đó, tất cả
bốn chúng đệ tử cùng nhau đứng dậy cung kính
chắp tay, đại chúng một lòng nhìn Phật mở
cửa bảo tháp như thế nào ? Tụ tinh hội thần
để chờ.
Bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng tay
phải, mở cửa tháp bảy báu vang ra âm thanh
lớn, như tháo chốt mở cửa thành lớn.
Lúc ấy, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng tay phải
mở cửa tháp bảy báu, từ trong tháp vang ra
âm thanh rất lớn, giống như tháo chốt mở cửa
thành lớn. Phật dùng tay phải mở bảo tháp,
là biểu thị khai quyền. Ðức Ða Bảo Như Lai
hiện thân, là biểu thị hiển thật. Có câu :
‘’Khai quyền hiển thật‘’, thu pháp môn quyền
xảo phương tiện lại, bây giờ hiển lộ ra pháp
môn chân thật. Kinh điển lúc trước Phật
giảng, là pháp quyền xảo phương tiện, bây
giờ giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mới là
pháp chân thật. Ðây tức là tông chỉ của bổn
kinh nầy.
Bấy giờ, tất cả đại chúng trong pháp hội,
đều thấy đức Ða Bảo Như Lai, ngồi trên tòa
sư tử trong bảo tháp, toàn thân không tán
hoại, như nhập thiền định.
Lúc đó, đức Phật Thích Ca Mâu Ni mở cửa bảo
tháp, hết thảy bốn chúng đệ tử trong pháp
hội, đều nhìn thấy toàn thân của đức Ða Bảo
Như Lai, đang ngồi trên tòa sư tử, an nhiên
tồn tại chẳng tan hoại, giống như an tường
nhập vào thiền định, khiến cho người thấy
sinh tâm cung kính. Vì sao ? Vì có uy đáng
sợ, có nghi đáng kính.
Lại nghe đức Ða Bảo Như Lai nói : Lành
thay, lành thay ! Phật Thích Ca Mâu Ni, xin
hãy mau nói Kinh Pháp Hoa, ta vì nghe kinh
này mà đến đây.
Lúc ấy, lại nghe đức Ða Bảo Như Lai ở trong
tháp nói : ‘’Lành thay, lành thay ! Phật
Thích Ca Mau Ni, xin Ngài hãy mau nói Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa. Ta vì nghe Kinh Pháp Hoa
mà đến đây‘’. Ðức Ða Bảo Như Lai vì thuở xưa
phát nguyện mà đến làm chứng minh.
Bấy giờ, bốn chúng thấy Phật đã diệt độ
trong quá khứ, vô lượng ngàn vạn ức kiếp nói
lời như thế, khen chưa từng có. Ðại chúng
đều dùng hoa báu cõi trời, tụ lại rải lên
trên đức Phật Ða Bảo, và Phật Thích Ca Mâu
Ni.
Lúc đó, hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam,
cư sĩ nữ, bốn chúng đệ tử nhìn thấy đức Ða
Bảo Như Lai, đã diệt độ vô lượng ngàn vạn ức
kiếp trong quá khứ, ở trong bảo tháp nói ra
lời như thế, đại chúng khen ngợi chưa từng
có, đại chúng đều dùng hoa báu cõi trời, tụ
lại rải lên trên thân đức Phật Ða Bảo, và
Phật Thích Ca Mâu Ni.
Bấy giờ, đức Phật Ða Bảo ở trong bảo tháp,
chia nửa tòa ngồi cho đức Phật Thích Ca Mâu
Ni mà nói rằng : Phật Thích Ca Mâu Ni, hãy
lên ngồi trên tòa này. Tức thời, Phật Thích
Ca Mâu Ni vào trong bảo tháp đó, ngồi kiết
già trên nửa tòa đó.
Lúc đó, đức Ða Bảo Như Lai ở trong bảo tháp,
nhường nửa tòa báu sư tử cho Phật Thích Ca
Mâu Ni ngồi, mà nói rằng : ‘’Phật Thích Ca
Mâu Ni ! Ngài hãy lên ngồi bên cạnh tôi,
chúng ta hai người cùng ngồi chung một
tòa‘’. Tức thời, Phật Thích Ca Mâu Ni bèn
vào trong bảo tháp, cùng ngồi một tòa với
Phật Ða Bảo, ngồi kiết già trên tòa báu sư
tử.
