KINH DIỆU PHÁP
LIÊN HOA
Giảng giải
: Hoà Thượng
Tuyên Hoá
Hán dịch :
Ngài Cưu Ma La Thập
Việt dịch : Tỳ
Kheo Thích Minh Ðịnh
-o0o-
TẬP 02
Quyển 03
Phẩm
Dược Thảo Dụ Thứ Năm
Dược là thuốc trị
bệnh, thảo là thảo mộc (cỏ), cũng dụ cho
chúng sinh thế tục. Nếu có bệnh thì giáo
pháp của Như Lai là thuốc, quán sát căn cơ
nói pháp, tùy theo bệnh mà cho thuốc. Cần
phải có căn cơ và giáo pháp tương ưng, thì
thuốc chữa trị mới hay. Cho nên phẩm nầy,
Ðức Phật dùng cỏ thuốc làm ví dụ, chữa trị
bệnh thân và tâm của chúng sinh.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ngài Ma Ha Ca
Diếp, và các vị đại đệ tử : Lành thay, lành
thay ! Ca Diếp khéo nói công đức chân thật
của Như Lai, đúng như lời các ông vừa nói.
Như Lai còn có vô lượng vô biên A tăng kỳ
công đức, dù các ông trải qua vô lượng ức
kiếp, nói cũng không hết được.
Lúc đó, Ðức Phật bảo Ngài Ca Diếp và các vị đệ
tử trong pháp hội : Lành thay, lành thay !
Ca Diếp nói thật là hay, ông thật lãnh hội
được tâm ý của Như Lai, pháp của Như Lai
nói, đạo lý của ông nói, tơ hào chẳng sai.
Như Lai chẳng có bờ mé, A tăng kỳ, vô lượng
số mà công đức của Phật cũng vô lương vô
biên. Dù các ông có trải qua vô lượng ức
kiếp, nói cũng chẳng bao giờ hết được, các
ông hằng ngày giảng nói, cũng không nói hết
được công đức nầy.
Ca Diếp nên biết ! Như Lai là vua của các
pháp, nếu có nói ra lời gì, đều không hư
vọng, trong tất cả các pháp, Phật đều dùng
trí huệ phương tiện mà diễn nói, pháp của
Phật nói ra, thảy đều đến nơi Nhất thiết
trí.
Ca Diếp ông nên biết, Như Lai là vua của tất
cả các pháp, pháp của Như Lai nói, đều là
pháp chân thật không hư. Tất cả pháp bao
quát đại thừa, nhị thừa, và tam thừa. Ðại
thừa là Phật thừa, nhị thừa là Thanh Văn
Duyên Giác thừa, tam thừa là Bồ Tát thừa.
Như Lai đều khéo léo, dùng phương tiện diễn
nói diệu pháp, đều dùng (trí huệ) Bát nhã ba
la mật đa, Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng
trí để nói pháp.
Như Lai quán sát, biết được chỗ quy về của
tất cả các pháp, cũng biết được tâm lý trong
thâm tâm của tất cả chúng sinh, thông đạt vô
ngại, và thấu rõ rốt ráo hết các pháp, mở
bày Nhất thiết trí huệ cho chúng sinh.
Phật có ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông.
Ba thân là :
Pháp thân
Hóa thân
Báo thân.
Bốn trí là :
Ðại viên cảnh trí
Diệu quán sát trí
Bình đẳng tính trí
Thành sở tác trí.
Năm nhãn là :
1. Phật nhãn
2. Pháp nhãn
3. Huệ nhãn
4. Thiên nhãn
5. Nhục nhãn.
Sáu thông là :
1. Thiên nhãn thông
2. Thiên nhĩ thông
3. Tha tâm thông
4. Túc mạng thông
5. Thần túc thông
6. Lậu tận thông.
Như Lai dùng trí huệ quán sát, mà biết được
tất cả các pháp. Pháp có tám muôn bốn ngàn
thứ, nếu dùng mỗi một pháp để nói, thì phí
thời gian lâu dài, cho nên nói tất cả các
pháp. Các pháp quy về đâu ? Phật nói tất cả
các pháp chẳng lìa tất cả tâm, tất cả pháp
sinh ra, cũng vì sở hiện của tâm vậy, do đó,
Phật mới biết được tâm lý của tất cả chúng
sinh. Như trong Kinh Kim Cang có nói:
‘’Chúng sinh có bao nhiêu thứ tâm,
Như Lai đều biết đều thấy‘’.
Chúng sinh khởi tâm động niệm, Phật đều thấy
rõ như chỉ bàn tay, chẳng có gì mà không
biết, chẳng có gì mà không thấy, thông đạt
vô ngại, mới có thể mở bày Nhất thiết trí
huệ cho tất cả chúng sinh.
Ca Diếp ! Ví như núi sông, khe suối, đất
đai, trong ba ngàn đại thiên thế giới, sinh
ra cây cối lùm rừng, và các cỏ thuốc, bao
nhiêu thứ, loại, tên gọi, màu sắc, đều khác
nhau. Mây dày phủ khắp ba ngàn đại thiên thế
giới, đồng thời đều mưa xuống như nhau, thấm
nhuần hết thảy cây cối lùm rừng và các cỏ
thuốc. Cây nhỏ rễ nhỏ, nhánh nhỏ lá nhỏ; cây
vừa rễ vừa, nhánh vừa lá vừa; cây lớn rễ
lớn, nhánh lớn lá lớn. Các cây lớn nhỏ, tùy
theo sự lớn, vừa, nhỏ, mà hấp thụ khác nhau.
Một đám mây mưa xuống, mà tùy theo giống
loại cây cỏ, mà được sinh trưởng, đơm hoa
kết trái, tuy là một mảnh đất sinh ra, một
trận mưa thấm nhuần, mà các cây cỏ mỗi thứ,
đều có sự khác nhau.
Ca Diếp ! Ví như ba ngàn đại thiên thế giới,
một mặt trời mặt trăng, một núi Tu Di, một
bốn châu thiên hạ, cộng lại làm một thế
giới. Một ngàn mặt trời mặt trăng, một ngàn
núi Tu Di, và một ngàn bốn thiên hạ làm một
tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế
giới, làm một trung thiên thế giới. Một ngàn
trung thiên thế giới, làm một đại thiên thế
giới, vì ba lần một ngàn, cho nên gọi là ba
ngàn đại thiên thế giới.
Ở trong sơn, hà,
đại địa, khe suối, sinh ra các thứ cây cối,
hoa, cỏ, lùm rừng, đều có tên gọi và màu sắc
khác nhau. Trên bầu trời phủ đầy mây dày
đặc, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới đều
như nhau, mưa xuống cũng đều như nhau. Tất
cả thân, rễ, cành, lá, của cây cối hoa cỏ,
đều tùy theo giống loại lớn, vừa, nhỏ, mà
hấp thụ lượng nước khác nhau. Thân rễ cành
lá lớn, thì hấp thụ nhiều, thân rễ cành lá
vừa, thì hấp thụ ít hơn, thân rễ cành lá
nhỏ, thì hấp thụ càng ít hơn. Ðây cũng là
phẩm ví dụ phân biệt lớn, vừa, nhỏ. Tất cả
cây cỏ vốn từ một mảnh đất sinh ra lớn lên,
mà mưa xuống cũng một lượng nước giống nhau,
song vì thân rễ cây lớn, cây vừa, cây nhỏ,
nên sức hấp thụ lượng nước đều khác nhau.
