| ||||||
|
|
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA Giảng giải : Hoà Thượng Tuyên Hoá Hán dịch : Ngài Cưu Ma La Thập Việt dịch : Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh -o0o- TẬP 03 Quyển 04 Phẩm Thọ Ký Cho Năm Trăm Vị Đệ Tử Thứ Tám
Phẩm nầy Ðức Phật
vì năm trăm vị đệ tử mà thọ ký, thật ra đã
thọ ký bao quát ở trong một nghìn hai trăm
năm mươi vị đệ tử. Lúc này, Phật khai quyền
hiển thật, mở bày một Phật thừa, ngoài hai
thừa thì chẳng chân thật. Vì A
Lại nghe chư Phật có đại trí huệ, tùy duyên tự tại, thông đạt vô ngại, đây là những việc từ trước chưa từng nghe, cho nên trong tâm thanh tịnh hớn hở khác thường. Bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến ở trước đức Phật cuối đầu cung kính lễ dưới chân đức Phật.
Lễ Phật xong, lui
về đứng một bên, chiêm ngưỡng tôn nhan của
Phật, mắt chẳng nhấp nháy. Trong tâm nghĩ
như vầy : "Ðức Thế Tôn rất ít có kỳ đặc,
những gì Phật làm càng hy hữu, hay dùng trí
huệ quyền xảo phương tiện, để tùy thuận
chúng sinh, mà nói đủ thứ Phật pháp phương
tiện, khiến cho chúng sinh tiêu trừ tham
trước, chẳng còn nhiễm ô cảnh sáu trần.
Chúng con trí huệ mỏng manh, căn cơ cạn cợt,
cho nên không thể nói hết và tuyên dương
công đức của chư Phật, chỉ có Phật, đại giác
Thế Tôn, mới biết đại nguyện ở trong thâm
tâm của con và chúng sinh". Ban đầu Phật chuyển bánh xe diệu pháp, ngoài đức Phật đích thân nói pháp ra, cũng nhờ đồ chúng luân phiên thuyết pháp. Vì khích lệ trí lực biện tài giảng kinh thuyết pháp của đồ chúng, nên đức Phật luôn luôn cho người thuyết pháp bình luận, khiến cho họ "đầu sào trăm trượng tiến thêm một bước". Tại Vạn Phật Thành cũng làm theo đức Phật chế, chuyển bánh xe pháp, thuyết pháp khiến cho người thuyết pháp tùy ý phát huy, thâm nhập sự áo diệu của Phật pháp, song phải hợp với đạo lý ở trong kinh.
Ngài Phú Lâu Na
khéo nói pháp vi diệu, do đó trời người, cho
đến loài quỷ, súc sinh, đều thích nghe, tức
khiến cho loài A tu la háo chiến, cũng lập
tức ngưng chiến, mà yên lặng nghe pháp,
ngoài ra bậc A la hán và Bồ Tát, cũng thích
nghe Ngài nói pháp. Phật thường khen ngợi
Phú Lâu Na trong đời quá khứ, rộng tu cúng
dường Tam Bảo, và làm đủ thứ công đức, tinh
tấn siêng tu, khéo hộ trì tuyên
Ngoại trừ Phật ra,
ở trong đại chúng chẳng có ai có biện tài vô
ngại như Ngài Phú Lâu Na, ở trong hàng đệ tử
của Phật, Ngài là người giỏi thuyết pháp bậc
nhất. Ngài còn thông đạt pháp không của các đức Phật nói, đắc được bốn trí vô ngại tức là :
1. Pháp vô ngại
biện. ‘’Thường hay suy xét kỹ lưỡng thanh tịnh thuyết pháp, chẳng có nghi hoặc‘’: Thường hay suy xét những pháp nói ra đều thanh tịnh, chẳng có tâm nghi hoặc. Nếu người khởi hoài nghi pháp của mình nói‘’. Pháp của mình vừa mới nói có đúng chăng? Mình khởi nghi thì cũng khiến cho người nghe khởi nghi. ‘’Ông nầy nói tầm bậy, đùng nghe ông ta nói’’.