Bấy giờ, đại chúng thấy hai đức Như Lai
ngồi kiết già trên tòa sư tử trong tháp bảy
báu, ai nấy đều nghĩ : Ðức Phật ngồi quá cao
xa, xin nguyện đức Như Lai dùng sức thần
thông, khiến cho tất cả chúng con đều đến
trong hư không.
Lúc đó, đại chúng trong hội Pháp Hoa, nhìn
thấy hai vị Phật cùng ngồi kiết già trên tòa
báu sư tử ở trong bảo tháp, rất gần gũi,
giống như là bạn bè thân thiết. Ðại chúng
đều nghĩ như vầy : ‘’Hai vị Phật ngồi ở
trong bảo tháp vừa cao vừa xa, khiến cho
chúng con nhìn chẳng rõ ràng, nghe chẳng rõ
ràng. Xin nguyện Như Lai từ bi dùng sức đại
thần thông, đem tất cả đại chúng chúng con ở
trong pháp hội đều đến trong hư không, để
chiêm ngưỡng Như Lai, lễ lạy Như Lai thì
tiện hơn‘’.
Tức thời, đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng sức
thần thông, tiếp các đại chúng đều đến trong
hư không, dùng âm thanh lớn bảo khắp bốn
chúng : Ai có thể ở cõi Ta Bà này, mà rộng
nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì nay chính
là phải thời. Như Lai chẳng bao lâu nữa sẽ
vào Niết Bàn. Phật muốn đem Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa này, phó chúc cho mọi người.
Lúc đó, vì đức Phật Thích Ca Mâu Ni có ba
thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông, nên biết
được đại chúng khởi vọng tưởng, bèn sinh tâm
thương xót, dùng sức thần thông tiếp họ đến
trong hư không, để làm mãn nguyện của đại
chúng.
Ðức Phật Thích Ca
lại dùng âm thanh lớn, bảo khắp bốn chúng đệ
tử nói rằng : ‘’Ai có thể ở cõi Ta Bà nầy,
rộng nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì hôm
nay chính là phải thời. Vì ta (Phật Thích
Ca), sau khi nói xong Kinh Pháp Hoa, thì
chẳng bao lâu sẽ vào Niết Bàn. Mỗi vị Phật
đều muốn đem Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phó
chúc cho mọi người, mong có người gánh vác
trách nhiệm nầy, nối Phật huệ mạng, khiến
cho chánh pháp vĩnh viễn lưu lại ở đời,
chẳng khiến cho đoạn tuyệt‘’ !
Các bạn chú ý ! Thọ trì Kinh Pháp Hoa, đọc
tụng Kinh Pháp Hoa, giải nói Kinh PHáp Hoa,
ấn tống Kinh Pháp Hoa, truyền bá Kinh Pháp
Hoa, đều có công đức không thể tưởng tượng
được. Ðọc tụng Kinh Pháp Hoa, có thể từ
trong miệng phun ra xá lợi, biên chép Kinh
Pháp Hoa, có thể từ ngòi bút nhả ra xá lợi,
đây là sự thật ngàn chân vạn quyết.
Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa
này, bèn nói bài kệ rằng :
Thánh chúa Thế
Tôn
Tuy diệt độ lâu
Ở trong bảo tháp
Còn vì pháp đến.
Các ngươi thế nào
Chẳng siêng vì pháp !
Ðoạn kinh văn nầy, Phật Thích Ca Mâu Ni khen
ngợi Ðức Ða Bảo Như Lai đã phát nguyện, phàm
có đạo tràng nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,
thì đức Ða Bảo Như Lai nhất định đến trước
để nghe pháp, làm chứng minh. Các bạn thấy
đó ! Nơi nào giảng nói Kinh Pháp Hoa, thì
đức Ða Bảo Như Lai đều đến nghe kinh, hà
huống là phàm phu chúng ta, càng phải đến
chỗ giảng nói Kinh Pháp Hoa để nghe kinh.
‘’Thánh chúa Thế
Tôn‘’, đây là chỉ đức Ða Bảo Như Lai mà nói,
tôn kính Ngài là chúa trong bậc Thánh. Thế
Tôn là bậc tôn kính nhất của thế và xuất thế
gian. Tuy nhiên Ngài đã diệt độ vô lượng
kiếp về trước, trụ ở trong bảo tháp. Ngài đã
thành Phật thì không cần nghe pháp nữa, song
Ngài vì nghe Kinh Pháp Hoa, mà còn đến pháp
hội núi Linh Thứu thế giới Ta Bà. Các vị !
Tại sao không siêng tu Phật pháp ?