Song, vẫn lớn lên đơm hoa kết quả như nhau.
Ðó là Phật ví dụ căn cơ của chúng sinh, tất
cả cây cối hoa cỏ lùm rừng, có phân ra lớn,
vừa và nhỏ.
Ca Diếp nên biết ! Như Lai cũng lại như
thế, xuất hiện ra đời như vầng mây lớn, dùng
âm thanh lớn, vang khắp thế giới trời,
người, A tu la. Như vầng mây lớn kia, che
khắp ba ngàn đại thiên thế giới, ở trong đại
chúng mà xướng lời nầy : Ta là Như Lai, ứng
cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện
thệ thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự
trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn.
Người chưa được độ, thì khiến cho được độ,
người chưa hiểu, thì khiến cho được hiểu,
người chưa an, thì khiến cho được an, người
chưa được Niết bàn, thì khiến cho được Niết
bàn. Ðời nầy đời sau, Phật đều biết đúng như
thật. Ta là bậc Nhất thiết trí, bậc thấy tất
cả, bậc biết đạo, bậc khai mở đạo, bậc
thuyết đạo. Các ông : Trời, người, A tu la,
đều nên đến đây để nghe pháp.
Ca Diếp ! Ông nên biết, Như Lai cũng như thế.
Ta xuất hiện ra đời giống như vầng mây lớn
hiện ra đời, vì đại sự nhân duyên giáo hóa
chúng sinh, mới xuất hiện ra đời. Do đó,
dùng tiếng pháp âm lớn nhất vang khắp, nói
với thế gian trời, người, A tu la, pháp của
ta nói như vầng mây lớn, che khắp ba ngàn
đại thiên thế giới, ở trước mọi người nói :
Ta là Như Lai.
Tại sao Phật vẫn
còn có cái ‘’Ta‘’? Kỳ thật, nếu minh bạch
được ‘’Như Lai‘’ thì chẳng có cái ‘’ta‘’;
Như Lai tức là ngồi đạo như thật, lai thành
chánh giác. Ví như lúc giảng Kinh, người
thông minh thì nhớ nhiều nhất, người trung
bình thì nhớ ít hơn một chút, người ngu si
thì nhớ rất ít. Cũng như trời mưa xuống, tùy
theo cây cối hoa cỏ lớn nhỏ khác nhau, nên
hấp thụ lượng nước cũng khác nhau. Ðồng lý
ấy, bậc trí huệ cao thì được huệ nhiều một
chút, kẻ trí huệ ít thì được ít huệ. Mọi
người đều đang nghe Kinh, song trình độ hiểu
biết đạo lý chẳng giống nhau. Có người nghe
rồi, thì biết những cây cối hoa cỏ nầy là ví
dụ cho người, hoặc có người biết mưa xuống
hoặc mây dày phủ giăng, là chỉ Phật đang nói
pháp. Nếu chẳng hiểu thì sẽ nói : ‘’Tôi
chẳng hiểu chút nào, sao cứ nói nào là cây
cối hoa cỏ‘’ ! Nếu biết mình một chút cũng
chẳng minh bạch, tức là có một sự biết mình
chẳng minh bạch, tức cũng là đang bắt đầu đi
trên con đường minh bạch. Nhất là người chưa
nghe qua Phật pháp, khi nghe lần đầu tiên,
thì chắt chắn chẳng hiểu. Song, nếu biết
mình không minh bạch, đó là đã minh bạch một
chút. Hôm nay một chút, ngày mai một chút,
từng chút từng chút tích lũy dần dần, sẽ tụ
ít thành nhiều.
‘’Như Lai‘’ còn có mười ý nghĩa khác :
1. Ứng Cúng: Ðáng tiếp nhận sự cúng dường.
2. Chánh Biến Tri: Biết vạn pháp duy tâm là
chánh tri, biết tâm sinh vạn pháp là biến
tri.
3. Minh Hạnh Túc: Có trí huệ quang minh, tu
hành đến quả vị viên mãn.
4. Thiện Thệ: Ðã đi đến nơi tốt lành.
5. Thế Gian Giải: Trên thế gian chẳng có ai
hiểu biết hơn Ngài.
6. Vô Thượng Sĩ: Chẳng có ai cao hơn Ngài.
7. Ðiều Ngự Trượng Phu: Bậc đại trượng phu
điều phục và chế ngự được tất cả chúng sinh.
8. Thiên nhân sư: Thầy của chư thiên và loài
người.
9. Phật.
10. Thế Tôn: Là bậc tôn kính ở thế gian và
xuất thế gian.
Cho nên, Phật có đủ thứ nhân duyên công đức,
hay khiến cho người chưa được độ thì được
độ, độ họ đến chỗ chẳng còn thị phi tốt xấu,
thiện ác sinh tử. Ðồng thời cũng khiến cho
người không an lạc thì được an lạc, khiến
cho người chưa được Niết Bàn thì được:
Thường, lạc, ngã, tịnh, vui tịch diệt. Ðối
với đời này, đời sau và tất cả, ta đều thấu
rõ biết được chân thật, thấy được, mà còn
biết khai ngộ tu đạo, giảng kinh thuyết
pháp, khai diễn đủ thứ pháp môn tu hành. Các
ông trời, người, A tu la đều nên đến đây để
nghe kinh nghe pháp.
Ðồng lý ấy, tại pháp hội nghe kinh nầy, ngoài
các vị ra, còn có thiên long bát bộ. Nếu bạn
đã khai mở ngũ nhãn lục thông thì sẽ nhìn
thấy rất rõ ràng.
Bấy giờ, có vô số ngàn vạn ức loại chúng
sinh, đều đến chỗ đức Phật để nghe pháp. Lúc
đó, đức Như Lai quán sát các căn lợi độn,
tinh tấn, hay giải đãi, của các chúng sinh
đó. Tùy theo sự kham nhận của họ, mà vì họ
nói pháp, đủ thứ vô lượng, đều khiến cho họ
vui mừng, mau được lợi lành. Các chúng sinh
đó, nghe pháp đó rồi, hiện đời được yên ổn,
đời sau sinh vào chỗ tốt lành, được thọ
hưởng niềm vui trong đạo, cũng được nghe
pháp. Nghe pháp rồi, lìa được các chướng
ngại, ở trong các pháp, tùy theo sức của
mình kham được, dần dần được vào đạo.
Lúc đó, có vô số ngàn vạn ức loài chúng sinh,
đến pháp hội nầy, nghe Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa. Ðức Như Lai quán sát tỉ mỉ nhân duyên
của chúng sinh, biết họ có rất nhiều căn cơ,
có người lợi căn rất thông minh, cũng có
những người ngu si ám độn, có những người
dũng mãnh tinh tấn, cũng có người lười biếng
giải đãi. Do đó, Phật vì người tinh tấn nói
pháp tinh tấn, vì người giải đãi nói pháp
giải đãi, khiến cho họ nỗ lực tiến tới, tùy
thuận căn tính của họ, đáng tiếp thọ pháp gì
thì nói pháp đó, nếu không thể tiếp thọ thì
chẳng vì họ nói pháp nầy. Cho nên, ban đầu
Phật chẳng nói thật pháp, chỉ nói quyền
pháp, dùng đủ thứ vô lượng pháp môn, vì vô
lượng loài chúng sinh mà nói, mục đích khiến
cho chúng sinh vui mừng tin nhận thọ trì. Do
sự thích nghe pháp, mà dần dần sẽ đi trên
con đường của Phật tu học, sẽ nhanh chóng
đắc được lợi ích. Chúng sinh nghe pháp rồi,
hiện đời được yên ổn, đời sau được sinh về
cõi trời, hoặc sinh vào chỗ giàu sang ở nhân
gian, đời đời kiếp kiếp có thể nghe pháp. Tu
Phật đạo đắc được đủ thứ khoái lạc, cũng chỉ
có nghe Phật pháp mới thấu rõ lý, mới lìa
được đủ thứ phiền não chướng ngại. Như vậy,
rất dễ dàng tùy sức của mỗi người mà vào
đạo. ‘’Ðạo‘’ là giai đoạn khai ngộ, dần dần
đạt đến được quả vị liễu sinh thoát tử.