Tuy Ngài Phú Lâu Na
là bậc A
Ngài Phú Lâu Na
thích nói Phật pháp, Ngài có bốn trí vô
ngại. Pháp sư thời nay cũng cần có bốn trí
vô ngại, nên đầy đủ bốn trí nầy, bằng không
chỉ có một trí ‘’thích nói‘’ Phật pháp, bị
cảnh lay chuyển, ví như, vốn muốn độ người
nào đó, song định lực chẳng đủ, kết quả
ngược lại bị người đó lay chuyển. Lại ví như
‘’người độ chó‘’, nếu thương mến tham luyến,
cũng sẽ bị chó độ lại. Xưa kia, có người
diễn kịch, rất tinh thông về nghề kịch, diễn
rất khéo léo, song anh ta thương một con
chó, song con chó đó chẳng phải là ai xa lạ,
mà chính là vợ của anh ta ! Vì vợ của anh ta
suốt ngày thích mắng chưởi người, bộ dạng
như chó sủa, suốt ngày sủa gâu ! Gâu ! Gâu !
Ðối với anh diễn kịch. Chẳng có ngày nào yên
ổn, không được nghỉ, cũng không thể tu hành.
Khi anh ta bực bội đến cực điểm, thì tôi nói
với anh ta : ‘’Nếu anh có định lực, thì
phiền não tự nhiên sẽ bỏ anh mà đi. Bây giờ
anh nên tu nhẫn nhục, nhẫn thọ tất cả sự
chưởi mắng. Do đó có câu:
Bảy Ðức Phật là :
Ngài đời đời kiếp
kiếp đều phát nguyện nầy, quả nhiên toại tâm
mãn nguyện, vì phát nguyện trồng xuống hạt
giống bồ đề, thì sẽ nảy mầm lớn dần. Khi cơ
duyên thành thục, thì trí huệ phát sinh biện
tài vô ngại. Vị lai, Ngài Phú Lâu Na cũng là người thuyết pháp bậc nhất. Ngài nghe pháp thì dẹp trừ hết mọi vọng tưởng, dùng tâm chân thành hằng thật, chuyên chú tu hành mới có thành tựu như thế. Do đó, chúng ta khi tu đạo, thì chớ tồn tại tơ hào tâm đố kị chướng ngại, đừng tham cầu danh văn lợi dưỡng, đừng ham đệ nhất, nên thường sinh tâm khen ngợi người khác mới tương ưng, chẳng trở ngại đối với pháp, đắc được pháp cảnh tương dung, lạc thuyết vô ngại, không đệ nhất mà tự nhiên đệ nhất. Thuở xưa, có vị Phật sống chùa Kim Sơn, đầy đủ thần thông, lại chữa trị được bệnh, song bất cứ ai đang thuyết pháp, Ngài cũng đều cung kính chắp tay ngồi xuống. Phật sống còn trọng pháp như thế, hà huống là phàm phu chúng ta ? Ngài cũng nhiều kiếp khổ tu, mới cảm ứng và đầy đủ thần thông. Một số nhân sĩ ở Thượng Hải, chẳng ai mà không cung kính khâm phục Ngài. Nếu gặp trong chùa chẳng còn gạo ăn, thì Ngài chỉ niệm ‘’Gạo đến, gạo đến’’ ! Thì gạo quả nhiên sẽ đến. Kẻ thấy Ngài, chẳng ai mà không ngạc nhiên kính phục. Ngài Phú Lâu Na thuyết pháp bậc nhất, song Ngài chẳng ‘’tranh giành‘’ mà tự nhiên có được. Chẳng những trong Hiền kiếp, mà suốt thuở vị lai vô biên chỗ các Ðức Phật, Ngài cũng hộ trì diễn nói tuyên dương chánh pháp, giáo hóa lợi lạc quần sinh, khiến cho họ kiến lập thành tựu nhân duyên, quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nếu ai tinh tấn
siêng năng giáo hoá chúng sinh, thì người đó
thanh tịnh cõi Phật. Cho nên hiện tại ở Vạn
Phật Thành ai tuyên
Bây giờ, chúng ta
trang nghiêm cõi Phật khác, thì ngày nào đó,
khi mình thành Phật, thì cõi nước của mình
cũng sẽ trang nghiêm. Do đó : ‘’Lấy sự trang
nghiêm của Phật, trang nghiêm cho mình‘’.