Không siêng vì pháp
tức là lười biếng, giải đãi, phóng dật,
không tinh tấn, tức cũng là chẳng chuyên tâm
để nghe pháp. Người chân chính tin Phật, thì
trừ khi chẳng có pháp hội giảng kinh, nếu
có, thì bất cứ bận như thế nào, nhất định
cũng phải thu xếp thời gian đến tham gia.
Tại sao ? Vì nghe kinh còn quan trọng hơn là
sinh mạng. Một ngày không ăn cơm thì có thể
được, chứ một ngày không nghe kinh thì không
thể được. Nghe kinh thì hiểu biết pháp môn
liễu sinh thoát tử, y theo pháp tu hành thì
chắc chắn sẽ được giải thoát. Hơn nữa, nghe
kinh được ấn tượng càng thâm sâu hơn là xem
kinh, đo đó có câu :
‘’Một buổi nghe giảng,
Hơn mười năm đọc sách‘’.
Có thể đổi là :
‘’Một buổi nghe giảng kinh,
Còn hơn đọc mười quyển kinh‘’.
Phật đó diệt độ
Vô lượng số kiếp
Khắp nơi nghe pháp
Vì khó được gặp.
Nguyện xưa Phật đó
Sau khi ta diệt
Đến khắp mọi nơi
Thường vì nghe pháp.
Từ khi đức Ða Bảo Như Lai diệt độ đến nay,
trải qua thời gian vô lượng kiếp, đến khắp
nơi nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Phàm có
nơi nào giảng Kinh Pháp Hoa, thì nhất định
đến trước tham gia làm chứng. Khi Phật Thích
Ca Mâu Ni giảng Kinh Pháp Hoa, thì Ngài ở
trong bảo tháp từ dưới đất vọt lên, trụ ở
trong hư không để làm chứng minh.
Ðức Ða Bảo Như Lai
tức nhiên đã thành Phật, tại sao còn đến để
nghe Kinh Pháp Hoa ? Vì kinh nầy chẳng dễ gì
gặp được. Do đó, có câu :
‘’Pháp vi diệu thâm sâu vô thượng
Trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được
Nay con thấy nghe được thọ trì
Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai‘’.
Ðây là bài kệ khai kinh, của nữ hoàng đế Vũ
Tắc Thiên đời Ðường làm ra. Trước khi đọc
tụng kinh thì tụng bài kệ nầy trước.
Thuở xưa đức Ða Bảo Như Lai từng phát nguyện
rằng : ‘’Nếu ta thành Phật, thì sẽ ủng hộ
đạo tràng giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Sau
khi ta diệt độ, bất cứ nơi nào, đức Phật nào
nói Kinh Pháp Hoa, thì ta thường đến nghe
pháp và làm chứng minh‘’.
Tại sao phát nguyện
như vậy ? Vì Kinh Pháp Hoa là kinh khó gặp
được, Ngài muốn làm ảnh hưởng chúng, dẫn dắt
mọi người cùng đến tham gia pháp hội, khiến
cho đại chúng biết kinh nầy là vua trong các
kinh, là kinh thành Phật, do đó có câu :
‘’Kinh Lăng Nghiêm là kinh khai ngộ,
Kinh Pháp Hoa là kinh thành Phật‘’.
Ta lại phân thân
Vô lượng chư Phật
Như cát sông Hằng
Đến muốn nghe pháp.
Và thấy Đa Bảo
Như Lai diệt độ
Đều bỏ cõi nước
Và chúng đệ tử.
Trời người rồng thần
Các sự cúng dường
Khiến pháp trụ lâu
Nên đến nơi này.
Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói : ‘’Ta phân thân
vô lượng chư Phật, nhiều như số các sông
Hằng, đều đến nơi nầy nghe Kinh Pháp Hoa.
Các Ngài còn muốn thấy đức Ða Bảo Như Lai,
đã diệt độ vô lượng kiếp, cho nên phân thân
hóa Phật trong mười phương, đều bỏ cõi nước
của mình, và các hàng đệ tử mà đến núi Linh
Thứu‘’.
Chư thiên loài
người, các vị rồng các vị thần, đều đến cúng
dường đức Ða Bảo Như Lai, vì khiến cho chánh
pháp trụ lâu ở đời, cho nên đức Ða Bảo Như
Lai, và mười phương chư Phật đều đến chỗ
nầy.
Vì chư Phật ngồi
Mà dùng thần thông
Dời vô lượng chúng
Khiến nước thanh tịnh.