Như vầng mây lớn đó, mưa xuống khắp tất cả
cây cối lùm rừng, và các cỏ thuốc, tùy theo
giống loài mà thấm nhuần đầy đủ, đều được
lớn lên. Như Lai nói pháp, một tướng một vị,
đó là tướng giải thoát, tướng lìa khổ, tướng
sinh diệt, rốt ráo đến nơi Nhất thiết chủng
trí. Nếu có chúng sinh nào, nghe được pháp
của Như Lai nói, hoặc thọ trì đọc tụng, theo
lời nói mà tu hành, thì sẽ được công đức, tự
mình chẳng hay biết. Tại sao ? Vì chỉ có Như
Lai mới biết được, chủng tử sắc tướng thể
tính của chúng sinh đó, nghĩ việc gì, niệm
việc gì, tu việc gì, nghĩ thế nào, nhớ thế
nào, tu thế nào ? Dùng pháp gì để nghĩ, dùng
pháp gì để nhớ, dùng pháp gì để tu ? Dùng
pháp gì được pháp gì ? Chúng sinh trụ đủ thứ
các bậc, chỉ có Như Lai thấy được như thật,
thấu rõ chẳng có chướng ngại.
Phật nói pháp giống như vầng mây mưa xuống,
cây cối hoa cỏ lùm rừng, là chỉ tất cả chúng
sinh. Tất cả chúng sinh gồm có: Bồ Tát,
Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, người, A tu la,
súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục. Tùy theo
chủng tính khác nhau của họ mà thuyết pháp,
khiến cho họ được sinh trưởng. Giống như
trời mưa xuống thấm nhuần đầy đủ, cây cối cỏ
thuốc đều được lớn lên. Phật nói pháp là một
tướng một vị: Một tướng là chân như thật
tướng của tất cả chúng sinh. Chân tướng tức
là nhất địa. Ðã chứng được chân lý nhất thừa
gọi là nhất vị. Tất cả chúng sinh chưa giải
thoát, đều khiến cho họ được giải thoát;
chúng sinh chưa sinh trưởng thì khiến cho họ
sinh trưởng; chúng sinh đã được sinh trưởng
thì khiến cho được giải thoát, lìa khỏi
tướng khổ não, tướng sinh diệt. Ðắc được trí
huệ của Phật, tức cũng là Nhất thiết chủng
trí. Giả như, có loại chúng sinh nghe Phật
pháp rồi, bèn y theo pháp tu hành, thì Phật
dạy họ tu như thế nào. Phật pháp là đại đồng
tiểu dị, giống như chúng ta hiện nay nghe
pháp, công đức và quả báo đắc được không thể
nghĩ bàn, song chính mình chẳng biết ! Tại
sao ? Chỉ có Ðức Như Lai mới biết bốn pháp
của loại chúng sinh nầy: Chủng tướng thể
tính. ‘’Chủng‘’ là chủng tử bổn thân của
chúng sinh, chủng tử nầy có thể gieo trồng
vào một trong mười pháp giới nào bất cứ,
hoặc hạt giống Phật, hạt giống bồ đề, hạt
giống Duyên Giác, hạt giống Thanh Văn, hạt
giống chư thiên, hạt giống loài người, hạt
giống địa ngục, hạt giống ngạ quỷ, hạt giống
súc sinh. ‘’Tướng‘’ là pháp bên ngoài, cũng
là sắc. ‘’Thể‘’ là chủ thể, trong thân thể
có chủ tể. ‘’Tính‘’ là đối bên trong mà nói,
tức là bốn pháp nầy.
Ba pháp là pháp
nghe, pháp suy nghĩ, pháp tu (văn, tư, tu).
Văn huệ tức là nghe kinh nghe pháp nhiều
lần, thì sau đó trong sự bất tri bất giác
sinh ra trí huệ. Nếu chẳng nghe pháp, thì dù
người thông minh thế nào cũng chẳng hiểu,
đừng nói đến khai mở trí huệ. Tư huệ tức là
đả tọa tham thiền, dùng tư duy huệ tu tập.
‘’Thiền na‘’ dịch là tĩnh lự, tẩy sạch niệm
lự cho thanh tịnh thì sẽ phát huệ. Con người
trước hết phải có văn huệ, sau đó mới phát
tư huệ; phải đạo thì tiến, trái đạo thì lùi.
Tư tưởng sáng suốt thì phải dụng công tu
hành, sớm cũng suy gẫm, tối cũng suy gẫm,
sớm tối đều phải dũng mãnh tinh tấn tu hành,
song phải dùng trí huệ để tu, đừng có tu
đuôi luyện mù, mọi người tiến tới con đường
Phật đạo, còn bạn thì ngược lại chạy hướng
khác.
Hai pháp là nhân
quả. Một pháp là pháp Nhất thiết đạo chủng
trí, là chân thật trí, tức cũng là một thật
tướng. ‘’Niệm việc gì’’ ? Dùng tâm niệm,
niệm việc Phật. ‘’Nghĩ việc gì’’ ? Nghĩ việc
pháp. ‘’Tu việc gì’’ ? Tu việc Tăng. Thế thì
làm thế nào để nhớ nghĩ tu Phật, pháp, Tăng
? Tức là từ từ, mỗi phút mỗi giây cũng không
sao quên được Phật pháp tăng. Trên phương
diện tư tưởng phải bình tâm tĩnh khí, không
khởi vọng tưởng, suy gẫm đạo lý Phật pháp
tăng, tinh tấn tu hành. ‘’Dùng pháp gì
niệm’’ ? Dùng chánh pháp niệm. ‘’Dùng pháp
gì nghĩ’’ ? Dùng chánh pháp nghĩ. Ai dùng
pháp gì tu thì được pháp đó. Dùng Phật pháp
thì được pháp của Phật, dùng ma pháp thì
được pháp của ma. Trồng nhân gì thì được quả
đó, nhân như vầy, quả như vầy. Thế mà chúng
sinh gặp đủ thứ cảnh giới mà không tự biết
được, chỉ có Phật thấy như thật, triệt để
thấu hiểu chúng sinh bậc thượng trung hạ,
thấu suốt thủy chung trong ngoài tất cả sinh
tử. Thế mà, chúng ta chúng sinh minh bạch
sinh, mà chẳng hiểu rõ tử; minh bạch tử, mà
chẳng minh bạch sinh. Chẳng biết bắt đầu
cũng chẳng biết điểm cuối, vì chẳng thấu
suốt mới có chướng ngại. Chỉ có Phật mới
chân chánh thấu suốt chẳng có gì chướng
ngại. Do đó, có bài kệ rằng:
‘’Nguyện tiêu ba chướng dứt phiền não
Nguyện được trí huệ hiểu chơn thật
Nguyện khắp tai chướng đều tiêu trừ
Ðời đời thường hành Bồ Tát đạo‘’.