Thanh tịnh cõi Phật khác, tức là thanh tịnh
cõi Phật tự tánh. Nếu ai biết mà không thực
hành, thì tự tánh của người đó ô uế hơn đời
ác năm trược. Các vị chớ thấy mà bỏ qua,
hiện tại tôi giảng kinh thuyết pháp được,
cũng có thể nói là đã từng thọ qua sự giáo
hóa của Ngài Phú Lâu Na. Lúc còn trẻ, tôi
ngu dốt hơn một số người, chẳng khéo ăn nói,
cũng chẳng dám nói nhiều, nếu chưa từng thọ
sự khai thị của Ngài Phú Lâu Na, thì dù
chính mình khổ tu, cũng không được như vậy. Chúng sinh trong cõi nước của Phật Pháp Minh, đều là hóa sinh mà chẳng có thai sinh, tự có hóa không, tự không hóa có, biến hóa vô cùng. Có chúng sinh biến hóa ra từ trong hoa sen, biến hóa ra từ trong cây, biến hóa ra từ trong biển, cảnh giới trong nước đó, đều không thể nghĩ bàn.
‘’Chẳng có dâm
dục‘’, nếu người muốn tu đạo, thì đừng nên
có tơ hào về tham dục, hà huống là tự làm ?
Ai đoạn được dâm dục thì có định lực, mới có
thể chứng đại thần thông, trí huệ hiển hiện,
thân phóng quang minh. Từ thế giới định huệ
ba học vô lậu mà sinh ra, bay đi tự tại, tùy
ý mà đến. Tâm bồ đề tu tập Phật pháp có tiến
chẳng có lùi, vững chắc chẳng động lay, càng
ngày càng tiến bộ, vì có chí nguyện tinh tấn
nầy mới có đại trí huệ. Cõi nước đó, có hai thứ ăn uống: Một là dùng niềm vui của pháp làm thức ăn, tâm lìa tham trước. Từ xưa phàm phu đều dùng thực vật làm thức ăn, còn tham trước mùi vị. Nếu không tham ăn mà dùng pháp làm thức ăn, thì pháp hỉ sung mãn (niềm vui tràn đầy), chẳng cảm thấy đói khát. Hai là dùng niềm vui của thiền định làm thức ăn. Nếu ai ai cũng đều tu tập thiền định, thì hằng ngày chẳng đoạn thực, càng ngồi càng sinh hoan hỉ, chẳng muốn rời khỏi chỗ ngồi, diệu đến cực điểm.
‘’Ăn uống‘’ có
nhiều thứ, phàm phu là phần đoạn thực (ăn
uống từng phần từng đoạn), chư thiên là tư
thực, (muốn ăn gì, nghĩ đến liền có), quỷ
thần là xúc thực, chúng dùng mũi ngửi, cho
nên cũng gọi là khứu thực.
Phật Pháp Minh ứng
hóa ra cõi nước như đã nói ở trên, dùng vô
lượng công đức để trang nghiêm. Trong kiếp
Bảo Minh, Ðức Phật Pháp Minh nơi cõi nước
Thiện Tịnh thành Phật, Ðức Phật đó sống lâu
vô lượng A tăng kỳ kiếp, Phật pháp trụ ở đời
rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, chúng đệ tử
dùng bảy báu tạo tháp cúng dường, đầy khắp
cõi nước đó.