Mỗi mỗi vị Phật
Đến dưới cây báu
Như đất thanh tịnh
Hoa sen trang nghiêm.
Ta vì các đức Phật phân thân an trí tòa ngồi,
mà dùng sức thần thông, đêm vô lượng chúng
sinh dời đến cõi nước khác, khiến cho cõi
nước nầy thanh tịnh, biểu thị sự hoan nghênh
khách quý quang lâm.
Mười phương chư Phật, đều đến dưới cội bồ đề,
ngồi trên tòa báu sư tử, như đất thanh tịnh.
Dùng các thứ màu sắc hoa sen để trang
nghiêm.
Phật ngồi ở trên
Tòa báu sư tử
Dưới các cây báu
Quang minh nghiêm sức.
Như trong đêm tối
Đốt đuốt lửa lớn.
Sau ba lần biến cõi nước, làm cho thế giới
biến thành thanh tịnh, phân thân chư Phật
đều đến dưới cội bồ đề, ngồi trên tòa báu sư
tử. Mỗi tòa báu đều dùng bảy báu để trang
nghiêm, phóng đại quang minh chiếu khắp tất
cả, giống như trong đêm tối đốt đuốc lửa
lớn, phá màn đêm tối.
Thân tỏa hương thơm
Khắp mười phương cõi.
Chúng sinh ngửi được
Thảy đều vui mừng
Ví như gió lớn
Thổi nhánh cây nhỏ.
Do phương tiện đó
Khiến pháp trụ lâu.
Trên thân của phân thân chư Phật, đều tỏa ra
hương thơm vi diệu, xông khắp cõi nước mười
phương. Hết thảy chúng sinh được mùi hương
nầy huân nhiễm, thì đều vui mừng mà phát tâm
bồ đề. Giống như gió lớn thổi nhánh cây nhỏ,
làm rung động, tức cũng thọ được lợi ích của
Phật pháp. Dùng pháp thiện xảo phương tiện
nầy, vì muốn khiến cho Phật pháp trụ lâu ở
đời. Cho nên, trước hết giảng quyền pháp,
sau giảng thật pháp, là ý nghĩa nầy.
Phàm là người chân
chánh tu trì, nghiêm giữ giới luật, tuyệt
đối không phạm giới, đời đời như thế, kiếp
kiếp như thế, thì thân thể tự nhiên sẽ tỏa
ra mùi thơm hoa sen, là hương thơm nhè nhẹ,
chứ chẳng phải mùi thơm nồng nặc, không làm
cho người có cảm giác sặc mũi. Người giữ
giới, dù nhiều ngày không tắm rửa, cũng
chẳng có mùi hôi, mà còn tỏa hương thơm.
Người không giữ giới, thì thân hôi như chồn
hôi, khiến người nhàm chán.
Bảo các đại chúng :
Ta diệt độ rồi.
Ai hay thọ trì
Đọc nói kinh này
Nay ở trước Phật
Tự phát thệ nguyện.
Ðức Phật Thích Ca lại bảo đại chúng nói :
‘’Sau khi ta nói xong Kinh Pháp Hoa, thì sẽ
vào Niết Bàn. Sau khi ta diệt độ rồi, ai hay
phát nguyện thọ trì kinh nầy, đọc tụng kinh
nầy, bây giờ ở trước Phật Ða Bảo và phân
thân chư Phật, tự phát thệ nguyện‘’. Từ nay
về sau hãy thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên
chép, ấn tống bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Bất cứ
gặp khó khăn gì, cũng không thay đổi, nhất
định quán triệt thủy chung, không cô phụ kỳ
vọng của Như Lai.
Phật Đa Bảo đó
Tuy diệt độ lâu.
Nhờ thệ nguyện lớn
Mà sư tử hống
Đa Bảo Như Lai
Cùng với thân ta.
Tụ tập hóa Phật
Sẽ biết ý đó.
Ðức Ða Bảo Như Lai đó, tuy diệt độ đã lâu,
song nhờ thệ nguyện lớn của Ngài, mà ở trong
bảo tháp làm sư tử hống. Ðức Ða Bảo Như Lai,
và thân ta cùng với phân thân hóa Phật, đều
biết được ý của các vị phát nguyện. Sau đó,
sẽ hộ trì các vị, khiến cho thân tâm an ổn,
chuyên tâm tu đạo.
Các Phật tử thảy
Ai hay hộ pháp.
Nên phát nguyện lớn
Khiến pháp trụ lâu
Có người hộ trì
Kinh Pháp Hoa này.