Ba chướng là: Nghiệp chướng, báo chướng và
phiền não chướng. Ý của bài kệ nầy là nguyện
tất cả tai chướng khắp thế giới như động
đất, nạn gió, nạn nước, nạn hạn hán, nạn lửa
.v.v., đều tiêu trừ, lại nguyện đời đời kiếp
kiếp đều tu Bồ Tát đạo.
Như các cây cối lùm rừng cỏ thuốc kia,
chẳng tự biết tính thượng trung hạ. Như Lai
biết pháp một tướng, một vị, đó là tướng
giải thoát, tướng lìa khổ, tướng sinh diệt,
tướng rốt ráo Niết bàn thường tịch diệt.
Cuối cùng trở về không. Phật biết vậy rồi,
bèn quán tâm mong muốn của chúng sinh, mà
dìu dắt họ, cho nên chẳng vì họ vội nói Nhất
thiết chủng trí.
Ca Diếp ! Các
ông rất là hi hữu, biết Như Lai tùy nghi nói
pháp, hay tin nhận thọ trì. Tại sao ? Vì chư
Phật Thế Tôn tùy nghi nói pháp, khó hiểu khó
biết. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn thuật lại
nghĩa nầy, bèn nói bài kệ rằng:
Tất cả chúng sinh, đắc được sự thấm nhuần mưa
pháp của Phật mà chẳng tự biết, đây cũng
giống như cây cối lùm rừng, hoa, cỏ, cỏ
thuốc, chẳng biết tính chất của mình có phân
ra thượng trung hạ. Ðức Như Lai biết tâm
tính của chúng sinh vốn đầy đủ tướng chân
như. Pháp một vị, cùng tu hành chứng được
diệu lý, gọi là pháp một vị.
‘’Tướng giải
thoát‘’, bổn lai cũng chẳng có tướng giải
thoát, chẳng lìa tướng, chẳng diệt tướng,
chỉ vì chúng sinh có chấp trước, mới nói có
tướng giải thoát. Tức nhiên ‘’lìa tướng‘’
sao còn có ‘’tướng‘’? Tóm lại, quét tất cả
pháp, lìa tất cả tướng, một pháp cũng chẳng
tồn tại, mới được rốt ráo Niết Bàn thường
lạc ngã tịnh, tức là tướng thường tịch diệt,
cho đến một cái diệt cũng chẳng có; cũng là
tướng không, cho đến không cũng chẳng có.
Phật biết tất cả tướng nầy, vốn chẳng có
pháp có thể nói, vô tướng khả đắc, song
trong tâm chúng sinh còn có tham dục, nếu
ban đầu đối với họ nói gì cũng chẳng có,
‘’một pháp chẳng lập, vạn pháp đều không‘’,
thì chúng sinh sẽ không tin, mà còn phỉ báng
Phật pháp. Phật quán sát tâm của chúng sinh,
họ có rất nhiều tập khí mao bệnh, muốn cho
họ từ từ trừ khử tập khí thì họ mới tin; nếu
muốn họ một phen trừ khử đi nhiều mao bệnh
tập khí, để trở về không, thì không thể nào
được. Cho nên, một mặt vì hộ trì Phật pháp,
mặt kia cũng không để cho họ sinh tâm phỉ
báng, do đó Phật chẳng vội vàng nói liền
pháp Nhất thiết chủng trí. Nhất thiết chủng
trí là thật tướng Bát Nhã, Phật thấy căn
tính của chúng sinh chưa thành thục, nên
chẳng nói thật tướng Bát Nhã.
Phật nói: ‘’Ca Diếp
! Các
ông hàng Thanh Văn rất là hi
hữu. Tại sao ? Vì các ông hiểu được Phật tùy
theo cơ nghi, căn tính, nhân quả của chúng
sinh, mà vì họ nói pháp, khiến cho tất cả
chúng sinh tin nhận lãnh thọ, vì pháp của
Phật nói là diệu pháp thù thắng vô thượng,
song chẳng dễ gì minh bạch, cũng chẳng dễ gì
hiểu được, cho nên Phật dùng tâm đại từ bi
thuật lại nghĩa lý ở trên, bèn dùng kệ để
nói.
Pháp Vương phá các cõi
Xuất hiện ra nơi đời
Tùy sở thích chúng sinh
Nói đủ thứ diệu pháp.
Phá các cõi (hữu), ‘’hữu‘’ là gì ? Nhân quả
chẳng mất là hữu. Phật có thể phá được nhân
quả, trước kia nhân quả của bạn trồng, lúc
bạn học Phật rồi, thì có thể dừng lại. Trồng
nhân lành được quả lành, trồng nhân ác được
quả ác. Tại cảnh giới của chúng sinh mà nói,
thì nhân quả đều là hữu. Thành Phật quả rồi,
thì siêu việt được nhân quả, song đây tuyệt
đối chẳng phải bát vô nhân quả. Phật đã vượt
ra ‘’phá các cõi‘’.
‘’Pháp vương‘’ là vua của các pháp, cũng là
vua thuyết pháp. Tương lai các bạn xuất gia
thuyết pháp, cũng phải giống như vua của các
pháp. Học âm thanh "bát âm tứ biết" của
Phật. Bây giờ, giảng kinh thuyết pháp, cũng
là thay thế vua của các pháp thuyết pháp.
Phật là vì phá ‘’ngã‘’ mà xuất hiện ra đời,
song vẫn phải tùy sở thích của chúng sinh,
trước hết phải khiến cho họ hoan hỉ, sau mới
nói đủ thứ pháp. Pháp của Phật nói được phân
ra năm thời tám giáo. Năm thời là:
1. Thời Hoa Nghiêm.
2. Thời A Hàm.
3. Thời Phương Ðẳng.
4. Thời Bát Nhã.
5. Thời Pháp Hoa, Niết Bàn.
Tám giáo là: Tạng, thông, biệt, viên, đốn,
tiệm, mật, bất định giáo.
Ðức Như Lai tôn trọng
Trí huệ rất sâu xa
Lâu chẳng nói pháp nầy
Không vội vàng nói ra.
Ðức Như Lai tôn trọng thật tướng Bát Nhã, tức
cũng là cung kính hộ trì Bát nhã. Bát nhã là
Bát nhã của chúng sinh, vì Bát nhã thật
tướng nầy quá cao sâu, rộng lớn, chẳng đối
cơ với một số hạng người tiểu thừa, cho nên
không thể vì họ nói pháp đại thừa. Cho nên,
từ thời
Hoa Nghiêm đến thời Pháp
Hoa Niết Bàn, trải qua hơn ba
mươi năm, mà Phật chẳng nói thật giáo, chỉ
nói quyền giáo. Thật giáo là thật tướng Bát
nhã, chỉ một Phật thừa, chứ chẳng có thừa
nào khác. Ðạo lý nầy rất lâu cũng không nói,
vì sao không nói ? Vì chúng sinh chẳng những
không tin mà còn phỉ báng. Vì đây là pháp
môn thù thắng tạm thời chẳng nói, đủ thấy
Phật đầy đủ sức nhẫn nại.