Các Tỳ Kheo lóng
nghe Tự nói là nhị thừa Thanh Văn, cách Phật đạo rất xa, nhờ phương tiện đó mà độ thoát vô lượng chúng sinh, khiến cho thành tựu đạo xuất thế. Tuy nhiên người tiểu thừa muốn giải đãi, trung đạo tự tận, cũng phải khiến cho họ từ từ hồi tiểu hướng đại, thành tựu Phật đạo. Bên trong ẩn hạnh Bồ Tát, mà bên ngoài hiện thân Thanh Văn, làm Thanh Văn thực hành pháp thiểu dục, nhàm chán sinh tử, bên trong tâm thật tự du hí thần thông, tự trang nghiêm cõi Phật, song cố ý hiện có ba độc (tham, sân, si) và tướng tà kiến mà chẳng tham hiểm, dùng đủ thứ phương tiện nhân duyên, dẫn dắt kẻ mê hoặc thì dễ thành công. Như Ngài Ca Lưu Ðà Di giả hiện tướng cô gái đẹp, song thật thì chẳng phải như thế. Người có trí thì đều biết được đó chẳng phải là sắc đẹp thật, bất quá đó là quyền xảo phương tiện thị hiện tướng đó.
Ngoài ra, đệ tử của
Phật như Ngài Xá Lợi Phất thì hiện tướng
sân, hoặc tướng tham, hoặc tướng si, cũng
không ngoài dùng pháp phương tiện, tùy theo
loài mà giáo hoá, do đó mà hiện đủ thứ hình
tướng, nay chỉ nói sơ lược, không dám nói
hết, vì sợ người nghe tín tâm chưa vững chắc
sinh ra nghi hoặc. Vì đủ bốn trí vô ngại, nên biết căn tính lợi hoặc độn của các chúng sinh. Thường nói thanh tịnh vô thượng diệu pháp, lưu thông diễn xướng nghĩa như thế. Giáo hóa vô số ức chúng sinh, khiến cho được an trụ nơi pháp đại thừa, thanh tịnh tự trang nghiêm cõi Phật. Ở vị lai cúng dường chư Phật.
Bên ngoài hiện
tướng Thanh Văn, ứng các căn cơ, trợ giúp
tuyên dương chánh pháp, bên trong ẩn chân
tâm, tự tâm thanh tịnh trang nghiêm cõi
Phật. Thường dùng pháp phương tiện thiện
xảo, thuyết pháp vi diệu vô thượng mà tâm vô
sở úy, độ vô số chúng sinh, đều khiến cho
thành tựu Nhất thiết trí huệ. Trong cõi nước Thiện Tịnh đã đoạn dâm dục, chúng sinh đều từ hoa sen hóa sinh ra, đủ tướng trang nghiêm, dùng sự nghe kinh, thiền duyệt, pháp hỉ sung mãn làm thức ăn, một khi vui mừng thì được an lạc vô hạng. Có người nói: ‘’Không có người nữ ở trong nước đó thì làm sao có người ?‘’ Bạn chỉ biết có người nữ mà không biết đoạn dục khử ái, tính tịnh thể sáng.
Nước đó chẳng có
người nữ, chẳng có đường ác, càng chẳng nghĩ
đến sự ăn uống. Ngài Phú Lâu Na viên mãn tất
cả công đức, tự giác, giác tha, giác hạnh
viên mãn, sẽ được đồng cư tịnh độ như thế.
Bồ Tát Thanh Văn, trời người rất đông không
thể biết được số lượng, chỉ lược nói thôi,
tránh khiến cho chúng sinh sinh ra nghi
hoặc.