Tức là cúng dường
Ta và Đa Bảo.
Các đệ tử của Phật ! Ai có tâm hộ pháp, thì
nên phát tâm thệ nguyện lớn, khiến cho Kinh
Pháp Hoa trụ lâu ở đời.
Nếu như có người hay hộ trì Kinh Pháp Hoa, thì
công đức cũng như cúng dường ta và Phật Ða
Bảo. Tại sao ? Vì Kinh Pháp Hoa là chân thân
của Như Lai. Do đó:
‘’Trong các sự cúng dường
Cúng dường pháp là hơn hết‘’.
Cúng dường tiền tài là tu phước, cúng dường
pháp là tu huệ. Phước huệ song tu, công đức
mới viên mãn.
Phật Đa Bảo đó
Trụ trong bảo tháp.
Thường du mười phương
Để vì kinh này
Cũng lại cúng dường
Các hóa Phật đến.
Trang nghiêm quang sức
Tất cả thế giới
Nếu nói kinh này
Tức là thấy ta.
Đa Bảo Như Lai
Và các hóa Phật.
Vị Ða Bảo Như Lai nầy, tuy ngồi ở trong bảo
tháp, song thường đến khắp mười phương thế
giới, để vì chứng minh Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa.
Nếu các vị phát tâm
cúng dường Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì đồng
như cúng dường các hóa Phật của ta phân
thân. Trang nghiêm tất cả cõi nước, quang
sức tất cả thế giới.
Giả sử hay giải
thích nói Kinh Pháp Hoa nầy, thì thấy được
thân ta và thân đức Ða Bảo Như Lai, và các
phân thân hóa Phật của ta.
Các thiện nam tử !
Hãy suy nghĩ kỹ.
Đây là việc khó
Nên phát nguyện lớn
Các kinh điển khác
Số như Hằng sa.
Tuy nói rất nhiều
Chưa phải là khó.
Các vị thiện nam tử ! Các vị phải suy nghĩ cho
kỹ đạo lý nầy. Hãy phát nguyện thọ trì, đọc
tụng, giải nói, biên chép, ấn tống bộ kinh
đển nầy, đây là việc rất khó. Các vị nên
phát thệ nguyện lớn, đời đời kiếp kiếp gần
gũi Tam Bảo, gần gũi thiện tri thức, ủng hộ
thiện tri thức.
Ngoại trừ Kinh Pháp
Hoa ra, còn có rất nhiều kinh điển, số lượng
nhiều như số các sông Hằng, tuy nhiên nói
nhiều kinh điển, song cũng chẳng phải là
việc khó.
Nếu cầm Tu Di
Ném qua phương khác.
Vô số cõi Phật
Cũng chưa phải khó
Nếu dùng chân tay
Động cõi đại thiên.
Ném xa cõi khác
Cũng chưa phải khó.
Nếu như cầm toà núi Tu Di lên, ném qua vô
lượng cõi Phật khác, cũng chưa phải là việc
khó. Chỉ cần có thần thông thì làm được.
Nếu như dùng chân
di động đại thiên thế giới, ném thế giới qua
phương khác, đây cũng chẳng phải là việc
khó.
Nếu đứng trên trời
Vì chúng diễn nói.
Vô lượng kinh khác
Cũng chưa phải khó
Nếu Phật diệt độ
Ở trong đời khác.
Hay nói kinh này
Đó mới là khó.
Nếu như đứng trên Trời Hữu Đảnh (Trời vô sắc
giới Phi Phi Tưởng Xứ), vì chúng sinh diễn
nói vô lượng các thứ kinh, cũng chẳng phải
là việc khó. Chỉ cần có bản lãnh ngũ nhãn
lục thông thì làm được, chẳng có gì chướng
ngại. Nếu như sau khi Phật diệt độ, có người
nào ở trong đời ác năm trược, giải nói Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa, thì đó mới là việc khó
làm nhất.
Nếu như có người
Tay cầm hư không.
Dùng để du hành
Cũng chưa phải khó
Sau ta diệt độ
Nếu tự biên trì.
Hoặc khiến người biên
Đó mới là khó.
Nếu như có người dùng phép thần thông, tay cầm
hư không, du hành khắp nơi, việc nầy vẫn
chưa kỳ lạ, có thể làm được.
Song sau khi Phật
diệt độ, nếu có người biên chép kinh nầy,
hoặc khiến người biên chép kinh nầy, đây là
việc chẳng đễ gì làm được. Tại sao ? Vì cảnh
giới nầy không thể nghĩ bàn, cho nên chẳng
có ai tin.