Người trí nếu nghe được
Bèn sinh tâm tin hiểu
Kẻ vô trí nghi hoặc
Vĩnh viễn mất giống Phật.
Chúng sinh nào có trí huệ nghe được diệu pháp
nầy rồi, thì sinh tâm tin nhận, biết đây là
pháp đại thừa thì họ sẽ khai ngộ. Song, đối
với kẻ vô trí mà nói thật pháp, thì họ sẽ
sinh nghi hoặc, họ bảo pháp thật là pháp
giả. Trong Phật giáo đại thừa, người vốn vô
vật, cũng chẳng cần giải nói, vốn chẳng có
tướng hợp, tự nhiên cũng chẳng có tướng lìa;
vốn chẳng có tướng sinh cũng chẳng có tướng
diệt. Nếu đối với kẻ vô trí mà nói các pháp
đều là không, không, có phải gì cũng là
không chăng ? Chẳng có gì để học chăng ?
Một khi họ sinh ra tâm nghi hoặc, thì đoạn trừ
hạt giống đại thừa, tức cũng là đoạn hạt
giống Phật, cũng là đoạn hạt giống chúng
sinh, cho nên nói là ‘’Vĩnh viễn mất giống
Phật‘’.
Do đó, nầy Ca Diếp !
Tùy sức họ nói pháp
Dùng đủ thứ nhân duyên
Khiến họ được chánh kiến.
Vì cớ đó, nầy Ca Diếp ! Ông phải minh bạch
Phật tùy theo phương tiện thiện xảo nói
pháp, dùng đủ thứ pháp, đủ thứ duyên, khiến
cho chúng sinh được chánh tri chánh kiến,
chẳng sinh tà kiến.
Ca Diếp ông nên biết !
Ví như vầng mây lớn
Nổi lên trong thế gian
Che phủ khắp tất cả.
Ca Diếp ! Các ông đều phải biết, Như Lai nói
pháp giống như vầng mây lớn, xuất hiện nơi
thế gian, ở trong hư không che khắp tất cả
ba ngàn đại thiên thế giới.
Mây trí huệ đượm nhuần
Ánh chớp sáng chói lòa
Tiếng sấm vang động xa
Khiến chúng sinh vui đẹp.
Vầng mây lớn nầy là vầng mây trí huệ, lượng
mưa đượm nhuần tất cả tâm chúng sinh. Quang
minh Phật giáo như ánh chớp chiếu sáng. Âm
thanh Phật thuyết pháp như tiếng sấm chấn
động, khiến cho trong tâm của chúng sinh vui
đẹp.
Nhật quang bị che lấp
Trên mặt đất mát mẻ
Mây giăng phủ mù mịt
Như có thể nắm lấy.
Trí huệ quang minh của Phật, che lấp chín mươi
lăm thứ tà quang của ngoại đạo. Phật lại
dùng trí huệ mát mẻ, phá chín mươi sáu thứ
phiền não trên thế gian. Mây che giăng mù
mịt, đám mây rất dày, tựa như có thể dùng
tay nắm bắt được.
Trận mưa lớn nhuận khắp
Ðều xối xuống bốn phương
Nước chảy tuôn vô lượng
Thấm ngầm vào lòng đất.
Trận mưa nầy đượm nhuần tất cả, bốn phương đều
mưa xuống vô số lượng nước mưa, khắp lòng
đất đều có nước mưa, hết thảy chúng sinh đều
đượm nhuần được mưa pháp.
Nơi núi sông hang hiểm
Chỗ thâm u sinh ra
Các cây cối cỏ thuốc
Ðủ thứ cây lớn nhỏ.
‘’Nơi núi sông hang hiểm’’: Núi dụ cho đại Bồ
Tát. Sông chỉ cho đại địa, hang hiểm chỉ nơi
nguy hiểm.
‘’Chỗ thâm u sinh ra’’: Dụ cho chỗ đen tối
sinh ra tất cả thực vật. Tam thảo nhị mộc
nầy, tam thảo chỉ là người, trời, Thanh Văn
Duyên Giác thừa. Nhị mộc dụ cho thông giáo
và biệt giáo Bồ Tát, cây nhỏ là chỉ thông
giáo Bồ Tát, cây lớn là chỉ biệt giáo Bồ
Tát.
Trăm giống lúa mộng mạ
Các thứ mía và nho
Nhờ nước mưa đượm nhuần
Thảy đều tốt tươi cả.
Lúa mộng mạ là chỉ tất cả chúng sinh, mía là
dụ cho thiền định thần thông. Nho dụ cho Bát
Nhã, có thể đoạn trừ các hoặc. Mưa đượm
nhuần khiến cho cây cối đều tươi tốt.
Ðất khô khắp thấm nhuần
Thuốc cây đều sum sê
Vầng mây kia mưa xuống
Nước mưa thuần một vị.
‘’Ðất khô khắp thấm nhuần’’: Chỉ cho chúng
sinh chẳng nghe pháp, chẳng có căn lành,
cũng được đượm nhuần. Thuốc cỏ và cây cối
đều sum sê, vầng mây kia mưa xuống thuần một
vị, là chỉ cho một thừa Phật pháp, khiến cho
hết thảy chúng sinh đều được đượm nhuần.
Các cây cối lùm rừng
Tùy theo sự đượm nhuần
Tất cả các cây cối
Bậc thượng trung và hạ.
Cây cối và cỏ thuốc tùy theo thân cây lớn nhỏ,
tức cũng phân ra bậc thượng thì hấp thụ nước
mưa bậc thượng, bậc trung thì hấp thụ nước
mưa bậc trung, bậc hạ thì hấp thụ nước mưa
bậc hạ.
Tùy theo tính lớn nhỏ
Thảy đều được lớn lên
Thân gốc rễ cành lá
Hoa quả đơm đủ màu.
Mỗi thứ cây cối cỏ thuốc, đều được sinh trưởng
đượm nhuần, thân gốc rễ cành lá, nhất là hoa
quả, mỗi thứ đều hiển màu sắc của nó, trông
rất xinh đẹp tốt tươi.
Một trận mưa rưới xuống
Thảy đều được tươi thấm
Theo thể tướng của nó
Tính phân ra lớn nhỏ
Nước đượm nhuần vẫn một.
Tùy thể tướng và căn tính của cây cỏ, hoặc lớn
hoặc nhỏ, nước mưa rưới xuống vẫn như nhau,
song cây cối mỗi thứ đượm nhuần, tùy theo
sức hấp thụ của nó.
Ðức Phật cũng như thế
Xuất hiện ra nơi đời
Ví như vầng mây lớn
Che trùm khắp hết thảy.
Ðã xuất hiện ra đời
Vì tất cả chúng sinh
Phân biệt và diễn nói
Thật tướng của các pháp.
Ðức Phật cũng như thế, xuất hiện ra nơi đời,
giống như vầng mây lớn, che trùm khắp hết
thảy, vì chúng sinh diễn nói Phật pháp.
Chúng sinh nghe minh bạch, thì trừ khử được
mao bệnh tập khí, pháp thân trí huệ khai
sáng, quang minh hiện ra mà chẳng tự biết.