A
Ở trong chúng đó,
người ta độ trước nhất là Kiều Trần Như, ông
ta là vị đệ tử lớn tinh tấn siêng năng tu
đạo và chủ trì Phật pháp, sẽ cúng dường sáu
vạn hai ngàn ức Ðức Phật, sau đó sẽ thành
Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai. Ngài Kiều
trần Như, tức "giải bổn tế", hiểu rõ bổn lai
diện mục. Ngài là người thọ giới cụ túc đầu
tiên, cũng là đệ tử ngộ trước nhất, cho nên
làm trưởng lão của một nghìn hai trăm vị A
Ngài Ca Lưu Ðà Di đó, vì giáo hóa chúng sinh mà giả hiện thái độ không giữ quy cụ, là một sự dạy đạo ‘’phản diện‘’. Ưu Ðà Di là học trò của Ngài A Nan, nghĩa là "xuất hiện", nghiêm thủ giới luật nhất. A Nậu Lâu Ðà, đã từng bảy ngày không ngủ, khiến cho cặp mắt bị mù. Một lần nọ, Phật thuyết pháp, song Ngài A Nậu Lâu Ðà ngủ gục bị Ðức Phật quở. Sau khi Ngài tỉnh dậy, bèn phát nguyện từ đây về sau không giải đãi nữa, chẳng tham ngủ nữa. Kết quả vì Ngài không ngủ, dụng công quá độ, mà cặp mắt bị mù. Phật thương xót Ngài, bèn dạy Ngài tu tam muội kim cang chiếu minh. Chẳng bao lâu, Ngài chứng được thiên nhãn thông, quán chiếu được ba ngàn thế giới, như thấy quả trái cây trong lòng bàn tay. A Nậu Lâu Ðà nghĩa là "không nghèo". Thuở xưa, Ngài từng cúng dường một vị Tỳ Kheo đã chứng quả Thánh. Vị Thánh nhân nầy, khi tu hành tại nhân địa thì chỉ tu huệ mà chẳng tu phước, cho nên đi khất thực luôn luôn ôm bát không về. Do đó, Ngài quyết định mỗi bảy ngày mới hóa duyên một lần, mỗi lần hóa duyên bảy nhà, nếu chẳng có ai cho gì thì không ăn.
Một ngày nọ, Ngài
ôm bát không trở về, đi ngang qua đồng
ruộng, thì có một nông phu mới làm xong,
nghỉ việc chuẩn bị để ăn cơm trưa. Từ xa
thấy vị tu hành ôm bát không đi ngang qua.
Ngài A Nậu Lâu Ðà phát tâm cúng dường phần
cơm trưa của mình cho vị tu hành đó. Tuy
Ngài A Nậu Lâu Ðà rất đói, song vì tâm thành
muốn cúng dường cho vị đó. Vị tu hành đó
nhận sự cúng dường rồi bèn hồi hướng: Nghĩa là:
Những gì mình bố
thí Ly Bà Ða dịch ra nghĩa là "Tinh tú". Kiếp Tân Na dịch ra nghĩa là "Phòng tú", vì sao thứ tư ở trong Nhị Thập Bát Tú. Ngài Kiếp Tân Na và Ngài Ly Bà Ða đều thuộc về tinh tú. Tại sao lại như thế ? Vì xưa kia, cha mẹ của các Ngài gần về tuổi già mà chẳng có con, cho nên bèn ở trước bàn thờ Nhị Thập Bát Tú mà cầu con, phát nguyện siêng tu làm việc lành, cúng sường Tam Bảo, kết quả được mãn nguyện, cho nên được tên là Phòng Tú (Kiếp Tân Na). Bạc Câu La ở trong quá khứ từng giữ giới chẳng sát sinh, cho nên được năm thứ phước báo. Ngài vừa chào đời thì cười hà hà, mẹ của Ngài thấy vậy rất sợ hãi, nghi là yêu quái, mới đem Ngài bỏ vào chảo dầu sôi, muốn dùng dầu sôi thiêu chết Ngài, song chẳng thành công. Kế tiếp, lại đem Ngài bỏ vào nước sôi, muốn nấu chết Ngài, song lại thất bại. Sau đó, đem Ngài bỏ xuống biển sâu, song bị cá nuốt vào bụng, con cá nầy bị người đánh cá câu được, mổ bụng ra, bỗng thấy đứa bé ở trong bụng cá còn sống. Ngài Bạc Câu La có năm điều không hại Ngài chết được, tức là :
1. Lửa đốt không
chết. Châu Ðà căn cơ sâu dày, quán thông Phật lý, đối với kinh điển qua mắt chẳng quên. Song người em căn tánh rất ngu độn, đọc kinh sách chẳng nhớ câu nào, giải đãi chẳng tinh tấn. Do đó, mọi người đều nghị luận về tính cách rất cực đoan của hai anh em.