Nếu dùng đại địa
Để lên bàn chân.
Thăng lên Phạm Thiên
Cũng chưa phải khó
Sau Phật diệt độ
Ở trong đời ác.
Tạm đọc kinh này
Đó mới là khó.
Nếu như có người, đem đại địa để trên bàn
chân, bay lên đến Trời Đại Phạm, cũng chưa
phải là việc khó.
Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ rồi, mà ở
trong đời ác năm trược, trong khoảng thời
gian ngắn mà đọc tụng kinh nầy, đó mới là
việc rất khó, chẳng dễ gì làm được.
Các vị chú ý !
Người chẳng có căn lành, thì chẳng thể nào
nghe được tên kinh Diệu Pháp Liên Hoa, càng
không thể nào đọc tụng được Kinh Pháp Hoa,
và thấy được kinh văn Diệu Pháp Liên Hoa.
Hiện tại các vị là người may mắn, nghe được
Kinh Pháp Hoa ở trong Phật giáo giảng đường,
đó là trong quá khứ đã phát thệ nguyện gần
gũi kinh nầy, thọ trì kinh nầy. Ðời nầy gặp
được đạo tràng giảng Kinh Pháp Hoa, nhân
duyên nầy khó gặp được, các vị phải trân
tiết, đừng để trôi qua lãng phí.
Nếu như kiếp thiêu
Gánh vác cỏ khô.
Vào trong không cháy
Cũng chưa phải khó
Sau ta diệt độ
Nếu trì kinh này.
Vì một người nói
Thì mới là khó.
Nếu như lúc kiếp hỏa thiêu cháy, mà có người
gánh vác cỏ khô, đi vào trong kiếp hỏa mà
không bị kiếp hỏa thiêu đốt, đó cũng chẳng
phải việc khó. Chỉ cần có thần thông thì làm
được. Sau khi Phật diệt độ, nếu có ai thọ
trì kinh nầy, hoặc vì một người giải nói,
thì đó là việc khó, chẳng dễ gì làm được.
Nếu trì tám vạn
Bốn ngàn tạng pháp.
Mười hai bộ kinh
Vì người diễn nói
Khiến các người nghe
Được sáu thần thông.
Tuy được như thế
Cũng chưa phải khó
Sau ta diệt độ
Nghe thọ kinh này.
Hỏi nghĩa trong kinh
Đó mới là khó.
Nếu như có người thọ trì tám muôn bốn ngàn
tạng pháp, vì người nói mười hai bộ kinh,
khiến cho tất cả người nghe pháp đều được
sáu thần thông, tuy nhiên được như thế, song
cũng chẳng phải là việc khó.
Sau khi ta diệt độ,
nếu có người nghe thọ trì được kinh nầy, và
hỏi nghĩa thú trong kinh nầy, thì đó mới là
một việc rất khó.
Mười hai bộ kinh là gì ? Tức là
‘’Trường hàng, trùng tụng, cập thọ ký
Cô khởi, vô vấn nhi tự thuyết
Nhân duyên, ví dụ dữ bổn sự
Bổn sanh, phương quảng, vị tằng hữu
Luận nghị cộng thành thập nhị bộ‘’.
Trường hàng, trùng tụng, cô khởi, là kinh văn
thể tài (lựa ra từng lối).
1. Trường hàng :
Tức là văn dài trong kinh.
2. Trùng tụng : Tức là nghĩa lý của kinh
trường hàng ở trên, dùng kệ để thuật lại.
3. Thọ ký : Phật thọ ký cho Bồ Tát sẽ thành
Phật.
4. Cô khởi : Ðột nhiên ở giữa khởi lên một bài
kệ, nghĩa lý của nó chẳng liên quan đến kinh
văn ở trước.
5. Bất vấn nhi tự thuyết : Chẳng có người
thỉnh pháp, mà Phật tự động nói ra kinh văn.
6. Nhân duyên : Tức là nhân duyên gặp Phật
nghe pháp, hoặc nhân duyên Phật nói pháp
giáo hóa chúng sinh.
7. Ví dụ : Trong kinh văn nói ví dụ.
8. Bổn sự : Phật nói nhân duyên của đệ tử
trong quá khứ.
9. Bổn sanh : Tức là Phật nói nhân duyên của
mình trong quá khứ.
10. Phương quảng : Tức là Phật nói kinh văn
chân lý phương chánh quảng đại.