Ðức Phật vì người thế gian nói pháp thế
gian, vì chư thiên nói pháp chư thiên, vì
Thanh Văn nói pháp Thanh Văn, vì Duyên giác
nói pháp Duyên giác, vì đại thừa nói pháp
đại thừa. Phân biệt diễn nói, là quán căn cơ
mà thí giáo, vì người thuyết pháp, tùy theo
đủ thứ căn tính khác nhau, mà nói đủ thứ
Phật pháp, tức là vì thật thí quyền. Trước
kia dùng pháp quyền xảo phương tiện, đều vì
muốn nói giáo nghĩa chân thật cuối cùng.
Ðấng đại Thánh Thế
Tôn
Nơi chư thiên loài người
Trong tất cả chúng hội
Mà tuyên nói lời nầy:
Ta là bậc Như Lai
Là đấng Lưỡng Túc
Tôn
Xuất hiện ra nơi đời
Dường như vầng mây lớn
Thấm nhuần khắp tất cả
Những chúng sinh khô khan
Ðều khiến cho lìa khổ
Ðược yên ổn vui sướng
Hưởng sự vui thế gian
Và sự vui Niết Bàn.
Ðấng đại Thánh Thế Tôn, nơi chư thiên loài
người, trong tất cả chúng sinh, tuyên nói:
‘’Ta là bậc Như Lai Ðấng Lưỡng Túc Tôn’’.
Lưỡng Túc là :
1. Phước đầy đủ: Tu đủ thứ công đức lành.
2. Huệ đầy đủ: Có phước cũng phải tu huệ, tu
sáu độ, bốn pháp nhiếp .v.v. Do đó, có câu:
‘’Tu phước chẳng tu huệ,
Thân voi mang chuỗi ngọc.
Tu huệ chẳng tu phước,
La Hán ôm bát không’’.
Nếu chỉ tu phước mà chẳng tu huệ, tích tụ rất
nhiều phước báu, thành con voi lớn, trên
thân thể đeo mang chuỗi ngọc quý giá, lại
ích gì ? Còn ngược lại, chỉ nghe kinh nói
pháp, chẳng làm công đức, chẳng làm việc
lành, thì tương lai chứng được quả A
La Hán, ôm bình bát đi khất
thực chẳng có ai cúng dường. Hôm nay có cơm
ăn, ngày mai chẳng có cơm ăn, thường bị đói
khác, đó là quả báo tu huệ chẳng tu phước.
Cho nên, đức Phật phước huệ đều tu, phước
đầy đủ, huệ đầy đủ, nên gọi là Lưỡng Túc
Tôn, chứ chẳng phải là hai chân, vì tiếng
tàu lưỡng là hai, túc là chân. Phật xuất
hiện ra đời như vầng mây lớn, thấm nhuần tất
cả chúng sinh. Chúng sinh đắc được nước pháp
đượm nhuần, thì sẽ không khô khan.
Pháp vũ hay khiến
cho chúng sinh, hưởng được sự vui thế gian
và xuất thế gian.
Hết thảy chúng trời người
Một lòng khéo lóng nghe
Ðều nên đến chỗ nầy
Hầu đấng Vô thượng tôn.
Ta là bậc Thế
Tôn
Chẳng có ai bằng được
Vì an ổn chúng sinh
Nên xuất hiện ra đời.
Vì các đại chúng nói
Pháp cam lồ trong sạch
Pháp đó thuần một vị
Vị giải thoát Niết bàn.
Dùng một tiếng diệu âm
Diễn xướng nghĩa nhiệm mầu
Thường vì pháp đại thừa
Mà kết làm nhân duyên.
Trời người đều nên đến đây, một lòng khéo
nghe Phật pháp, lễ bái cung kính Phật. Ta là
bậc tôn kính trong thế gian và xuất thế
gian, cho nên chẳng có ai sánh bằng. Có bài
kệ lễ Phật rằng :
‘’Thiên thượng thiên hạ vô như Phật,
Thập phương thế giới diệc vô tỉ,
Thế gian sở hữu ngã tận kiến,
Nhất thiết vô hữu như Phật giả.’’
Nghĩa là :
‘’Chư thiên loài người chẳng ai bằng Phật
Mười phương thế giới cũng chẳng sánh bằng
Hết thảy thế gian ta thấy hết
Tất cả chẳng có ai như Phật‘’.
Phật vì an ổn chúng sinh mà xuất hiện ra đời,
vì đại chúng nói pháp cam lồ thanh tịnh.
Pháp nầy là một thừa pháp, dùng một tiếng
diệu âm diễn xướng nghĩa pháp đại thừa, dùng
đủ thứ nhân duyên để nói nghĩa Phật pháp
nầy.
Ta xem tất cả chúng
Hết thảy đều bình đẳng
Chẳng phân biệt đó đây
Cùng với tâm thương ghét.
Ta xem tất cả thảy đều bình đẳng, đủ thấy Phật
rất từ bi. Phật chẳng nói: ‘’Ta chí cao vô
thượng, chúa tể sáng tạo vạn vật.’’ Phật chỉ
nói Ngài chuyển hóa vạn vật, khiến cho chúng
sinh bỏ tà về chánh, bỏ tối về sáng. Phật
chẳng nói: ‘’Ta là chánh, các vị đều là tà,
các vị là do ta một tay sáng tạo‘’! Nếu tất
cả là do chúa tể nào đó sáng tạo, thì sao
lại cứ tạo những điều xấu ? Nói thẳng ra là
chẳng có tơ hào năng lực thuyết phục, hóa
được người. Cho nên Ðức Phật chẳng nói Ngài
tạo tất cả, mà là cứu độ tất cả. Ai chẳng
minh bạch Phật pháp, thì khiến cho họ minh
bạch Phật pháp, ai chẳng giác ngộ thì khiến
cho họ giác ngộ. Tuy Phật độ chúng sinh,
song chẳng có một chúng sinh có thể độ, đó
mới là chân chánh bình đẳng.
Chẳng phân biệt đó đây, vì có đó thì có đây,
có thương có ghét, khởi tâm niệm vui mừng,
khởi sân hận chẳng vui mừng. Song, nếu chẳng
vui cũng chẳng giận tất cả, chẳng có đó đây,
thì chẳng có thương ghét. Nếu Thượng đế Ngài
một mình làm được, còn ta không thể, thì học
Ngài để làm gì ?
Ta chẳng có tham trước
Cũng chẳng có hạn ngại
Luôn luôn vì tất cả
Bình đẳng mà nói pháp.
Dù chỉ vì một người
Trong chúng đông cũng thế
Thường diễn nói các pháp
Từng không việc gì khác.
Phật nói ta chẳng có tham trước, tức chẳng
có tâm thương ghét. Vì có thương thì có
chấp, không thương thì ghét. Chẳng có tham
trước, thì cũng chẳng có chướng ngại. Phật
luôn luôn vì tất cả chúng sinh bình đẳng nói
pháp, cũng giống như nói với một người. Cho
nên, các bạn luyện tập thuyết pháp, đừng
nói: ‘’Ngài thuyết pháp thì có nhiều người
đến nghe, còn tôi thuyết pháp thì chẳng có
ai đến nghe‘’! Ðó là chướng ngại, luôn luôn
vì tất cả, một là tất cả, một người tức là
nhiều người, nhiều người tức là nhiều người.