Nghe vậy Ngài Châu
Ðà quở trách người em nói: ‘’Chú mày thật là
vô dụng, năm trăm vị A
Tin rằng, những người đang nghe pháp ở đây, thông minh hơn Ngài nhiều, đừng nói chổi quét hai chữ, dù bốn chữ một khi nghe thì nhớ liền. Niệm ‘’A Di Ðà Phật‘’ càng dễ hơn nữa, song sao chúng ta vẫn chưa khai ngộ ? Tôn giả tuy nhiên ‘’ngu‘’ hơn chúng ta, song ‘’khai ngộ‘’ mau hơn chúng ta. Ðó là vì tôn giả ở trong đời quá khứ, đã từng cúng dường ba đời tất cả chư Phật, nuôi lớn căn lành, cho nên căn cơ sâu dày. Hiện tại, vì ứng cơ giáo hóa chúng sinh, nên cố ý hiện tướng ngu độn, vì chúng sinh làm mô dạng như thế. Chúng sinh thấy Ngài ngu si như thế, mà còn có thể khai ngộ, mình còn thông minh hơn Ngài nhiều, cơ hội khai ngộ chắc chắn rất nhiều, cho nên cố gắng tinh tấn tu hành. Sa Già Ðà trong đời quá khứ, tự cho rằng thông minh, tuy hiểu pháp lý vi diệu, song chẳng muốn vì chúng sinh thuyết pháp, đó là tham lam pháp, chảng bố thí pháp, cho nên đời nầy mắc quả báo ngu si. Chẳng muốn người khác thông minh, thì chính mình càng biến thành không thông minh. Do Ngài đã từng gieo trồng căn lành sâu dày, nên vẫn có một ngày khai mở trí huệ.
Chúng ta học Phật
đã lâu, nhưng đã lâu mà vẫn chưa khai ngộ.
Vì thuở xưa chưa từng cúng dường Tam Bảo và
tất cả chư Phật ba đời. Ðây cũng ví như đang
vun bồi cây, nếu gốc rễ sâu dày, thì cây sẽ
phát triển sum sê. Ngược lạ, nếu ban đầu gốc
rễ chẳng vững chắc, thì dần dần cành lá nhất
định sẽ khô rụng. Do đó, làm người phải
trồng nhiều căn lành, làm nhiều việc thiện,
công đức viên mãn, thì tự nhiên sẽ khai ngộ.
Ai muốn phước huệ song tu thì một mặt tu
hành, một mặt cũng phải làm việc thiện, nên
nhớ đừng tham lam pháp, hiểu một câu thì
phải nói một câu, phải cung hành thực tiễn,
lấy thân làm phép tắc. Do đó, có câu :
Ở trên nói về các
vị A
Ở trong cõi nước
thanh tịnh đó, chúng Bồ Tát đều dũng mãnh
tinh tấn, đều thăng lên lầu các đẹp đẽ, được
đạo phẩm vi diệu nhất, du hành đến cõi nước
mười phương, để tu các công đức, dùng đồ
cúng bằng bảy báu để cúng dường chư Phật.