11. Vị tăng hữu : Kinh văn Phật hiện thần
thông.
12. Luận nghị : Kinh văn giữa Phật và đệ tử hổ
tương vấn đáp.
Sáu thần thông là gì ? Người khai ngộ mới
chứng được cảnh giới nầy.
1. Thiên nhãn thông
: Trên các cõi trời, dưới các địa ngục, đều
nhìn thấy rất rõ ràng .
2. Thiên nhĩ thông : Chẳng những nhìn thấy
được chư Thiên từng cử chỉ hành động, mà còn
nghe được từng lời nói tiếng cười của chư
Thiên, rõ như vô tuyến điện.
3. Tha tâm thông : Biết được trong tâm của kẻ
khác nghĩ việc gì và muốn nói gì.
4. Túc mạng thông : Quán sát được nhân duyên
và nhân quả của mình và kẻ khác, trong quá
khứ và vị lai .
5. Thần túc thông : Có thể ở trong định, đến
đi tự do, chẳng bị bất cứ gì hạn chế.
6. Lậu tận thông : Chẳng có phiền não, chẳng
có vọng tưởng, tất cả lậu đều tiêu sạch,
chẳng khởi tác dụng. Ngoại đạo và quỷ thần
chỉ có năm thần thông, mà chẳng có lậu tận
thông, chư Phật Bồ Tát A
La Hán, mới có đủ sáu thần
thông.
Nếu người nói pháp
Khiến ngàn vạn ức.
Vô lượng vô số
Hằng sa chúng sinh
Được A la hán
Đủ sáu thần thông.
Tuy có lợi ích
Cũng chưa phải khó
Sau ta diệt độ
Nếu hay phụng trì.
Kinh Pháp Hoa này
Đó mới là khó.
Nếu như có người thuyết pháp, khiến cho vô
lượng chúng sinh nhiều như cát sông Hằng,
đều đắc được quả vị A
La Hán, đều đủ sáu thần
thông. Tuy có ích lợi như thế, song vẫn
chẳng phải là việc khó.
Sau khi Phật diệt độ, nếu có ai hay phụng trì
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì đó mới là việc
rất khó.
Chúng ta phàm phu
phải nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật Ða
Bảo và phân thân hóa Phật của Phật Thích Ca,
cũng đến pháp hội Linh Sơn nghe Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa. Do đó, đủ biết Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa quan trọng như thế nào ! Kinh nầy
là kinh thành Phật. Muốn thành Phật phải thọ
trì kinh nầy, chẳng có pháp nào khác.
Trước khi chưa
giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì tôi không
nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là kinh khó gặp
khó thấy. Bây giới giảng đến đây, trong kinh
văn cũng nói rất rõ ràng. Hy vọng mọi người
chú ý nghe ! Công đức nghe được Kinh Pháp
Hoa, cảm ứng trí huệ đời sau không thể hạn
lượng. Giống như nước biển cả lấy không hết,
dùng không cạn được.
Tại sao chúng ta
ngu si ? Tại sao có sự nóng giận ? Tại sao
có vọng tưởng ? Tại sao có phiền não ? Ðều
vì chẳng từng nghe qua Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa. Kinh nầy có chỗ diệu không thể nghĩ
bàn. Chỗ diệu nầy không thể suy nghĩ, không
thể luận bàn, chỉ có chính người thực hành
thể hội mới biết diệu vị đó.
Ta vì Phật đạo
Trong vô lượng cõi
Từ xưa đến nay
Rộng nói các kinh.
Mà ở trong đó
Kinh này bậc nhất
Nếu người hay trì
Tức là thân Phật.
Phật Thích Ca Mâu Ni nói : ‘’Ta vì giáo hóa
chúng sinh, đều vì thành Phật đạo, cho nên ở
trong vô lượng cõi nước chư Phật, từ bắt đầu
cho đến hiện tại, đã rộng giải thích nói rất
nhiều kinh điển. Trước hết nói Kinh
Hoa Nghiêm, tiếp theo nói
Kinh A Hàm, sau đó nói Kinh Phương Ðẳng và
Kinh Bát Nhã, bây giờ mới nói Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa. Ở trong các kinh mà Phật nói, thì
Kinh Pháp Hoa nầy là bậc nhất.’’ Ðây là bộ
kinh ít có nhất.
Nếu như có người
hay thọ trì kinh nầy, tức là trì chân thân
của Chư Phật. Chân thân của Phật ở trong
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, do đó :
‘’Vào nhà Như Lai,
Mặc áo Như Lai,
Ngồi tòa Như Lai‘’.