‘’Bình đẳng mà nói
pháp’’: Nhiều chẳng biết nhiều, ít chẳng
biết ít; không nhiều không ít, không xa
không gần. Giống như tôi tại Hương cảng
thuyết pháp, cũng là vì nước Mỹ thuyết pháp;
tại nước Mỹ thuyết pháp, cũng là vì Hương
Cảng thuyết pháp, đó là không gần không xa.
Ðây là chân lý thật, chẳng có cười đùa, cũng
chẳng có không cười đùa, đối với nhiều người
cũng nói như thế, trừ khi hết hơi tôi mới
không nói, bằng không còn sống, thì còn diễn
thuyết pháp.
‘’Từng không việc
gì khác’’. Thấm nhuần Phật pháp rồi, thì
phải thuyết pháp, như các vị thọ Tỳ Kheo, Tỳ
Kheo Ni phải cung hành thực tiễn, làm mô
phạm cho tốt. Khi mọi người nhìn vào thì
thấy, Ồ ! Làm Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni vốn là tốt
như thế, khoái lạc như thế ! Ðói chết cũng
chẳng sợ, suốt ngày đến tối đều chẳng nóng
giận, thường sinh tâm vui vẻ, trì giới tinh
nghiêm. Do đó, xuất gia ở đây, xuất gia ở
kia, mà vô lượng vô biên người đều đến đây
xuất gia. Song, nếu bạn suốt ngày đến tối
ngủ nghỉ li bì, ăn ngon mặc đẹp, thì Phật
giáo ở nước Mỹ chẳng có ai tin. Cho nên,
Phật giáo ở nước Mỹ mới bắt đầu, các bạn là
người tiên phong, nên dũng mãnh tinh tấn vô
úy khai thác. Tại nước Mỹ, đây là lần đầu
tiên tiếp thọ Phật pháp đại thừa. Nếu họ hỏi
các bạn thầy của các bạn là ai ? Thì bạn nói
là Phật Thích Ca Mâu Ni, đừng nói riêng một
vị thầy nào khác, người khác hỏi bạn học
Phật với ai ? Thì bạn cũng nói học Phật với
Ba La Ðề Mộc Xoa, bạn nói lấy Ba La Ðề Mộc
Xoa làm thầy, đây chẳng phải là nói dối, vì
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói hãy lấy
giới làm thầy.
Ngồi đứng hoặc đến đi
Thảy đều chẳng mỏi nhàm
Ðầy đủ cho thế gian
Như mưa thấm nhuần khắp.
‘’Ngồi đứng hoặc đến đi‘’: Phật đi đứng nằm
ngồi, bốn oai nghi đều nói pháp, chưa từng
phóng dật. Ngài ngồi cũng nói pháp, đứng
cũng nói pháp, cho đến ngủ cũng độ hóa chúng
sinh, giáo hóa chúng sinh ngủ mộng.
‘’Ðầy đủ cho thế gian, như mưa thấm nhuần
khắp’’. Tại sao phải nói pháp ? Vì chúng
sinh đang sắp chết khô, trước khi họ chưa
chết, thì ban cho họ mưa pháp khiến cho họ
sống lại.
Kẻ sang hèn trên dưới
Người trì giới, phạm giới
Oai nghi đều đầy đủ
Và chẳng được đầy đủ
Kẻ chánh kiến, tà kiến.
‘’Kẻ sang, hèn, trên, dưới‘’: Chỉ người bậc
trên là hạng sang làm quan chức, bậc dưới là
thường dân. Trì giới hoặc phạm giới là chỉ
người xuất gia. Oai nghi có ba ngàn, ‘’có uy
đáng sợ, có nghi đáng kính’’: Ði đứng nằm
ngồi bốn đại oai nghi, đều giữ được viên
mãn, song nếu chẳng giữ giới, thì chẳng có
bốn đại oai nghi.
‘’Chánh kiến và tà kiến’’: Nói lời chẳng chánh
đáng là tà kiến. Chánh kiến là chẳng hợp lễ
giáo thì đừng xem (phi lễ vật thị), chẳng
hợp lễ giáo thì đừng nói (phi lễ vật ngôn).
Nếu như chẳng hợp với lễ giáo, mà đi xem đi
nghe là tà kiến.
Lợi căn hoặc độn căn
Thảy đều mưa pháp vũ
Mà chẳng biết mệt mỏi
Hết thảy các chúng sinh.
Ai nghe pháp của ta
Tùy sức mà lãnh thọ
Trụ ở nơi các địa
Hoặc ở trong trời người.
‘’Lợi căn‘’: Là người thông minh, nghe pháp
thì sẽ khai ngộ. ‘’Ðộn căn’’: Là kẻ ngu si,
nghe rất nhiều về Phật pháp, nhưng vẫn chẳng
biết Phật pháp là gì. Họ chẳng giữ giới,
chẳng nhẫn nhục, chẳng tinh tấn, cũng chẳng
thiền định, chẳng lãnh thọ được Phật pháp,
còn Phật thì chẳng có tơ hào phân biệt, Phật
chỉ mưa pháp vũ xuống khắp, để đượm nhuần
chúng sinh. Phật nói pháp chẳng tiếc thân
mạng, cũng chẳng mệt mỏi. Tất cả chúng sinh
phi tiềm động thực, thai noãn thấp hóa, tùy
theo thân của họ mà tiếp thọ lợi ích.
‘’Hoặc ở trong trời người’’: Hoặc trụ ở nhân
gian hoặc trên trời.
Làm Chuyển luân thánh
vương
Và các vua Thích Phạm
Ðó là cỏ thuốc nhỏ
Biết được pháp vô lậu.
Sẽ chứng được Niết bàn
Khởi sáu phép thần thông
Và đắc được ba minh.
‘’Làm Chuyển Luân Thánh Vương‘’: Có kim, đồng,
thiết, ngân, bốn vua chuyển luân. Kim luân
vương cai trị bốn thiên hạ : Ðông Thắng Thần
châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hoá Châu
và Bắc Câu Lưu Châu.
Kim Luân Vương có
bảy báu, toại tâm như ý, biến hóa vô cùng,
các nước của Kim Luân vương cai trị, nhân
dân đều giữ năm giới và làm mười điều lành.
Ngân Luân Vương cai
trị ba thiên hạ, tức là Ðông Thắng Thần
Châu, Nam Thiệm Bộ Châu và Tây Ngưu Hóa
Châu. Ðồng Luân Vương quản lý Ðông, Nam, hai
thiên hạ. Thiết Luân Vương quản lý một thiên
hạ. Hiện tại chúng ta là Nam Thiệm Bộ Châu,
nếu tất cả các nước hợp lại với nhau chọn ra
một vị lãnh tụ, có thể nói là Thiết Luân
Vương. Nếu như Thiết Luân Vương có thể tu
hành thì có thể thành Phật. Ðức Phật lúc ban
đầu nếu không tu hành, thì sẽ thành Kim Luân
Vương.
Chuyển Luân Thánh
Vương và các vua Thích, Phạm (vua Ðế Thích,
vua Ðại Phạm Thiên), thuộc về cỏ thuốc nhỏ,
có thể được pháp vô lậu và được Niết Bàn.
Các Ngài hay khởi sáu thứ thần thông. Ba
minh là Thiên nhãn minh, túc mạng minh và
lậu tận minh.
Ở riêng nơi núi rừng
Thường tu hành thiền định
Chứng được quả Duyên Giác
Là cỏ thuốc bậc trung.