Làm các sự cúng dường như thế rồi, trong tâm
rất vui mừng sung sướng, sinh đại hoan hỉ,
trong chốc lát trở về bổn quốc, vì có đủ thứ
thần thông nên được như thế.
Ca Diếp ông đã
biết, ta vì năm trăm vị A
Nay mới biết chúng
con tu hành, đáng chứng được hết thảy công
đức trí huệ của Như Lai. Nếu ai tự cho tứ
quả tiểu thừa là cứu kính Niết Bàn, thì ví
như có người đến nhà bạn thân say rượu mà
nằm. ‘’Người‘’ ví cho chính mình, ‘’nhà bạn
thân‘’ ví cho Ðức Phật. Say rượu mà nằm,
‘’say‘’ biểu thị cho rượu năm dục mê hoặc,
cho nên hôn mê ngu si, được ít cho là đủ.
Lúc đó, Phật độ xong chúng sinh ở thế giới
nầy, thì đến nước khác. Bận ‘’việc quan phải
đi‘’. Thấy gã nầy duyên đã hết, nên đến
phương khác giáo hóa chúng sinh, dùng thật
tướng diệu lý giáo hóa chúng sinh, dùng đại
thừa để giáo hóa. Song người đó chẳng có trí
huệ, chỉ trầm mê ở trong mộng say ngu si,
nằm chẳng dậy, chẳng nghe pháp đại thừa. Khi
tỉnh dậy thì biết muốn cầu pháp, do đó bèn
đến nước khác, hành pháp tiểu thừa. Vì ăn
mặc nên cầu học tiểu thừa, như lạnh đi tìm
áo, như đói đi tìm cơm, rất là khốn khổ vô
cùng, đi khắp nơi tìm cầu, không thể tự an,
ở trong tiểu thừa được ít cảnh giới, thì tự
cho là đủ, càng chẳng tinh tấn.
Hôm nay đức Thế
Tôn giác ngộ chúng con, bèn bảo rằng : Này
các Tỳ Kheo ! Chỗ các ông được chẳng phải
rốt ráo diệt độ. Từ lâu, ta đã khiến cho các
ông trồng căn lành của Phật, dùng phương
tiện nên thị hiện tướng Niết Bàn, mà các ông
cho rằng thật được diệt độ.
Ðức Phật cũng như
bạn thân của chúng con, thuở xưa làm Bồ Tát
Diệu Quang giáo hóa chúng con, khiến cho
chúng con phát tâm nhất thiết trí huệ, song
chúng con từ lâu không gần gũi Bồ Tát, chẳng
biết chẳng hay, quên mất pháp đại thừa, chỉ
biết dụng công phu trên năm dục, quay lưng
với giác ngộ mà hợp với sáu trần, còn tự cho
rằng đã được vô thượng đạo. Quả vị tiểu thừa
A
Thuở xưa, đã từng
phát nguyện lớn, nhất thiết trí nguyện vẫn
chẳng mất, hôm nay gặp đấng đại giác Thế
Tôn, giác ngộ cho chúng con. Nếu ai trong
thuở xưa đã từng phát đại nguyện, thì đời
nầy nhân duyên được gặp cũng sẽ phát đại
nguyện, trồng xuống hạt giống đại thừa. Như
các vị A
Này các Tỳ Kheo!