Ba thứ nầy tức là thọ trì chân thân của Phật.
Các thiện nam tử !
Sau ta diệt độ
Ai hay thọ trì
Ðọc tụng kinh này.
Nay ở trước Phật
Tự nói lời thề.
Các vị thiện nam tử ! Sau khi ta diệt độ, ai
hay thọ trì kinh nầy, đọc tụng kinh nầy,
giải nói kinh nầy, biên chép kinh nầy, ấn
tống kinh nầy. Hiện tại ở trước Phật, tự nói
ra lời thề. Người học Phật, nhất định phải
phát nguyện, nguyện lực khiến cho mình hướng
về chánh đạo tiến về trước, không thể lầm
vào đường tà. Phát nguyện mà không thực
hành, cũng giống như cây nở hoa giả, chẳng
có ích gì.
Kinh này khó trì
Nếu ai tạm trì.
Ta rất hoan hỉ
Chư Phật cũng thế
Những người như thế
Ðược Phật khen ngợi.
Ðó là dũng mãnh
Ðó là tinh tấn
Ðó gọi trì giới
Người hành đầu đà.
Thì mau đắc được
Phật đạo vô thượng.
Bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, là kinh khó thọ
trì, người chẳng có căn lành chân chánh, thì
không thọ trì được. Nếu như có người đời nầy
tạm thời thọ trì, đọc tụng kinh điển, thì ta
rất hoan hỉ, chư Phật cũng hoan hỉ. Tại sao
? Vì người nầy căn lành sâu dày, đảm đang
được trách nhiệm lớn, khiến cho Phật pháp
lưu truyền thế gian, làm cho chúng sinh được
nghe Tam Bảo, phát tâm bồ đề, thành vô
thượng đạo.
Người nầy thọ trì
Kinh Pháp Hoa, được mười phương chư Phật
khen ngợi, người nầy thọ trì dũng mãnh tinh
tấn không giải đãi, nghiêm giữ giới luật
không phóng dật. Tu hành mười hai hạnh đầu
đà, thì mau chứng được quả vị Phật.
Mười hai hạnh đầu
đà là :
1. Mặc y phấn tảo.
2. Chỉ có ba y.
3. Thường đi khất thực.
4. Thứ lớp khất thực.
5. Ngày ăn một bữa.
6. Tiết lượng ăn uống.
7. Quá ngọ không uống nước có chất bổ.
8. Ở nơi vắng lặng.
9. Ngồi ở nghĩa địa.
10. Ngồi ở ngoài trời.
11. Ngủ dưới gốc cây.
12. Thường ngồi không nằm.
Người tu khổ hạnh, phải giữ mười hai điều quy
cụ nầy. Tại sao phải khổ như thế ? Vì con
người có tâm tham. Do đó : ‘’Lòng tham muốn
chẳng bao giờ ngừng‘’, tham chẳng biết chán,
càng nhiều càng tốt, kết quả vọng tưởng lăn
xăn, khắp nơi phan duyên ảnh hưởng sự tu
đạo. Nếu tu mười hai thứ khổ hạnh, coi nhẹ
thân của mình, thì không làm nô lệ cho nó,
chỉ cần duy trì được sinh mạng thì được. Nếu
chẳng có tâm tham, thì chẳng có vọng tưởng;
nếu chẳng có vọng tưởng, thì sẽ khai ngộ.
Hay ở đời sau
Ðọc trì kinh này.
Ðó thật Phật tử
Ở thuần đất lành
Sau Phật diệt độ
Hay giải nghĩa kinh.
Các trời người đó
Là mắt thế gian
Ở đời sợ hãi
Nói trong chốc lát.
Tất cả trời người
Ðều nên cúng dường.
Người đó khi ở đời vị lai, đọc tụng thọ trì
Kinh Pháp Hoa, mới là đệ tử chân chánh của
Phật, trụ ở đất lành thuần nhất, tức cũng là
đất Phật.
Sau khi Phật diệt độ, thấu hiểu nghĩa lý kinh
nầy, đó là con mắt của trời người. Bất cứ là
trời người, nếu chẳng đọc tụng thọ trì kinh
điển, thì cũng giống như người mù chẳng có
mắt. Ở trong đời ác năm trược, trong thời
gian chốc lát giải nói Kinh Pháp Hoa. Khi
đó, tất cả trời người đều nên cúng dường vị
pháp sư.