Một mình ở trong thâm sơn cùng cốc tu hành,
thường tu tập thiền định, đây là quả vị
Thanh Văn Duyên Giác, là cỏ thưốc bậc trung.
Cầu pháp nơi Thế
Tôn
Ta sẽ được thành Phật
Tinh tấn tu thiền định
Là cỏ thuốc bậc thượng.
Nếu có người đến chỗ đức Thế Tôn cầu Phật
pháp, Biết mình nhất tâm tu hành thì tương
lai sẽ thành Phật, tinh tấn tu thiền định,
đó là cỏ thuốc bậc thượng.
Lại có các Phật tử
Chuyên tâm cầu Phật đạo
Thường tu hạnh từ bi
Biết mình sẽ thành Phật
Quyết định chẳng còn nghi.
Lại có các Phật tử chuyên tâm học Phật, thường
tu hạnh từ bi, biết mình tương lai cũng sẽ
thành Phật, chẳng có tơ hào hoài nghi, đây
là cây nhỏ, tức là thông giáo Bồ Tát.
An trụ sức thần thông
Chuyển pháp luân bất thối
Ðộ hóa vô lượng ức
Trăm ngàn loài chúng sinh
Hạng Bồ Tát như thế
Ðó gọi là cây lớn.
An trụ sức đại thần thông, chuyển pháp luân
bất thối, giảng Kinh thuyết pháp, lợi khắp
trời người, vĩnh viễn chẳng thối tâm, giáo
hoá vô lượng ức chúng sinh, chẳng sợ hạnh
khổ gian nan, đây là đại Bồ Tát, dụ cho cây
lớn.
Phật bình đẳng nói pháp
Như nước mưa một vị
Tùy căn tánh chúng sinh
Tiếp thọ đều khác nhau.
Như các cỏ cây kia
Ðược đượm nhuần khác nhau
Phật dùng ví dụ nầy
Phương tiện mà khai thị.
Ðủ thứ những lời lẽ
Ðể diễn nói một pháp
Nơi trí huệ của Phật
Như giọt nước trong biển.
Ta rưới mưa pháp vũ
Ðầy khắp trong thế gian
Nói pháp thuần một vị
Tùy sức mà tu hành.
Như lùm rừng cây kia
Cỏ thuốc các cây cối
Tùy theo thân lớn nhỏ
Dần dần lớn sum sê.
Pháp của Phật nói là bình đẳng, như một vầng
mây mưa xuống thuần một vị, song tùy theo
căn cơ của chúng sinh khác nhau, như cỏ
thuốc nhỏ, lùm rừng, cây lớn và cây nhỏ, đều
đắc được lợi ích. Cho nên Phật dùng pháp
phương tiện để khai thị, dùng đủ thứ lời lẽ
nói diệu pháp nhất thừa. Nơi trí huệ của
Phật, đây chỉ là một giọt nước trong biển mà
thôi. Trí huệ của Phật vô lượng vô biên,
pháp được nói ra, cũng giống như một giọt
trong biển cả, mà nước thì vô lượng vô biên,
cho nên nói pháp vũ của Phật nói, đầy khắp
chúng sinh thế gian. Diệu pháp nhất thừa,
tùy theo sức tu hành của chúng sinh, cũng
giống như cỏ thuốc các cây cối lùm rừng, tùy
theo thân lớn nhỏ và hấp thụ lượng nước, mà
lớn lên sum sê tươi tốt.
Pháp của các đức Phật
Thường chỉ thuần một vị
Khiến cho các thế gian
Thảy đều được đầy đủ.
Thứ tự mà tu hành
Ðều đắc được đạo quả
Hàng Thanh Văn Duyên Giác
Thường ở nơi núi rừng.
Trụ thân cuối cùng nầy
Nghe pháp được chứng quả
Ðó gọi là cỏ thuốc
Thảy đều được lớn lên.
Nếu các bậc Bồ Tát
Trí huệ rất kiên cố
Thấu suốt được ba cõi
Cầu chứng tối thượng thừa.
Ðó gọi là cây nhỏ
Mà được tăng trưởng lên
Lại có vị trụ thiền
Ðắc được sức thần thông.
Nghe các pháp không tướng
Trong tâm rất vui mừng
Phóng vô số quang minh
Ðộ tất cả chúng sinh.
Ðó gọi là cây lớn
Mà được tăng trưởng lên.
Diệu pháp của chư Phật thường chỉ thuần một
vị, khiến cho các thế gian cũng đắc được đầy
đủ, từng chút từng chút dần dần tu hành đều
sẽ thành đạo chứng quả. Còn có hàng Thanh
Văn Duyên Giác, chứng tứ quả A
La Hán ở trong núi rừng chẳng
thọ sinh tử, tức là thân cuối cùng, các ngài
nghe pháp mà chứng quả, dụ cho cỏ thuốc được
lượng nước mưa mà sinh trưởng lớn lên. Các
vị Bồ Tát trí huệ kiên cố, thấu suốt ba cõi
(cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc), cầu chứng
tối thượng thừa, dụ cho cây nhỏ, cũng đắc
được lượng nước mà lớn lên. Còn có những vị
trụ ở trong thiền định, có sức thần thông,
khi nghe được các pháp không tướng, thì
trong tâm rất vui mừng, phóng vô số quang
minh cứu độ tất cả chúng sinh, dụ cho cây
lớn, cũng hấp thụ được lượng nước mưa mà lớn
lên.
Như thế nầy Ca Diếp !
Pháp của Phật nói ra.
Ví như vầng mây lớn
Dùng nước mưa một vị
Ðượm nhuần nơi hoa người
Thảy đều được thành Phật.
Ca Diếp ông nên biết !
Dùng các thứ nhân duyên
Và đủ thứ ví dụ
Ðể mở bày Phật đạo.
Là phương tiện của ta
Các đức Phật cũng thế
Nay ta vì các ông
Nói pháp chân thật nhất.
Các chúng hàng Thanh Văn
Ðều chưa thật diệt độ
Sở hành của các ông
Ðều là Bồ Tát đạo
Nếu từ từ tu học
Tất sẽ được thành Phật.
Ca Diếp ! Pháp của Phật nói giống như vầng mây
lớn, dùng một thừa mưa pháp, đượm nhuần nơi
hoa người, tất cả mọi người thảy đều sẽ
thành Phật.
Ca Diếp ! Ông nên
biết, dùng tất cả nhân duyên và đủ thứ ví
dụ, để mở bày con đường cho chúng sinh thành
Phật, là phương tiện của ta, mười phương chư
Phật cũng như thế. Hiện tại, ta vì các ông
nói pháp chân thật nhất. Hàng nhị thừa chưa
được pháp chân chính, chỉ chứng được hữu
dư Niết Bàn, chẳng phải là vô
dư Niết Bàn, chưa thật sự
diệt độ.
Song, các ông thực
hành đều là Bồ Tát đạo, nếu hằng ngày từ từ
tu hành, thì tương lai chắc chắn sẽ thành
Phật. Ðây là Phật vì Ngài Ca Diếp và các đệ
tử lớn, đưa ra ví dụ tam thảo nhị mộc, tán
dương pháp đại thừa, như vầng mây lớn mưa
xuống, thảy đều bình đẳng, đượm nhuần các
loài chúng sinh, tùy theo căn tính khác
nhau, khiến cho họ đều được lợi ích đượm
nhuần tăng trưởng.