Hiện tại các ông chứng được quả vô học, chỉ
là tiểu thừa, chẳng phải thật diệt độ. Ta từ
nhiều kiếp đến nay, khiến cho các ông gieo
trồng căn lành của Phật, dùng phương tiện
quyền xảo thị hiện tướng hữu
Bấy giờ, Ngài A Nhã Kiều Trần Như muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng :
Chúng con nghe
vô thượng Sau khi Ðức Phật ngộ đạo, vốn trước hết muốn nói Kinh Pháp Hoa đại thừa, chỉ vì chúng sinh ngu si ám độn, chẳng thể tiếp thọ, cho nên trước hết nói tam tạng, Kinh Phương Ðẳng, tiếp theo nói Bát Nhã, dần dần vào viên đốn giáo, chê tiểu thừa khen đại thừa. Khai quyền hiển thật, vì thật thí quyền, đó tức là ‘’khổ thiết trách gã‘’. ‘’Chỉ cho nơi buộc châu‘’ : Chỉ cho vốn đã có đủ Phật tánh, khiến cho họ biết tu pháp môn đại thừa, như hàng Thanh Văn, thấy được Phật tánh, như nghèo được châu báu, vui mừng tin nhận. Nếu ai thấu rõ và thực hành tu pháp đại thừa, tức là người giàu có, có Phật pháp ở trong tâm. ‘’Giàu có các của cải, tha hồ hưởng năm dục‘’ : Sắc thanh hương vị xúc, đâu chẳng phải là tam muội, tùy duyên ứng dụng, rộng lớn tư tại, được thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn. Như người muốn sắc thì có sắc, muốn thanh thì có thanh, cho đến hương, vị, xúc, cũng lại như thế, đó chẳng phải là diệu chăng ? ‘’ Tài sắc danh thực thùy‘’: Thảy đều đầy đủ viên mãn, giống như sơ tổ Ma Ha Ca Diếp nhập định ở trong núi Kê Túc, đó chẳng phải là ‘’ngủ lâu dài‘’ chăng ? Ngủ một ngàn năm cũng chẳng kể là lâu dài, mấy vạn năm cũng chỉ trôi qua nột nháy mắt. ‘’Thực‘’, trong pháp giới có thực vật là ngon hơn hết. ‘’Danh‘’, được danh mà người không thể được. Muốn ‘’tài‘’ thì chỉ cần tùy ý dũi tay một cái thì có được. Chúng con cũng như gã bần cùng không khác, quay lưng với sự giác ngộ mà hợp với trần lao. Ðức Thế Tôn thấy vậy thương xót, luôn giáo hóa khiến cho chúng con gieo trồng nguyện vô thượng bồ đề rộng lớn. Song chúng con chẳng có trí huệ, chẳng biết thuở xưa đã từng phát nguyện, cũng chẳng biết vốn có Phật tánh, được chút ít sự vui không sinh không diệt mà tự cho là đủ, chẳng cầu pháp môn đại thừa. Bây giờ nghe Ðức Phật nói, mới giác ngộ đây chẳng phải là cứu kính, chỉ là ‘’hoá thành‘’ ở giữa đường, chẳng phải thật diệt độ. Chỉ khi nào đắc được trí huệ của Phật, mới là rốt ráo diệt độ. Phật thọ ký cho chúng con sẽ thành Phật rồi, mới biết đại thừa là vô thượng chánh biến tri giác, cõi nước đó trang nghiêm thù thắng, và lần lược thọ ký, khiến cho khắp thân tâm của chúng con vui mừng vô kể.
Người cầu Phật pháp
phải đầy đủ tâm nhẫn nhục, chẳng sợ gian nan
khốn khổ mới có hy vọng thành tựu. Ở trên nói về ‘’tha hồ hưởng năm dục‘’, chỉ bất quá là ví dụ, hình dung biểu hiện sức thần thông tự tại của đại quyền Bồ Tát. Phàm là Bồ đề tát đỏa có căn tánh đại thừa, không thể nào ít có sự ‘’an lạc‘’, không chấp cảnh giới nầy, thì gọi là cảnh giới lành, nếu chấp cảnh giới nầy, thì tức là cảnh giới ma. Bồ Tát chẳng trụ tâm vào bất cứ chỗ nào. Nếu ai muốn thành tựu Phật đạo, thì trước phải dứt trừ lòng dâm dục, dục là gốc của khổ, bằng không thì tướng chúng sinh điên đảo. |
|
| ||||||